Thứ Năm, 17 tháng 8, 2023

TÌNH ĐỒNG CHÍ


Tình đồng chí là tình cảm thiêng liêng, cao quý của những người cùng chung mục tiêu, lý tưởng cộng sản. Đây không chỉ là tình cảm đơn thuần giữa người với người, mà hơn thế, nó hướng tới những giá trị tốt đẹp, với mục tiêu cao nhất là phục vụ lý tưởng của Đảng, lợi ích của đất nước, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Có rất nhiều câu chuyện cảm động, đầy tình nghĩa về tình đồng chí, đồng đội, về sự sẻ chia đắng cay, ngọt bùi, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, những tình huống thử thách, hiểm nghèo. Ta có thể thấy rõ điều này trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, được sáng tác vào năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra ác liệt. Những câu thơ: "Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ", đã khắc họa đậm nét tình đồng chí.
Tình đồng chí còn là sợi dây thắt chặt sự đoàn kết, gắn bó giữa các đảng viên trong một tổ chức, đơn vị, rộng hơn là sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, trở thành truyền thống tốt đẹp của Đảng ta. Tuy nhiên, hiện nay, ở không ít tổ chức đảng và một bộ phận cán bộ, đảng viên, do nhiều nguyên nhân, tình đồng chí đã ít nhiều bị phai nhạt, biến dạng. Từ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý ban đầu, vì mục đích cá nhân, không ít người đã sử dụng cách xưng hô “đồng chí” đầy ẩn ý, với ý nghĩa không trong sáng, mang nhiều cách hiểu khác nhau.
Ở không ít tổ chức đảng, trong quan hệ giữa những đảng viên, ít thấy sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau; thiếu sự gắn kết và tinh thần cộng đồng trách nhiệm vì lợi ích chung; thay vào đó là sự thờ ơ, lạnh nhạt, thậm chí ganh ghét, đố kỵ, hẹp hòi, nói xấu, kèn cựa địa vị, lợi ích, khiến nội bộ mất đoàn kết, vai trò và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng bị suy giảm; có không ít đảng viên, thể hiện sự quan tâm đến người đồng chí của mình một cách giả tạo, hình thức, không xuất phát từ cái tâm trong sáng, lòng nhân ái, bao dung của con người.
Trong sinh hoạt đảng, có nơi, có lúc lợi dụng danh xưng đồng chí để tụng ca, tung hô hay triệt hạ, “đánh hội đồng”, nhất là ở mỗi dịp quy hoạch, bầu cử, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ. Chẳng hạn, nếu cần “chiến đấu”, họ sẵn sàng nói xấu, vu họa, hạ thấp uy tín “đối thủ”. Khi cần lấy lòng, nhất là với người lãnh đạo, đứng đầu, họ lại dùng những từ hoa mĩ để ca ngợi, nịnh nọt đồng chí mình. Khi không thấy lợi ích gì, ngại va chạm thì họ sử dụng chiêu bài “im lặng” là vàng, phụ họa, “gió chiều nào che chiều ấy” để tránh vạ lây, mất lòng người khác... Điều đáng nói là, nhiều đảng viên tốt, người tốt không được bảo vệ, động viên, khích lệ; trong khi đó, nhiều người xấu, giỏi nịnh nọt, biết cách lấy lòng sếp lại được cất nhắc bổ nhiệm.
Có thể nói, việc lợi dụng tình đồng chí, danh xưng đồng chí vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tiêu cực vô cùng phong phú, đa dạng, với vô vàn biểu hiện, nhiều lúc rất tinh vi, khó đoán định. Lâu dần, nó làm suy giảm ý nghĩa thiêng liêng và giá trị tốt đẹp ban đầu vốn có cũng như sự nâng niu, trân trọng, giữ gìn, vun đắp tình đồng chí của nhiều thế hệ đảng viên chân chính.
Trong Di chúc để lại trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”(1). Theo Người, “nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa với nhau thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin được”(2). Bản thân chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngoài tính khoa học, cách mạng còn hàm chứa tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Thực hiện lời căn dặn của Người, nhằm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần tự soi, tự sửa, thực hiện tốt lời căn dặn của Bác về tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.
Tình đồng chí phải trở về với những giá trị đích thực của nó; được thể hiện bằng cái tâm trong sáng và thực sự bắt nguồn từ tình yêu thương con người; ở đó, người cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, sống trung thực, nghĩa tình, yêu thương, sẻ chia, giúp đỡ lẫn nhau vì lợi ích chung, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ và lợi ích nhóm tiêu cực. Có như vậy, giá trị của danh xưng đồng chí mới thật sự có ý nghĩa, để mỗi khi nhắc đến mỗi chúng ta đều cảm thấy trân trọng, vinh dự, tự hào./.
Tạp chí Cộng sản

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 17/8


“Phải dựa vào nhân dân, vì đông đảo nhân dân rất nhiều tai mắt, cho nên bộ đội, công an không những phải đoàn kết nội bộ, lại phải đoàn kết với nhân dân, dựa vào nhân dân, giáo dục nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”.
Lời dạy của Người trích trong “Bài nói chuyện với trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình” ngày 17 tháng 8 năm 1962. Đây là thời kỳ cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước của dân tộc ta ở thời kỳ vô cùng ác liệt, Đảng, Nhà nước đã động viên, khích lệ tinh thần xung kích, tình nguyện của các thế hệ thanh niên làm nên những thành tích vẻ vang trong xây dựng trường học kiểu mẫu, góp sức vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; trong đó, có sự ủng hộ, giúp đỡ rất lớn của nhân dân.
Tư tưởng về phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và giành nhiều công sức xây dựng. Bác luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, đúng như lời Người đã khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Thực tiễn đã minh chứng, chỉ có đoàn kết chặt chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu thì quân đội và công an mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì bộ đội và công an không thể hoàn thành được nhiệm vụ; bởi theo Bác: “Có dân là có tất cả”.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, luôn đoàn kết, gắn bó, phối hợp và tạo điều kiện, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, mỗi lực lượng đều nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy, luôn giữ vững mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn tấn công trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

MỘT SỐ THỦ ĐOẠN TRONG CHIẾN LƯỢC "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY!

     “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược phi quân sự của các thế lực thù địch tiến hành bằng các thủ đoạn tinh vi, phức tạp, nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, văn hoá; tổ chức nhân sự; kinh tế; ngoại giao; tôn giáo, dân tộc, an ninh, quốc phòng. Nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với cách mạng Việt Nam tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các nước xã hội chủ nghĩa trở thành một hệ thống lớn mạnh, trong đó trụ cột là Liên Xô, thành trì vững chắc của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới. Đây là thời điểm chủ nghĩa đế quốc nhận thấy không thể ngăn chặn được sự phát triển của phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới bằng biện pháp quân sự. Vì vậy, các học thuyết lần lượt ra đời nhằm lật đổ xã hội chủ nghĩa bằng biện pháp phi quân sự. Quá trình hình thành và phát triển, chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã thể hiện tính chất phức tạp, tinh vi nhưng vô cùng nguy hiểm; kết quả đã làm sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Đối với Việt Nam, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đặc biệt sau khi thực hiện đổi mới thành công, nước ta vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch càng tập trung chống phá, mức độ ngày càng gia tăng, tính chất ngày càng nguy hiểm; lĩnh vực tập trung nhất là chính trị, tư tưởng, văn hóa; mục tiêu là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để hiểu rõ hơn mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, bài viết phân tích một số thủ đoạn của chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa:

Một là, Tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm chuyển hóa ý thức hệ, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt lý tưởng, xa rời lập trường giai cấp. Đây là lĩnh vực có tính nhạy cảm nhất và nó có tầm quan trọng hàng đầu, thay đổi ý thức hệ dẫn đến thay đổi chế độ là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, ít tốn kém nhất. Vì vậy, các thế lực thù địch tập trung chống phá bằng nhiều thủ đoạn; tập trung công kích chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng cho rằng đó là tư tưởng chủ quan thoát li thực tế. Từ đó, chúng công kích, bôi xấu học thuyết chuyên chính vô sản, tuyên truyền “Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước chuyên chế” “Nhà nước cực quyền”. Thông qua sự sụp đổ của Liên Xô, chúng cho rằng chủ nghĩa Mác Lê nin là giáo lý phi khoa học qua thực nghiệm 70 năm và đã bộc lộ sai lầm; điều kiện xã hội Việt Nam theo giáo lý phương Tây là không thích hợp, là sự ngộ nhận, là xa xỉ đối với một quốc gia 90% là nông nghiệp. Mục đích của chúng là chuyển hóa ý thức hệ, xóa bỏ đấu tranh giai cấp, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, chúng đưa ra yêu cầu đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nghĩa là xóa bỏ cơ sở pháp lý về vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội. Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch ở nước ngoài móc nói, cấu kết và chỉ đạo bọn phản động trong nước tuyên truyền kích động đòi đổi tên nước, tên Đảng, đòi thành lập cái gọi là “hội nhân dân chống tham nhũng”; chúng tuyên truyền rằng “tham nhũng chỉ được đẩy lùi khi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để các đảng phái giám sát lẫn nhau” thực chất là làm cho Đảng ta suy yếu, tan rã như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu. Lợi dụng tình hình sau những vụ việc phức tạp như vấn đề biển Đông, chúng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ độc lập chủ quyền. Tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật gây khó khăn cho ta trong việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, điển hình như việc Quốc hội họp thông qua Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật an ninh mạng ... Sử dụng chiêu bài dân chủ nhân quyền đả kích chế độ, thể chế chính trị; khuyến khích cải tổ, đa nguyên, đa đảng.

Hai là, lợi dụng những thiếu sót từ nội bộ Đảng, làm cho Đảng mất uy tín, mất hiệu lực lãnh đạo, mất đoàn kết dẫn đến tan rã về tổ chức.

Chúng cho rằng, phá hoại tổ chức Đảng và cán bộ lãnh đạo Đảng là mục tiêu then chốt để lật đổ chính quyền cơ sở, tiến tới lật đổ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch ở nước ngoài tích cực cài cắm, xây dựng lực lượng, móc nối với bọn phản động trong nước thu thập thông tin, tập trung vào những sơ hở của ta trong việc ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, chúng đưa thông tin sai lệch kích động nhân dân đứng lên đấu tranh nhằm hạ uy tín của Đảng. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; trong thực hiện chính sách ở một số địa phương kích động nhân dân biểu tình, bạo loạn, đập phá cơ sở hạ tầng gây thiệt hại cho chính quyền; tung tin thất thiệt làm cho nhân dân mất lòng tin đối với Đảng. Chúng ra sức khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống xã hội để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để xuyên tạc vai trò lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Dàn dựng, đưa tin bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho nội bộ Đảng mất đoàn kết, chia rẽ, giảm sút hiệu lực lãnh đạo, phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Nhằm phá hoại về chủ trương, đường lối của Đảng, chúng mua chuộc cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu, nhất là số cán bộ bị kỉ luật, cán bộ có uy tín nhưng có mặt chưa đồng thuận với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tham gia góp ý, hiến kế với Đảng, hoặc bằng thư ngỏ, thư khẩn, đối thoại, đề xuất chủ trương, chính sách thực chất là lái đường lối, chính sách của ta theo hướng tư bản, hoặc gây bất lợi cho ta trong phát triển kinh tế lâu dài, trong thực hiện chính sách công bằng xã hội, dẫn đến bất bình trong một bộ phận nhân dân; lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng từ đó thổi phồng khuyết điểm làm giảm uy tín của Đảng. Lạm dụng quyền tự do dân chủ, moi móc đời tư cá nhân; vu khống, nói xấu, bôi nhọ thanh danh lãnh tụ, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước trong các thời kỳ; đề cao người này, bôi xấu người kia làm giảm uy tín lãnh tụ, lãnh đạo các cấp, làm cho quần chúng nhân dân mất lòng tin đối với Đảng xa rời Đảng. Nguy hiểm hơn thông qua không gian mạng, để kết nối thành viên, lôi kéo, tập hợp lực lượng, bàn bạc xây dựng kế hoạch chống đối, biểu tình, bạo loạn, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chúng tìm cách biến những mâu thuẫn thông thường trong xã hội thành mâu thuẫn giữa nhân dân với cán bộ, chính quyền; biến mâu thuẫn không cơ bản thành mâu thuẫn cơ bản đối kháng; biến các vụ khiếu kiện thành các vụ biểu tình bạo loạn quy mô lớn chống đối chính quyền các cấp.

Ba là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, chia rẽ quân đội với công an. Thông qua các sự kiện lịch sử trong đấu tranh giải phóng, chúng đưa thông tin sai lệch, lật lại sự kiện, thổi phồng khuyết điểm của một số cá nhân, đơn vị làm mất uy tín của Quân đội ta; đòi Quân đội đứng ngoài Đảng nhằm làm cho lực lượng vũ trang mất phương hướng chính trị, mất mục tiêu chiến đấu. Chúng mua chuộc cán bộ cao cấp, cài cắm lực lượng vào quân đội, thực hiện âm mưu chui sâu, leo cao hoạt động chống phá từ bên trong. Trên các trang mạng xã hội chúng tuyên truyền, xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội; lợi dụng không gian mạng biên tập video dạng lồng ghép, cắt xén, bịa đặt, đăng tải nói xấu, xúc phạm danh dự quân đội, làm cho nhân dân mất niềm tin đối với quân đội. Đối với công an, chúng lợi dụng các vụ việc xử lý vi phạm của công dân trong đời sống hàng ngày, bịa đặt, dựng chuyện nhằm hạ thấp uy tín của công an; xuyên tạc, kích động, gây mâu thuẫn giữa công an với quân đội.

Bốn là, thông qua giáo dục đào tạo để chuyển hóa ý thức hệ của học sinh, sinh viên. Chúng cho rằng giáo dục đào tạo là mũi đột phá quan trọng, hiệu quả nhằm thực hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Dưới các hình thức như tổ chức tọa đàm, hội thảo, triển lãm; tham quan các trường đại học danh tiếng, cung cấp học bổng, trong đó ưu tiên con em cán bộ lãnh đạo, cán bộ lão thành cách mạng. Trong quá trình đào tạo sẽ tuyên truyền những "giá trị", lối sống phương Tây làm cho học sinh, sinh viên nhạt phai lý tưởng, lệch lạc nhận thức chính trị, đối lập quan điểm tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách để đưa số cán bộ thân phương Tây đảm nhiệm các cương vị trọng yếu trong trong hệ thống chính trị, đủ điều kiện để chuyển đổi chính sách kinh tế, ý thức hệ, từng bước làm tan rã hệ thống chính trị.

Năm là, bằng chiêu bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", các thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ cho bọn phản động trong nước hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Chúng áp đặt "Luật nhân quyền" nhằm yêu sách đòi ta phải nới lỏng sự kiểm soát đối với các tổ chức xã hội dân sự, trả tự do cho các đối tượng cầm đầu đang bị Nhà nước quản chế, hỗ trợ, cung cấp cho số đối tượng chống đối trong nước phương tiện kĩ thuật hiện đại, tài chính nhằm hoạt động khủng bố. Điển hình là tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã chủ trương: “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tiến công trực diện Cộng sản nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”. Chúng đã chỉ đạo đặt bom; phát tán bài viết, đăng tải video clip kích động nhân dân biểu tình.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược "diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, phức tạp, khó nhận biết. Vì vậy, nghiên cứu, phân tích làm rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng trước công luận để mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận biết. Từ đó nâng cao cảnh giác góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu của chúng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn hiện nay. Để đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, một biện pháp cấp bách, quan trọng là cần tận dụng triệt để không gian mạng tăng cường đấu tranh, chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài, biến không gian mạng thành vũ khí của tất cả mọi người đập tan âm mưu của các thế lực thù địch bảo vệ và nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì; tích cực tuyên truyền, định hướng thông tin cho cán bộ, Đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Coi trọng công tác kiểm tra giám sát, có biện pháp ngăn chặn kịp thời biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống./.
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2023

CẢNH GIÁC VỚI CÁI GỌI LÀ “NHÂN DANH NHÂN DÂN” CỦA CÁC THẾ LỰC CHỐNG PHÁ

 


          Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh.

          Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

          Đây vừa là mục đích, vừa là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại một trong những mối quan hệ “rường cột” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch - người đóng vai “đại diện cho nhân dân”. Cách thức phổ biến được các đối tượng chống phá thực hiện là đánh đồng hiện tượng của một hoặc một nhóm người với toàn thể nhân dân. Từ sự việc của một người dân, họ tô vẽ, thổi phồng để tìm sự đồng cảm của nhóm người, sau đó cộng hưởng với quá trình “tam sao, thất bản” trên internet, mạng xã hội, sự việc ấy sẽ bị đẩy lên mang tính toàn thể nhân dân, tạo cớ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền.

          Với thủ đoạn: tạo ra sự đối lập, đẩy mâu thuẫn lên cao, châm ngòi cho các hoạt động chống đối chính quyền, cùng với việc xuyên tạc hình ảnh người dân thống khổ, các đối tượng chống phá còn thêu dệt nên hình ảnh của đảng độc tài, xã hội mất dân chủ, chính quyền yếu kém, quan tham,… không dừng lại ở đó, họ còn tìm mọi cách khai thác, nhào nặn, thêm thắt, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đặc biệt, lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, đưa ra xét xử do liên quan đến những vụ án tham nhũng, tiêu cực, các đối tượng chống phá suy diễn, quy chụp, cho đó là tình trạng phổ biến, hệ quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, là “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo,… gây hoài nghi và làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Song, dù có cố tình tô vẽ thế nào, thì các thế lực chống phá cũng không thể che lấp sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền nhà nước các cấp thực sự là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân dân vẫn luôn bền chặt, gắn bó. Mọi hoạt động của chính quyền đều hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Gần đây, với những nỗ lực cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử, chuyển đổi số,... đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân với chính quyền các cấp, chính quyền phục vụ nhân dân tốt hơn, cán bộ, công chức gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc của nhân dân. Từ đó, nhân dân ngày càng phát huy dân chủ, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt động, phong trào, cuộc vận động của các cấp chính quyền phát động hiệu quả hơn.

          Ngụy tạo hình tượng “người dân thống khổ” để đổ lỗi cho chính quyền

          Đây cũng là một chiêu trò khá quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm tung tin giả để dẫn dắt dư luận theo mưu đồ của chúng. Theo đó, hình tượng người dân trong con mắt của các thế lực thù địch rất đa dạng, nhưng chung quy lại đều có hoàn cảnh thống khổ theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, họ bám vào các đối tượng vi phạm pháp luật1, đã bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội với các tội danh như: “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,... để “phù phép” thành những “người tử tế”, “người hùng”, những “tù nhân lương tâm”,… rồi kêu gọi, lập “hội nhóm”, ra sức kêu oan cho các đối tượng này.

          Một chiêu thức khác là họ lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… mặt khác, họ sử dụng các phương tiện truyền thông để xuyên tạc, quy chụp chính quyền không vì lợi ích của người dân. Chúng còn hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong các tôn giáo tạo cớ kêu gọi đòi đất đai trái pháp luật, gây chia rẽ tôn giáo với chính quyền, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gần đây, xuất hiện một số trí thức, học sinh, sinh viên có nhận thức chính trị hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên blog, mạng xã hội và được các đài, báo phản động nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.

          Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch cũng không từ một thủ đoạn nào để khắc họa một bức tranh xám xịt, một tương lai không lối thoát cho đồng bào nơi đây. Cùng với đó, mảnh đất màu mỡ là “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” luôn được các thế lực thù địch cày xới để trồng những “mầm non” ảo tưởng về sự áp bức, bất công của chế độ ta.

          Họ cũng rất “chịu khó” đi từng ngõ ngách của xã hội, lân la, dò hỏi, góp nhặt thông tin, hình ảnh một số người dân có những tranh chấp dân sự chưa được giải quyết thấu đáo, có hoàn cảnh khó khăn,… để xây dựng nên hình mẫu một người “dân oan” với những ngôn từ khổ sở, thê thảm, rồi kích động, xúi giục mọi người đấu tranh đòi quyền lợi cá nhân. Khi người dân sập bẫy thì những bài viết, video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật được xuất hiện và nhanh chóng chia sẻ trên một số trang mạng của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí. Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang căng mình, nỗ lực để vừa chống dịch hiệu quả, vừa chăm lo tốt an sinh xã hội cho người dân thì các thế lực thù địch lợi dụng thời điểm khó khăn của đất nước, “đục nước béo cò” ra sức tung ra nhiều chiêu trò xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận thành tựu chống dịch của đất nước. Thời điểm này, những luận điệu vu khống, sai sự thật, như: “người dân đấu tranh đòi quyền sống giữa đại dịch”, “hàng nghìn người tham gia biểu tình, tuần hành phản đối chính quyền, kéo lên phường cướp kho gạo vì bị bỏ đói hơn tuần nay”,… được chia sẻ rộng rãi trên một số trang mạng, xúi giục, kích động người dân phá rào cách ly, tấn công lực lượng chức năng. “Tát nước theo mưa”, các tổ chức phản động ở hải ngoại cũng ra sức hùa theo với luận điệu kích động, như: “dân đã bắt đầu biết xuống đường đấu tranh bất bạo động”, “Ai chưa nhận được hỗ trợ hãy làm như họ, xuống đường ngay và luôn”, v.v.

Hoàn thành xong công đoạn tô vẽ hình tượng người dân khổ sở, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách vu khống, bóp méo sự thật, ra sức đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước, cho rằng “họ là nạn nhân” của sự “độc tài, độc quyền”, tham nhũng,… của chế độ ta. Như lẽ tất yếu, cái đích mà chúng luôn ngắm tới của những nỗ lực công kích ấy là chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để đấu tranh hiệu quả.

          Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

          Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

          Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

          Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

          Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

          Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý./.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 8 NĂM 1962!

         “Phải dựa vào nhân dân, vì đông đảo nhân dân rất nhiều tai mắt, cho nên bộ đội, công an không những phải đoàn kết nội bộ, lại phải đoàn kết với nhân dân, dựa vào nhân dân, giáo dục nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”.
Lời dạy của Người trích trong “Bài nói chuyện với trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình” ngày 17 tháng 8 năm 1962. Đây là thời kỳ cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, cứu nước của dân tộc ta ở thời kỳ vô cùng ác liệt, Đảng, Nhà nước đã động viên, khích lệ tinh thần xung kích, tình nguyện của các thế hệ thanh niên làm nên những thành tích vẻ vang trong xây dựng trường học kiểu mẫu, góp sức vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; trong đó, có sự ủng hộ, giúp đỡ rất lớn của nhân dân.
Tư tưởng về phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và giành nhiều công sức xây dựng. Bác luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, đúng như lời Người đã khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Thực tiễn đã minh chứng, chỉ có đoàn kết chặt chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu thì quân đội và công an mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì bộ đội và công an không thể hoàn thành được nhiệm vụ; bởi theo Bác: “Có dân là có tất cả”.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, luôn đoàn kết, gắn bó, phối hợp và tạo điều kiện, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, mỗi lực lượng đều nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy, luôn giữ vững mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn tấn công trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.
Môi trường ST.

 

Tăng cường đào tạo lãnh đạo học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Đào tạo lãnh đạo học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm trang bị tri thức, kỹ năng, nghệ thuật lãnh đạo để họ có đủ năng lực nắm bắt thời vận, biết cách chuyển chúng thành những chiến lược, chính sách và kịp thời, quyết liệt chỉ đạo triển khai hành động để đạt mục tiêu, hiệu quả.

1. Đào tạo lãnh đạo họcvới việc xây dựng phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

Lãnh đạo học được nghiên cứu và giảng dạy rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, môn lãnh đạo học còn rất mới mẻ, chưa trở thành một chuyên ngành với tính cách là một khoa học độc lập. Ở góc độ chung nhất, lãnh đạo học là môn khoa học cung cấp phương pháp luận lãnh đạo cho người học và các chủ thể lãnh đạo trong các tổ chức. Lãnh đạo học trang bị hệ thống tri thức và phương pháp, kỹ năng lãnh đạo dựa trên nền tảng của nhiều lý thuyết về quản lý, tổ chức, tâm lý học lãnh đạo, chính trị học,... Lãnh đạo học mang tính nghệ thuật cao trong điều tiết các quan hệ tổ chức, xã hội và sử dụng nhân lực để cùng đạt mục tiêu chung.

Lãnh đạo học trang bị tri thức, tầm nhìn chiến lược phát triển của tổ chức. Tạo ra tầm nhìn là công việc chính của nhà lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo phải biết dẫn dắt tổ chức mình đi tới đâu, phải xác định tương lai chung của tổ chức. Điều này thể hiện trong năng lực chỉ đạo xây dựng các quyết sách (đường lối, chủ trương, quyết định…) ở các cấp quản lý và bộ, ngành, tổ chức. Năng lực tư duy lãnh đạo học của người lãnh đạo giúp việc xây dựng các quyết sách đúng đắn đem lại hiệu quả cao, đạt mục tiêu quản lý. Việcđào tạo, bồi dưỡng tri thức lãnh đạo họcsẽ giúpcán bộ lãnh đạo, quản lý có thêm năng lực trong việc xây dựng các quyết sách phù hợp, đáp ứng yêucầu của thực tiễn đời sống xã hội.

Lãnh đạo học trang bị tri thức, kỹ năng tổ chức thực tiễn. Vận dụng các quyết sách vào thực tiễn và tổng kết thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm điều chỉnh các quyết sách đã có hoặc xây dựng các quyết sách mới. Năng lực tư duy lãnh đạo học của các nhà lãnh đạo, quản lý cho phép việc vận dụng các quyết sách vào cuộc sống và tổng kết thực tiễn khoa học, khách quan, rút ra những bài học hữu ích cho việc hoàn thiện quyết sách.

Lãnh đạo học đúc rút các mô hình lãnh đạo, phẩm chất người lãnh đạo tiêu biểu. Người lãnh đạo thành công cần hội tụ nhiều tố chất khác nhau, một số nghiên cứu chỉ ra 6 tố chất cụ thể(1): (i) biết lắng nghe; (ii) ra quyết định kịp thời; (iii) truyền đạt để thực thi các quyết định; (iv) động viên nhân viên nâng cao trách nhiệm; (v) chấp nhận rủi ro; (vi) tạo lập uy tín. Một số nghiên cứu khác cho rằng "người lãnh đạo là người có khả năng trình bày tư tưởng một cách đầy đủ và rõ ràng; họ biết rõ họ muốn gì, tại sao họ muốn điều đó, và làm sao để truyền đạt điều họ muốn đến những người xung quanh để thuyết phục mọi người cùng hợp tác thực hiện và cuối cùng là họ biết làm thế nào để đạt đến mục đích "(2).

Người lãnh đạo phải biết khơi dậy và truyền được cảm hứng cho đồng nghiệp và cấp dưới đi theo và thực hiện. Truyền cảm hứng chính là tạo động lực cho những người đi theo mình, củng cố nỗ lực vượt qua các trở ngại trong quá trình theo đuổi mục tiêu. Người lãnh đạo có năng lực là biết tạo động lực, duy trì động lực để cuốn hút mọi người theo một hướng. Trong lãnh đạo, người lãnh đạo biết sử dụng hài hòa quyền lực và uy tín cá nhân để cuốn hút người khác đi theo mình.  Vì thế, lãnh đạo học như là môn nghệ thuật về tổ chức con người.

Người lãnh đạo có nghệ thuật và uy tín truyền cảm hứng cho đồng nghiệp và nhân viên cùng đồng hành theo đuổi tới cùng mục tiêu đã lựa chọn, tức là năng lực tập hợp tập thể đoàn kết tạo sức mạnh thành công.Rõ ràng rằng, để lãnh đạo tốt, người đứng đầu phải được đào tạo để nắm vững tri thức, phương pháp luận lãnh đạo học từ đó tạo ra những tư duy đột phá, vượt qua những giới hạn chủ nghĩa kinh nghiệm vươn tới nắm bắt các nguyên lý khoa học, quy luật khách quan.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với đào tạo lãnh đạo học ở nước ta hiện nay

Triển khai đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo học cho đội ngũ cán bộ là việc làmcấp bách hiện nay. Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng cho cán bộ trong một số lĩnh vực.Ngoài các tiêu chuẩn chung, cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân còn phải: “Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý(3). Đại hội XII đề ra mục tiêu: “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh;…”.Tuy nhiên, thực tế việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý còn xa với yêu cầu, mục tiêu đề ra. Thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt trong khu vực công ở Việt Nam còn nhiều yếu kém, một trong những nguyên nhân là chưa được trang bị đầy đủ, bài bản tri thức và kỹ năng lãnh đạo học. Sự lãnh đạo chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tình huống; việc tổ chức thực hành chức năng chỉ đạo thiếu khoa học. Lãnh đạo thiếu tầm nhìn xa, chiến lược, nặng về xử lý công việc theo tình thế.

Trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng, đòi hỏi  đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ phẩm chất và năng lực,đáp ứng được yêu cầu hoạt động thực tiễn. Lãnh đạo cần phải có phương pháp khoa học để có thể thích ứng với sự vận động của thực tiễn khách quan, tiếp cận những tri thức tiên tiến của nhân loại trong quản lý và thực hành những kỹ năng lãnh đạo phù hợp với trình độ dân trí ngày càng cao. Lãnh đạo phát triển xã hội theo mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Công tác đào tạo môn lãnh đạo học còn hạn chế, bất cập. Khung chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý còn dàn trải, mang nặng tính hàn lâm, kinh viện. Môn học lãnh đạo học chưa được nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng nên việc giảng dạy cho lãnh đạo các cấp trong hệ thống chính trị còn khiêm tốn. Kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Pháp, Nhật Bản, Mỹ cho thấy, đội ngũ lãnh đạo, quản lý cần được đào tạo bài bản trong các trường lớp về chuyên môn và kỹ năng lãnh đạo. Ở các nước phát triển này, lãnh đạo học được tổ chức đào tạo có hệ thống để trang bị cho người học tri thức và kỹ năng làm lãnh đạo trong tương lai hoặc nâng cao năng lực cho những người đang đảm nhận chức vụ lãnh đạo ở các cấp trong khu vực tư và công.

Trong đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý cần coi trọng trang bị tri thức, phương pháp luận lãnh đạo học như tầm nhìn, tư duy chiến lược, tổ chức, nghệ thuật sử dụng nhân lực...hướng tới việc hình thành phương pháp luận và phát triển kỹ năng lãnh đạo cho người học (người lãnh đạo trong tương lai hay hiện tại). Ở Việt Nam, nội dung đào tạo cần tập trung vào yếu tố trọng yếu như: (i) đào tạo tầm, tâm, tài đáp ứng thực tiễn hoạt động lãnh đạo hiện nay; (ii) nghệ thuật sử dụng quyền lực chính trị trong lãnh đạo, kết hợp hài hòa quyền lực chức vụ với quyền lực cá nhân người lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở Việt Nam; (iii) Năng lực ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Tố chất người lãnh đạo là biết cách ra quyết định phù hợp, đúng lúc và tổ chức thực hiện hiệu lực, hiệu quả; (iv) nghệ thuật thực hành lãnh đạo; lãnh đạo hướng đến niềm tin và chiến lược xây dựng lòng trung thành của đồng nghiệp và cấp dưới; lãnh đạo bằng sự ảnh hưởng, bằng nhiệt huyết và truyền cảm hứng và động lực... Xây dựng êkíp mạnh, đủ tầm hiện thực hóa ý tưởng của lãnh đạo.

Khi được đào tạo lãnh đạo học bài bản, năng lực tư duy khoa học của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lýđượcnâng cao, sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng các quyết sách trong phạm vi mình quản lý.

Các quyết sách đưa ra đúng khi người lãnh đạo nhận thức đúng bản chất của vấn đề cần giải quyết. Ngược lại, việc nhận diện mơ hồ vấn đề sẽ dẫn đến việc đưa ra các quyết sách sai. Trên cơ sở nắm được bản chất vấn đề, bối cảnh liên quan, dựa vào năng lực phán đoán, lựa chọn và luận chứng, người lãnh đạosẽ đưa ra các quyết sáchphù hợp nhất.

Đồng thời, lãnh đạo học trang bị cho người lãnh đạo năng lực tư duy, kỹ năng tổ chức hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của người lãnh đạo là tổ chức thực hiện các quyết sách trong phạm vi mình phụ trách. Người lãnh đạo cần truyền cảm hứng, thuyết phục đồng nghiệp, cấp dưới thực hiện các quyết sách. Để đưa các quyết sách vào cuộc sống, người cán bộ lãnh đạo phải làm cho đồng nghiệp, cấp dưới hiểu được ý nghĩa của quyết sách, tin tưởng vào hiệu quả mà chúng đem lại, động viên được họ hăng say, tích cực tham gia hiện thực hóa các quyết sách đề ra vì mục tiêu chung của tổ chức.

Tư duy lãnh đạo học góp phần giúp người lãnh đạo tăng cường kết hợp tri thức mới với tổng kết thực tiễn trong phạm vi mình phụ trách vì mục tiêu lãnh đạo trong tương lai. Việc tổng kết thực tiễn giúp cho đánh giá chính xác những kết quả triển khai các quyết sách, rút ra các bài học phục vụ lãnh đạo điều chỉnh các quyết sách, xác định căn cứ cho hoạch định quyết sách mới.

3. Đề xuất giải pháp tăng cường đào tạo lãnh đạo học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

Thứ nhất, khẳng định rõ hơn về vị trí, vai trò của môn lãnh đạo học trong chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị Việt Nam. Đây là môn khoa học thiết thực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn tri thức lý luận lãnh đạo học với kinh nghiệm thực hành lãnh đạo, chỉ đạo công việc cụ thể ở các đơn vị, cơ quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:“thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”(4). Vì thế, việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng tri thức, kỹ năng lãnh đạo học cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý hiện tại là mục tiêu quan trọng để trang bị nền tảng lý luận lãnh đạo học vững chắc cho đội ngũ này thực hành chức năng lãnh đạo, quản lý hiệu lực, hiệu quả hơn, hạn chế tới mức thấp nhất kinh nghiệm “mù quáng”.

Thứ hai, đa dạng hóa hình thức đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo học. Tổ chức đào tạo dài hạn, tập trung cho các đối tượng có triển vọng đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, quản lý; tổ chức đào tạo chuyên sâu ở cấp sau đại học như thạc sỹ, nghiên cứu sinh. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng lãnh đạo học, đặc biệt là các đối tượng đang đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý để cập nhật tri thức và kỹ năng thực hành lãnh đạo, quản lý. Việc đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo học có thể thực hiện thông qua các hình thức hợp tác giáo dục quốc tế, hội thảo, xêmina,…

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu và giảng dạy môn lãnh đạo học trong hệ thống giáo dục quốc dân và trường Đảng. Đội ngũ này cần được đào tạo bài bản trong các trường lớn của quốc gia và quốc tế, tiếp cận đầy đủ các lý thuyết về lãnh đạo học. Đào tạo nguồn nhân lực, đủ năng lực nghiên cứu, ứng dụng lãnh đạo học phù hợp với điều kiện Việt Nam, có phương pháp sư phạm để truyền đạt môn lãnh đạo học cho các đối tượng học. Thu hút đội ngũ thỉnh giảng, kiêm nhiệm đã và đang đảm nhiệm cácchức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan khu vực công và tư ở nước ngoài.

Thứ tư, hoàn thiện chương trình đào tạo lãnh đạo học, đáp ứng nhu cầu đối với từng đối tượng học (triển vọng làm lãnh đạo, đương chức lãnh đạo, đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy lãnh đạo học). Bên cạnh đó, cần quan tâm tới các chương trình bồi dưỡng lãnh đạo học để kịp thời cập nhật tri thức và kỹ năng lãnh đạo, bồi dưỡng kinh nghiệm hay và trường hợp điển hình cho các đối tượng đương chức lãnh đạo, quản lý trong khu vực công, đáp ứng chiến lược phát triển cán bộ.

Chương trình đào tạo cần kết hợp hài hòa dung lượng kiến thức hàn lâm, lý thuyết với kỹ năng thực hành, rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, xử lý tình huống trong lãnh đạo, quản lý ở các lĩnh vực khác nhau.

_____________________

(1) Allan Colman. Lead as boss. PDUs2Go.com

(2) Bennis. On becoming a leader. London: Arrow. 1998, p.3.

(3) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời.kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1997).

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.95.

 

Nguồn: PGS,TS Vũ Thanh Sơn

Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

Ban Tổ chức Trung ương

 

Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học

(LLCT) - Để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu, nhất là giảng viên tại các trường đại học và học viện phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong những năm qua, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học các trường đại học ở Việt Nam chưa cao. Công trình nghiên cứu khoa học không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí đề tài nghiệm thu xong chỉ để “xếp ngăn kéo” diễn ra phổ biến. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp (cả vĩ mô và vi mô) để hướng đến mục tiêu “mỗi trường đại học là một viện nghiên cứu”, để những công trình nghiên cứu thực sự đem lại hiệu quả trong giảng dạy và ứng dụng thực tiễn là việc làm rất cần thiết.


Hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học là một trong các nhiệm vụ cơ bản, quan trọng không thể thiếu của đội ngũ các nhà khoa học, giảng viên, học viên, sinh viên; là một trong các nhiệm vụ chính, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mục tiêu hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học nhằm: Tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp, sản phẩm mới; góp phần hình thành và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học; nâng cao chất lượng đào tạo. Ứng dụng tri thức, công nghệ mới và tạo ra phương thức, giải pháp mới  phục vụ phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ. Góp phần phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, đóng góp và phát triển kho tàng tri thức, công nghệ của nhân loại.

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng đã có những đóng góp vào thành tích chung của ngành giáo dục và nền khoa học nước nhà. Những kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào các lĩnh vực  đã tạo hiệu quả nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội... Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của đất nước như hiện nay thì hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ khoa học nói chung, lực lượng giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng nói riêng, chưa đáp ứng được yêu cầu (cả về số lượng và chất lượng) để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

Thứ nhất, tình trạng đối phó trong nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, học viện khá phổ biến

Nhiều trường đại học ở Việt Nam còn thiếu năng động dẫn đến hoạt động nghiên cứu khoa học kém hiệu quả. Có thể khẳng định, các trường đại học hiện nay không chỉ là trung tâm đào tạo mà còn phải hướng tới để trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại. Muốn đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tốt, các trường đại học cần chú trọng và ưu tiên cho công tác nghiên cứu. Tuy vậy, thời gian dành cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở Việt Nam còn rất ít, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo có quy chế phân bổ thời gian nghiên cứu khoa học cho các giảng viên. Theo quy định của Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31-12-2014 quy định chế độ làm việc đối với giảng viên đã quy định về nghiên cứu khoa họcGiảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Mỗi năm, giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được đánh giá thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể, tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc tương đương được nghiệm thu từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học chuyên ngành. Nghiên cứu khoa học được xem là nhiệm vụ bắt buộc và là tiêu chí đánh giá lao động của giảng viên.

Tuy nhiên, công việc này của giảng viên hiện chưa được chú trọng đúng mức, chưa thật sự phát triển mạnh mẽ, diễn ra không đồng đều và gần như chỉ tập trung vào một số ít giảng viên. Nếu như ở các nước phát triển, đội ngũ giáo viên trải qua thời gian làm nghiên cứu rồi mới tham gia giảng dạy, còn ở Việt Nam, nhiều trường hợp tham gia giảng dạy mà không qua công tác nghiên cứu. Chính điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học và đào tạo. Ngoài ra, do áp lực phải thực hiện nên việc nghiên cứu còn mang tính hình thức, dựa trên áp dụng những thứ “có sẵn” nhằm giảm thiểu thời gian, chi phí thực hiện, dẫn tới rất nhiều công trình sau khi nghiệm thu chỉ  xếp vào tủ kính để “nhìn cho đẹp”.

Số lượng giảng viên tham gia nghiên cứu không nhiều, một tỷ lệ khá lớn trong số đó chưa thật nhiệt tình và say mê nghiên cứu dẫn đến một số công trình nghiên cứu, dù ở những cấp cao như đề tài cấp bộ... vẫn còn hạn chế về chất lượng với hàm lượng khoa học thấp. Vì thế, nhiều giảng viên chỉ thực hiện để cho đủ giờ, ít quan tâm đến chất lượng công trình mà mình công bố.

Thứ hai, sự gắn kết giữa nghiên cứu và giảng dạy còn thấp: Nhiều giảng viên theo đuổi hướng nghiên cứu khác xa với môn học do mình đảm nhiệm nên việc thực hiện nghiên cứu nhằm bổ sung cho nội dung giảng dạy sau khi nghiên cứu không đem lại kết quả. Một số trường đại học có các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm nhưng việc gắn kết, sử dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ giảng dạy và học tập còn chưa được thực hiện nhiều nhằm ứng dụng kịp thời những kết quả đó. Giảng viên vẫn chủ yếu giảng dạy lý thuyết trong giáo trình, quá trình giảng dạy - nghiên cứu tiến hành một cách độc lập, tách rời nhau.

Thứ ba, ở Việt Nam hiện nay, có một nghịch lý rất đáng quan tâm là trong khi nhiều đề án nghiên cứu thiếu kinh phí thực hiện thì ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học lại phân phối không hết. Cách thức quản lý khoa học như hiện nay chưa đem lại hiệu quả như mong muốn. Có thể nhìn cách phân bổ kinh phí hiện nay như một cuộc đấu thầu xây dựng và các đề tài nghiên cứu đôi khi không phải xuất phát từ nhu cầu thực tế. Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhưng phần ngân sách thực sự để làm nghiên cứu chỉ chiếm 10% tổng ngân sách nhà nước dành cho khoa học và công nghệ. Với con số đó (10% của 15.000 tỷ đồng) cho các loại chương trình, đề tài khoa học các cấp cũng có năm không tiêu hết tiền. Ngân sách nhà nước phân bổ cho hoạt động nghiên cứu khoa học - tức là ngân sách nhà nước do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý lớn gần gấp 3 lần ngân sách nhà nước dành cho Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý (năm 2012, của Bộ Giáo dục và Đào tạo là 5.800 tỷ đồng; trong khi đó cho Bộ Khoa học và Công nghệ là 15.000 tỷ đồng). Đây là điều bất hợp lý khi mà ngân sách nhà nước dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học không được phân bổ trực tiếp đến các trường đại học, mà chủ yếu thông qua cơ chế chương trình, đề tài cấp nhà nước.

 Thực trạng trên có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Phân bổ đề tài chưa hợp lý. Một thực tế đang xảy ra trong thực tiễn là chủ nhiệm các đề tài thường là cán bộ lãnh đạo, quản lý nên thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều. Bên cạnh đó năng lực nghiên cứu của giảng viên còn nhiều hạn chế.

- Không cân đối hợp lý thời gian giảng dạy và nghiên cứu. Định mức giờ chuẩn cho giảng viên trong một năm học là 270 giờ chuẩn; trong đó, giờ chuẩn trực tiếp trên lớp chiếm tối thiểu 50% định mức quy định. Trên thực tế, ở khá nhiều trường đại học, số giờ mà giảng viên thực dạy còn lớn hơn. Với số giờ giảng nhiều nên giảng viên không còn thời gian  dành cho việc nghiên cứu.

- Định hướng nghiên cứu chưa thực sự khoa học: Hiện nay, việc đăng ký đề tài mặc dù được thông qua hội đồng khoa học nhiều lần nhưng chủ yếu phụ thuộc vào người đăng ký, chưa theo hướng nghiên cứu để lựa chọn nơi thực hiện vì thế nhiều khi không xuất phát từ nhu cầu thực của trường, của các ngành học hay của xã hội.

- Thù lao được trả chưa xứng với công sức bỏ ra: Kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ còn có mức cao, nhưng với các công trình nghiên cứu cấp trường hoặc bài báo thì số kinh phí thường rất thấp (từ 15 - 20 triệu/đề tài và 500.000đ - 700.000 đ/bài báo); vì thế, không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu...

Để khắc phục tình trạng yếu kém, lãng phí trong hoạt động khoa học và để phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, giảng viên cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học, học viện thì chính giảng viên - chủ thể của hoạt động này phải thay đổi cách thức nghiên cứu khoa học theo hướng giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra, các vấn đề nảy sinh đòi hỏi phải giải quyết qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu để tạo ra sản phẩm có tính ứng dụng và khả thi. Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam có nhiều vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có những nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực, từ xã hội nhân văn đến các ngành khoa học kỹ thuật. Khi những nghiên cứu đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn thì sẽ không thể để trong ngăn kéo, mà cung cấp luận cứ khoa học trở thành lý luận soi đường cho công cuộc đổi mới, trở thành những sản phẩm có tính ứng dụng cao. Qua nghiên cứu, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn có cơ hội cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, góp phần làm cho bài giảng phù hợp với thực tế.

Hai là, để thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong trường đại học thì các chính sách, thể chế cũng cần đổi mới theo hướng xóa bỏ các rào cản hành chính để giảm thời gian làm thủ tục giấy tờ, tạo động lực thu hút người trẻ say mê với khoa học; cần bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong xét duyệt đề tài nghiên cứu và xem xét lại quy trình nghiệm thu đề tài với mục tiêu là hiệu quả nghiên cứu. Cải tiến thủ tục xét duyệt đề tài theo hướng đặt hàng hằng năm và liên kết các đơn vị sử dụng (doanh nghiệp, tổ chức) và các cơ quan nghiên cứu.

Chủ trương đổi mới cơ chế tài chính và quản lý hoạt động khoa học - công nghệ đã được khẳng định trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31-10-2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Việc xây dựng cơ chế đặc thù trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ; mở rộng áp dụng cơ chế tài chính của quỹ phát triển khoa học và công nghệ là cơ hội rất lớn để Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các cơ sở giáo dục đại học thoát ra khỏi cơ chế ràng buộc, phân bổ mang tính dự toán như trước đây về khai thác tiềm lực nguồn nhân lực về khoa học - công nghệ của các trường và tiến đến xây dựng các trường đại học nghiên cứu. Làm được điều đó sẽ hướng đến xây dựng được trường đại học nghiên cứu - nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ chính, một nguồn thu quan trọng cho hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.

Thực hiện triển khai Luật Khoa học công nghệ năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang xây dựng những chính sách nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học, chính sách kinh phí và biên chế thỏa đáng cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Cùng với đó, việc thành lập các trung tâm ươm tạo và chuyển giao công nghệ trong trường đại học được triển khai sẽ là cầu nối giữa người nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp, hỗ trợ nuôi dưỡng các ý tưởng mới, hoàn thiện và thương mại hóa các ý tưởng, sáng kiến, kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, chính sách xác định phân chia lợi nhuận đối với tác giả, những người nghiên cứu khoa học cũng đang được xây dựng nhằm bảo đảm quyền lợi bản quyền chuyển giao một cách thích đáng cho người nghiên cứu. Với những chính sách đột phá sẽ tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học với nhiều thành tựu, ứng dụng mới.

Ba là, xây dựng cơ chế bắt buộc phải dành thời gian cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Ví dụ, 45% cho giảng dạy; 35% cho hoạt động nghiên cứu khoa học và 20% cho các hoạt động khác (tự học, tự bồi dưỡng). Điều này phải trở thành quy chế bắt buộc với tất cả các trường đại học. Không được phép chuyển đổi thời gian giảng dạy cho thời gian nghiên cứu khoa học.

Bốn là, định mức công trình nghiên cứu khoa học cộng với cơ chế tài chính đủ để tạo ra các công trình nghiên cứu có chất lượng. Giảng viên bắt buộc phải có bài báo được thẩm định công bố hằng năm trên tạp chí có uy tín, thương hiệu thuộc ngành, lĩnh vực.

Năm là, có cơ chế đặc thù để phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ trọng điểm theo mô hình tiên tiến và triển khai những dự án khoa học, công nghệ quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu, khoán kinh phí theo kết quả đầu ra và công khai, minh bạch chi phí, kết quả nghiên cứu. Giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân chủ trì nghiên cứu, đồng thời có cơ chế phân chia lợi ích hợp lý. Nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ về phát triển khoa học, công nghệ; khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá độc lập, tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với hoạt động khoa học. Cơ chế đấu thầu đề tài khoa học sẽ chuyển giao cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo mô hình trường - liên kết với doanh nghiệp để bán sản phẩm nghiên cứu.

Kinh nghiệm của nhiều trường hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ dưới hình thức nghiên cứu ứng dụng triển khai (khoa học kỹ thuật nông nghiệp với nhiều giống hoa, lúa, rau; khoa học công nghiệp dân dụng: với nhiều sản phẩm điện điện tử, cơ khí, v.v..) đã đem lại lợi ích rất lớn cho xã hội và nhà khoa học. Xu hướng thế giới là đang chuyển dần các trường đại học thành đại học nghiên cứu, tức chú trọng đến hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, điều này đã và sẽ đặt ra cho các trường phải dành sự quan tâm, có hướng giải pháp kịp thời cho hoạt động này để mang lại hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.

Cần tổ chức ứng dụng sản phẩm khoa học công nghệ đã nghiệm thu. Đối với nhóm ngành khoa học công nghệ - kỹ thuật: kế thừa thành tựu khoa học công nghệ của các nước trên thế giới và trong khu vực, về cơ bản, các sản phẩm nghiên cứu khoa học được nghiệm thu của nhóm ngành này được ứng dụng trong thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng; mặt khác sản phẩm nghiên cứu khoa học của nước ta với xu hướng xuất khẩu công nghệ và sản phẩm ứng dụng. Đối với nhóm ngành khoa học quản lý: nhóm ngành này thuộc chính sách của Nhà nước thuộc tầm vĩ mô, do vậy ứng dụng chủ yếu là các đề án.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

Tài liệu tham khảo:

1. ĐCSVN: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31-10-2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư 40/2014/TT-BKHCN ngày 18-12-2014 Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn, nhiệm vụ khoa học và công nghệ tiềm năng do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia tài trợ.

3. Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư liên tịch 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22-4-2015 Hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước.

4. Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tài chính: Thông tư liên tịch 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC ngày 22-4-2015 Quy định khoán chỉ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

5.  Nguyễn Bích Thủy: “Thúc đẩy nghiên cứu khoa học trong các trường đại học”, http://www.vietnamplus.vn, ngày 7-3-2014.

 

Nguồn: TS PHÙNG VĂN HIỀN

Học viện Hành chính Quốc gia

 

Đổi mới giảng dạy triết học theo hướng coi trọng trang bị và rèn luyện phương pháp tư duy cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

(LLCT) - Đại hội XII của Đảng nhận định: “Hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị còn lạc hậu”(1).  Vì vậy, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng”(2) là nhiệm vụ cấp bách của Học viện Chính trị quốc gia, trong đó có môn triết học.

Chức năng chủ yếu của triết học là cung cấp thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Để khẳng định và phát huy được chức năng đó của triết học trong giảng dạy, một mặt trên cơ sở lý luận của mình phải giải thích được một cách khoa học những thành tựu khoa học, cũng như những hiện tượng trong thực tiễn cuộc sống, nhất là những thành tựu, những hiện tượng “mới lạ” ít nhiều làm “đảo lộn” những tư tưởng, quan niệm đã có. Mặt khác, cần tiếp tục đổi mới giảng dạy theo hướng coi trọng trang bị và rèn luyện phương pháp luận khoa học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Giảng dạy môn triết học hiện nay vẫn có tình trạng nặng về truyền thụ kiến thức, những nguyên lý, quy luật, ít chú ý khai thác, giáo dục và rèn luyện về phương pháp: phương pháp được rút ra từ những nguyên lý lý luận, tri thức lý luận và những phương pháp với tư cách như một bộ môn độc lập.

Trang bị vốn kiến thức, gia tăng tri thức, cập nhật thông tin là cái cần thiết, nhưng không phải là tất cả. Tri thức, kiến thức trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão - rất nhanh chóng bị lạc hậu. Hơn nữa, lý luận, lý thuyết chỉ là “màu xám xịt” còn thực tiễn cuộc sống biến động hết sức đa dạng, nhanh chóng. Không phải mọi lời giải đáp cho những vấn đề thực tiễn cuộc sống đều có sẵn trong lý luận, lý thuyết. Vì vậy, trang bị, giáo dục, rèn luyện cho người học: phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức để giúp họ nhận thức, tiếp cận những tri thức mới là hết sức cần thiết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên, học lý luận Mác - Lênin là “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(3). Lời chỉ huấn đó của Người vẫn còn nguyên giá trị trong đổi mới giảng dạy triết học Mác - Lênin hiện nay.

Thuật ngữ phương phápbắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức. Theo nghĩa thông thường, phương pháp là những cách thức, thủ đoạn được chủ thể sử dụng để thực hiện mục đích nhất định. Nói đến phương pháp là nói đến phương pháp của con người, do con người tạo ra và được con người sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích nhất định. Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, không có phương pháp tồn tại sẵn trong hiện thực và ở ngoài con người. Phương pháp là kết quả của việc con người nhận thức hiện thực khách quan và từ đó rút ra những nguyên tắc, những yêu cầu để định hướng cho mình trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Những quy luật khách quan đã được nhận thức là cơ sở để con người định ra phương pháp đúng đắn. Do đó, theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định.

Sức mạnh của phương pháp là ở chỗ, trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả nghiên cứu thế giới và cải tạo thế giới. Ph.Bêcơn ví phương pháp như ngọn đuốc soi đường cho người đi trong đêm tối. R.Đêcáctơ khẳng định, chẳng thà không đi tìm chân lý, còn hơn đi tìm chân lý mà không có phương pháp khoa học. Hêghen coi phương pháp là “linh hồn của đối tượng”. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh rằng, vấn đề không phải chỉ là chân lý mà còn là con đường đi đến chân lý, con đường đó (tức phương pháp) cũng phải có tính chân lý.

Tri thức khoa học, lý luận chứa đựng trong nó khả năng trở thành phương pháp, nhưng bản thân những tri thức đó (ngay cả lý luận về phép biện chứng duy vật) chưa phải là phương pháp. Lý luận là lập trường, quan điểm, nguyên lý, quy luật, nhưng phương pháp lại là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, yêu cầu thao tác được rút ra từ những tri thức lý luận để điều chỉnh hành động của con người nhằm mục đích nhất định. Do đó, từ những ngôn ngữ của tri thức khoa học, lý luận (nguyên lý, quy luật, phạm trù...) muốn biến thành phương pháp phải được “chuyển hóa” thành ngôn ngữ phương pháp.

Nội dung triết học được giảng dạy trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.  Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử nói chung, nhất là phép biện chứng duy vật càng ngày càng được thừa nhận là phương pháp luận chung nhất, khoa học nhất của nhận thức và thực tiễn. Trong đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy triết học, học phần chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử ở các cơ sở đào tạo hiện nay do sức ép giảm tải thời lượng các môn học nên đã phải cắt giảm một cách đáng kể. Sự giảm tải đó ở mức độ nào đó cũng là sự cần thiết, tuy nhiên giảm cái gì, không giảm cái gì cũng còn không ít ý kiến khác nhau. Vấn đề muốn đề cập đến ở đây là đi đôi giảm tải về thời lượng thì nội dung giáo trình, giáo khoa và phương pháp dạy – học đổi mới như thế nào mới phù hợp, hiệu quả.

Đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy triết học theo hướng coi trọng trang bị, rèn luyện phương pháp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là hết sức cấp thiết ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ:

Thứ nhất, như chúng ta đã biết phương pháp là công cụ để con người, để cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức, tiếp cận những tri thức mới, là cầu nối giữa lý luận, lý thuyết với thực tiễn, thiếu nó khó nói đến việc phát triển nhận thức, vận dụng một cách sáng tạo lý luận, lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống. Do đó, giáo dục lý luận mà không chú ý đến phương pháp, không chuyển hóa được ngôn ngữ lý luận thành ngôn ngữ phương pháp thì kết quả sẽ rất hạn chế.

Thứ hai,đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy triết học ở nước ta hiện nay theo hướng coi trọng trang bị, rèn luyện phương pháp còn bắt nguồn từ tính phức tạp của đổi mới, của thế giới đương đại. Đổi mới ở nước ta đang diễn ra trong bối cảnh thế giới đầy những biến động phức tạp, khó lường. Thế giới ngày nay phát triển với tất cả tính đa dạng và khác biệt, các nước cùng tồn tại, hợp tác và cạnh tranh để phát triển. Sự phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau giữa các thực thể trong một chỉnh thể chung là thế giới nhân loại đã trở thành một thực tế. Sẽ không một quốc gia - dân tộc nào có thể phát triển được trong trạng thái biệt lập, khép kín. Do đó, ngoài việc nỗ lực giải quyết những vấn đề của chính mình, các nước đều phải tham gia vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế để giải quyết những vấn đề chung, toàn cầu liên quan tới sự phát triển của cả loài người.Đó là vấn đề chiến tranh và hòa bình, đói nghèo và các hiểm họa bệnh tật, là tình trạng bùng nổ dân số, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, là sự đe dọa của khủng bố, của những xung đột sắc tộc và tôn giáo v.v..

Một thế giới không ngừng đổi thay đang tác động vào đời sống xã hội nước ta từ nhiều phía, nhiều chiều cạnh quan hệ và nhiều lĩnh vực, đòi hỏi đất nước - xã hội - con người phải thường xuyên đổi mới và chỉ có đổi mới một cách thông minh, sáng tạo, có nguyên tắc và bản lĩnh trên cơ sở của tư duy biện chứng mới có thể đi tới thắng lợi.

Mặt khác, sự nghiệp đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu, trên không ít vấn đề, ranh giới giữa các vấn đề cần phải kiên trì, kiên định, các vấn đề mang tính nguyên tắc với bảo thủ, giáo điều; giữa các quan niệm mới với hữu khuynh, sai lầm là hết sức mỏng manh và đôi khi không thật rõ ràng. Hơn nữa, nhận thức thế giới đương đại và những vấn đề mới nảy sinh trong đổi mới xuất hiện nhiều kiến giải khác nhau, thậm chí có nhiều ý kiến, quan điểm trái ngược nhau. Để đổi mới có kết quả không chỉ đòi hỏi một tư duy khám phá, sáng tạo, mà còn phải có một quyết tâm chính trị đầy dũng khí vượt lên những quan niệm thịnh hành, “chính thống”, những “khuôn mẫu” giáo điều, cứng nhắc đang đè nặng trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Ngoài ra, đổi mới còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, liên quan đến lợi ích của các bộ phận, giai tầng xã hội và thường làm nảy sinh những mâu thuẫn, những tình huống hết sức phức tạp. Những vấn đề đó đã và đang nổi lên như những tình huống phức tạp cần phải giải quyết để đổi mới, ổn định và phát triển. Giải quyết những vấn đề ấy đòi hỏi ở mỗi người không chỉ nhiệt tâm, ý thức trách nhiệm, thái độ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật mà còn phải có phương pháp khoa học, phương pháp biện chứng trong nhận thức và giải quyết mọi vấn đề.

Chỉ có nắm bắt nhanh nhạy những tình hình mới, những biến động mới, những xu thế mới diễn ra trên thế giới và trong nước mới có thể đề ra những chủ trương, chiến lược, sách lược đúng đắn, thích hợp. Các hiện tượng và quá trình diễn ra trong giai đoạn hiện nay là vô cùng phức tạp và biến hóa khôn lường, để có quan điểm đúng, để không lạc hướng trước thế giới các sự kiện đa dạng, phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức được các mối liên hệ bản chất, những quy luật và tính quy luật nằm ở tầng sâu thế giới các hiện tượng đa dạng, phong phú.

Việc hoạch định chiến lược và các chính sách phát triển, xác lập lộ trình, bước đi và giải pháp phát triển trong tổng thể cũng như trong từng lĩnh vực của đất nước và dân tộc mình đòi hỏi các nhà lãnh đạo cấp chiến lược phải có tầm tư duy và tư tưởng chiến lược, có đối sách và quyết sách khôn ngoan, mềm dẻo, phản ứng mau lẹ và linh hoạt. Tư duy chiến lược ấy rõ ràng đòi hỏi phải ở tầm tư duy biện chứng, khoa học và hiện đại chứ không thể là tư duy siêu hình; là tư duy đổi mới và sáng tạo chứ không thể là tư duy bảo thủ, trì trệ, hẹp hòi, thành kiến. Chỉ có tầm tư duy ấy mới có thể đón kịp thời cơ, vận hội để phát triển và chủ động vượt qua những thách thức, thậm chí là thách thức nghiệt ngã trong quá trình phát triển. Không thể giải quyết những nhiệm vụ của ngày hôm nay bằng những phương pháp và kinh nghiệm của ngày hôm qua. Đổi mới hướng tới phát triển bền vững đã khách quan hóa tầm quan trọng của phương pháp biện chứng, đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ tư duy biện chứng khoa học, nhận thức và hoạt động vận dụng một cách tự giác, nhuần nhuyễn phương pháp khoa học, phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Để đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy triết học trong hệ thống Học viện hiện nay theo hướng coi trọng trang bị, rèn luyện phương pháp tư duy, phải đổi mới nội dung, chương trình. Giáo trình triết học hiện nay đã có những đổi mới song nhiều nội dung còn trùng lặp giữa các chuyên đề, giữa các môn học(4), trong khi đó, thời gian lên lớp, thời gian tự học lại ngắn. Từ đó, người dạy và người học đều chịu những áp lực nhất định.  Vì vậy, cần tiếp tục chỉnh sửa lại giáo trình theo hướng có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với môn học, cấp học, với đối tượng học viên. Cần đầu tư nhiều hơn nữa về vấn đề trang bị, rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp nhận thức và thực tiễn được đúc rút ra từ những kiến thức lý luận.

Hơn nữa, để giảng dạy triết học theo hướng coi trọng trang bị, rèn luyện phương pháp phải tiếp tục đổi mới phương pháp dạy - học. Phương pháp tiếp cận vấn đề, phương pháp được rút ra từ những quan điểm lý luận của giảng viên là hết sức có ý nghĩa trong việc trang bị phương pháp cho người học. Kinh nghiệm giảng dạy cho thấy, cái để lại ấn tượng, cái biến thành của người học chính là phương pháp. Ngoài ra, đổi mới dạy - học theo phương châm lấy người học là trung tâm cũng là quá trình rèn luyện và trang bị phương pháp cho người học và cả người dạy. Ở đây còn đòi hỏi người học phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo từ hiểu biết để rút ra phương pháp.

Giảng dạy triết học trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình. Phương pháp này có ưu điểm truyền đạt được một khối lượng kiến thức lớn, mang tính hệ thống và có lôgíc chặt chẽ. Tuy nhiên, nó dễ làm cho người học thụ động, ít phát huy được tính tích cực, độc lập suy nghĩ. Để khắc phục hạn chế đó, trong những năm gần đây đã bước đầu tiến hành kết hợp phương pháp giảng dạy nêu vấn đề, học tập theo nhóm, sử dụng các phương tiện hiện đại hỗ trợ cho việc dạy và học. Phương pháp giảng dạy nêu vấn đề buộc người học phải biến quá trình tiếp thu kiến thức từ bị động thành một quá trình chủ động, khuyến khích được tính tích cực của người học: tìm tòi, suy nghĩ, tranh luận... Dạy - học theo phương pháp này không những giúp người học lĩnh hội được những kiến thức, mà còn mở rộng được kiến thức, tiêu hóa được kiến thức, chuyển hóa được nó thành phương pháp, công cụ, tư tưởng trong tư duy và hành động.

Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tạo ra được những điều kiện để thực hiện phương pháp này cho có hiệu quả. Điều đó đòi hỏi thầy - trò - cơ sở đào tạo đều phải có sự nỗ lực cao. Người thầy phải biết tổ chức và hướng dẫn người học “tự học”; phải biết gợi mở vấn đề để người học biết đề xuất vấn đề, tranh luận giải quyết vấn đề gắn với những nội dung cần truyền thụ. Người học phải chủ động, tích cực trong học tập, phải mạnh dạn, tích cực trao đổi, tranh luận, thảo luận những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra đòi hỏi phải có sự giải đáp...

Không chuẩn bị tốt những điều kiện trên, vận dụng một cách vội vàng, phương pháp giảng dạy nêu vấn đề sẽ trở nên hình thức, kém hiệu quả. Vì vậy, hiện nay phải biết kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề, đồng thời phải tích cực chuẩn bị tốt các điều kiện để phương pháp nêu vấn đề trở thành phương pháp chủ yếu trong dạy - học triết học.

Hiện nay, giảng dạy triết học vẫn còn tình trạng dạy theo phương pháp thuyết trình, người học tiếp thu một cách thụ động, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa dành thời gian thích đáng cho phương pháp. Vì vậy, đổi mới nội dung, chương trình, nhất là đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng chú trọng trang bị và rèn luyện phương pháp là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả tác giảng dạy môn triết học hiện nay.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 193, 202.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 497.

(4) Mỗi môn học đều có đối tượng và cách tiếp cận riêng của nó. Chẳng hạn, các chuyên đề của môn triết học đều liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, góc độ của môn học đòi hỏi tiếp cận dưới góc độ triết học, lan sang đối tượng của môn khác, góc độ của các môn khác là sự trùng lặp.

 

Nguồn: GS, TS Trần Thành

Viện Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh