Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

 

Phê phán thói vô cảm, “vì dân suông” của một bộ phận cán bộ, đảng viên

Một trong những biểu hiện suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: “Không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân”; “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Không chỉ vậy, một số cán bộ, đảng viên thời nay còn có biểu hiện mị dân, “vì dân suông”, từ đó tạo khoảng cách với dân, gây mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, chúng ta phải đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện vô cảm, “vì dân suông” để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành, mẫn cán, thật sự vì dân, vì nước.

Tinh vi những biểu hiện mị dân, “vì dân suông”

Phê phán thói tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, dân ta có câu ca dao: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín, kẻ cười người chê”. Hàm ý sâu sắc hơn, câu ca dao muốn nhắn nhủ, nhắc nhở con người phải luôn coi trọng giữ gìn chữ “tín”, nói đi đôi với làm; còn nếu ai mà nói nhiều hơn làm, dù làm chỉ kém nói một chút thôi thì cũng đáng coi thường, chê trách.

Phê phán thói vô cảm, “vì dân suông” của một bộ phận cán bộ, đảng viên
 Ảnh minh họa: Dân trí 

Thời nay, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện chỉ nói mà không làm, chỉ hứa rồi để đấy, chỉ thề thốt mà không hành động, người dân gọi đó là những kẻ nói suông, hứa suông, thề suông.

Cách đây 8 năm, ngày 27-5-2016, phát biểu tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ cảnh báo một số cán bộ, đảng viên có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến, không học hỏi người lao động, mà còn có biểu hiện “vì dân suông”, tức là chỉ nói mà không làm, hay hô hào, kêu gọi vì dân, nhưng lại không có những việc làm cụ thể, thiết thực để mang lại quyền, lợi ích chính đáng cho nhân dân.

Những biểu hiện “vì dân suông” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra khá tinh vi. Có cán bộ gần dân mà vẫn không hiểu lòng dân. Những cán bộ này tuy đến với dân, nhưng chỉ tuyên truyền, vận động, giải thích cho dân theo ý chỉ đạo áp đặt của mình mà không thành tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân. Giả sử nếu có lắng nghe thì cũng “nghe để biết”, nhưng thực chất là bỏ ngoài tai, không tìm cách giải quyết thấu đáo những ý kiến, băn khoăn, vướng mắc của dân và cả những mong muốn chính đáng của bà con. Trong cuộc tiếp xúc cử tri ngày 14-10-2023 tại Hà Nội trước kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở cán bộ, đảng viên nói chung, đại biểu Quốc hội và HĐND nói riêng cần khắc phục bệnh hình thức, khi tiếp xúc, đối thoại với dân thì phải “tuyệt đối tránh tình trạng hình thức, ngồi ra vẻ chú ý lắng nghe nhưng lại không nghe”.  

Ngoài ra còn có những cán bộ tuy bề ngoài gần dân mà thực chất lại sống xa dân. Số cán bộ này khi gặp dân thì vẫn “mồm năm miệng mười”, cố gắng không làm mếch lòng người khác, nhưng bản thân và gia đình lại có một cuộc sống biệt lập, khác xa người dân. Nhờ các mối quan hệ “bôi trơn” và biết kiếm chác mà họ có nhà to, xe đẹp, thu nhập khủng, gia đình ung dung hưởng thụ một cuộc sống đề huề trong nhung lụa, mặc cho bao người dân lao động vẫn quanh năm tảo tần, lam lũ vì miếng cơm, manh áo. Với họ, tiếp xúc với dân chỉ là nghĩa vụ đơn thuần chứ không thực sự tâm huyết với dân, chung sức đồng lòng gánh vác bao nỗi lo toan hằng ngày của người dân. Bởi nếu thương yêu quần chúng cần lao, họ đâu lợi dụng kẽ hở pháp luật, đục nước béo cò để nhăm nhăm vun vén lợi lộc cho cá nhân, cốt để vinh thân phì gia. 

Điều đáng nói, những động thái “vì dân suông” thường được bao bọc một lớp hào nhoáng, tinh vi mà không phải người dân nào cũng dễ nhận diện. Hơn nữa, để dễ bề che mắt thiên hạ, bên ngoài thì bao giờ họ cũng đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) và luôn chủ định làm một vài việc bề nổi nào đó nhằm vừa tránh bị mang tiếng là không thân thiện với dân, vừa phần nào lấy lòng dân. Suy cho cùng, một khi cán bộ coi việc gần dân chỉ là tấm bình phong, là màn kịch để che giấu những mục đích, động cơ thiếu trong sáng của mình thì đó là một thứ gần dân hình thức, giả dối, thực chất là mị dân.

Tác hại của thói vô cảm, “vì dân suông”

Thói vô cảm, “vì dân suông” là một trong những biểu hiện suy thoái đáng báo động đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đề cập vấn đề này, Đảng ta cho rằng, trong điều kiện hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về quan điểm quần chúng, về quyền làm chủ của nhân dân cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục.

Sau khi Liên Xô vừa sụp đổ, một số học giả nước này đã làm cuộc điều tra xã hội học rất đáng suy ngẫm. Trong phiếu điều tra, trả lời câu hỏi “Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai?", thì có tới 85% ý kiến cho là đại diện của giới cán bộ quan chức nhà nước quan liêu, chỉ có 11% cho là đại diện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Một đảng cộng sản cầm quyền mà tỷ lệ giới chức quan liêu, xa rời quần chúng, vô cảm với dân lớn đến mức nghiêm trọng như vậy, thế nên lúc gặp sóng gió không được nhân dân ủng hộ và bị các thế lực khác tước quyền lãnh đạo cũng không có gì khó hiểu!

Đâu chỉ có chuyện cán bộ sống quan liêu, “vì dân suông” xảy ra bên Liên Xô, mà ngay ở nước ta cũng cần nhắc lại vụ việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm, sống xa dân nên để lại một bài học xương máu về mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Năm 1997, một bộ phận không nhỏ nông dân tỉnh Thái Bình tụ tập đông người phản đối cấp ủy, chính quyền có nguyên nhân chủ yếu là do quyền làm chủ của người dân đã bị vi phạm nghiêm trọng, chính quyền cơ sở huy động quá sức dân, thậm chí lạm thu nhiều khoản bất chính, trong khi đó một số cán bộ chủ chốt ở địa phương giàu lên một cách bất minh và lại có lối sống xa hoa, kệch cỡm, nên càng gây bất bình trong nhân dân. Sau sự kiện đáng buồn này đã có hơn 2.000 cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, hơn 70% số tổ chức cơ sở đảng phải thay từ một nửa đến hai phần ba cấp ủy. 

Nhắc lại những ví dụ nêu trên để thấy rằng, quần chúng nhân dân nhìn nhận, đánh giá Đảng chủ yếu là thông qua phẩm chất, tư cách, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nói quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng không phải là giảm sút lòng tin đối với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, mà là đối với những cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, hư hỏng và không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, chỉ biết lo vun vén lợi lộc cho bản thân, gia đình mà không có hành động thiết thực để góp phần chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Cán bộ, đảng viên cần trọng dân thực tâm, chăm lo cho dân thật lòng

Từ những thăng trầm, hưng vong của các vương triều phong kiến Việt Nam trong lịch sử, từ những thành bại trong việc huy động lòng dân, phát huy sức dân trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha đã đúc kết những lời thấm thía và trở thành bài học nhắc nhở muôn đời cho con cháu hôm nay và mai sau, đó là: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi); “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” (Trần Hưng Đạo); nước phải lấy dân làm gốc, vì “Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh).

Cách đây 12 năm, ngày 7-6-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Quy định số 101-QĐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, đã quy định 7 nội dung cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, trong đó có 2 nội dung liên quan đến ý thức, tác phong, phong cách ứng xử của cán bộ với nhân dân, gồm: “Nêu gương về tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng”; “Nêu gương về ý thức phục vụ nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân”. Thực chất của những quy định này là yêu cầu cán bộ, đảng viên không vô cảm, không “nói suông” với nhân dân, không sống xa dân.

Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thời nay phải khắc cốt ghi tâm lời Bác Hồ chỉ dẫn: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Nếu cấp ủy đảng, chính quyền nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng mà cứ phải tất ta tất tưởi “chạy ngược chạy xuôi” bởi lòng dân phân tâm, ly tán thì nguy cơ tan rã niềm tin của dân với Đảng, với chế độ ta là khó tránh khỏi. Đó là bài học không thể xem thường.

Muốn được lòng dân thì cán bộ, đảng viên phải thực tâm nói đi đôi với làm, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, tuyệt đối tránh những biểu hiện vô cảm, mị dân, “vì dân suông”. Khi được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, nhất định khối sức mạnh đại đoàn kết toàn dân sẽ được củng cố, tăng cường và trở thành sức mạnh dời non lấp biển, từ đó chúng ta có thể đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam”.

 

Không “chính trị hóa” các vụ án kinh tế

Phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm, do Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh mở, đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Bên cạnh thông tin khách quan, phản ánh trung thực diễn biến phiên tòa và bản chất vụ án, không gian mạng cũng liên tục xuất hiện những thông tin xuyên tạc, kích động theo hướng “chính trị hóa” các quan hệ kinh tế, nhằm phá hoại môi trường đầu tư, gây rối an ninh chính trị, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước...

Thấy gì từ vụ án xét xử Trương Mỹ Lan và đồng phạm?

Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, với vai trò chủ mưu của Trương Mỹ Lan, được dư luận truyền thông trong nước và quốc tế đánh giá là vụ “đại án” có tính chất rất phức tạp, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Trương Mỹ Lan và đồng phạm đã sử dụng những thủ đoạn tinh vi để “rút ruột” ngân hàng, tham ô, tham nhũng, gây thiệt hại cho Nhà nước và các tổ chức, cá nhân với tổng số hơn 400.000 tỷ đồng. Đồng phạm giúp sức, cấu kết với Trương Mỹ Lan có 41 lãnh đạo, cán bộ Ngân hàng SCB; 15 cựu cán bộ Ngân hàng Nhà nước; 3 cựu cán bộ Thanh tra Chính phủ; 1 cựu cán bộ Kiểm toán Nhà nước... và nhiều cá nhân khác.

Chính vì tính chất phức tạp và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của vụ án nên các cơ quan thực thi pháp luật đã phải xử lý một khối lượng công việc khổng lồ, với khoảng 6 tấn hồ sơ, tài liệu. Điều tra, khám phá thành công vụ án đặc biệt lớn, đặc biệt nghiêm trọng này là sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của các cơ quan thực thi pháp luật; thể hiện tinh thần kiên quyết, kiên trì trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... của Đảng, Nhà nước ta.

Không “chính trị hóa” các vụ án kinh tế
 Bị cáo Trương Mỹ Lan (thứ 2, từ trái sang) tại phiên tòa ngày 7-3. Ảnh: TTXVN

Những kẻ làm ăn bất chính, có hành vi tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng... sẽ phải chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật. Tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ và hiệu lực của sức mạnh cảnh báo, răn đe, nghiêm trị đã được thực thi rất nghiêm minh, thông suốt.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, nhiều phương tiện, ấn phẩm truyền thông mang tư tưởng thù địch và tài khoản trên các nền tảng mạng xã hội của các thành phần bất mãn, cơ hội chính trị, các đối tượng thù địch trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài... lại cố tình bẻ cong sự thật, xuyên tạc, lèo lái vụ án đi theo một hướng khác.

Từ khi Tòa án Nhân dân TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm vào ngày 5-3-2024 đến nay, nhiều phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và các tài khoản của các tổ chức phản động trên mạng xã hội đã liên tục phát, đăng tải những nội dung theo hướng “chính trị hóa” vụ án kinh tế để lèo lái dư luận.

Họ lợi dụng thành phần xuất thân của Trương Mỹ Lan và một số đối tượng khác (là người Việt gốc Hoa) để tung tin xuyên tạc, kích động. Một mặt, họ cho rằng người như bị cáo Trương Mỹ Lan, pháp luật Việt Nam sẽ không dám xử nghiêm; mặt khác, họ tung tin xuyên tạc, vu cáo Việt Nam đang thực hiện cái gọi là “đàn áp tư sản”, rồi “khuyến cáo” các nhà đầu tư nước ngoài từ bỏ ý định đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, truyền thông mang tư tưởng thù địch còn lớn tiếng chỉ trích, phê phán hệ thống pháp luật và hệ thống chính trị ở Việt Nam là “tạo ra nhiều lỗ hổng để tham nhũng phát triển”...

Tỉnh táo nhận diện, quyết liệt đấu tranh

Đứng trên lập trường khách quan, chúng ta thấy rõ, những luận điệu mang đầy tính hiềm khích, xuyên tạc, kích động kiểu như vậy đều là những dạng biểu hiện của “thuyết âm mưu” do các thế lực thù địch rắp tâm thực hiện. Âm mưu của họ là gây mâu thuẫn dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và chính sách dân tộc, tôn giáo; chính sách ngoại giao nhân dân... của Đảng, Nhà nước ta; phá hoại môi trường đầu tư và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Bám vào những diễn biến của phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Trương Mỹ Lan và đồng phạm để tung tin xuyên tạc, kích động, lèo lái dư luận... là thủ đoạn nằm trong chiến dịch truyền thông “bẩn” mang “thuyết âm mưu” của các thế lực thù địch, chĩa mũi nhọn chống phá đất nước. Nhìn rộng ra và xâu chuỗi các vấn đề, sự kiện trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian qua, chúng ta sẽ thấy rõ hơn mưu đồ này.

Theo đó, trước, trong và sau mỗi vụ án, vụ việc, sự kiện... liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng công lý, thì truyền thông mang tư tưởng thù địch cũng dồn dập các chiến dịch tuyên truyền theo hướng đả kích, chống phá. Họ không chỉ cố tình sổ toẹt, phủ nhận thành tựu, hiệu lực, hiệu quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn lấy đó làm môi trường để “ký sinh” tư tưởng phản động nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Đảng ta đến cùng.

“Chính trị hóa” các vụ án kinh tế, các quan hệ kinh tế bằng kiểu lập luận ngụy biện, lấy hiện tượng để quy kết bản chất, lấy cái cá biệt để quy chụp tổng thể... là chiêu bài được các thế lực thù địch sử dụng, “nhai đi nhai lại” liên tục.

Để nhận diện rõ hơn chiêu bài thâm độc, xảo biện, xảo quyệt của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động, cần có tư duy biện chứng, đánh giá vấn đề một cách tổng thể, khách quan. Chúng ta đều biết rõ, tham nhũng, tiêu cực là một thuộc tính của xã hội có giai cấp. Không có bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào không tham nhũng và không có các vụ án về kinh tế.

Nhìn gần hơn, ở một số quốc gia châu Á trong những năm vừa qua, người ta còn truy tố, xử lý cả các nguyên thủ vì tội tham nhũng. Để khám phá, điều tra thành công một vụ án kinh tế, hoàn toàn không phải là một công việc dễ dàng. Nó đòi hỏi các cơ quan thực thi pháp luật phải mất rất nhiều công sức, thời gian để truy tìm, củng cố, hoàn thiện chứng cứ, hồ sơ.

Chính vì vậy, những quan điểm cho rằng, tham ô, tham nhũng, tiêu cực là “đặc trưng” ở Việt Nam, rằng Việt Nam “càng chống, tham nhũng càng nhiều” là kiểu lập luận quy chụp, phiến diện, võ đoán, cố tình “đánh bùn sang ao” nhằm gây rối an ninh chính trị, phá hoại, kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Nhìn từ vụ án xét xử Trương Mỹ Lan và đồng phạm cũng như tinh thần kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ... trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay giúp cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước củng cố lòng tin, kiên định với mục tiêu, chiến lược, sách lược của Đảng. Với phương châm lấy phòng ngừa là chính, “chặt cành để cứu cây”, “trị một người để cứu muôn người”..., tính nghiêm minh của pháp luật và tinh thần nhân văn xã hội chủ nghĩa trong quan điểm của Đảng đã và đang phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả chấn hưng, cảnh tỉnh, răn đe trong môi trường đầu tư và đời sống xã hội.

Thông qua đó, giúp chúng ta nhận diện rõ hơn những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch để có tinh thần, thái độ, phương pháp đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả. Mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nòng cốt là đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu..., cần thống nhất nhận thức, tuyệt đối không nghe theo, hùa theo những luận điệu xuyên tạc, phản động.

Bên cạnh đó, cần lên tiếng đấu tranh trên không gian mạng, thông qua các nền tảng mạng xã hội, vạch trần, lật tẩy, chỉ rõ những luận điệu xuyên tạc mang ý đồ đen tối của các thế lực thù địch, góp phần lành mạnh hóa môi trường truyền thông, bảo vệ vững chắc đường lối, chủ trương, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những chiến lược cần có để tạo bước ngoặt trong ứng phó với chủ nghĩa khủng bố hiện đại

 

Cách đây 13 năm, Osama bin Laden - kẻ chủ mưu vụ tấn công khủng bố 11/9 ở Mỹ - đã bị tiêu diệt. Nhiều người trên thế giới hy vọng sự kiện này sẽ là bước ngoặt trong cuộc chiến chống khủng bố, coi đây là một đòn quyết định chấm dứt các hoạt động bạo lực cực đoan.

Tuy nhiên, chủ nghĩa khủng bố vẫn tồn tại như một mối đe dọa toàn cầu hiện nay, bằng chứng là sự kiện bi thảm hôm 22/3, khi vụ tấn công khủng bố kinh hoàng làm rung chuyển địa điểm tổ chức hòa nhạc Crocus City Hall ở Krasnogorsk, gần Moscow (Nga). Cuộc tấn công do tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng thực hiện đã cướp đi sinh mạng của 145 người vô tội, cùng với hàng trăm người khác bị thương.

Hậu quả của những hành động tàn bạo như vậy khiến các cộng đồng choáng váng, đồng thời, gieo rắc nỗi sợ hãi và bất an trong lòng người dân trên toàn thế giới. Trước sự tàn bạo như vậy, câu hỏi được đặt ra: “Làm thế nào chúng ta có thể đương đầu với chủ nghĩa khủng bố một cách hiệu quả?”. Tác giả cho rằng, mặc dù không có giải pháp duy nhất cho vấn đề phức tạp này, nhưng có một số chiến lược có thể được sử dụng để giảm thiểu mối đe dọa và hướng tới một thế giới an toàn hơn.

Trước hết, điều quan trọng là phải chỉ ra rằng, trong thế giới kết nối mà chúng ta đang sống, chủ nghĩa khủng bố không có ranh giới. Vì vậy, cách ứng phó của con người đối với chủ nghĩa khủng bố phải vượt qua biên giới quốc gia. Hợp tác quốc tế mạnh mẽ thông qua các thỏa thuận chia sẻ thông tin tình báo và sự phối hợp giữa các lực lượng đặc nhiệm là điều tối quan trọng.

Bằng cách tổng hợp các nguồn lực, kiến thức chuyên môn và thông tin tình báo, các quốc gia có thể theo dõi và triệt phá các mạng lưới khủng bố một cách hiệu quả trước khi chúng có thể thực hiện kế hoạch tấn công khủng bố. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả của các nỗ lực chống khủng bố mà còn thúc đẩy niềm tin và sự đoàn kết giữa các quốc gia trước mối đe dọa chung.

Thứ hai, vì chủ nghĩa khủng bố thường bén rễ trong những môi trường bất ổn chính trị, bất công xã hội và nghèo đói, nên chúng ta phải giải quyết những nguyên nhân sâu xa này. Điều đó đòi hỏi phải đẩy mạnh phát triển kinh tế cũng như thúc đẩy ổn định chính trị và công bằng xã hội. Ngoài ra, bằng cách đầu tư vào giáo dục, chăm sóc y tế, cơ sở hạ tầng và tạo việc làm, chúng ta có thể tạo cơ hội cho các cộng đồng dễ bị tổn thương và yếu thế, từ đó làm giảm tính nhạy cảm của họ với các hệ tư tưởng cực đoan.

Thứ ba, các nhóm cực đoan khai thác các kênh truyền thông hiện đại, bao gồm mạng xã hội và nền tảng trực tuyến, để phổ biến các hệ tư tưởng độc hại và chiêu mộ thành viên. Để chống lại hoạt động tuyên truyền này một cách hiệu quả, các chính phủ, các công ty công nghệ và các tổ chức xã hội dân sự phải phối hợp để phá vỡ các tư tưởng cực đoan và thúc đẩy các thông điệp về sự khoan dung, ôn hòa và hòa bình. Điều này đòi hỏi phải thực hiện các giải pháp chống tuyên truyền cực đoan, áp dụng công nghệ kỹ thuật số để giám sát và ngăn chặn cực đoan hóa trực tuyến cũng như tương tác với các cộng đồng dễ bị lợi dụng.

Điều này có nghĩa là việc xây dựng lòng tin và sự hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật và cộng đồng địa phương là điều cần thiết trong việc ngăn chặn khủng bố và chống lại chủ nghĩa cực đoan bạo lực. Các sáng kiến gắn kết cộng đồng, chẳng hạn như các chương trình tiếp cận cộng đồng, diễn đàn đối thoại và các hoạt động xây dựng quan hệ đối tác, có thể thúc đẩy sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau giữa chính quyền và các thành viên cộng đồng.

Nói cách khác, bằng cách thu hút sự tham gia của cộng đồng vào việc thiết kế và thực hiện các chiến lược chống khủng bố, các chính phủ có thể thu được những hiểu biết có giá trị, xây dựng khả năng phục hồi và huy động các nguồn lực địa phương để giải quyết các thách thức an ninh một cách hiệu quả.

Thứ tư, chủ nghĩa khủng bố toàn cầu phát triển nhờ có các nguồn tài trợ, vì vậy việc phá vỡ mạng lưới tài chính của các nhóm khủng bố là điều cần thiết để làm suy yếu khả năng hoạt động của chúng. Các tổ chức tài chính, tổ chức quốc tế và các quốc gia phải hợp tác cùng nhau để xác định, theo dõi và ngăn chặn nguồn tài chính được chuyển cho các tổ chức khủng bố.

Điều này đòi hỏi phải thu thập thông tin tình báo tài chính mạnh mẽ, tăng cường khuôn khổ pháp lý và phối hợp hành động để phong tỏa tài sản của những kẻ khủng bố và truy tố những kẻ hỗ trợ tài chính. Ngoài ra, hợp tác với khu vực tư nhân, bao gồm ngân hàng, dịch vụ chuyển tiền và nền tảng thanh toán trực tuyến, là yếu tố rất quan trọng trong việc phát hiện và ngăn chặn các giao dịch tài chính bất hợp pháp.

Thứ năm, giáo dục là một trong những công cụ mạnh mẽ nhất mà chúng ta nên áp dụng để ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố cũng như thúc đẩy hòa bình và lòng khoan dung. Điều này đòi hỏi phải đầu tư vào hệ thống giáo dục nhằm thúc đẩy tư duy phê phán, lòng khoan dung và tôn trọng sự đa dạng.

Chẳng hạn, chương trình giảng dạy có thể bao gồm các học phần về giải quyết xung đột, nhân quyền và giáo dục công dân, trao quyền cho học sinh trở thành những công dân có hiểu biết và gắn kết, phản đối bạo lực và chủ nghĩa cực đoan. Ngoài ra, các chiến dịch nâng cao nhận thức và chương trình tiếp cận cộng đồng có thể giúp công dân hiểu rõ về sự nguy hiểm của chủ nghĩa cực đoan, cung cấp các nguồn lực để can thiệp và hỗ trợ.

Tăng cường khả năng phục hồi xã hội trước các cuộc tấn công khủng bố đòi hỏi các biện pháp chủ động nhằm nâng cao khả năng ứng phó khẩn cấp, tăng cường an ninh cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân và gia đình họ. Các quốc gia có thể tăng cường đầu tư vào các chương trình đào tạo và nguồn lực cho lực lượng ứng phó đầu tiên, các chuyên gia chăm sóc y tế cũng như các đơn vị xử lý khủng hoảng để đảm bảo ứng phó hiệu quả trước các vụ tấn công khủng bố.

Các cơ sở hạ tầng quan trọng, như trung tâm giao thông, địa điểm công cộng và mạng lưới liên lạc, cũng cần được bảo vệ trước các mối đe dọa tiềm ẩn thông qua các biện pháp an ninh và kế hoạch dự phòng. Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ toàn diện, bao gồm tư vấn y tế, hỗ trợ tài chính và các chương trình phúc lợi xã hội, nên được cung cấp cho nạn nhân và gia đình họ để hỗ trợ phục hồi.

 

Nghệ thuật quân sự đỉnh cao

 

Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố vô cùng quan trọng là nghệ thuật quân sự đỉnh cao của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Đảng ta đã đưa ra những chỉ đạo đúng đắn về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến đấu để giành toàn thắng.

Phân tích, đánh giá chính xác tình hình

Sau gần 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp bị tổn thất nặng nề, các kế hoạch xâm lược liên tiếp bị thất bại. Quân đội xâm lược Pháp tuy tăng lên gần 50 vạn, nhưng năng lực chiến đấu lại sút kém. Do đó, vào tháng 5-1953, Chính phủ Pháp cử Tướng Na-va sang làm Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy đội quân Pháp ở Đông Dương thay cho tướng Xa-lăng. Na-va đã đề ra kế hoạch tổng quát về chính trị, quân sự nhằm đảo ngược tình thế.

Trước âm mưu và thủ đoạn của địch, Đảng ta phân tích kế hoạch Na-va chỉ là sản phẩm của thế thua, thế thất bại nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn và hạn chế. Đầu tháng 9-1953, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu tổ chức nghiên cứu tình hình để xây dựng kế hoạch tác chiến. Phương hướng chiến lược của ta là “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do, tạo điều kiện giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Theo đó, quân đội ta sẽ đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời chuẩn bị lực lượng đánh những cứ điểm ngày càng mạnh của địch. Đó là quyết sách cực kỳ quan trọng của Đảng để lãnh đạo quân và dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi trên mặt trận quân sự.

Bộ chỉ huy quân sự của Pháp chọn Điện Biên Phủ làm bàn đạp để chiếm lại Tây Bắc. Với lực lượng đông, hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, các tướng lĩnh của Pháp và Mỹ xác nhận đây là một “tập đoàn cứ điểm đáng sợ”, “một pháo đài bất khả xâm phạm”. 

Tuy nhiên, Bộ Chính trị đã phân tích: Đối với địch, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng cũng có nhược điểm lớn. Điện Biên Phủ là một kết cấu gồm nhiều cứ điểm tách rời. Nhược điểm này cho phép ta tập trung sức mạnh tiêu diệt và bẻ rời từng cứ điểm để làm suy yếu địch. Thêm vào đó, Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn nằm giữa núi rừng Tây Bắc, rất xa căn cứ hậu phương, mọi việc tăng viện và tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Nếu đường không bị cô lập hay cắt đứt, địch sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu. Về phía ta: bộ đội chủ lực của ta đã có những tiến bộ lớn về chiến dịch và chiến thuật, chất lượng chiến đấu của quân ta đã được nâng cao cùng với sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật. Vấn đề đường sá, tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn lớn, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, ta có thể huy động tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến.

Như vậy, với việc phân tích đánh giá đúng tình hình, âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp, Đảng ta nhận định: Điện Biên Phủ là cơ hội đánh tiêu diệt lớn để từ đó có thể chấm dứt chiến tranh, nên Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất của địch.

Chủ động, bất ngờ, phối hợp nhịp nhàng các hình thức đấu tranh

Kế hoạch Na-va là một kế hoạch chiến lược lớn vận dụng những nguyên lý của khoa học quân sự của Pháp và Mỹ để phân tích cục diện chiến trường. Trong kế hoạch này, địch dự định tập trung binh lực, tăng cường lực lượng cơ động chiến lược nhằm giành lại thế chủ động, tiến công, chuẩn bị một trận quyết chiến chiến lược trên một chiến trường do chúng lựa chọn. Lúc đầu, địch không có ý định điều quân chủ lực lên chiến trường rừng núi Tây Bắc và trận Điện Biên Phủ đương nhiên không nằm trong kế hoạch chiến lược ban đầu của tướng Na-va.

Tuy nhiên, trong chiến cuộc Đông Xuân (1953 - 1954), ta đã sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng hiểm yếu mà địch tương đối sơ hở, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng của chúng. Từ đó, “ta buộc chúng phải ném chủ lực xuống cánh đồng Điện Biên Phủ. Ta đã tạo nên thời cơ và đã lập tức nắm lấy thời cơ, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ” (1).

Như vậy, Ðiện Biên Phủ từ chỗ không có trong Kế hoạch Na-va của Bộ chỉ huy quân Pháp, lại trở thành điểm hẹn lịch sử cho một trận quyết chiến chiến lược. Điều này thể hiện sinh động sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta với đặc trưng tích cực chủ động, cơ động linh hoạt, bí mật bất ngờ. Trong đó, nét đặc sắc nhất của sự chỉ đạo chiến lược đó là luôn chủ động - giành lấy quyền chủ động, giữ vững và phát triển quyền chủ động trong mọi tình huống: “chủ động trong phản công, chủ động trong tiến công, chủ động cả trong tình huống tạm thời tiến hành phòng ngự” (2).

Cùng với “chủ động” là “bất ngờ”. Sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm cho quân địch đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. “Bất ngờ đến nỗi khi chúng đang tin tưởng có thể tập trung lực lượng cơ động thì bỗng dưng bị buộc phải phân tán ra ở những hướng chúng chưa hề dự kiến. Bất ngờ đến nỗi khi chúng cho rằng ta không còn sức để đánh Điện Biên Phủ thì ngay hôm sau ta mở cuộc tiến công lớn vào Điện Biên Phủ. Bất ngờ đến nỗi trong khi chúng cho rằng Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm có khả năng gây tổn thất không thể cứu vãn cho chủ lực của ta, thì trong thời gian tiếp đó, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn” (3).

Một nét đặc sắc lớn nữa trong sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta là đã tạo nên một sức mạnh to lớn từ sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang với cuộc chiến đấu rộng khắp của nhân dân, giữa hoạt động của ba thứ quân, giữa các mặt trận sau lưng địch với mặt trận chính diện, giữa các chiến trường quan trọng trên phạm vi cả nước ta và trên phạm vi các chiến trường của toàn bán đảo Đông Dương. Sự phối hợp đó còn diễn ra giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Từ đó, chúng ta đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp to lớn.

Thay đổi cách đánh phù hợp với thực tế

Khi đã hạ quyết tâm mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là phải đánh như thế nào để bảo đảm cho chiến dịch lịch sử này giành được toàn thắng. Đó mới là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự.

Trên mặt trận Điện Biên Phủ, lúc đầu chúng ta đã quyết định vận dụng phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”, tập trung toàn bộ chủ lực, tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng, mở cuộc tiến công từ một số hướng, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thời gian ba đêm hai ngày. “Theo phương châm ấy, một kế hoạch tác chiến cụ thể đã được đề ra; mọi mặt công tác chuẩn bị đã được triển khai rất khẩn trương; các sư đoàn chủ lực đã được giao nhiệm vụ; các đơn vị pháo binh đã được kéo vào trận địa; công tác bảo đảm hậu cần trên hỏa tuyến đã được đẩy mạnh; mạng thông tin liên lạc đã được tổ chức. Công tác chính trị đã động viên bộ đội và dân công nêu cao quyết tâm giành toàn thắng cho chiến dịch. Quân ta chỉ đợi lệnh là bắt đầu nổ súng” (4).

Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị, ta đã bám sát quân địch, theo dõi từng động tĩnh của chúng và phát hiện hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn. “Đến ngày 25-1-1954, khi kiểm tra lại tình hình địch, ta về mọi mặt thì chúng ta đi đến kết luận: tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố rất nhiều so với trước; trong tình hình đó, kế hoạch đánh nhanh không thể bảo đảm chắc thắng được” (5).

“Sáng ngày 26, vào lúc 11 giờ, ta quyết định thay đổi cách đánh, bỏ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, chuyển sang phương châm đánh chắc tiến chắc” (6).

Chiều ngày 26, toàn bộ lực lượng ta đã được lệnh rút ra khỏi trận địa, trở về nơi tập kết; các đơn vị pháo binh trước đây đã được lệnh kéo vào đến nay lại được lệnh kéo ra. “Một công cuộc chuẩn bị mới với một khối lượng công tác tham mưu, chính trị và hậu cần rất lớn lại được triển khai” (7).

Cho đến khi mọi công tác chuẩn bị đã được hoàn thành, quân địch tưởng rằng ta đã bỏ ý định mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, thì ngày 13-3, quân ta mở đầu cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm. Và thắng lợi của chiến dịch chứng tỏ rằng, sự thay đổi phương châm là hoàn toàn chính xác. Nó đã có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến dịch.

Vận dụng những phương pháp chiến thuật mới

Với trận Điện Biên Phủ, quân đội ta đã thực hiện một bước nhảy vọt lớn. “Chỉ trong một thời gian ngắn, từ chỗ tiêu diệt một tiểu đoàn địch hay nhiều nhất là một tiểu đoàn tăng cường trong công sự vững chắc, quân đội ta đã tiến vượt hẳn lên, tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm kiên cố với một lực lượng tinh nhuệ rất mạnh gồm hai mươi mốt tiểu đoàn” (8).

Quân đội ta đã thực hiện bước tiến vượt bậc ấy trong hoàn cảnh trang bị vũ khí của ta rất thô sơ, chưa có máy bay hay xe tăng, pháo binh còn rất hạn chế, trong khi địch có xe tăng, có không quân và pháo binh mạnh.

Bí quyết của bước tiến vọt đó, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là “sự vận dụng những phương pháp chiến thuật mới, những phương pháp chiến thuật có ý nghĩa chiến dịch nhằm giải quyết yêu cầu mới rất cao của nhiệm vụ là phải tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” (9).

Trong đó, chiến thuật quan trọng nhất là lần lượt tiêu diệt từng tiểu đoàn hoặc một số tiểu đoàn địch nằm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm. Phương pháp chiến thuật ấy phù hợp với trình độ của bộ đội ta, phù hợp với khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng của quân đội ta lúc bấy giờ. “Trong quá trình phát triển của chiến dịch, quân ta đã sáng tạo ra chiến thuật bao vây đánh lấn, nhanh chóng tiêu diệt từng trung tâm đề kháng của địch mà ta thì bị thương vong rất ít” (10).

Tiếp đến là chiến thuật xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây. Bộ đội ta đã xây dựng được một “hệ thống các trận địa vững chắc của pháo binh đặt trên sườn các đồi núi vây quanh Điện Biên Phủ; mặc dù kẻ địch ra sức bắn phá, các trận địa pháo binh của ta vẫn hoạt động tốt, không hề bị gián đoạn” (11).

Triệt đường tiếp tế hậu cần của địch là một thành công lớn của quân đội ta, một trong những kinh nghiệm nổi bật trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi trận địa tiến công và bao vây của ta ngày càng thắt chặt lại, hỏa lực pháo binh rồi đến hỏa lực bộ binh của ta đã khống chế sân bay Mường Thanh. Việc tiếp tế bằng cầu hàng không của địch bị cắt đứt hoàn toàn. “Kết quả là, mặc dù quân địch còn trên một vạn quân, nhưng chúng đã lâm vào cảnh thiếu lương thực, thiếu đạn dược, bị đẩy vào chỗ nguy khốn nghiêm trọng, cuối cùng đã phải đầu hàng (12).

Đi đôi với triệt đường tiếp tế hậu cần của địch, là tìm mọi biện pháp để bảo vệ các tuyến hậu cần tiếp tế của ta. Ngoài những tuyến đường đã có sẵn, chúng ta đã gấp rút mở thêm đường mới, lợi dụng cả đường bộ và đường sông, sử dụng mọi phương tiện vận chuyển từ thô sơ đến hiện đại. Đặc biệt, sự khai thác hậu cần tại chỗ đã có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giải quyết một phần khá lớn yêu cầu chiến đấu cho quân ta. “Bằng những biện pháp hết sức tích cực và sáng tạo, với một sự cố gắng to lớn, chúng ta đã bảo đảm thành công vấn đề tiếp tế hậu cần cho chiến dịch. Do đó, cái mà địch cho là chỗ yếu không thể khắc phục của ta đã trở thành một nhân tố bất ngờ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch” (13).

Vậy là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nghệ thuật quân sự đỉnh cao, cùng ý chí quyết tâm của toàn quân, sự ủng hộ, chi viện của toàn dân, sau 56 ngày đêm chiến dấu kiên cường và anh dũng, quân và dân ta làm nên một thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi oanh liệt của Chiến dịch Điện Biên Phủ đánh dấu đỉnh cao phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; đồng thời là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững tin dám đánh, quyết đánh và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước sau này.

* (1 - 13): Trích từ cuốn sách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2004.

 

Nhân tố quyết định

 

Những ngày này toàn Đảng, toàn Dân và toàn quân ta đang náo nức trong không khí kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2024) và 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 - 7-5-2024).

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội 5 châu, chấn động địa cầu đã buộc thực dân Pháp ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, lập lại hòa bình ở Việt Nam. 21 năm sau, cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là bước ngoặt lịch sử của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hai cuộc kháng chiến thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta, đồng thời mang tầm vóc quốc tế và tính thời đại sâu sắc. Những thắng lợi này bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng - kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam.

Đó là xác định và thực hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Đó là xác định thực hiện đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, kiên định phương pháp cách mạng tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đồng thời, kiên trì thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công với phương châm: đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch.

Đó là phát huy cao độ nghệ thuật quân sự và vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng vững mạnh, bố trí rộng khắp. Trong đó, các binh đoàn chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong các chiến dịch, thực hiện tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chúng ta đã từng bước chuyển hoá cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ.

Đó là coi trọng công tác đảng, công tác chính trị, trực tiếp định hướng tư tưởng cán bộ, đảng viên, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào miền Nam "thành đồng Tổ quốc". Tạo động lực chính trị - tinh thần to lớn cho đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù xâm lược.

Đó là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có đủ tâm, đủ tầm và kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Những vị tư lệnh, chính uỷ các binh đoàn chủ lực mẫu mực, xông xáo, quyết đoán, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mãi mãi là những tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo.

Đó là phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới với sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế.

Nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của các cuộc kháng chiến cần được kế tục, phát huy cao độ trong điều kiện hiện nay khi tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen. Vai trò lãnh đạo của Đảng chỉ được giữ vững và phát huy khi Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự "là đạo đức, là văn minh" như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định. Điều đó chỉ có được từ phấn đấu, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và từ cơ chế khiến mỗi người không dám, không muốn và không thể vi phạm kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

 TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA TẬP TRUNG VÀ DÂN CHỦ 
TRONG NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác – Lê-nin về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và cũng là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản. Thực hiện nguyên tắc này là cơ sở đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động của Đảng, làm cho Đảng luôn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đồng thời, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các tổ chức đảng và mọi đảng viên. Mặt khác, nguyên tắc cơ bản này cũng là trọng điểm mà các thế lực thù địch, chống đối thường tập trung công kích nhằm phá hoại và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, tập trung và dân chủ luôn thống nhất với nhau, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ đi đôi với tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy. Dân chủ càng được đề cao thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh đoàn kết của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, sẽ phát huy được trí tuệ, tiềm năng, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi đảng viên, tổ chức đảng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Bởi vậy, trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện sự thống nhất chặt chẽ dân chủ với tập trung, không được tuyệt đối hóa hay coi nhẹ mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tập trung sẽ dẫn đến quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; ngược lại, tuyệt đối hóa dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng, vô tổ chức, vô kỷ luật. Cả hai biểu hiện trên đều không đúng và làm giảm sức mạnh của Đảng.

Không thể phủ nhận tự do internet ở Việt Nam

Kể từ khi chính thức hòa mạng internet vào năm 1997, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do internet. Việt Nam chỉ nghiêm cấm những hành vi lợi dụng hệ thống kết nối toàn cầu này để gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, đồng thời xác định trong kỷ nguyên số, tự do internet là một trong những tiền đề quan trọng để phát huy dân chủ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Việt Nam có tốc độ phát triển internet ở mức cao trên thế giới.

Việt Nam có tốc độ phát triển internet ở mức cao trên thế giới.

Dù hòa mạng internet muộn hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên Việt Nam đã thu về nhiều thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển, là động lực quan trọng để thúc đẩy sự đi lên của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên, vì mục đích riêng, vẫn có cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cố tình phớt lờ mọi nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền tự do internet, đưa ra những đánh giá phiến diện, định kiến, sai sự thật, bỏ qua những điểm sáng, mặt tích cực để xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet.

Điển hình là Báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022, trong đó xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới.

Đây không phải là lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá phiến diện, tiêu cực, sai sự thật về vấn đề tự do, dân chủ tại Việt Nam. Ngày 2/6/2022, tổ chức này đã ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” với nhiều nội dung xuyên tạc tình hình thực tế của Việt Nam, nổi lên là cáo buộc vô căn cứ “chính quyền đang tiến hành thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”. Vào tháng 3 năm nay, FH cũng xếp Việt Nam ở vị trí áp chót khu vực Đông Nam Á về mức độ tự do. Nhìn lại quá khứ, tổ chức này đã 7 lần liên tiếp cho rằng Việt Nam không có tự do internet.

Tự mô tả mình là “tiếng nói cho dân chủ và tự do trên toàn thế giới”, phương thức đánh giá, tiêu chuẩn xếp hạng của FH cũng như nhiều tổ chức nhân quyền khác lại hoàn toàn trái ngược với tuyên bố của họ. Các báo cáo của FH cho thấy tổ chức này không hề dựa trên các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học tại các quốc gia được xếp hạng mà chỉ thu thập thông tin từ những nguồn thất thiệt, không chính thống.

Thêm vào đó, tiêu chí xếp hạng nhân quyền của FH chỉ dựa trên ý chí của một hoặc vài cá nhân, nhưng không hề có cơ sở khoa học. Thậm chí trong giai đoạn 1970-1988, nhiều nhà nghiên cứu và báo chí phát hiện ra rằng giám đốc Freedom House, Raymond Duncan Gastil đã một mình soạn thảo các báo cáo thường niên Freedom in the World (Tự do trên thế giới) mà không hề có sự trao đổi, bàn bạc với các học giả, nhà nghiên cứu uy tín.

Trong bài viết The Politics of Rating Freedom: Ideological Affinity, Private Authority, and the Freedom in the World Ratings (tạm dịch Chính trị của xếp hạng tự do: Mối quan hệ tư tưởng, Quyền lực tư nhân và Quyền tự do trong xếp hạng thế giới) trên tạp chí Perspectives on Politics (thuộc nhà xuất bản Cambridge, Anh) xuất bản ngày 18/8/2017, học giả Sarah Sunn Bush bình luận: nhiều nhà phê bình đã nhận thấy sự thiếu sót trong phương pháp luận của Raymond Gastil trong các báo cáo của FH trước năm 1990.

Sau khi tổ chức này thuê một nhóm chuyên gia khác thực hiện báo cáo, tình hình có được cải thiện nhưng FH vẫn vấp phải nhiều sự chỉ trích. Bởi lẽ, các định nghĩa, phương pháp luận của FH về dân chủ có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ thường được FH chấm điểm cao hơn so với các nước khác. Hơn nữa, theo ghi nhận của Sarah Sunn Bush, báo cáo của FH có ý nghĩa quan trọng, là nguồn tham khảo với các nhà lập pháp và chính trị gia Hoa Kỳ. Bởi vậy, các quốc gia yếu thế đang tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc ưu ái của Hoa Kỳ buộc phải có những động thái mỗi khi FH tung ra các báo cáo mới.

Trên thực tế, không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã từng gay gắt phản đối các báo cáo về tình hình nhân quyền của FH như Cuba, Trung Quốc, Nga, Sudan, Uzbekistan,… Chẳng những vậy, nhiều tổ chức xã hội dân sự tại Hoa Kỳ cũng thường xuyên lên án FH.

Ngày 16/2/2018, trên website chính thức của mình, tổ chức The Heritage Foundation nhận định: “Không có lý do gì khiến những người theo chủ nghĩa bảo thủ ở Hoa Kỳ và khắp phương Tây phải quan tâm đến các báo cáo của Freedom House vì chúng không khác biệt với những tuyên truyền của Tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức Theo dõi nhân quyền hoặc các nhóm bình phong của George Soros (tỷ phú người Mỹ gốc Hungary, người bị cáo buộc thường xuyên tài trợ cho các tổ chức nhân quyền vì động cơ chính trị và đảng phái)”.

Tại Việt Nam, tháng 3/2021, hàng chục nghìn tài khoản facebook đã truy cập vào fanpage của FH để phản đối tuyên bố “Việt Nam không có tự do internet” do tổ chức này đưa ra. Trong đó, nhiều người đã thẳng thắn đề xuất FH nên để cho chính người Việt Nam chấm điểm về tự do trên internet của đất nước mình. Dù vậy, FH đã bỏ ngoài tai những yêu cầu chính đáng của nhân dân Việt Nam để tiếp tục tung ra các luận điệu xuyên tạc sự thật qua những báo cáo mới đây.

Cách đây khoảng ba thập kỷ, việc hòa mạng internet từng là “thử thách rất lớn trong quá trình đổi mới bởi đây là vấn đề rất nhạy cảm” (theo nhận định của ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện). Bởi lẽ, quá trình đưa internet vào Việt Nam không chỉ đòi hỏi sự nâng cấp đáng kể về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mà còn yêu cầu sự đổi mới tư duy của nhà làm luật.

Tại thời điểm ấy, còn tồn tại nhiều luồng ý kiến e ngại về việc hòa mạng toàn cầu có thể dẫn đến nguy cơ gây mất an ninh quốc gia. Mặc dù vậy, trong giai đoạn 1997-2008, bất chấp nhiều khó khăn, thiếu thốn và hạn chế khi mới hòa mạng toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm và phát huy quyền tự do của người sử dụng dịch vụ internet. Tiêu biểu như Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/8/2001 về Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet đã khẳng định không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ internet (Điều 9).

Hay Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet đưa ra hàng loạt chính sách phát triển internet quan trọng như: khuyến khích việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; Thúc đẩy việc ứng dụng internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu, đưa internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh, quốc phòng; Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về internet.

Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định của pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực của internet; Phát triển internet với đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao và giá cước hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (khoản 1,2,3,4 Điều 4 Nghị định).

Còn tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/7/2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhấn mạnh người sử dụng internet có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 10).

Bên cạnh đó, từ quan sát và phân tích sự tăng trưởng về lượng người sử dụng internet tại Việt Nam và thế giới, các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp đã nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa quyền tự do trên internet với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền riêng tư trên không gian mạng,...

Từ đây, Quốc hội cùng các cơ quan chức năng đã tổ chức xây dựng các giải pháp pháp lý phù hợp nhằm bảo đảm các quyền này cũng như phòng, chống, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tự do trên internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục. Đây là cơ sở để hình thành một hệ thống văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh của Việt Nam về internet nói riêng, an ninh mạng nói chung như: Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng,...

Qua đó, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý quan trọng, góp phần tạo ra một môi trường mạng lành mạnh, an toàn, phát huy quyền tự do, dân chủ của công dân. Song song với quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp sự phát triển của internet tại Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt hàng loạt đề án phát triển internet với các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo từng giai đoạn.

Theo Báo cáo mới đây của Bộ Thông tin và Truyền thông, trung bình cứ 100 người dân Việt Nam có 83 thuê bao internet di động, trong khi thuê bao cố định là 21. Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2022 của Bộ Công thương cho thấy người Việt dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để truy cập internet. Đây đều là những thống kê cao hơn mức trung bình của thế giới. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có giá cước internet rẻ nhất thế giới. Hiện tại, Việt Nam có 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935 mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động, là những diễn đàn trực tuyến để người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân.

Thực tế nêu trên cho thấy quyền tự do trên internet tại Việt Nam luôn được bảo đảm, phát huy, trái với luận điệu xuyên tạc của một số cá nhân, tổ chức không thiện chí. Không những vậy, là một đất nước văn minh, dân chủ, tiến bộ và thân thiện, Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức quốc tế có thể tìm hiểu, nghiên cứu một cách trung thực, khách quan về công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, bao gồm quyền tự do trên internet, tự do ngôn luận, tự do báo chí trên không gian mạng./. 

ST.