Thứ Tư, 16 tháng 8, 2023

 

Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

(LLCT) - Năm 2020 diễn ra trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và thiên tai diễn biến phức tạp, tác động lớn đến đời sống đất nước nói chung, các mặt công tác của Học viện nói riêng. Tuy nhiên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã nỗ lực khắc phục khó khăn, tập trung đổi mới toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới.


1. Kết quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện năm 2020

Thứ nhất, công tác tuyển sinh của Học viện

Đối với hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, trong năm 2020, Học viện đã khai giảng 23 lớp tập trung với 1.150 học viên; 20 lớp không tập trung cho 1.174 học viên; tổ chức bế giảng 9 lớp cao cấp lý luận chính trị tập trung, với 413 học viên, 24 lớp không tập trung cho 2.055 học viên. Đối với lớp hoàn chỉnh chương trình cao cấp lý luận chính trị, khai giảng 11 lớp cho 646 học viên; bế giảng 8 lớp cho 642 học viên.

Hệ đào tạo đại học và sau đại học, năm 2020, Học viện đã đăng ký và được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở thêm 1 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ Quản lý văn hóa. Đến nay, Học viện có 1 ngành (3 chuyên ngành) đào tạo trình độ đại học văn bằng 2; 19 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ; 15 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ. Năm 2020, Học viện đã tuyển sinh được 645 học viên thạc sỹ đợt 1. Tích cực chuẩn bị các điều kiện tổ chức tuyển sinh đào tạo thạc sĩ đợt 2, xét tuyển đại học văn bằng 2 (1.000 chỉ tiêu) và nghiên cứu sinh năm 2020 (235 chỉ tiêu). Công tác tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ năm 2020 về cơ bản hoàn thành chỉ tiêu đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Năm 2020, Học viện đã tổ chức bảo vệ tốt nghiệp cho 420 học viên thạc sỹ, 58 nghiên cứu sinh.

Đối với hệ bồi dưỡng chức danh, năm 2020, Học viện đã tổ chức 3 lớp Bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược với 127 học viên cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII của Đảng. Căn cứ Kế hoạch số 260-KH/BTCTW ngày 9-4-2020 của Ban Tổ chức Trung ương về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ năm 2020, Học viện đã ban hành Thông báo số 641-TB/HVCTQG ngày 25-9-2020 về chiêu sinh các lớp Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức theo chức danh cán bộ năm 2020. Trong đó, mở 2 lớp Bồi dưỡng chức danh Bí thư cấp ủy cấp huyện và tương đương cho 224 học viên; 4 lớp Bồi dưỡng chức danh Phó Bí thư cấp uỷ cấp huyện và tương đương cho 382 học viên; 1 lớp Bồi dưỡng dành cho chức danh Trưởng ban Tổ chức cấp tỉnh và tương đương cho 50 học viên; 1 lớp Bồi dưỡng dành cho chức danh Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra cấp tỉnh và tương đương cho 65 học viên; 1 lớp Bồi dưỡng dành cho chức danh Phó trưởng ban Tổ chức cấp tỉnh và tương đương cho 50 học viên.

Thứ hai, công tác xây dựng, quản lý nội dung chương trình, giáo trình

Năm 2020, Học viện đã thực hiện việc cập nhật, bổ sung giáo trình Cao cấp lý luận chính trị. Các Viện chuyên ngành hoàn thành việc chỉnh sửa, bổ sung trên cơ sở ý kiến kết luận của Giám đốc Học viện để thành lập các Hội đồng thẩm định theo tiến độ. Đến tháng 12-2020, đã hoàn thành việc thẩm định 19 giáo trình Cao cấp lý luận chính trị lần 1 để ngay sau Đại hội XIII sẽ xuất bản.

Trong hoạt động đào tạo cao cấp lý luận chính trị, lần đầu tiên đưa vào nội dung sinh hoạt chính trị đầu khóa và tổ chức nghe thời sự, chính sách mới thường xuyên, hàng tháng đối với học viên các lớp hệ tập trung, trong đó nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị được coi trọng.

Học viện cũng đã ban hành Khung chương trình Hoàn chỉnh Cao cấp lý luận chính trị dành cho cán bộ Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Đối với hệ đào tạo đại học và sau đại học, Học viện thực hiện nghiệm thu bộ giáo trình các chuyên ngành đại học văn bằng 2 để đưa vào sử dụng trong năm học tới. Để phù hợp với tình hình thực tế, Vụ Quản lý Đào tạo đã tham mưu Giám đốc Học viện chỉnh sửa khung chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Pháp luật về Quyền con người; tiến hành chỉnh sửa và ban hành khung chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Chính trị học, chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền; chuyên ngành Công tác Tôn giáo và chuyên ngành Lý luận chính trị.

Học viện đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng các chương trình Bồi dưỡng theo chức danh cán bộ, ban hành các khung chương trình bồi dưỡng dành cho chức danh Bí thư, Phó Bí thư cấp ủy cấp huyện và tương đương; Trưởng, Phó ban Tổ chức, Tuyên giáo, Dân vận, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra cấp ủy cấp tỉnh và tương đương… Khung chương trình sau khi được phê duyệt sẽ chuyển cho các chuyên gia, giảng viên xây dựng bài giảng, tài liệu phù hợp với từng đối tượng học viên và được cung cấp kịp thời phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập của học viên.

Nhìn chung, nội dung giảng dạy đã sát hơn với đối tượng, mục tiêu của chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường tính thời sự và gắn với thực tiễn công tác. Các đơn vị giảng dạy đã chủ động cập nhật, đưa những điểm mới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII và nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào các chuyên đề, bài giảng.

Thứ ba, công tác dạy và học

Năm 2020, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, Học viện đã ban hành Quyết định 1623-QĐ/HVCTQG ngày 22-4-2020 “về việc ban hành Quy định chấm khóa luận tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị” thay cho hình thức thi tốt nghiệp tập trung với đối với một số lớp Cao cấp lý luận chính trị; ban hành Quy định tạm thời về áp dụng phương thức đào tạo từ xa tại Học viện; Quy định về tổ chức bảo vệ khóa luận, luận văn, luận án trong thời gian phòng dịch COVID-19.

Trong công tác tổ chức quản lý dạy - học, Học viện đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (hệ thống camera giảng đường, thiết bị điểm danh bằng vân tay, nhận diện gương mặt…) góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý học viên, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của giảng viên. Thực hiện chỉ đạo của Ban Giám đốc Học viện, công tác quản lý, theo dõi tình hình giảng dạy - học tập của các lớp, các hệ đào tạo đặt tại địa phương, các lớp đặt ngoài Học viện đã được quản lý chặt chẽ hơn, không còn tình trạng buông lỏng quản lý, đặc biệt là đối với các lớp cao học.

 Đối với các lớp cao cấp lý luận chính trị, trên cơ sở Quy chế đào tạo cao cấp lý luận chính trị, Học viện đã xây dựng mẫu và quy trình chấm điểm rèn luyện, phiếu chuyên cần đối với học viên. Kết quả đánh giá điểm rèn luyện của học viên được thực hiện công khai, minh bạch và kịp thời, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần học tập và tham gia phát biểu ý kiến, thảo luận, tranh luận trong quá trình học tập trên lớp và ngoài giờ học. Các trường hợp học viên nghỉ học có phép, không phép được quản lý chặt chẽ, quy trình, thủ tục công khai, bài bản, kịp thời.

Học viện đã ban hành Nội quy tổ chức các lớp bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng học viên cụ thể. Đồng thời, đang tiến hành dự thảo Quy định về công tác tổ chức và quản lý các lớp bồi dưỡng để tạo hành lang pháp lý áp dụng trong toàn hệ thống Học viện trong thời gian tới. Với đặc thù các lớp bồi dưỡng là diễn ra trong thời gian ngắn, giảng viên báo cáo đa phần là chuyên gia, các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý nên kế hoạch giảng dạy - học tập thường xuyên thay đổi, tuy nhiên, công tác quản lý, theo dõi tình hình giảng dạy - học tập của giảng viên và học viên luôn được theo sát, đảm bảo thực hiện nền nếp, đúng Quy định, Quy chế. Học viện đã chú trọng tổ chức khảo sát, đánh giá chất lượng chuyên đề, giảng viên của từng lớp để bảo đảm việc tổ chức lớp đạt chất lượng.

Thứ tư, công tác phối hợp

Học viện đã có nhiều bước cải tiến trong công tác phối hợp giữa Vụ Quản lý đào tạo với các Học viện trực thuộc, các đơn vị chức năng và các Viện chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhằm bảo đảm các điều kiện cho việc mở lớp, tổ chức dạy và học, thi bổ sung kiến thức, thi hết học phần, thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp các hệ lớp,.

Học viện đã phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và Ban Tổ chức các tỉnh, thành ủy, Vụ tổ chức các Bộ, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện chủ trương đổi mới công tác đào tạo Cao cấp lý luận chính trị, đặc biệt quy định về tăng cường đào tạo tập trung và đảm bảo tỷ lệ đào tạo 1:1,2.

Phối hợp tốt với các Học viện Chính trị khu vực trong việc hướng dẫn thực hiện công tác tuyển sinh và thẩm định kết quả tuyển sinh của các Học viện Chính trị khu vực.

Phối hợp tốt với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trong việc tổ chức thí điểm đào tạo Cao cấp lý luận chính trị và xác nhận trình độ Cao cấp lý luận chính trị ở các nội dung: hướng dẫn tổ chức thực hiện, phối hợp bồi dưỡng giảng viên, cấp phát phôi bằng, tham gia đoàn khảo sát đánh giá chất lượng thí điểm của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Học viện phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Trung ương, các ban Đảng Trung ương và các địa phương trong việc xác định chỉ tiêu, xây dựng và tổ chức thực hiện các lớp bồi dưỡng năm 2020.

Về cơ bản, năm 2020, Học viện đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra, tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công tác đào tạo, bồi dưỡng. Học viện đã đổi mới nội dung chương trình các hệ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng giảm tải, lược bỏ các chuyên đề trùng lặp, không phù hợp; kết hợp việc giảng dạy các chuyên đề trên lớp với các hoạt động ngoại khóa, về nguồn, các nội dung báo cáo thời sự trong nước, quốc tế và các chủ trương, chính sách mới cho học viên.

Công tác tuyển sinh bảo đảm đúng quy định, tiêu chuẩn của Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Giáo dục và Đào tạo; chất lượng giảng dạy và học tập được nâng lên; đội ngũ giảng viên không ngừng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng đáp ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu đào tạo đã đề ra. Các giảng viên lên lớp đã bám sát nội dung chương trình của các môn học, bám sát các Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và liên hệ chặt chẽ với thực tiễn đất nước.

Các khâu trong quy trình tổ chức quản lý đào tạo các hệ lớp đã được xây dựng một cách cơ bản đồng bộ, thống nhất, phát huy được thế mạnh, tính đặc thù của Học viện. Công tác phối hợp giữa đơn vị quản lý đào tạo với các đơn vị giảng dạy và đơn vị chức năng trong thực hiện nhiệm vụ ngày càng đồng bộ, góp phần tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch đề ra; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy và học ngày càng được hoàn thiện, hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu.

Kỷ luật, kỷ cương trong công tác đào tạo được siết chặt, đặc biệt đối với các lớp tập trung và các lớp đặt ngoài Học viện. Các hình thức thi được đa dạng hóa (tự luận, trắc nghiệm, vấn đáp, tiểu luận,...), phù hợp với từng nội dung môn học, đối tượng học viên theo hướng chỉ đạo của Giám đốc Học viện.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện vẫn còn những hạn chế, đó là:

Mới chỉ thực hiện được thống nhất giáo trình ở hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị; các giáo trình, đề cương bài giảng, tài liệu học tập ở hệ đào tạo đại học, sau đại học, hệ bồi dưỡng chưa được xây dựng để sử dụng trong toàn hệ thống.

Công tác dự báo, truyền thông tuyển sinh còn thực hiện chưa tốt, thiếu tính chuyên nghiệp nên tuyển sinh đào tạo đại học, sau đại học có sự chênh lệch giữa các chuyên ngành, có ngành thường xuyên không tuyển đủ chỉ tiêu, có ngành lại vượt quá chỉ tiêu so với nguồn lực của đơn vị.

Còn chưa chủ động trong việc cập nhật, hoàn thiện các Quy chế, Quy định trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng. Quy chế hiện hành chưa đủ rõ ràng để thực hiện.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý còn chậm, chưa đồng bộ. Việc cập nhật thông tin, số liệu, dữ liệu vào phần mềm quản lý Học viện thông minh chưa được kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý trong bối cảnh mới.

Nguyên nhân của những hạn chế trên là: do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh COVID-19 nên việc triển khai kế hoạch giảng dạy - học tập các hệ đào tạo trong năm còn chậm, chưa bảo đảm tiến độ đề ra. Kế hoạch tuyển sinh được triển khai muộn hơn so với mọi năm.

Những đổi mới trong công tác tuyển sinh phần nào cũng gây khó khăn bước đầu trong công tác thẩm định, xét duyệt hồ sơ tuyển sinh, gây ra muộn hơn so với những năm trước.

Trong công tác tuyển sinh đại học và sau đại học, do đặc thù nhiều ngành khó tuyển, cùng với đó là chưa xây dựng được cơ chế, chủ trương phù hợp để thu hút học viên.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn chậm nên phần nào ảnh hưởng đến tiến độ công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng của Học viện.

Đội ngũ cán bộ mặc dù có nhiều nỗ lực cố gắng nhưng so với yêu cầu, nhiệm vụ vẫn còn có mặt hạn chế, bất cập nhất là việc tổng hợp, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo, bồi dưỡng.

Chưa tham mưu xây dựng được cơ chế phối hợp giữa các đơn vị nên tạo ra khó khăn, vướng mắc trong việc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ chung.

2. Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện năm 2021

2.1. Phương hướng

Năm 2021, Học viện xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu của tình hình mới; tiếp tục tập trung chỉ đạo đổi mới, cập nhật nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong bối cảnh đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, đặc biệt là theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Tăng cường hơn nữa việc theo dõi, đánh giá công tác giảng dạy và học tập của giảng viên, học viên đúng quy chế, quy định. Rà soát để bổ sung, sửa đổi, thay thế kịp thời các quy chế, quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu quản lý trong điều kiện mới.

Đẩy mạnh công tác truyền thông tuyển sinh đại học, sau đại học; chiêu sinh các chương trình bồi dưỡng trên cơ sở tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận thực hiện. Khẩn trương xây dựng trang thông tin tuyển sinh của Học viện. Chủ động đề xuất với Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Học viện trong tuyển sinh và tổ chức đào tạo Cao cấp lý luận chính trị, đại học, sau đại học và các chương trình bồi dưỡng chức danh.

Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, đào tạo, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

2.2. Nhiệm vụ và giải pháp

Một là,xây dựng và hoàn thiện thể chế đào tạo, bồi dưỡng: Quy chế đào tạo các hệ lớp (cao cấp lý luận chính trị, đại học, sau đại học, bồi dưỡng chức danh...); Quy định về chủ nhiệm lớp; Quy chế phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Học viện; Quy định về việc nghiên cứu thực tế; Quy định quản lý các lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại địa phương... để tạo hành lang pháp lý thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng thống nhất trong toàn hệ thống.

Hai là,xây dựng lại quy trình tổ chức quản lý đào tạo các hệ lớp đồng bộ, thống nhất, thực hiện trong toàn hệ thống Học viện.

Ba là,đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đào tạo, đặc biệt là việc sử dụng phần mềm quản lý đào tạo trong việc thực hiện các khâu, quá trình đào tạo.

Bốn là,hoàn thiện Đề án “Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế” trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Năm là,phối hợp tốt với Ban Tổ chức Trung ương trong việc xây dựng, xác định chỉ tiêu đào tạo cao cấp lý luận chính trị năm 2021. Tiếp tục mở rộng tuyển sinh hệ đại học, cao học, nghiên cứu sinh dựa trên sự phân bổ chỉ tiêu đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đặc biệt, có cơ chế đặc thù, đẩy mạnh việc tuyển sinh một số ngành khó và không tuyển sinh được trong năm 2020; phối hợp với các đơn vị có đủ điều kiện để tuyển sinh đào tạo cao học và đại học.

Sáu là,hoàn thành Kế hoạch chỉnh sửa, biên soạn giáo trình Cao cấp lý luận chính trị đảm bảo tiến độ ngay sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII kết thúc có thể chỉnh sửa lần cuối và chuyển in ấn, phát hành trong quý I năm 2020. Tham mưu xây dựng chương trình bồi dưỡng chức danh gắn lý luận với thực tiễn và bảo đảm cập nhật nội dung Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII.

Bảy là,hoàn thiện và ban hành Quy chế đào tạo cao cấp lý luận chính trị phù hợp với điều kiện, tình hình mới; ban hành Quy chế đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ năm 2021 của Học viện. Nhanh chóng xây dựng Quy chế, quy định về quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ của Học viện, áp dụng trong năm 2021. Xây dựng Quy định về cơ chế phối hợp với các địa phương, đơn vị trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ tại địa phương.

Tám là,thực hiện tốt công tác tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo các lớp Cao cấp lý luận chính trị, công tác xét tương đương trình độ cao cấp lý luận chính trị theo đúng Quy định, Quy chế.

Chín là, siết chặt hơn nữa kỷ luật, kỷ cương các lớp, đặc biệt là các lớp đặt ngoài Học viện. Tham mưu triển khai kết nối camera tại các hội trường giảng dạy để theo dõi, giám sát quá trình giảng dạy - học tập.

Mười là,thường xuyên tổ chức rà soát việc thực hiện kế hoạch giảng dạy - học tập để nâng cao tinh thần trách nhiệm của giảng viên các Viện chuyên ngành. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ công tác chủ nhiệm lớp trong công tác học vụ, xét điều kiện thi hết môn. Tăng cường quản lý đào tạo đại học và sau đại học trong hệ thống Học viện, đôn đốc các Học viện trực thuộc gửi báo cáo định kỳ, tiến hành kiểm tra định kỳ và đột xuất.

Nguồn: Nguyễn Thị Thúy Thảo

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


THANH TRA TOÀN DIỆN LIÊN QUAN ĐẾN SÁCH GIÁO KHOA - CÚ ĐẤM NGÀN CÂN ĐẤM GỤC LOẠN SÁCH GIÁO KHOA!

     Trong lịch sử giáo dục nước ta, Chu Văn An được người đời sau là "vạn thế sư biểu", nghĩa là "người thầy của muôn đời". Trần Nguyên Đán đánh giá đạo học của ông cao như Bắc Đẩu, Thái Sơn, có khả năng “xoay làn sóng biển học làm cho phong tục trở lại thuần hậu,… chính sự và giáo hoá được đổi mới”. 

Hiện nay, nghiên cứu về tư tưởng, nội dung và phương pháp giáo dục của Chu Văn An là rất khó khăn, bởi những tác phẩm của ông không còn được lưu giữ một cách đầy đủ. Cuộc Bắc thuộc lần thứ tư 1407 - 1428, giặc Minh đã cho đốt hoặc mang sử sách, thư tịch về Yên Kinh. Tuy nhiên, trong tâm thức dân tộc, ông luôn được thừa nhận là một nhà giáo dục hành động chứ không phải là một nhà giáo dục thuần lí và triết lí giáo dục của ông là triết lí hành động, triết lí thực tiễn. Triết lý tư tưởng “hữu giáo vô loại”, giáo dục không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, con quan hay thứ dân của Ông đã để lại cho đời những bài học sâu sắc. 

Trong giáo dục và đào tạo học trò, Chu Văn An quan tâm đến việc biên soạn sách để giúp cho người học có được tài liệu học tập. Đây là một điểm mới trong cách quan niệm về nội dung và phương pháp giáo dục của ông và “Tứ thư thuyết ước” đã ra đời. Việc Chu Văn An viết sách không chỉ đơn giản là để làm tài liệu học tập mà cao hơn cả là qua đó, để gìn giữ và khuếch trương di sản văn hóa của dân tộc (dùng chữ Nôm), khẳng định sự độc lập về văn tự đối với nền văn hóa Hán. Cũng trong các tác phẩm ấy, để thể hiện rõ tính chất dân tộc trong văn hóa, thi ca, ông không hề vay mượn những điển tích ngoại lai mà chỉ miêu tả những gì hiện thực trước mắt, những cảnh đẹp thiên nhiên và con người Đại Việt. Đây là phong cách đặc biệt trong các nhà nho thời Trần mà đi đầu là nhà sư phạm mẫu mực Chu Văn An.

Trái với Chu Văn An, cái gọi là "giáo dục khai phóng", với tư tưởng của vị nguyên bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo là "tiền ít đừng đòi hỏi chất lượng cao"....Cải cách đủ các kiểu và sách vô tội vạ với đủ thể loại nhà xuất bản khác nhau. Loạn sách giáo khoa, loạn xã hội. Gần vào học nhưng phụ huynh chẳng biết chọn sách nào cho con, các trường học cũng chẳng biết đường nào mà lần, chẳng biết sách gì mà chọn. Những người được chọn để làm Tổng Chủ biên sách giáo khoa như Nguyễn Minh Thuyết lại là một trong 72 kẻ đòi xoá điều 4 của Hiến pháp. Vậy nên chẳng có gì khó hiểu khi họ định bỏ môn lịch sử hoặc tích hợp vào các môn học khác. Trương Vĩnh Ký, kẻ bán nước, làm tôi tớ cho giặc để chống lại đất nước được ca ngợi trong sách giáo khoa. Sự khai phóng đó mang theo hơi hướng của nền giáo dục lai tạp kiểu mớ rau tập tàng. Còn đâu là bản sắc, còn đâu là hồn cốt dân tộc. ..

Người dân lên tiếng nhiều và rất vui mừng được biết, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đồng ý với đề xuất của Đoàn Giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, thanh tra toàn diện khâu in ấn, biên soạn, xét duyệt sách giáo khoa...chúng ta tin tưởng vào cú đấm có sức mạnh ngàn cân này để hạ gục vấn nạn về sách giáo khoa. Người dân thường cũng nhìn thấy rõ, việc loạn sách giáo khoa chỉ có lợi cho một số nhà xuất bản, nhóm lợi ích nào đó chứ không phải là nguyện vọng, ý chí của toàn dân. Chế độ ta lấy nhân dân làm trung tâm, vì nhân dân mà phụng sự. Cụ Hồ dạy "việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, có hại cho dân thì hết sức tránh". Mong rằng sau đợt thanh tra toàn diện, sách giáo khoa sẽ trở về nguyên nghĩa, nguyên giá trị của sách giáo khoa./.

Yêu nước ST.

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG NHẰM MỤC TIÊU VÌ HÒA BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN!

     Giúp dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ bản chất, mục đích của công tác đối ngoại quốc phòng, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình "bóp méo" đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.
Trước hết, Việt Nam có quan điểm, chủ trương hết sức rõ ràng đối với chính sách đối ngoại nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng đã xác định những nguyên tắc nền tảng của công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Đối với các vấn đề quốc tế và trong triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm và dựa vào các nguyên tắc này.
Nhân nói về chính sách quốc phòng, gần đây, một số tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn đã lợi dụng các sự kiện nóng của quốc tế và phản ứng của Việt Nam, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Quân đội để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chẳng hạn, họ nói một cách ẩn ý rằng, trong bối cảnh cuộc xung đột Nga-Ukraine đang diễn ra, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Nga thực chất là đi với nước này chống nước kia. Về vấn đề này, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã chỉ rõ chính sách quốc phòng “4 không”, đó là: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Gần đây nhất, phát biểu khi chủ trì phiên họp thứ nhất Ban chỉ đạo xây dựng Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế diễn ra ngày 2-8 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa khẳng định Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách quốc phòng “4 không” nói trên.
Việc lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm hoặc tham dự các diễn đàn, sự kiện tại Nga hay bất cứ quốc gia nào khác là nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đồng thời đóng góp và kiến tạo hòa bình. Đây là điều hết sức bình thường, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại mà Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, cũng như xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. 
Xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng Việt Nam “tham gia liên minh” hay quy chụp Việt Nam “đi với nước này chống nước kia” thực chất chỉ là quan điểm mang tính chống phá, cố tình hiểu sai bản chất vấn đề của một số cá nhân, tổ chức nhằm mục đích hạ thấp uy tín, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước.
Thực tế cũng chứng minh đối ngoại quốc phòng đã góp phần to lớn vào thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh và xung đột. Thông qua đẩy mạnh, mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng, chúng ta có thêm điều kiện để giữ vững an ninh trên bộ, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tăng cường tiềm lực quốc phòng để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước, cùng các quốc gia và đối tác quốc tế giải quyết các thách thức an ninh chung.
Bất luận ai cố tình phán sai, nói lệch thế nào, các hoạt động đối ngoại quốc phòng mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang triển khai vẫn là tấm gương phản chiếu chính sách quốc phòng vì hòa bình, tự vệ, hợp tác và phát triển.
Theo: báo QĐND./.
Yêu nước ST.

Thứ Ba, 15 tháng 8, 2023

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG CHỦ TRÌ HỌP BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG


Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm và nhìn lại công tác từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới.


Sáng 16/8, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp phiên thứ 24 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo.


Tại phiên họp này, Ban Chỉ đạo sẽ thảo luận, cho ý kiến về kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2023 và nhìn lại công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; xác định nhiệm vụ trọng tâm công tác những tháng cuối năm và thời gian tới.


Trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo cách đây 3 tháng (tháng 5/2023), Ban Chỉ đạo đã yêu cầu rà soát, chấn chỉnh, khắc phục ngay những biểu hiện đùn đẩy, né tránh, làm việc cầm chừng, sợ sai không dám làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đây chính là một biểu hiện của tiêu cực, gây nhiều hệ lụy xấu, làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy cần tập trung chấn chỉnh, khắc phục ngay tình trạng này. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo yêu cầu kiểm tra làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, người đứng đầu trong xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật có nhiều sơ hở, bất cập để tổ chức, cá nhân lợi dụng trục lợi; kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, không để cài cắm “lợi ích nhóm”, “lợi ích cục bộ” trong ban hành chính sách, pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội.


Đặc biệt, Ban Chỉ đạo yêu cầu tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, nhất là các vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Công ty AIC, Cục Đăng kiểm Việt Nam và các Trung tâm đăng kiểm tỉnh, thành phố…


Cũng tại cuộc họp này, Thường trực Ban Chỉ đạo đã thống nhất thành lập 5 đoàn kiểm tra của Ban Chỉ đạo để kiểm tra chuyên đề việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng thành pháp luật của Nhà nước tại một số cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương./.



VÒNG XOÁY" CỦA ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH


Trong “Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu năm 2023” vừa được công bố cuối tháng 7-2023, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) khẳng định có bằng chứng cho thấy việc sử dụng điện thoại di động (điện thoại thông minh) quá mức làm giảm hiệu suất học tập và tác động tiêu cực đến sự ổn định cảm xúc của trẻ em. Từ đó, UNESCO đề xuất nên cấm điện thoại thông minh tại các trường học trên toàn thế giới.
Đề xuất cấm điện thoại thông minh tại các trường học ở nước ta (nếu có), nhất là với các trường THPT có thể nhận được nhiều ý kiến trái chiều, chưa thống nhất. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các bậc cha mẹ đều đang có chung một nỗi lo trước thực trạng đáng báo động: Trẻ em, học sinh “nghiện” điện thoại thông minh đang rất phổ biến hiện nay.
Dễ dàng để bắt gặp hình ảnh nhiều trẻ em, học sinh từ thành phố đến nông thôn, từ vùng xuôi đến miền ngược thường xuyên “cắm đầu” vào điện thoại thông minh. Các em mải mê với chiếc điện thoại mỗi khi có thể, vào bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu, không ít em còn quên cả ăn, bỏ cả ngủ chỉ để chơi điện thoại. Tình trạng con trẻ rơi vào vòng xoáy không kiểm soát của điện thoại thông minh hoặc các thiết bị điện tử khác đã và đang trở thành vấn đề xã hội nhức nhối. Các bác sĩ, nhà tâm lý học đã có nhiều nghiên cứu, đưa ra bằng chứng cảnh báo về hậu quả nặng nề của thực trạng này. Thế nhưng, cũng không cần đến những nghiên cứu chuyên sâu, chỉ cần qua chính thực tế con em mình, các bậc phụ huynh cũng có thể cảm nhận rõ hậu quả từ việc lạm dụng điện thoại thông minh. Đó là tình trạng trẻ bị cận thị, suy giảm thể lực, béo phì do lười vận động; kết quả học tập giảm sút; tâm lý không ổn định, ít giao tiếp, dễ cáu gắt... Đồng thời, do tiếp xúc thường xuyên với những hình ảnh, video clip nhảm nhí nên đã tác động xấu đến ngôn ngữ, tình cảm, suy nghĩ, dần dần ảnh hưởng đến tính cách của con trẻ. Ngoài ra, không thể không nói đến nạn bạo lực trên môi trường mạng đã khiến nhiều học sinh bị stress, trầm cảm, thậm chí tìm đến cái chết...
Ai cũng muốn con em mình không rơi vào thảm cảnh nói trên nhưng có một thực tế thật trớ trêu, đó là chính phụ huynh lại thường xuyên lạm dụng điện thoại, tạo gương xấu cho con; hoặc vì nuông chiều, vì muốn “quản” con mà cho con “làm bạn” với điện thoại... Hình ảnh bố ôm điện thoại, mẹ cầm điện thoại, con cũng say sưa với điện thoại, không ai giao tiếp với ai có lẽ đã không xa lạ với nhiều gia đình. Nói vậy để thấy, việc trẻ em, học sinh “nghiện” điện thoại xét đến cùng không phải lỗi của các em mà xuất phát từ người lớn.
Tại Hội thảo “Môi trường internet an toàn: Giải pháp trong trường học” tổ chức tháng 3-2023, đại diện Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, tuổi trung bình sở hữu điện thoại của trẻ em Việt Nam là 9, thấp hơn 4 tuổi so với mức trung bình của thế giới; trẻ em Việt Nam tiếp cận internet cũng khá sớm, có tới 82% trẻ trong độ tuổi 12-13 và 93% trẻ 14-15 tuổi sử dụng internet. Những con số này càng cho thấy việc giáo dục, định hướng, quản lý con em của nhiều bậc phụ huynh trong việc sử dụng điện thoại, internet còn lỏng lẻo, hạn chế...
Vì vậy, muốn con trẻ khỏe mạnh cả về thể chất, tinh thần, sử dụng điện thoại thông minh một cách thông minh, cần sự chung tay của cả xã hội nhưng trước hết và quan trọng nhất chính là từ nhận thức, hành động của mỗi bậc phụ huynh!
ST
Có thể là hình ảnh về 4 người và trẻ em

SỚM XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Đọc cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” tôi tâm đắc với hai bài học kinh nghiệm được rút ra qua công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian vừa qua.
Bài học thứ nhất, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “chống giặc nội xâm”, tức là chống những thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; lấy tiền tài, của cải, vật chất do người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ,... với động cơ không trong sáng.
Đây là nhiệm vụ quan trọng, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ, “không nghỉ”, “không ngừng” ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng, tiêu cực.
Bài học thứ hai, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là “then chốt của then chốt”, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”. Thực tế thời gian qua cho thấy, đằng sau những vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kéo dài đều có bóng dáng của một số cán bộ, công chức làm ngơ, dung túng, tiếp tay, bao che, đồng phạm, thậm chí là chủ mưu.
Do đó, phải đặc biệt quan tâm, chú trọng công tác cán bộ; gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là phải đánh giá, lựa chọn, bố trí đúng cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý; tăng cường quản lý, giáo dục, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hàng loạt cán bộ cấp cao, sĩ quan cấp tướng, tá bị khởi tố trong các vụ án vừa qua là tại ai, tại cái gì? Tại cơ chế hay tại cán bộ không chịu tu dưỡng, rèn luyện? Đây là bài học rất đau xót, cho nên mọi cán bộ, đảng viên phải luôn luôn tự soi, tự sửa, giữ gìn phẩm chất đạo đức.
Qua hai bài học có thể thấy, sự rèn luyện tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà còn trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Tôi và nhiều đảng viên tại cơ sở đồng tình với chỉ đạo của Tổng Bí thư trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực là: không được tự thỏa mãn với những kết quả đã đạt được, cũng không được chủ quan, nóng vội, mà phải tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, làm cho Đảng ta và hệ thống chính trị thật trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Để làm được như vậy, Tổng Bí thư chỉ rõ: Phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực…
Theo tôi, văn hóa liêm chính mà Tổng Bí thư đề cập tới chính là một trong những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên chúng ta. Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo, phải gương mẫu chấp hành, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng và thực hiện tốt quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; phê phán, lên án, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực…
Việc sớm xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, gương mẫu đi đầu, đồng thời giúp Trung ương nhanh chóng hoàn thiện cơ chế “không muốn tham nhũng” - một giải pháp quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay./.
Theo Báo Nhân dân
Có thể là hình ảnh về tượng đài và văn bản

GIÁM SÁT ĐỂ NHÀ Ở XÃ HỘI ĐẾN ĐÚNG NGƯỜI CẦN


Nhằm góp phần thúc đẩy việc xây dựng nhà ở xã hội (NƠXH), nhà lưu trú cho công nhân, nhiều Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nêu quan điểm, cần định hình rõ hệ thống chính sách hỗ trợ để đúng đối tượng thụ hưởng, hạn chế tối đa việc trục lợi từ hỗ trợ chính sách NƠXH.
Giải quyết căn cơ, hiệu quả vấn đề nhà ở cho công nhân
Thực tế nhà ở vẫn là nỗi đau đáu của nhiều công nhân, có an cư thì mới lạc nghiệp, có chỗ ở ổn định thì mới tập trung vào công tác. Song, nhà ở cho công nhân vẫn đang rất thiếu. Thực tế hiện nay cho thấy, với mức lương trung bình 6-9 triệu đồng/người/tháng, hầu hết các gia đình công nhân không có nhiều khả năng tích lũy tài chính để mua NƠXH.
Vừa qua Quốc hội ban hành Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển NƠXH từ năm 2015 đến hết năm 2023". Các chuyên gia và ĐBQH kỳ vọng sẽ mang lại đột phá để phát triển NƠXH đi đúng hướng, tạo hiệu quả trong thực tế trong bối cảnh Chính phủ đã phê duyệt đề án đầu tư xây dựng 1 triệu căn hộ NƠXH cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030.
Theo đó, để chính sách thực sự tạo hiệu quả trong thực tế, vấn đề tổ chức thực thi là rất quan trọng làm sao để NƠXH đến đúng đối tượng. ĐBQH Lê Thanh Hoàn - Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hoá - cho rằng, trong quá trình thực hiện chính sách NƠXH vẫn còn nhiều khó khăn, chỗ ở cho người dân, đặc biệt là cho đối tượng thụ hưởng chính sách NƠXH thực tế còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu và nhu cầu đề ra.
Do đó, đại biểu kiến nghị cần tập trung giải quyết cơ bản nhu cầu về nhà ở cho người dân, bổ sung cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển mạnh mẽ NƠXH. Để phát triển NƠXH thực sự đạt mục đích, cần phải định hình rõ hệ thống chính sách hỗ trợ để đúng đối tượng thụ hưởng, hạn chế tối đa việc trục lợi từ hỗ trợ chính sách NƠXH.
ĐBQH Lê Thanh Hoàn đề nghị phạm vi giám sát cần phải toàn diện, cần có sự đánh giá xuyên suốt quá trình phát triển nhà ở. Làm rõ hơn những ai đang sinh sống trong NƠXH, tổ chức nào cung cấp NƠXH, NƠXH được trợ cấp và hỗ trợ như thế nào, thực trạng quản lý, sử dụng trong thời gian qua ra sao?
Theo ĐBQH Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai), trong việc thực hiện chuyên đề giám sát này, những vấn đề nào mà người dân, thị trường đang yêu cầu làm rõ, giải quyết thì cần được triển khai. Đặc biệt là việc cân đối trong các phân khúc, điều tiết thị trường bất động sản và phát triển NƠXH cho người dân.
Đồng thời tạo môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, tránh tạo sự xung đột về bất động sản và điều tiết được nhà ở để phục vụ cho các tầng lớp nhân dân một cách phổ quát.
Tiện lợi đôi đường
Có một thực tế là nhà ở cho công nhân lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất là mong ước của nhiều người.
ĐBQH Phạm Trọng Nghĩa - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Xã hội của Quốc hội - cho biết, nhu cầu để có một chỗ ở đối với công nhân lao động là rất lớn. Đó có thể là chỗ ở do người lao động sẽ mua, sở hữu hoặc chỗ ở đấy người ta ở tạm trong thời gian lao động. Không có gì lý tưởng hơn là chỗ ở gần nơi làm việc để giảm được thời gian đi lại.
Nếu chỗ ở gần với nơi làm việc thì người lao động yên tâm công tác, gắn bó với khu công nghiệp, khu chế xuất. Trên cơ sở đó, người lao động gắn bó với doanh nghiệp, chất lượng lao động năng suất cao hơn, đời sống người ta sẽ tốt hơn. Và đó cũng là mục đích cuối cùng của các chính sách cũng như quy định của Đảng, Nhà nước.
Ông Nghĩa hoàn toàn ủng hộ quan điểm này và đề nghị hoàn thiện hành lang pháp lý, nhất là trong 3 luật như: Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở để chúng ta có nhiều cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc đầu tư xây dựng nhà ở lưu trú cho công nhân.
Chuyên gia kinh tế GS.TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng, người thu nhập thấp có thể mua được NƠXH hiện nay là cực kỳ khó khăn. Với mức thu nhập khoảng từ 6-9 triệu đồng/người/tháng thì theo tính toán của các chuyên gia, trong thời điểm như hiện tại họ phải mất khoảng 57 năm mới có thể mua được nhà với mức giá trung bình.
Rõ ràng, với điều kiện như vậy thì việc người mua NƠXH phải đi vay, phải huy động các nguồn lực từ bạn bè, người thân để đủ khả năng chi trả cho việc mua nhà là bắt buộc. Đặc biệt, với phía cơ quan quản lý nhà nước thì chi phí cho vay mua nhà cần được kéo dài hơn 25-35 năm, từ đó người mua NƠXH có thể thực hiện việc trả nợ dần dần khi vay vốn mua nhà.
Quy mô, vốn vay mua nhà cũng phải lớn hơn so với hiện nay, lúc đó người mua nhà mới có thể thực hiện mong ước mua được NƠXH./.
Lao động
Có thể là hình ảnh về 4 người và nhà chọc trời

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 16/8


“Giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hòa bình”.
Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình”, Bác viết ngày 16 tháng 8 năm 1958, Báo Nhân dân đăng trên số 1618, ngày 17 tháng 8 năm 1958.
Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ đất nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua nhiều cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, với biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu và cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ cao cả của mỗi người dân Việt Nam.
Nhận thức sâu sắc qui luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã được Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do, thâm nhuần lời Bác Hồ dạy, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta luôn nhất quán với chủ trương: “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện địa hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng quân đội và dân ta đã đoàn kết, anh dũng đấu tranh giành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược, giải phóng đất nước, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Ngày nay, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Quân đội ta đã cử cán bộ làm nhiệm vụ quốc tế tại các phái bộ của Liên Hợp quốc thể hiện trách nhiệm quốc tế của quân đội và nhân dân Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các bất ổn và thách thức về an ninh hướng tới xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân ra sức thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, không ngừng nâng cao chất lượng và sức mạnh tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần xây dựng và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'


 ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG NHẰM MỤC TIÊU VÌ HÒA BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

     Giúp dư luận trong và ngoài nước hiểu rõ bản chất, mục đích của công tác đối ngoại quốc phòng, nhất là trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, là cách để chúng ta phản bác lại các quan điểm sai lệch hoặc cố tình "bóp méo" đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như chính sách quốc phòng của Việt Nam.

     Trước hết, Việt Nam có quan điểm, chủ trương hết sức rõ ràng đối với chính sách đối ngoại nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng đã xác định những nguyên tắc nền tảng của công tác đối ngoại thời kỳ đổi mới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Đối với các vấn đề quốc tế và trong triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm và dựa vào các nguyên tắc này.

     Nhân nói về chính sách quốc phòng, gần đây, một số tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn đã lợi dụng các sự kiện nóng của quốc tế và phản ứng của Việt Nam, các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Quân đội để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chẳng hạn, họ nói một cách ẩn ý rằng, trong bối cảnh cuộc xung đột Nga-Ukraine đang diễn ra, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với Nga thực chất là đi với nước này chống nước kia. Về vấn đề này, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã chỉ rõ chính sách quốc phòng “4 không”, đó là: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Gần đây nhất, phát biểu khi chủ trì phiên họp thứ nhất Ban chỉ đạo xây dựng Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế diễn ra ngày 2-8 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính một lần nữa khẳng định Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách quốc phòng “4 không” nói trên.

     Việc lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam đến thăm hoặc tham dự các diễn đàn, sự kiện tại Nga hay bất cứ quốc gia nào khác là nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đồng thời đóng góp và kiến tạo hòa bình. Đây là điều hết sức bình thường, hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại mà Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra, cũng như xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. 

     Xuyên tạc, cổ xúy cho tư tưởng Việt Nam “tham gia liên minh” hay quy chụp Việt Nam “đi với nước này chống nước kia” thực chất chỉ là quan điểm mang tính chống phá, cố tình hiểu sai bản chất vấn đề của một số cá nhân, tổ chức nhằm mục đích hạ thấp uy tín, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước.

     Thực tế cũng chứng minh đối ngoại quốc phòng đã góp phần to lớn vào thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh và xung đột. Thông qua đẩy mạnh, mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng, chúng ta có thêm điều kiện để giữ vững an ninh trên bộ, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và tăng cường tiềm lực quốc phòng để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước, cùng các quốc gia và đối tác quốc tế giải quyết các thách thức an ninh chung.

     Bất luận ai cố tình phán sai, nói lệch thế nào, các hoạt động đối ngoại quốc phòng mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang triển khai vẫn là tấm gương phản chiếu chính sách quốc phòng vì hòa bình, tự vệ, hợp tác và phát triển.

MÙA VU LAN.

Thu vừa sang chính tháng ngâu

Mùa Vu Lan cũng bắt đầu rồi nha

Hiếu đạo từ ở trong nhà

Kinh trên, nhường dưới để mà tròn vai.


Học điều đúng, tránh điều sai

Đường đời dài, ngắn mấy ai biết mình

Cùng trong kiếp sống nhân sinh

Hơn thua nằm ở chữ Tình mà thôi.


Thuận tình, hợp lý lên ngôi

Trái tình, nghịch lý chỉ ngồi giếng sâu

Cuộc đời như cuộc bể dâu

Hợp, tan, ẩn, hiện giữ nhau chữ Tình.


Ai bày ra kiểu phóng sinh?

Ngỡ tình nhưng lại vô tình đấy thôi

Cứ là ta giữa dòng trôi

Mùa Vu Lan gửi vạn lời bình an.


HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ

 

Ngày 16 tháng 8
“Giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ toàn dân”.
Ngày 16-8-1945, tại ngôi đình ở Tân Trào, Đại hội Quốc dân gồm 60 đại biểu thuộc nhiều tầng lớp xã hội tiêu biểu, từ nhiều địa phương trong cả nước dự, đã bầu Ủy ban Giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngay sau ngày Nhật đầu hàng (15-8-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bức thư gửi trung úy John trong cơ quan tình báo của Mỹ (OSS) để chuyển thông điệp: “Ủy ban Dân tộc Giải phóng của Mặt trận Việt Minh yêu cầu nhà cầm quyền Hoa Kỳ thông báo cho Liên hiệp quốc rằng: Chúng tôi đã đứng về phía Liên hiệp quốc chống lại bọn Nhật. Nay bọn Nhật đã đầu hàng. Chúng tôi yêu cầu Liên hiệp quốc thực hiện lời hứa long trọng của mình là tất cả các dân tộc đều được hưởng dân chủ và độc lập. Nếu Liên hiệp quốc nuốt lời hứa long trọng này và không thực hiện cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập thì chúng tôi sẽ cương quyết chiến đấu cho đến khi giành được nền độc lập hoàn toàn”.
Ngày 16-8-1951, Bác ra “Lời kêu gọi nhân dịp Cách mạng Tháng Tám và Ngày Độc lập”, nêu rõ: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy, mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy, mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước. Nhờ lực lượng ấy mà với tầm vông và s.úng h.ỏa mai ban đầu, chúng ta đã liên tiếp thắng địch... Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước ta, lấy lại độc lập và thống nhất thật sự…”.
Ngày 16-8-1958, Bác gửi thư tới Đại hội Nhân dân Việt Nam bảo vệ hòa bình họp tại Hà Nội đưa ra quan điểm: “Cho nên phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc... Giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ chung của toàn dân. Mỗi người dân Việt Nam phải là một chiến sĩ hăng hái đấu tranh cho hòa bình”.
Ngày 16-8-1965, Báo Nhân Dân đăng bài Bác trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp nổi tiếng Philippe Devilers về giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, với thông điệp: “Chính phủ Mỹ phải chấm dứt ngay những cuộc tiến công bằng không quân vào lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam nước chúng tôi, rút quân đội và các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đó là “hòa bình trong danh dự”, ngoài ra không còn con đường nào khác”./.
Sách Hành Trình Theo Chân Bác
Có thể là hình ảnh về 10 người