Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Nhận rõ bản chất “công bằng xã hội” trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

 

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu.Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở hữu là nền tảng của công bằng xã hội.Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.

Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư sản.

Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.

Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản, giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân, những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần, cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất bóc lột, bất công của CNTB.

Bản chất của các nền chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”(1). Xét đến cùng, những bất công trong xã hội tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức sản xuất và chế độ chính trị TBCN.

Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

 

Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau.

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ BGQG hiện nay.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và quản lý, bảo vệ BGQG.

Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở ngoài nước.

Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG.

Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp.

Bốn là, thường xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG.

Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Âm mưu tinh vi, thủ đoạn thâm độc

 

Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả tin.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Cùng với những luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền, các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo của nước ta (!).

Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

 

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.