Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

 

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản.Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt.Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công.Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN.Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc

 

Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Một trong những dấu mốc quan trọng đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; sau đó là các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Để góp phần thực hiện thắng lợi khát vọng và tầm nhìn phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Kết luận 12). Kết luận 12 là sự kế thừa, tiếp nối của Nghị quyết 36 (2004) và Chỉ thị 45 (2015) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài với tinh thần chủ đạo là hòa hợp dân tộc, chăm lo cho kiều bào và huy động nguồn lực kiều bào cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Các văn bản trên đã thể hiện quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân, thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX đã chứng minh, mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng đồng bào ta vẫn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Trong các công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc đã có rất nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đi liền với đó là những thành tựu to lớn của đất nước sau giai đoạn đổi mới cùng với vị thế ngày càng tăng của đất nước ở khu vực và trên thế giới đã khích lệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tự hào, tự tôn dân tộc, hướng về với cội nguồn, đóng góp cho quê hương. Đóng góp vào thành tựu chung của đất nước có công sức, trí tuệ của nhiều doanh nhân, trí thức người Việt Nam có trình độ cao ở nước ngoài, luôn tích cực tham gia hiến kế cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng như nhân lực chất lượng cao, tài chính, thương mại, đầu tư, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, các mô hình phát triển kinh tế… Hiện đã có 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng mạnh, không chỉ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ mà còn phục vụ chính sách thu hút nguồn ngoại tệ cho Việt Nam, bổ sung dự trữ ngoại hối. Cùng với đó, nguồn lực từ kiều hối góp phần giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, theo số liệu báo cáo của các đơn vị làm dịch vụ chuyển tiền kiều hối, năm 2023, lượng kiều hối chuyển về nước ta đạt 16 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2022. Trong đó, tổng lượng kiều hối về TP Hồ Chí Minh năm 2023 đạt 8,92 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2022. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh dự báo lượng kiều hối năm 2024 chuyển về qua các ngân hàng thương mại và tổ chức kinh tế trên địa bàn sẽ tăng khoảng 20% so với năm 2023.

Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh về số lượng và mở rộng hơn về địa bàn. Vai trò, vị thế, uy tín của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dần dần tạo chỗ đứng vững chắc và có tiềm lực đáng kể về tri thức, trình độ khoa học, kỹ thuật. Không chỉ đóng góp bằng những nguồn lực đầu tư và chất xám, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực bảo tồn, lan tỏa và trao truyền văn hóa Việt. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tiếng Việt là phương tiện lưu giữ, lan tỏa, trao truyền văn hóa, giúp đồng bào ta ở nước ngoài bảo tồn được bản sắc văn hóa riêng, là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhằm tiếp tục phát huy truyền thống, văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài và cụ thể hóa Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 3/8/2022 phê duyệt Đề án “Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2023-2030” nhằm nâng cao nhận thức, tôn vinh vẻ đẹp, giá trị của tiếng Việt trong cộng đồng và bạn bè quốc tế.

Năm 2024 là năm bản lề cho công tác người Việt Nam ở nước ngoài chuẩn bị bước sang một trang mới. Việc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là dịp để các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp thiết thực để phát huy hơn nữa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới; tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây cũng là cơ sở để Đảng ta bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, tạo điều kiện phát huy nguồn lực kiều bào đóng góp cho quê hương, đất nước. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn góp phần xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch.

Những luận điệu lạc lõng với quê hương

 

Với truyền thống yêu nước, hướng về Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn là một nguồn lực quan trọng, có nhiều đóng góp cho tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta trong suốt chiều dài lịch sử. Hiện nay, với khoảng 6 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 80% ở các nước phát triển, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, khẳng định được vai trò, vị thế, uy tín, không những đóng góp tích cực vào phát triển của nước sở tại mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, các đối tượng chống phá vẫn cố tình bóp méo, vu cáo chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong cùng một số đối tượng chống đối cực đoan lập các trang web, facebook, youtube, twitter, tiktok, zalo… tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham vọng định hướng chính trị”; cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại hải ngoại… Thậm chí các đối tượng còn rêu rao rằng, Việt Nam đang tìm cách “đảng hóa” với cả những hội, đoàn trong tương lai mà Đảng hậu thuẫn tại hải ngoại! Các đối tượng cố tình xuyên tạc, vu cáo rằng kể từ Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đến Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai “thực chất là những chiêu trò ru ngủ giả hiệu dân chủ”!

Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Ảnh: tuyengiao.vn

Đây là những luận điệu xuyên tạc xuất phát từ tư tưởng thù địch nhằm bóp méo bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. Mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về nguồn cội, gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã có những đóng góp to lớn về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Có thể nhận diện các chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo trên những dạng thức

 

Một là, chia rẽ các tôn giáo với nhau, bên trong từng tôn giáo và giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên thực tế, nhiều ý kiến còn chủ quan cho rằng, việc các thế lực thù địch, phản động chia rẽ các tôn giáo với nhau ít hoặc không tác động đến khối đoàn kết dân tộc, không ảnh hưởng tới sức mạnh chung của đất nước, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Đây là một quan điểm sai lầm. Một dân tộc không thể nói là đoàn kết nếu như các bộ phận cấu thành trong đó riêng rẽ, nghi kỵ, công kích, chống phá lẫn nhau và một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng như Việt Nam thì điều đó càng phải được nhận thức rõ. Bằng chứng là lịch sử dân tộc thời kỳ 1955 – 1975 cho thấy, để bình định, thâu tóm miền Nam Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ tấn công ra miền Bắc, bằng những chiêu thức ngấm ngầm và công khai, chính quyền Việt Nam cộng hòa khi đó, đặc biệt là dưới thời kỳ cai trị của Mỹ - Diệm đã sử dụng triệt để chiêu bài chia rẽ, phân hóa các tôn giáo với nhau, giữa người theo và không theo tôn giáo. Theo đó, Việt Nam cộng hòa đã chủ trương thúc đẩy, hình thành tại các giáo phái (các tổ chức tôn giáo) khi đó như Cao Đài, Hòa Hảo (có những lực lượng quân sự bên trong); sự xuất hiện, ra đời của cái gọi là “Quân đội Hòa Hảo”, “Quân đội Cao Đài”, “Bình Xuyên” có căn nguyên từ đó.

Ngày nay, trong bối cảnh mới, sự chia rẽ giữa các tôn giáo với nhau hòng phá hoại khối đại đoàn kết không còn diễn ra như trước đây.Tuy có sự khác nhau về cách thức, cường độ song đây vẫn được xem là một vấn đề trọng tâm, được các thế lực xấu triệt để thực hiện với sự đan xen giữa phương thức cũ và mới. Theo đó, các đối tượng triệt để sử dụng những tiện ích của các trang mạng xã hội, phương tiện truyền thông đại chúng thiếu thiện chí với Việt Nam như VOA, RFA, RFI…, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, tạo sự đối lập các tôn giáo với luận điệu “nhà nước đang ủng hộ, hậu thuẫn, coi trọng cho tôn giáo này, bóp nghẹt tôn giáo kia”. Đồng thời, chúng phủ định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Với thủ đoạn này, chúng nhằm “một mũi tên trúng hai đích”: Vừa xuyên tạc, tố cáo chính quyền, làm cho mối quan hệ giáo hội với chính quyền trở nên xấu đi, thậm chí rơi vào bế tắc, đối kháng, vừa gây chia rẽ nhằm làm các tôn giáo đối lập, đối đầu với nhau. Tại một số địa phương, một số chức sắc tôn giáo cực đoan đã công khai so sánh về quỹ đất mà chính quyền cấp cho. Chúng tung ra luận điệu: “Tôn giáo nào biết nghe lời, bị khuất phục thì tôn giáo đó muốn gì, đòi gì cũng được và ngược lại”. Với thủ đoạn này, dù không trực diện nhưng về lâu dài, các đối tượng mưu đồ làm cho bà con các tôn giáo tại cơ sở đối lập, mâu thuẫn với nhau. Chúng xuyên tạc, thổi phồng các luận điệu rằng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam “hà khắc” với tôn giáo này, ưu ái tôn giáo kia trong sinh hoạt và giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng, nhất là về đất đai, xây dựng... Đồng thời lên án, chỉ trích sự đồng hành của các tôn giáo đối với một vấn đề, sự vụ cụ thể, qua đó khoét sâu làm cho giữa các tôn giáo với nhau và trong từng tôn giáo có sự phân hóa sâu sắc về mặt đường hướng, thái độ và cách thức ứng xử.

Những năm qua, trước sự tàn phá của thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19, Giáo hội các tôn giáo đều đồng hành, chung tay ứng phó, khắc phục hậu quả xảy ra và phòng ngừa những vấn đề tương tự. Rất nhiều những hình ảnh các tín đồ, chức sắc tôn giáo không quản ngại khó khăn, vất vả, nguy hiểm đến các vùng tâm dịch để hỗ trợ người dân… Song với thái độ thiếu thiện chí, các thế lực thù địch đã bỉ bôi, cho rằng điều đó là không cần thiết, kích động rằng “Giáo hội Phật giáo có lí do để dấn thân vì dù sao Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng xem đó là Quốc giáo”, còn người Công giáo “nên lo cho mình, người đồng đạo của mình trước”!

Để tạo ra sự đối lập, gia tăng các mâu thuẫn, bất đồng, chúng đã triệt để khai thác những vấn đề tồn tại trong lịch sử, bịa đặt, xuyên tạc về quá trình hình thành, phát triển của từng hệ phái trong mỗi tôn giáo cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một số nhà lãnh đạo Phật giáo đóng vai trò tập hợp, quy tụ chức sắc, tín đồ Phật giáo trong nước và miệt thị đường hướng mục vụ “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Chúng xuyên tạc rằng, đó là tinh thần lệ thuộc Nhà nước của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ra sức cổ xúy, quảng bá về đường hướng của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, bất chấp tổ chức này đã bị vạch trần bản chất tay sai, chống phá nhà nước và đi ngược lại quyền, lợi ích của dân tộc. Hình ảnh, hoạt động của các đối tượng chống phá như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh được tâng bốc, xem như đó là những “đấng chân tu chân chính”. Chính điều này đã ngăn cản và làm cho lộ trình thống nhất trọn vẹn Phật giáo Việt Nam đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Hai là, chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước.

Với âm mưu làm suy giảm tiềm lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, gây mất ổn định tình hình ANTT, các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn, trong đó có chiêu bài chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng mưu đồ gây nên những bất ổn từ bên trong, tiến tới những cuộc “cách mạng màu”, bạo loạn, lật đổ. Chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước ta gần đây diễn ra dưới các dạng thức sau:

(1). Tìm cách gieo rắc, thổi phồng mâu thuẫn, tranh chấp, qua đó tuyên truyền rằng, tôn giáo không thể đồng hành với chế độ XHCN tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, chúng cố tình xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Chúng tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, tự cho rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tuyệt đối và không chịu bất cứ sự ràng buộc, chế tài xử phạt nào, kể cả khi xâm phạm quyền, lợi ích của các chủ thể khác được pháp luật bảo hộ. Bịa đặt việc Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo. Thủ đoạn này được thực hiện phổ biến từ giai đoạn năm 1995 trở đi, khi Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các hoạt động giao lưu, đối ngoại quốc tế được mở rộng. Nhiều vụ việc đã được truyền thông quốc tế thù địch với Việt Nam khai thác tối đa khiến dư luận quốc tế hiểu sai về tình hình tôn giáo, tự do tôn giáo trong nước. Vụ việc Thái Hà – Nhà Chung (Hà Nội) năm 2008, 2009 và chuỗi các hoạt động, vụ việc phức tạp tại Giáo phận Vinh (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), nhất là sau vụ ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải là những ví dụ điển hình.

(2). Trong vụ ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vụ việc này để “gia công”, đẩy sự việc lên thành điển hình, thiết lập sự đối kháng giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo. Chúng kích động, xúi giục để một số chức sắc Công giáo có cái nhìn phiến diện, lệch lạc về vấn đề trên. Sau đó, núp bóng dưới danh nghĩa “đòi khiếu nại bồi thường” thiệt hại sự cố môi trường biển để kích động, tụ tập hàng ngàn giáo dân, mang băng rôn, khẩu hiệu kéo lên bao vây trụ sở UBND huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh (xảy ra tháng 4/2017). Thay vì cùng nhau ngồi đối thoại, đưa ra những ý kiến trên tinh thần xây dựng với chính quyền địa phương thì các đối tượng lại hô hào, kích động hòng tạo ra xung đột. Từ đó, chúng lu loa, vu vạ rằng, Đảng, Nhà nước ta đang “can thiệp thô bạo vào quyền tự do tôn giáo” của người dân!

Thời điểm năm 2021, 2022 khi đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, trong khi người người, nhà nhà đều chấp hành các quy định đưa ra để đưa đất nước an toàn, vượt qua đại dịch, giảm thiểu tối đa thương vong về con người, vật chất thì một số cá nhân chức sắc tôn giáo đã kích động người dân tụ tập, không chấp hành các quy định phòng, chống dịch, gây phức tạp tình hình. Khi bị lên án, với sự kết hợp “nội công ngoại kích”, các đối tượng cực đoan, bất mãn chính trị trong nước và các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã xuyên tạc việc Nhà nước, chính quyền địa phương cấm đoán, không cho các tổ chức tôn giáo hành lễ, sinh hoạt tôn giáo. Chúng lu loa rằng, Đảng và Nhà nước ta đang “đàn áp tôn giáo”.

Ba là, song song với thủ đoạn tạo dựng sự đối lập giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo, các thế lực thù địch, phản động cổ xúy, hình tượng hóa những đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo.

Những đối tượng này là mạng lưới, chân rết được các thế lực thù địch, phản động khoác lên những ngôn từ mỹ miều rằng, “nhân tố đủ sức, đủ tầm để thiết lập nên một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được thực hiện đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Sự tô vẽ có chủ đích từ mạng xã hội cùng sự hậu thuẫn từ các đối tượng chống phá bên ngoài khiến nhiều đối tượng trong cuộc ngộ nhận về vị trí của bản thân.Chúng xây dựng một thế lực để hòng đối trọng với Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo, quy tụ nhân dân của Đảng, Nhà nước ta.

Với sự giúp sức của nhóm người Việt chống phá lưu vong từ bên ngoài, một số chức sắc cực đoan dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường đã khởi kiện chủ thể trực tiếp gây ô nhiễm và đòi đền bù thiệt hại, họ vận động chính giới, nghị viện các nước châu Âu “cùng đồng hành với bà con giáo dân” trong hành trình kiện công ty Formosa. Nhưng thực chất là nhằm thổi phồng bản chất vụ việc, làm phức tạp vấn đề, tạo cớ để các tổ chức dân chủ, nhân quyền, chính giới một số nước nhân sự việc nói trên để ngợi ca, vinh danh, xướng tên một số chức sắc cực đoan trong các giải thưởng có tính thường niên, đột xuất. Để đánh bóng tên tuổi, cổ súy, hình tượng hóa một số chức sắc cực đoan, các thế lực thù địch, phản động đã hậu thuẫn cho các đối tượng có thêm “thành tích”. Đơn cử như linh mục Đặng Hữu Nam (Giáo phận Vinh) liên tiếp nhận nhiều giải thưởng như “giải thưởng Nhân quyền năm 2017” hay “giải thưởng Lê Đình Lượng năm 2021”.

Từ những vấn đề được chỉ ra có thể thấy, dù thời kỳ, giai đoạn lịch sử nào thì âm mưu, ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo đều được các thế lực thù địch, phản động chú trọng thực hiện. Việc nhận diện, lật tẩy những chiêu trò chống phá giúp quần chúng nhân dân, dư luận xã hội thấy được tính chất nguy hiểm, phản động, từ đó có những định hướng cụ thể, tránh bị các đối tượng dẫn dắt, lợi dụng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển đất nước.