Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020

Lựa chọn người tài đức vào BCH TW Khóa XIII là chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lựa chọn người tài đức vào BCH TW Khóa XIII là chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

Cứ đến dịp chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, các thế lực thù địch lại rêu rao, xuyên tạc rằng: Việc lựa chọn, bầu vào các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước chỉ mang tính hình thức; chỉ người nhà các lãnh đạo mới được lựa chọn. Đại hội thực chất chỉ là việc củng cố, thâu tóm quyền lực của một số lãnh đạo... Đây là luận điệu xuyên tạc về công tác tổ chức cán bộ, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta.

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, thu hút và trọng dụng người tài đức trở thành quốc sách, thành đạo đức và thấm sâu vào quan niệm sống của nhân dân ta. Kế thừa truyền thống tốt đẹp đó của dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ và thu hút người tài đức để xây dựng, kiến thiết đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Kiến thiết cần có nhân tài. Người nhấn mạnh, không được thiên tư, thiên vị, không phân biệt là người trong hay ngoài Đảng mà lựa chọn những người thật sự có đức, có tài, hết mình phấn đấu cho cách mạng.

Thấm nhuần tư tưởng HCM. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ, coi đó chính là khâu "then chốt của nhiệm vụ then chốt". Vì vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng chỉ đạo công tác này. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18-6-1997 của Bộ Chính trị khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài; tạo bước chuyển căn bản trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài; xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài; coi đó là giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược cán bộ”, “lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI về xây dựng Đảng đã khẳng định một chủ trương rất mới và tích cực trong việc lựa chọn, bố trí người tài, đức vào các vị trí lãnh đạo: “Thí điểm chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo quản lý”; Văn kiện Đại hội XII tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”;… Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ chiến lược các cấp đã trưởng thành mọi mặt, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Việc lựa chọn, bầu vào các vị trí quan trọng của hệ thống chính trị đã được đổi mới, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm, khách quan, có sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Trong công tác cán bộ, việc chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương luôn đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để khuyến khích đổi mới, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi các tiêu cực. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh trước pháp luật những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, vi phạm pháp luật, kể cả đương chức hoặc đã nghỉ hưu theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ yếu kém, không đủ phẩm chất, năng lực, quan liêu, sách nhiễu nhân dân đã củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp của Đảng được thực hiện trên cơ sở phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại hội là dịp để ta sàng lọc cán bộ chứ không chỉ bàn phương hướng. Ai xứng đáng thì làm, không thì thôi, không sợ thiếu cán bộ”. Công tác nhân sự được thực hiện đúng điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước;

Tuy nhiên, cũng phải nghiêm túc nhìn nhận, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong công tác cán bộ thời gian qua. Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt công tác cải cách hành chính, đổi mới công tác đánh giá, thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu đặt ra. Do đó, để chuẩn bị cho ĐH XIII của Đảng, cần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ cốt cán theo hướng hiện đại, chuẩn hóa chuyên sâu; coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành; gắn đào tạo cơ bản tại trường và bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn để đánh giá, tuyển chọn, tạo nguồn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, phẩm chất đạo đức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.

 

 

 

 

 

 

 


 

 

Cần lật tẩy những âm mưu chống phá Đảng của các thế lực thù địch

Cần lật tẩy những âm mưu chống phá Đảng của các thế lực thù địch

          Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó chúng tập trung cao nhất vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt mà chúng ta cấn phải làm là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả.

 

 

Trước Đại hội Đảng XIII, Đảng luôn lắng nghe dân để “xứng đáng là Đảng của dân”

Trước Đại hội Đảng XIII, Đảng luôn lắng nghe dân để  “xứng đáng là Đảng của dân”

Việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được tiến hành thời gian qua là nhằm tập hợp, phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của người dân trong tham gia hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo, quyết sách quan trọng của Đảng đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng; góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã trắng trợn xuyên tạc, bóp méo vai trò, ý nghĩa của việc này; đồng thời tung ra nhiều chiêu trò, đặt điều hoài nghi rằng: Liệu người dân Việt Nam có dám nói thẳng, nói thật góp ý với Đảng? Và rằng liệu Đảng có thực tâm lắng nghe  ý kiến của dân? Những thủ đoạn này ít nhiều sẽ gây hoang mang dư luận, giảm bầu nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận quần chúng; lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ, cả tin hùa theo ý đồ chính trị đen tối, chống phá Đại hội XIII của Đảng; sâu xa hơn là phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội.

Chúng ta biết rằng, việc Trung ương tổ chức lấy ý kiến góp ý rộng rãi của quần chúng nhân dân vào dự thảo các VKĐH Đảng lần thứ XIII là thể hiện sự tiếp nối bản chất, truyền thống cách mạng tốt đẹp của Đảng; là tập hợp và phát huy trí tuệ, tâm huyết, quyền làm chủ của nhân dân, cũng đồng thời cho thấy sự cầu thị, nghiêm túc lắng nghe dân của Đảng cầm quyền chân chính; khẳng định vị trí, ý nghĩa của một phần việc quan trọng đã thành nền nếp qua các kỳ đại hội của Đảng.

Vì vậy, sau khi các tiểu ban tiếp thu, hoàn thiện, Bộ Chính trị sẽ trực tiếp lắng nghe tổng hợp ý kiến góp ý của nhân dân; tiếp đó, Trung ương một lần nữa lắng nghe ý kiến nhân dân để tiếp thu triệt để, rồi mới trình Đại hội XIII của Đảng. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc, căn cứ xác đáng giúp vạch trần những luận điệu xuyên tạc, cố tình quy chụp bản chất của một Đảng cầm quyền chân chính, để Đảng ta mãi mãi là Đảng của dân./.

 

 

Mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Mọi cán bộ, đảng viên phải ra sức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa…

Song chúng ra cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".

Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

 

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2020

Chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc

Để “đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã khẳng định, một trong các yêu cầu tiên quyết đặt ra là toàn bộ hệ thống chính trị cần tiếp tục nâng cao nhận thức nhằm xây dựng thế chủ động, kịp thời đấu tranh, phản bác một cách thuyết phục trên cả chiều rộng và chiều sâu, với sự đa dạng về hình thức.

Nhìn một cách toàn diện có thể thấy gần đây, các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam ngày càng được tổ chức có hệ thống, mang tính tổng hợp, diễn ra trên biên độ rộng, không thuần túy là vấn đề lý thuyết, luận giải lô-gích - lịch sử,… mà còn là sự kiện xã hội - con người mới nảy sinh, những vấn đề của cuộc sống. Nổi lên trong các hoạt động này là các thế lực thù địch tiếp tục tiến công hệ tư tưởng - lý luận giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển của Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng hạn chế, sai lầm, các vấn đề, sự kiện, hiện tượng tiêu cực mới nảy sinh để coi đây là bằng chứng chứng minh "tính không tưởng của CNXH", dựa vào đó để xuyên tạc, phủ nhận bản chất nhân văn chế độ xã hội; ra sức tâng bốc, tô vẽ các chỉ số kinh tế - xã hội mà chủ nghĩa tư bản đã có được sau cố gắng tự điều chỉnh… Những động thái này đều nhắm đến mục đích duy nhất là gieo rắc quan điểm "phi giai cấp, phi ý thức hệ" và tác động, lung lạc những người thiếu bản lĩnh, hời hợt về tri thức, tiếp cận và đánh giá vấn đề, sự kiện bằng nhận thức cảm tính, bất mãn vì cho rằng không được xã hội đãi ngộ,… dẫn dắt họ đi từ hoang mang đến hồ nghi, dần dà suy giảm niềm tin vào tư tưởng - lý luận chính thống của xã hội, suy giảm niềm tin vào chế độ.

So với thời kỳ trước, ngày nay các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch được tiến hành trong sự phối hợp chặt chẽ giữa một số người gọi là "nhà lý luận" và một số chính khách ở phương Tây, một số tổ chức quốc tế nhân danh dân chủ và nhân quyền, chính phủ ở một số quốc gia, với một số người trong nước được gắn nhãn hiệu "nhân sĩ, trí thức, nhà báo tự do, người bất đồng chính kiến, nhà đấu tranh nhân quyền". Và nếu thuyết âm mưu được sử dụng làm công cụ chủ yếu để xuyên tạc, dựng chuyện thì mọi mưu đồ, thủ đoạn, luận điệu không chỉ được BBC, RFA, VOA, RFI,… phụ họa mà còn được sự hỗ trợ của in-tơ-nét với các mạng xã hội có khả năng phổ cập đến mỗi cá nhân. Ðó là một số nguyên nhân cơ bản khiến cho quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc có thể thực hiện trên diện rất rộng. Ở Việt Nam, còn có thể nhận thấy hiện tượng đáng lo ngại này khi không ít cá nhân (trong đó có một số cán bộ, đảng viên) qua facebook đã bày tỏ suy nghĩ tiêu cực, công bố ý kiến không dựa trên nền tảng của nhận thức tỉnh táo và lý trí, bình luận theo hướng bôi đen, bé xé ra to, hô hào người khác hưởng ứng, thậm chí lại hùa theo luận điệu của kẻ xấu để phê phán đường lối và một số chủ trương, chính sách của Nhà nước…

Trước thực tế đó, nhiều năm nay Ðảng ta đã xác định việc đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, của mọi công dân. Ðể thực hiện tốt nhiệm vụ này, chúng ta đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để chứng minh tính tất yếu của con đường đi lên CNXH và các ưu việt mà CNXH đem tới cho xã hội - con người, cũng như các thành tựu không thể bác bỏ của sự nghiệp đổi mới. Kết quả các nghiên cứu này được công bố để toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc, cụ thể hơn về định hướng quá trình phát triển đất nước, động viên mọi người đóng góp vào sự nghiệp chung. Qua báo chí, truyền thông, chúng ta kịp thời đấu tranh vạch trần bản chất các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; vạch trần chân tướng những tổ chức, cá nhân núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền nhằm tiến công vào chế độ xã hội ta, vu cáo Nhà nước Việt Nam; đưa ra các luận chứng, cung cấp thông tin làm sáng tỏ một số vấn đề, sự kiện, hiện tượng đã bị các thế lực thù địch xuyên tạc và lợi dụng để vu cáo… Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta còn thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận với báo chí, truyền thông; một số bài viết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc còn có xu hướng hô hào chung chung nên thiếu sức thuyết phục; khi đấu tranh, phản bác, một số báo chí còn chạy theo vụ việc, thiếu chủ động… Phải nói rằng, những hạn chế nêu trên ít nhiều có ảnh hưởng tới hiệu quả của việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tiến công làm mục ruỗng tư tưởng và đời sống tinh thần xã hội, từ đó thao túng, làm chệch hướng phát triển của Việt Nam, đó chính là cái đích mà các thế lực thù địch đã và đang hướng tới. Vì thế, chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại cuộc tiến công này cần phải huy động sức mạnh của toàn Ðảng, toàn dân. Về mặt lý luận, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển và phổ cập hệ thống lý luận, cung cấp luận cứ khoa học về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam một cách rộng khắp để nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng sức đề kháng của toàn xã hội trước các luận điểm xuyên tạc, vu cáo, kích động của các thế lực thù địch. Ðây là một quá trình, một cuộc đấu tranh phức tạp, khó khăn, lâu dài, vừa có tính chiến đấu, vừa phải có sức thuyết phục, huy động được sức mạnh tổng hợp của bản lĩnh, trí tuệ, lương tri và lòng yêu nước, năng lực khoa học, ý thức tự giác của mọi công dân trong hoạt động hằng ngày, trong khi tham gia mạng xã hội, và phải nỗ lực một cách bền bỉ. Trên ý nghĩa nhất định, có thể coi đây là cuộc đấu tranh toàn diện trong bối cảnh mới, mà ở đó, sự kết hợp biện chứng giữa sức mạnh của lý luận với các thành tựu từ hoạt động thực tiễn là bằng chứng cụ thể, là cơ sở vững chắc bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc. Trong cuộc đấu tranh đó, báo chí và truyền thông giữ vai trò cực kỳ quan trọng, cho nên cần coi việc đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là một nhiệm vụ của mỗi cơ quan báo chí, mỗi địa chỉ truyền thông. Ðể hoàn thành nhiệm vụ này, báo chí và truyền thông cần xác định cụ thể về trách nhiệm để chủ động, linh hoạt tổ chức, công bố tin, bài đấu tranh, phản bác có tầm lý luận, mang ý nghĩa thực tiễn, có tính thuyết phục, góp phần củng cố và bảo vệ đời sống tinh thần của xã hội./.

Nguồn:  Nhân dân

NHÂN QUYỀN Ế ẨM

Tổ chức khủng bố Việt Tân đang quảng cáo ầm ĩ cho “giải thưởng nhân quyền” Lê Đình Lượng 2020. Còn mạng lưới nhân quyền Việt Nam thì đang sale hết mức để chọn người trao giải thưởng nhân quyền này. Hạn đã gần hết dưng mà xem ra tình hình còn ế ẩm lắm. Không mấy ai mặn mà với cái thể loại giải thưởng này nữa rồi. Bởi dân tình mình họ tỉnh rồi, họ biết cái giải thưởng này chỉ là chiêu trò lôi kéo người đi theo mấy tổ chức phản động và khủng bố như Việt Tân thôi. Mà đi theo bọn này thì xác định luôn, bóc lịch như chơi.

Để xem năm nay mấy tổ chức này chọn ai, dễ mà lại  quàng cho “ấu chúa” Phạm Đoan Trang  hay phó chủ tịt Hội nhà báo độc lập Nguyễn Tường Thụy lắm.

Khuyến mãi chơi một tặng một thế mà cũng không ăn thua. Vậy mới biết cái danh hiệu "giải thưởng nhân quyền" mà đáp phản động nước ngoài bày ra cũng chẳng có ý nghĩa gì khác ngoài mưu đồ chính trị xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.


XỬ LÝ KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ

 Trong những năm gần đây, việc gia tăng các sự việc liên quan đến đạo đức công vụ “gây bão truyền thông” đã buộc các cơ quan, tổ chức phải quan tâm đến vấn đề quản trị truyền thông. Một trong những yêu cầu được đặt ra là truyền thông phải góp phần tăng cường giáo dục cán bộ, công chức, viên chức nhưng đồng thời cũng phải gìn giữ hình ảnh cho các cơ quan, tổ chức.

 1 - Vấn đề quản trị khủng hoảng và quản trị truyền thông trong khủng hoảng cũng như khái niệm truyền thông ở Việt Nam mới được làm quen khoảng hai mươi năm trở lại đây, khi các cơ quan, tổ chức trong hệ thống ngày càng quan tâm nhiều hơn đến mối quan hệ với công chúng xã hội, với nhân dân… Đây là sự tiến bộ góp phần vào quá trình phát triển bền vữngBáo chí có khả năng, sức mạnh chi phối khuynh hướng xã hội. Vị thế và vai trò của báo chí Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng bởi nền tảng kỹ thuật - công nghệ số. Những nền tảng này đã tạo ra một môi trường truyền thông đa dạng, trong đó hệ sinh thái truyền thông online với mạng xã hội phát triển trở thành “sân chơi” gây nhiều ảnh hưởng tới công chúng xã hội Việt Nam.

Thời gian qua, một số vụ, việc liên quan đến đạo đức công vụ khiến báo chí, mạng xã hội “nóng” lên, nhiều sự việc lại không được giải quyết nhanh gọn, kéo dài nhiều tháng gây nên khủng hoảng truyền thông. Vấn đề đặt ra, đang được quan tâm ở đây là các sự kiện và khủng hoảng rồi sẽ trôi qua, nhưng cái đọng lại chủ yếu là được hay mất niềm tin xã hội, uy tín, quyền uy của các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức trong mắt người dân. Bởi, nó không như khủng hoảng trong lĩnh vực kinh doanh là mất tiền, mất thị trường - những thứ có thể kiếm tìm hay phục hồi trong nay mai. Bởi, mất niềm tin là mất tất cả.

Các hoạt động công vụ trong hệ thống chính trị đều cần phải tuân thủ hai hệ quy chiếu: pháp luật và đạo đức công vụ. Về pháp luật, cán bộ, công chức, viên chức chỉ được phép làm những điều pháp luật cho phép. Về đạo đức, cán bộ, công chức, viên chức cần phải tuân thủ các chuẩn mực giá trị đạo đức công dân, phải làm gương trước công dân và cộng đồng xã hội, đồng thời phải thực thi đạo đức công vụ của ngành, nghề mà họ theo đuổi. Cán bộ, công chức là “đội quân rường cột quốc gia”, “được dân nuôi”, được thực hiện “quyền ủy quyền” do nhân dân trao cho, phương châm hoạt động được Đảng và Nhà nước xác lập là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nên mọi hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức được nhân dân theo dõi, giám sát. Và trong những năm qua, phương tiện và phương thức giám sát xã hội mà công dân và cộng đồng sử dụng chủ yếu và có hiệu quả nhất là báo chí - truyền thông, trong đó có mạng xã hội.

Trong xã hội, mỗi ngành nghề yêu cầu chủ thể những phẩm chất và cách thức ứng xử đặc trưng, do xã hội đòi hỏi và tự hình thành cơ chế kiểm soát. Về đạo đức công vụ, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”(1). Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đạo đức công vụ, như Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, 2018, Pháp lệnh Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013, Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (ban hành theo Nghị định số 71/1998/NĐ-CP, ngày 8-9-1998, của Chính phủ)... Có thể nói, hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến thực thi công vụ, về cơ bản đã tương đối đầy đủ. Nhưng, những vi phạm pháp luật và đạo đức công vụ ngày càng diễn biến phức tạp, nhất là trong bối cảnh môi trường truyền thông số và mạng xã hội phát triển. Do đó, vấn đề ở đây là khi xảy ra khủng hoảng do truyền thông hay thực sự có khủng hoảng truyền thông liên quan đến đạo đức công vụ đều phải quản trị bằng cả “biện pháp cứng” (các quy định pháp luật) và cả các “biện pháp mềm” (giáo dục ý thức tự giác,…).

Các giá trị đạo đức nói chung và đạo đức công vụ nói riêng vốn do cộng đồng và dư luận xã hội tạo dựng, nuôi dưỡng và kiểm soát. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, vấn đề đạo đức càng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Khi sự kiện xảy ra liên quan đến đạo đức công vụ thì luôn mang sức nóng, sức hấp dẫn đối với dư luận xã hội, đặc biệt được truyền thông xã hội chú ý, soi chiếu. Đây là cơ hội tốt để các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị sử dụng truyền thông xã hội, mạng xã hội và báo chí để kiểm soát các chuẩn mực công vụ đã được ban hành; sử dụng giám sát xã hội để giám sát quá trình thực thi công vụ nhằm cải thiện hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức, gây dựng niềm tin của người dân với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bộ máy chính quyền trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức trong việc giữ gìn hình ảnh đối với các cơ quan, tổ chức. Nếu để truyền thông tập trung quá mức cần thiết, nhất là theo chiều hướng tiêu cực thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của cơ quan, tổ chức. Xét cho cùng, quản trị tốt truyền thông, đặc biệt trong bối cảnh có khủng hoảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước mà còn là nhiệm vụ tự thân của chính các cơ quan, tổ chức, của chính từng cán bộ, công chức. Ngày nay, với xu thế phát triển chung, chúng ta không thể coi nhẹ, không thể không chăm lo, xử lý tốt mối quan hệ với công chúng xã hội/khách hàng và nhân dân nói chung. Mối quan hệ hết sức quan trọng và ý nghĩa này đang được nâng tầm thông qua báo chí - truyền thông.


Cần tổ chức họp báo, cung cấp thông tin chính thức cho báo chí, truyền thông để ngăn ngừa các luồng ý kiến lệch lạc, xuyên tạc, bất lợi cho tâm lý và tâm trạng xã hội (Trong ảnh: Họp báo thông tin về tình hình dịch COVID-19 và công tác ứng phó của Thành phố Hồ Chí Minh)_Nguồn: ttbc-hcm.gov.vn

2- Để giải quyết khủng hoảng truyền thông về đạo đức công vụ một cách căn cơ, cần hệ thống giải pháp đồng bộ từ bên trong thể chế, nhất là vấn đề pháp trị cho đến các “vành đai” kiểm soát xã hội, thông qua giám sát xã hội và phản biện xã hội của nhân dân. Cụ thể:

Thứ nhất, cần nhận định đúng và trúng tính chất, nguyên nhân xảy ra sự kiện, vấn đề mấu chốt đang gây “nóng” dư luận; tránh nhận thức chủ quan, duy ý chí, áp đặt hay nể nang, tìm cách bao che; cần phân tích khu vực và hướng tác động, ảnh hưởng của sự kiện gây khủng hoảng để có phương án khoanh vùng, hạn chế, đi đến dập tắt khủng hoảng. Tổ chức rút kinh nghiệm và khôi phục tình trạng ban đầu. Đây là việc không dễ, càng phức tạp và khó khăn hơn trong bối cảnh lợi ích nhóm dễ thao túng.

Thứ hai, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước sau khi nhận định, đánh giá một cách nghiêm túc, nắm bắt thông tin một cách toàn diện, cần tổ chức họp báo, cung cấp thông tin chính thức cho báo chí truyền thông để ngăn ngừa các luồng ý kiến lệch lạc, xuyên tạc, bất lợi cho tâm lý và tâm trạng xã hội. Trong phát ngôn cung cấp thông tin cho báo chí - truyền thông, cần tuân thủ nguyên tắc nói nhanh, nói hết và nói đúngNói nhanh để chiếm lĩnh diễn đàn và có cơ hội chi phối dư luận. Nói hết là không giấu thông tin liên quan đến sự kiện gây khủng hoảng. Nói đúng là để tạo sự chia sẻ, thể hiện thái độ chân thành, nhận trách nhiệm với công chúng xã hội. Thực tế vừa qua một số sự kiện gây “bão” không những xử lý chậm trễ, còn xử lý sai lệch đã tạo ra “vòng xoáy im lặng” tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Người lãnh đạo đứng đầu với những yêu cầu trách nhiệm cơ bản là tạo dựng niềm tin xã hội, thuyết phục công chúng và nhân dân bằng uy tín, niềm tin và sự tôn trọng thực tế luôn phải đặc biệt chú ý yếu tố này. Quản trị khủng hoảng truyền thông có thể là "cơ hội vàng" cho người lãnh đạo nhưng cũng có thể là cái bẫy nhấn chìm uy tín của họ.

Thứ ba, quản trị nội bộ tốt, tức là các cơ quan phải nhanh chóng nhận ra sai sót (nếu có), không né tránh sự thật, không tìm cách bao che cho nhau, cần nghiêm khắc kiểm điểm, nhận sai sót trước tổ chức; từ đó cầu thị và chân thành sửa chữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, phê bình và tự phê bình cần phải làm như rửa mặt hằng ngày và phải công khai cho mọi người biết để cùng rút kinh nghiệm. Đây là vấn đề quản trị khủng hoảng.

Thứ tư, đặc tính chung của khủng hoảng là sự kiện xảy ra bất ngờ, thậm chí không ngờ, gây căng thẳng, tạo tâm điểm thu hút, mất kiểm soát thông tin, gây xáo trộn nhận thức và thường có xu hướng tác động xấu đến các mối quan hệ hiện tồn, làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của công dân/công chúng/khách hàng và xã hội nói chung. Trong bối cảnh môi trường truyền thông số và mạng xã hội, những rủi ro và tác động xấu của khủng hoảng càng gia tăng theo cấp số nhân, do vậy để xử lý được khủng hoảng thì các cơ quan quản lý trước hết phải làm chủ được công nghệ, biết cách thiết lập quan hệ truyền thông trên mạng xã hội và quản trị quan hệ trên mạng xã hội; đồng thời khi có khủng hoảng xảy ra chú ý xử lý các nguồn tin và địa chỉ trên mạng xã hội nhanh và hiệu quả.

Thứ năm, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cần quan tâm thiết lập, phát triển mối quan hệ với cộng đồng, với nhân dân thông qua báo chí - truyền thông xã hội, coi đây là việc quan trọng trong quan hệ với quần chúng nhân dân; bảo đảm quyền được biết, được thông tin và quyền tiếp cận thông tin của nhân dân theo luật định. Quan điểm, thái độ và cung cách ứng xử trong quan hệ với cộng đồng chính là đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Thứ sáu, giải pháp quan trọng nhất là thường xuyên chăm lo sinh hoạt nội bộ cơ quan/tổ chức để giáo dục cán bộ, công chức, viên chức trong từng cơ quan; tăng cường kỷ luật và phát huy dân chủ nội bộ để bảo đảm đạo đức công vụ được quán triệt, nhắc nhở, thực hiện thường xuyên./.

Nguồn tạp chí cộng sản.