Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

Tiếp tay, đồng lõa phá hoại niềm tin và giá trị xã hội .

Ðã có một số người nhân danh khoa học nhưng lại tùy tiện khi khảo sát và xử lý tài liệu, sử dụng lối suy đoán vô cảm để đánh giá các nhân vật, sự kiện lịch sử, thậm chí cả những người đã được tôn vinh như biểu tượng về lòng yêu nước. Ðiều đó không chỉ phản khoa học, mà còn vô đạo đức, gây nghi ngờ trong dư luận, tạo cơ hội cho kẻ xấu lợi dụng... cần được lên án, phê phán. Tối 22-12-2018, chương trình Giai điệu tự hào có chủ đề Cây súng và hoa hồng trên VTV1 đã dấy lên trong người xem ký ức và niềm tự hào về những năm tháng cả dân tộc quên mình chiến đấu, hy sinh để giành lại và bảo vệ nền độc lập. Qua lời kể của nhân chứng lịch sử là các cựu chiến binh, công chúng không chỉ ghi nhớ về kỳ tích tháo rời 20 khẩu pháo, đóng bè chở cùng nhiều khí tài quân sự, "đêm đi, ngày giấu" vượt qua hơn 100 cây số đường sông đầy ghềnh thác để về Việt Nam vào tháng 5-1953 của quân đội ta, mà còn biết cùng với liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ lịch sử, liệt sĩ Nguyễn Văn Chức - pháo thủ Khẩu đội 3, Trung đội 2, Ðại đội 806, Trung đoàn 45, Ðại đoàn 351, đã anh dũng hy sinh khi lấy thân mình chèn pháo. Tấm gương của liệt sĩ là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Hoàng Vân viết ca khúc Hò kéo pháo bất hủ. Ðến nay, vì chưa xác định được thân nhân, quê hương của liệt sĩ Nguyễn Văn Chức, các cựu chiến binh từng chứng kiến hoặc từng biết về hành động quả cảm của anh vẫn đau đáu nỗi niềm đi tìm để vinh danh đồng đội. Thế nhưng, ngày 23-12-2018, một trang mạng tiếng Việt có số điện thoại liên lạc mã vùng quốc tế +81 lại đưa tin một "giáo sư" Sử học "xác nhận chuyện Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo là không có thật". Lập tức, ngày 24-12-2018, trang người-viet nổi tiếng chống cộng ở Mỹ đã lớn tiếng đưa tin "nhân vật lịch sử thời chống Pháp "Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo" là do CSVN hư cấu dựng lên". Cũng rất nhanh chóng, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí chộp lấy tin này để xuyên tạc, vu cáo. Xét về nguồn gốc, ý kiến của vị "giáo sư" nêu trên thực chất là "khai quật" lại điều ông đã trình bày vào tháng 5-2010 khi trả lời phỏng vấn một trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam do một vài người Việt ở Ba Lan lập ra. Trong phỏng vấn, với danh nghĩa Tiến sĩ Sử học, giảng viên Ðại học Khoa học Huế, ông tiến sĩ đưa ra một số kết luận hàm hồ đến mức có ý kiến thảo luận coi đó là "lộng ngôn". Như cho rằng, "lịch sử Việt Nam hiện đại, chỉ có 30% sự thật, 70% giả dối" và lập luận một cách vô cảm để phủ nhận hành động của Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện. Bài phỏng vấn đã gây ồn ào về quan điểm, nhưng đã nhanh chóng chìm vào quên lãng do thiếu thuyết phục, vừa qua lại được kẻ xấu "khai quật" và sử dụng. Về Lê Văn Tám, dựa trên tài liệu và nhân chứng lịch sử, các tác giả Trần Trọng Tân, Nguyễn Văn Thịnh, Lý Châu Hoàn,… đã chứng minh đó là người thật, việc thật; nổi lên là việc dẫn lại thông tin về hành động của Lê Văn Tám đã đăng trên báo chí tại Việt Nam năm 1945, như các báo: Cứu quốc (19-10-1945), Quyết chiến (19-10-1945), Cờ giải phóng (5-11-1945). Ðáng chú ý là tác giả Lý Châu Hoàn dẫn từ báo tiếng Pháp La République (Cộng hòa) xuất bản ở Hà Nội năm 1945 tin tức như sau: "Ngày 16-10, một người lính đã biến thân mình thành đuốc sống, bằng cách thiêu thân mình sau khi tẩm xăng để đốt cháy kho dầu Simon Piétri ở Sài Gòn. Ðám cháy kéo dài hai ngày hai đêm. Vị anh hùng vô danh, người đã đốt sáng ngọn đuốc chủng tộc đã chiếu sáng tất cả chúng tôi trên con đường bổn phận" (La République, ngày 4-11-1945). Về Tô Vĩnh Diện, với suy luận "quả pháo nặng hàng tấn, nó đè cho dập nát, chèn thế nào được", phải chăng ông tiến sĩ muốn phủ nhận sự thật về sự hy sinh của một con người dũng cảm? Có một thực tế là, hơn nửa thế kỷ nay, liệt sĩ Tô Vĩnh Diện vẫn yên nghỉ trong Nghĩa trang Liệt sĩ A1 (Ðiện Biên Phủ) bên những đồng đội của mình như Phan Ðình Giót, Bế Văn Ðàn, Trần Can cùng hàng nghìn liệt sĩ có tên tuổi, hoặc vô danh. Hàng chục triệu đồng đội người dân khách quốc tế mấy chục năm qua vẫn đến dâng hương vì ghi ơn, nể phục chẳng nhẽ thiếu hiểu biết về lịch sử, phải đợi được "khai sáng". Sự thực là, các liệt sĩ đều là những người con ưu tú sẵn sàng hy sinh vì dân tộc, lòng yêu nước khát khao chiến thắng, cống hiến sâu thẳm trong tâm hồn là động lực tinh thần giúp họ có quyết tâm, hành động quả cảm như lấy thân mình chèn pháo, lấp lỗ châu mai, làm giá súng... Lẽ ra trước khi đánh giá, để bảo đảm yêu cầu về tính nghiêm cẩn của nghiên cứu khoa học, vị tiến sĩ Sử học cần tìm hiểu động lực tinh thần sâu xa đưa tới hành động của người Anh hùng; cần khảo sát để biết Tô Vĩnh Diện là con người cụ thể, quê thôn Dược Khê, xã Nông Trường (Triệu Xuân, Thanh Hóa); hy sinh ngày 1-2-1954 khi cùng đồng đội kéo pháo ra; ngày 7-5-1955 được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Huân chương Chiến công hạng nhất, năm 1956 được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Là nhà khoa học, ông cần tìm hiểu qua lời kể của đồng đội liệt sĩ là nhân chứng khi sự việc xảy ra; cần biết địa điểm nơi anh hy sinh, khẩu cao xạ 37 ly số hiệu 510681 mà anh cứu hơn nửa thế kỷ trước nay là một bảo vật quốc gia... Tức là rất nhiều tài liệu, nhân chứng lịch sử buộc vị tiến sĩ nọ phải khảo sát trước khi kết luận, nhưng ông lại lấy lối tư duy máy móc, phân tích cơ học, cảm tính để bác bỏ hành động phi thường của người anh hùng. Ðó là điều không thể chấp nhận với một tiến sĩ Sử học, càng không thể chấp nhận khi là ý kiến của người đứng trên bục giảng. Nhìn rộng ra, có thể thấy gần đây tình trạng một số người tùy tiện trong khảo sát, xử lý tài liệu và sử dụng lối suy đoán vô cảm để kết luận về một số nhân vật, sự kiện lịch sử đang có những dấu hiệu bất bình thường và khiến không thể không đặt câu hỏi về mục đích thật sự của họ? Nhân danh khoa học mà thực chất là phi khoa học, nhân danh khách quan mà thực chất là hết sức chủ quan, nhân danh hòa hợp dân tộc mà thực chất là cố hà hơi làm sống lại một số "thây ma của lịch sử". Nhân danh "trả lại giá trị" cho cá nhân này hoặc sự kiện kia,... họ công bố một số "phát hiện" mà ở đó, kẻ bán nước, hại dân lại biến thành người có công với nước, kẻ xuyên tạc lịch sử dân tộc lại được cảm ơn, trao giải thưởng... Thậm chí, có trường hợp sử dụng thủ đoạn đổi trắng thay đen để "minh oan" cho một số người có tội ác với nhân dân, bị nhân dân lên án từ các thế kỷ trước. Họ ca ngợi "công ơn" của thực dân Pháp mà tảng lờ sự thật là hơn 80 năm, thực dân Pháp đã đày đọa cha ông của họ hết sức tàn bạo; tảng lờ luôn sự thật là những gì thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam không phải để giúp Việt Nam phát triển mà nhằm phục vụ bộ máy cai trị, bóc lột thuận tiện hơn. Bằng lối suy đoán vô cảm, họ soi mói một số nhân vật được dân tộc kính trọng như biểu tượng của lòng yêu nước, để từ đó đánh giá thấp, hoặc phủ nhận. Họ không cần biết trong chiều dài lịch sử, không chỉ ở Việt Nam, mà tại nhiều quốc gia khác trên thế giới, những người yêu nước, yêu chính nghĩa trong hoàn cảnh cụ thể có hành động xả thân vượt lên trên bình thường, thậm chí là phi thường, nằm ngoài hình dung của hậu thế không phải là chuyện hiếm. Ðây chính là sức mạnh của chính trị, tinh thần vô địch mà kẻ thù không thể hiểu, cũng như không bao giờ có được. Như năm xưa nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển vác hai thùng đạn nặng gấp hai lần trọng lượng cơ thể để phục vụ chiến đấu. Vì thế, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản, Lê Văn Tám, Trần Văn Ơn, Võ Thị Sáu, Tô Vĩnh Diện, Phan Ðình Giót, Bế Văn Ðàn, Nguyễn Văn Trỗi,... đã trở thành giá trị thiêng liêng, là niềm tự hào được lưu truyền để hun đúc lòng yêu nước. Nên, nếu ai đó hồ nghi Trần Quốc Toản vì căm thù giặc mà tay bóp nát quả cam lúc nào không biết, Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt bên đường vì suy nghĩ việc nước bị giáo đâm vào đùi mà không thấy đau, hoặc muốn phủ nhận Trần Bình Trọng từng nói "Thà làm quỷ nước Nam, hơn làm vương đất Bắc", hay cho rằng Lê Lai không liều mình cứu Lê Lợi,... thì sẽ không chỉ xúc phạm tiền nhân, mà còn xúc phạm các thế hệ người Việt Nam vẫn tôn thờ, noi gương họ. Trước hiện tượng xét lại lịch sử theo hướng tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều, ngày 27-12-2018, nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang phải lên tiếng trên trang sachhiem: "Nhân dân và chính quyền Việt Nam vì cao thượng, nhân từ mà tha thứ, không xử lý những tên tội đồ phản quốc chống lại dân tộc và đất nước chúng ta. Nhưng không phải vì thế mà không ghi vào lịch sử những việc làm tội ác phản dân hại nước của chúng. Lý do là viết sử thì phải nhớ câu nói "Gươm lịch sử không tha phường gian ác", nghĩa là phải công bằng, quang minh, phải "hắc bạch phân minh". Những người có công với đại cuộc đánh đuổi các thế lực xâm lăng cũng như đánh dẹp những quân phản quốc đã tiếp tay cho giặc chống lại đất nước, bọn Việt gian phản quốc đi theo giặc đều phải được ghi lại rõ ràng trong sách sử. Làm thế để cho người dân và các thế hệ mai sau phân biệt rõ ràng những ai cần được tôn vinh, những ai phải lên án và khinh bỉ, đúng theo truyền thống ân nghĩa của dân tộc Việt Nam, cũng là quy luật lịch sử mà bất kỳ dân tộc có văn hiến nào cũng theo đó mà hành xử". Ðó là một ý kiến rất cần lưu tâm trong bối cảnh tin giả đang là một vấn nạn toàn cầu. Nhất là đối với loại tin giả về chính trị được bảo hiểm bởi nguồn gốc "có vẻ xác thực" do một số người có chức danh, học vị hoặc người nổi tiếng đưa ra có nguy cơ kích động cảm xúc bồng bột của người tiếp xúc, đẩy tới hậu quả khôn lường. Ðể chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đang tăng cường nhào nặn, công bố loại tin giả được chế tạo bằng thủ đoạn biến dối trá thành sự thật, xuyên tạc để bóp méo sự thật,... nhằm làm lạc hướng nhận thức, kích động người nhẹ dạ, cả tin bộc phát hành vi tiêu cực. Vì thế, trước khi đưa ra ý kiến đánh giá về bất kỳ con người, sự kiện nào của quá khứ hay hiện tại, mỗi người trong chúng ta cần hết sức thận trọng, tỉnh táo; với ý kiến nhân danh khoa học, nhân danh trí thức yêu cầu này còn đặt ra ở mức cao hơn. Bởi trong khoa học, việc đưa ra những quan điểm, chính kiến riêng là hết sức cần thiết. Nhưng cần nhớ, cùng với tinh thần khoa học, mỗi chúng ta còn có trách nhiệm của một công dân với xã hội, dẫu chỉ là thiếu thận trọng, thiếu tỉnh táo thì những ý kiến như vậy cũng có thể trực tiếp tiếp tay, giúp kẻ xấu tiến công làm băng hoại niềm tin và đời sống tinh thần của xã hội.

Người gốc Việt ở Campuchia 'khóc không ra nước mắt' vì Covid-19

Chủ tịch Hội Khmer Việt Nam tại Campuchia cho biết người gốc Việt bị ảnh hưởng lớn khi Covid-19 bùng phát ở bốn quận trung tâm Phnom Penh. Cộng đồng người gốc Việt tại Campuchia hiện có gần 30.000 người, chủ yếu tập trung tại các quận Chbar Ampov, Russey Keo và Prek Pnov tại thủ đô Phnom Penh, ông Sim Chy, Chủ tịch Hội Khmer Việt Nam tại Campuchia, chia sẻ với VnExpress. Đợt bùng phát Covid-19 dẫn tới lệnh phong toả gây ảnh hưởng nặng ở các quận trung tâm thủ đô, không phải là nơi sinh sống của đa phần người Khmer gốc Việt. "Tuy nhiên, bốn quận trung tâm thủ đô lại là khu vực mà đa số bà con thường lui đến mua bán, đặc biệt là những khu chợ lớn trong địa bàn. Tình hình vì vậy đang gây ảnh hưởng rất lớn đến bà con Khmer gốc Việt ở Phnom Penh", ông nói. Lệnh phong tỏa tại thủ đô Phnom Penh và vùng Takhmao lân cận có hiệu lực từ ngày 15/4 đến 28/4, nhằm kìm hãm tốc độ bùng phát lây nhiễm Covid-19 trong cộng đồng và ngăn vùng dịch lan rộng sang các tỉnh khác. Trong ngày 18/4, Campuchia ghi nhận thêm 618 ca nhiễm mới, nâng tổng số ca bệnh lên 6.389 người, theo Reuters. Chợ Orussey ở khu trung tâm Phnom Penh có khu vực tập trung đông đảo tiểu thương gốc Việt. Nơi này có hoạt động mua bán còn nhộn nhịp hơn cả cộng đồng gốc Hoa và người Khmer cùng địa bàn. Đã có ít nhất 3 trường hợp trong cộng đồng người gốc Việt mắc Covid-19. "Họ đã được cơ quan y tế Campuchia đưa đi cách ly, điều trị được hơn 10 ngày", ông nói thêm. Vợ chồng chị Ny Tryhua, một gia đình Khmer gốc Việt sinh sống gần chợ Orussey, cho biết họ sống đối diện khu vực cách ly chống dịch. Lệnh phong tỏa tuần qua được ban bố quá đột xuất nên hai vợ chồng không kịp chuẩn bị trước. Đến tầm 17-18h ngày 14/4, họ "thấy mọi người vác đồ về quá trời, hỏi ra mới nghe là sắp phong tỏa". "Quận của tôi có rất nhiều ca bệnh. Chỉ băng qua lộ là thấy người ta đang bao vây hết rồi. Không cho ai ra vào. Tình hình nguy hiểm, cả nhà tôi không dám đi đâu từ mấy ngày nay", người chồng có tên tiếng Việt là Tý, từng làm hướng dẫn viên du lịch tại Phnom Penh trước đợt dịch, cho biết qua điện thoại. Trong gần 14 tháng từ khi dịch Covid-19 bùng phát và Campuchia phải siết chặt kiểm soát biên giới, gia đình anh mất đi nguồn thu nhập từ du khách nước ngoài. Cả nhà đang trông cậy vào việc mua bán nhỏ lẻ của chị Ny Tryhua, nên đợt phong tỏa này càng khiến kinh tế thêm khó khăn. Ouk Channy, hướng dẫn viên du lịch gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Campuchia, chia sẻ đại dịch đã đẩy gia đình vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. "Ông xã chị cũng làm du lịch, chuyên tiếng Tây Ban Nha. Chị làm tiếng Anh và tiếng Việt. Ở Siem Reap này thì chỉ sống bằng du lịch thôi, không có thì cực lắm", chị Ouk chia sẻ. Trước khi dịch Covid-19 bùng phát, trung bình hai vợ chồng chị kiếm được khoảng 1.000 USD/tháng. Khoản thu nhập này giờ đây không còn. Không chỉ thế, chị Ouk đã vay để sửa sang nhà cửa tại Siem Reap trước khi đại dịch ập đến. Ngân hàng đã giãn nợ, cho gia đình chị chỉ đóng tiền lãi mỗi tháng và tạm ngưng trả nợ gốc. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau khi Campuchia siết kiểm soát nhập cảnh, hai vợ chồng cũng không còn sức trả tiền lãi ngân hàng, dẫn đến cảnh nợ chồng thêm nợ. "Nhà chị khóc không ra nước mắt", chị Ouk chia sẻ. Dù có phần hoang mang về tình hình, đông đảo người gốc Việt ủng hộ phong tỏa là bước đi cần thiết để kiểm soát tình hình dịch bệnh. Chị Ouk đồng tình nếu chính phủ Campuchia không có biện pháp mạnh tay tình cảnh khó khăn chỉ kéo dài thêm nữa. "Bây giờ họ sẽ siết chặt lại nhưng chính phủ vẫn cho người dân đi siêu thị. Họ sẽ khoanh mỗi vùng có khoảng hai siêu thị để bà con mua đồ. Vùng nào được phân ra vùng nấy, người dân không được đi lại tràn lan", chị Ny Tryhua chia sẻ, thêm rằng gia đình vẫn đang chờ đến lượt được tiêm vaccine. Bấm để xem chi tiết Cảnh sát phong tỏa chợ Orussey, gần khu vực có nhiều tiểu tương người gốc Việt tại Campuchia làm ăn, vào ngày 15/4. Ảnh nhân vật cung cấp. Cảnh sát phong tỏa chợ Orussey, gần khu vực có nhiều tiểu tương người gốc Việt tại Campuchia làm ăn, vào ngày 15/4. Ảnh nhân vật cung cấp. Theo Phnom Penh Post, cơ quan y tế Campuchia tính đến ngày 18/4 đã tổ chức tiêm ngừa Covid-19 cho hơn 1,2 triệu người trên cả nước. Hoạt động những ngày qua vẫn được duy trì ở các vùng Phnompenh, Takhmao dù bị phong tỏa và việc đi lại giữa các tỉnh, thành phải hạn chế. "Họ đang ưu tiên những người có nguy cơ lây nhiễm cao. Như quận Sen Sok (ở trung tâm Phnom Penh), những người từ 60 tuổi trở lên được ưu tiên tiêm. Mấy người cháu của tôi trong khu đó cũng được tiêm hết rồi", anh Tý cho biết. Davy Dương, 29 tuổi, một dược sĩ gốc Việt thuộc nhóm ưu tiên, đã được tiêm mũi thứ nhất vaccine Sinovac do Trung Quốc cung cấp cho Campuchia. Một ngày sau khi tiêm, Davy bị sốt nhẹ và mệt mỏi và sức khỏe nhanh chóng hồi phục trong ngày tiếp theo. Chị nói vaccine là một trong nhiều biện pháp ngăn lây nhiễm Covid-19 mà người lao động trong mảng y tế tại Campuchia được cung cấp, bên cạnh trang bị bảo hộ như khẩu trang và tấm chắn mặt. Theo ông Sim Chy, Đại sứ quán Việt Nam đã làm việc với Bộ Ngoại giao Campuchia về việc hỗ trợ tiêm vaccine cho doanh nghiệp và người lao động thuộc diện đầu tư sang Campuchia. Riêng với cộng đồng người Khmer gốc Việt, bà con gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu vì đa số chưa có quốc tịch. "Phần đông bà con chỉ có thẻ ngoại kiều, còn được gọi là 'thẻ vàng', được cấp bởi Tổng cục Di trú của Bộ Nội vụ Campuchia", ông nói. Tuy nhiên, sau khi Hội Khmer Việt Nam tại Campuchia phối hợp làm việc với Bộ Nội vụ và 25 tỉnh thành của Campuchia, trên 10 tỉnh thành đã đồng ý cho bà con có thẻ vàng, đang sinh sống hợp pháp tại Campuchia được đăng ký tiêm. Người gốc Việt tin tưởng vaccine sẽ giúp họ sớm vượt qua đại dịch. "Chất lượng vaccine bao nhiêu phần trăm thì mình không biết rõ được, nhưng mình hiểu là tiêm ngừa để được an toàn và mình muốn được tiêm", chị Ny cho biết.

Việt Nam có thể xử lý đông máu sau tiêm vaccine Covid-19 ở tuyến cơ sở

Với 1.500 điểm triển khai hệ thống khám chữa bệnh từ xa ở khắp 63 tỉnh thành, đông máu do tiêm vaccine Covid-19 có thể được xử lý ngay ở tuyến cơ sở. Phó giáo sư Đào Xuân Cơ, Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Tổng Thư ký Hội Hồi sức cấp cứu và chống độc Việt Nam, cho biết điều trị rối loạn đông máu sau tiêm chủng vaccine Covid-19 (phản ứng cực kỳ hiếm gặp) cũng giống như các rối loạn đông máu thông thường. Với hệ thống khám chữa bệnh từ xa được Bộ Y tế triển khai tới tất cả tỉnh thành cả nước thời gian qua, các chuyên gia đầu ngành có thể hướng dẫn tuyến dưới xử lý nhanh chóng và hiệu quả. Phó giáo sư Đào Xuân Cơ. Ảnh: Trần Minh Bộ Y tế đã thành lập Ban Chỉ đạo an toàn tiêm chủng vaccine Covid-19 gồm các lãnh đạo Bộ Y tế cùng các nhà khoa học là các chuyên gia hàng đầu trong nước về các lĩnh vực tiêm chủng, truyền nhiễm, hồi sức cấp cứu, hồi sức tích cực, huyết học, tim mạch, thần kinh... Các chuyên gia này hướng dẫn tổ chức sàng lọc, theo dõi, xử trí sự cố bất lợi sau tiêm để kịp thời hỗ trợ các địa phương xử trí mọi tình huống xảy ra với mục tiêu "tiêm phòng đến đâu an toàn đến đó". Hiện, Tiểu ban hướng dẫn và tổ chức chỉ đạo xử trí sự cố bất lợi sau tiêm chủng vaccine Covid-19 đã xây dựng xong phác đồ "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hội chứng giảm tiểu cầu, huyết khối sau tiêm vaccine Covid-19" trình Bộ Y tế ban hành. Phác đồ xây dựng theo hướng rất chi tiết, dễ theo dõi và thực hiện, nhằm giúp các cơ sở tiêm chủng sẵn sàng xử trí hội chứng giảm tiểu cầu, huyết khối sau tiêm, để xử trí kịp thời ngay tại cộng đồng và y tế cơ sở. Phác đồ cũng hướng dẫn người tiêm phát hiện sớm dấu hiệu sau khi tiêm để tới các cơ sở điều trị kịp thời. Phó giáo sư Đào Xuân Cơ khẳng định người dân yên tâm đi tiêm chủng vì hiện tượng đông máu sau khi tiêm vaccine Covid-19 rất hiếm khi xảy ra. "Nếu có thì ở bất cứ tuyến nào ngành y tế cũng huy động được ngay các chuyên gia đầu ngành tiến hành khẩn cấp hội chẩn và hướng dẫn cách điều trị qua hệ thống Telehealth", bác sĩ Cơ nói. Sau tiêm chủng, người dân cần tự theo dõi, nếu có một trong các biểu hiện như đau đầu, nhìn mờ, nhìn đôi, co giật, tê yếu, liệt; đau ngực, khó thở; đau bụng dai dẳng; phù 2 chi dưới, cần phải đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám, điều trị kịp thời tránh biến chứng. Tại Việt Nam, đến nay đã triển khai tiêm vaccine Covid-19 tại 22 tỉnh, thành phố cho khoảng 80.000 nghìn người, tuy nhiên chưa gặp trường hợp nào có biểu hiện phản ứng đông máu.

Cần nhìn nhận rõ chiêu bài chống phá bầu cử của các phần tử xấu

 Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đang đến gần thì một trong những chiêu bài thường thấy của các thế lực thù địch và các phần tử xấu là xuyên tạc thông tin, chia sẻ, bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, thậm chí bôi nhọ, nói xấu những người là nhân sự dự kiến bầu đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu HĐND các cấp với mục đích hạ uy tín, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, giảm niềm tin của cử tri, gây ảnh hưởng đến công tác bầu cử tại địa bàn.

Thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

 Trong thời gian qua, các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đã luôn tìm cách “bẻ lái”, chính trị hóa một số vụ án hình sự nhằm tạo cớ, tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào Việt Nam, phục vụ hoạt động chống phá Nhà nước.

Cảnh giác với âm mưu phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

 Chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị là việc làm hết sức quan trọng góp phần tổ chức thành công cuộc bầu cử.

Chiêu trò xúi giục phá hoại

 So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

 



MẸ SUỐT - NGƯỜI MẸ ANH HÙNG TRÊN DÒNG SÔNG NHẬT LỆ

Thị xã Đồng Hới (nay là thành phố Đồng Hới - Quảng Bình) nhỏ bé có con sông Nhật Lệ oằn mình dưới bom đạn, đã in dấu trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam trong những ngày đầu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Nơi đây có mẹ Suốt, người chèo đò chở bộ đội qua sông trong những ngày chiến đấu ác liệt, đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam anh hùng. Ngày 11/10/1968, trong lúc làm nhiệm vụ, mẹ Suốt đã anh dũng hy sinh bởi một trận bom đạn của kẻ thù.

Mẹ Nguyễn Thị Suốt sinh năm 1906 tại xóm Vạn chài làng, Phú Mỹ (nay thuộc thôn Mỹ Cảnh, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới). Từ thuở nhỏ phải đi ở nuôi thân, cuộc đời của mẹ là những tháng ngày đi ở đợ hết nhà giàu này đến nhà giàu khác, làm thuê làm mướn suốt năm, suốt tháng mà vẫn khổ cực.

Cách mạng Tháng Tám thành công chặt đứt xiềng xích nô lệ, giải phóng quê hương, giải phóng dân tộc và giải phóng chính cuộc đời mẹ. Nhưng chưa kịp vui mừng thì thực dân Pháp lại xâm lược nước ta lần nữa. Cũng như đồng bào cả nước, mẹ phải tiếp tục cuộc đời lầm than, cay đắng.

Khi giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc, mẹ đã 60 tuổi. Với tình yêu quê hương tha thiết, theo tiếng gọi của cách mạng, của Bác Hồ, mẹ Suốt đã xung phong nhận một công việc tưởng như bình thường nhưng vô cùng nguy hiểm: Chở đò ngang qua sông Nhật Lệ. Đây là một trong ba nhiệm vụ quan trọng của tổ 3 phòng: phòng chữa cháy; cấp cứu, chuyển tải thương binh và giao thông đi lại.

Đưa đò, phục vụ nhân dân qua lại, mẹ là người lái đò có trách nhiệm. Mặc dầu đã có tuổi, đến lượt trực đò, bất kể đêm khuya, mẹ luôn có mặt. Khi phục vụ chiến đấu mẹ càng tích cực khẩn trương. Cán bộ, bộ đội cần đi công tác bất kể giờ nào, mẹ đều vui lòng chở ngay; kể cả lúc nửa đêm, cho đến trường hợp báo động mẹ cũng không ngần ngại.

Ngày 7/2/1965 (tức là ngày mồng 6 tết ất Tỵ) không lực Hoa Kỳ ồ ạt tấn công bắn phá thị xã Đồng Hới và các vùng lân cận (chúng đã huy động 160 lần chiếc máy bay phản lực hiện đại). Đây là trận oanh tạc lớn mở màn cho cuộc chiến tranh leo thang phá hoại của giặc Mỹ đối với nhân dân ta nói chung, Đồng Hới nói riêng. Thị xã Đồng Hới như rung chuyển trong khói lửa đạn bom của kẻ thù. Biến căm thù thành hành động cách mạng, cả thị xã Đồng Hới và làng cát nhỏ Bảo Ninh đã dũng cảm kiên cường chiến đấu với máy bay Mỹ.

Trên sông Nhật Lệ, những cột nước đen ngòm tung lên dữ dội bởi đạn bom. Bất chấp cả những lần máy bay bổ nhào, phóng róc két, bắn đạn 20 ly ngăn chặn, mẹ Suốt vẫn hiên ngang cầm chắc tay chèo chở bộ đội sang sông, vận chuyển đạn từ bờ ra tàu chiến của ta để ta đánh trả quân thù. Những chuyến đò của mẹ cũng là đường dây thông tin liên lạc giữa thị xã Đồng Hới với Bảo Ninh. Dưới làn mưa bom bảo đạn của kẻ thù, mẹ cùng chiếc đò ngang đưa đón cán bộ, bộ đội, nhân dân qua lại đôi bờ.

Không hình ảnh nào đẹp hơn một bà mẹ đã ngoài 60 tuổi mà vẫn bất chấp hiểm nguy, hiên ngang ngẩng cao đầu trước hàng loạt đạn bom của Mỹ luôn khống chế và ngăn chặn. Những người đã từng qua đò của mẹ trong những giờ phút nóng bỏng đó vô cùng khâm phục trước lòng quả cảm, gan dạ của một bà mẹ đã biến căm thù thành hành động phi thường. Cho đến nay, những người đã từng trực tiếp chiến đấu và chứng kiến sáng 7/2/1965 vẫn không thể lý giải và hiểu nổi vì sao giữa dòng Nhật Lệ nước sôi, đạn bỏng mà mẹ Suốt vẫn anh dũng xông pha và hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc đến thế.

Chiến công của mẹ Suốt cùng bao chiến công thầm lặng khác của quân và dân Đồng Hới đã lập nên một kỳ tích vang dội: Chỉ trong hai ngày 7 và 8/2/1965, quân dân Đồng Hới đã bắn rơi 14 máy bay Mỹ. Từ ngày 14/2 đến 28/4/1965, 5 tàu chiến Mỹ bị bắn chìm, bắn cháy tại biển Nhật Lệ - mở đầu cho thắng lợi rực rỡ của quân và dân ta.

Sau trận chiến đấu ác liệt ấy, con đò mẹ Suốt lại tiếp tục đưa đón cán bộ, bộ đội sang sông trong những ngày đánh Mỹ. Với những chiến công của mẹ, ngày 1/1/1967, mẹ Nguyễn Thị Suốt đã được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng ngành Giao thông vận tải trong chống Mỹ cứu nước.

Chiến tranh ngày càng ác liệt, bị thua đau ở miền Nam, đế quốc Mỹ lại tăng cường đánh phá miền Bắc và Đồng Hới lại tiếp tục hứng chịu cảnh đạn bom. Ngày 11/10/1968, trong lúc làm nhiệm vụ, mẹ Suốt đã anh dũng hy sinh bởi một trận bom đạn của kẻ thù.

Mẹ Suốt đã trở thành đề tài xúc động và hào sảng cho biết bao tác phẩm văn học - nghệ thuật, về một người phụ nữ, một người mẹ chỉ với mái chèo và trái tim yêu nước, thương nhà mà quyết sống mái với quân thù, tiêu biểu trong đó là bài thơ "Mẹ Suốt” của nhà thơ Tố Hữu, người được Giáo sư Hà Minh Đức xem là "miêu tả thành công hình ảnh người mẹ trong thơ Việt Nam hiện đại":

Một tay lái chiếc đò ngang

Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày

Sợ chi sóng nước tàu bay

Tây kia ta đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua”.

Hình ảnh mẹ Suốt sống mãi trong lòng nhân dân Quảng Bình và nhân dân cả nước. Bến đò mẹ chèo năm xưa nay đã trở thành một di tích lịch sử tiêu biểu ở Quảng Bình trong thời kỳ chống Mỹ với tên gọi thân thương, kính trọng: Bến đò mẹ Suốt.

Năm 1980, để tưởng nhớ và thể hiện sự cảm kích về một người mẹ anh hùng của quê hương, UBND thị xã Đồng Hới đã cho xây dựng bia đài mẹ Suốt nằm giữa trung tâm của bến đò.

Đến năm 2003, vào dịp cả nước ta mừng lễ Quốc khánh 2/9, tượng đài mẹ Suốt và quần thể khu tưởng niệm được cắt băng khánh thành. Tượng cao 7m (tính cả bệ), khuôn mặt hướng ra sông Nhật Lệ, cách bến đò xưa hơn 50m. Đây là địa chỉ tham quan du lịch, nơi sinh hoạt văn hóa của nhân dân thành phố và du khách gần xa khi đến với Quảng Bình và bày tỏ lòng ngưỡng mộ, cảm kích trước một người mẹ bình thường nhưng rất đỗi anh hùng.

Theo TTXVN





Tỉnh táo trước những luận điệu phản dân chủ




Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 sắp diễn ra vào 23/5 tới là dịp để mỗi công dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia lựa chọn những đại biểu ưu tú vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.

“TỰ DIỄN BIẾN” “TỰ CHUYỂN HÓA” LÀ SỰ SUY THOÁI

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo chiều hướng ngày càng tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Điều đó khiến cho vai trò tiên phong, gương mẫu của họ ngày càng giảm, không đủ “sức miễn dịch”, thiếu “sức đề kháng” trước những tác động tiêu cực trong xã hội, đồng lõa với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với cách mạng Việt Nam. Đó còn là biểu hiện rõ nhất của bản lĩnh chính trị không vững vàng, từ chỗ ban đầu là mơ hồ ảo tưởng, hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng dẫn đến hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội… Cụ thể hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn biểu hiện ở những việc sẵn sàng tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu ly khai, chống đối, lý luận phản động; phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; móc nối, câu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật… Những biểu hiện trên cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra từ những năm đầu của thế kỷ XX, dưới các biểu hiện khác nhau của những người đảng viên trong các Đảng dân chủ - xã hội Tây Âu như: tư tưởng cơ hội về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khoác áo chủ nghĩa Mác nhưng chống chủ nghĩa Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận chủ nghĩa Mác… Đó chính là bọn cơ hội chủ nghĩa, tay sai của giai cấp tư sản. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ những biểu hiện: “Thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng… mang nặng chủ nghĩa cá nhân… không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước… hững hờ như những người không có lý tưởng,… không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm”(1); “ít gắn bó với tổ chức, không tin ở lực lượng và trí tuệ của tập thể. Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác… tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người… coi thường những quyết định của tổ chức,… coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài… chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình… phô trương, lãng phí… sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(2), “biến thành người có tội với cách mạng” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái. Để khắc phục các biểu hiện, hiện tượng đó, Người khẳng định phải: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và mỗi “người đảng viên chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(3).

Đập tan âm mưu lợi dụng chính sách đối với người có công của các thế lực thù địch .

Trong thời gian qua, đã xuất hiện một số cá nhân lợi dụng chủ trương của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với người có công, mạo danh, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để thành lập “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” hoạt động trái phép và tìm cách phát triển tổ chức, tuyên truyền, lôi kéo người tham gia, trong đó có cả cựu sỹ quan, tướng lĩnh quân đội, cán bộ cấp cao đã nghỉ hưu, trí thức, hội viên các hội quần chúng… Với tính chất hoạt động phức tạp, tinh vi của “Ban Liên lạc người có công vcấp)ới cách mạng Việt Nam” (Ban liên lạc) do ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1942, là Thượng sỹ quân đội, nguyên giáo viên quân sự Trường Cao cấp nghiệp vụ ngân hàng đã nghỉ hưu nhưng tự xưng là Giáo sư, Tiến sỹ, Đại tá quân đội, đã đứng ra thành lập trên địa bàn Thành phố Hà Nội đầu năm 2018. Ban liên lạc có ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động ra các địa phương trên cả nước nên đã ra văn bản số 01/BLL gửi tới các Tỉnh ủy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với nội dung giới thiệu về tôn chỉ, mục đích hoạt động về đề nghị tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ để triển khai thành lập các “Ban Liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kèm theo văn bản này là một số tài liệu, trong đó đáng chú ý có nội dung: “Năm 2018, Thường trực Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam tiếp tục hướng dẫn để người có công trên toàn quốc đăng ký hội viên sáng lập Hội người có công Việt Nam, ra mắt Ban liên lạc người có công trên toàn quốc…”. Hoạt động của một số kẻ cầm đầu “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” có nhiều dấu hiệu lừa đảo, tính chất phức tạp nhằm trục lợi, lợi dụng tên tuổi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội để hoạt động. Ngày 6/1/2018, “Ban liên lạc” ra văn bản có nội dung “Tôn vinh đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng là trưởng ban liên lạc danh dự” và công bố danh sách 89 người tham gia, trong đó có Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc Phòng; Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tư lệnh Quân khu IV; Thiếu tướng Nguyễn Thành Định, nguyên Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Công binh; ông Dương Minh Đỗ, nguyên Phó Cục trưởng Cục người có công, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, thực tế, các đồng chí trên đều không biết và không tham gia “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam”. Qua đấu tranh, cơ quan công an đã làm rõ cơ cấu tổ chức, tính chất hoạt động của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” là tổ chức tự xưng, chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Thành Luân đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và của “Ban liên lạc” để tuyên bố giải tán, chấm dứt hoạt động của “Ban liên lạc” ở các cấp, xóa bỏ các chức danh tự phong, giao nộp con dấu của “Ban liên lạc” cho cơ quan công an. Đến nay, tổ chức của “Ban liên lạc người có công với cách mạng Việt Nam” trên địa bàn Thành phố Hà Nội đã bị phá rã, không thực hiện được ý đồ mở rộng phạm vi hoạt động, thành lập các tổ chức tại các địa phương khác trên cả nước./.

NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI

Xét ở một khía cạnh nào đó, văn hóa là sản phẩm của một xã hội. Tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều phản ánh vào văn hóa. Sự xuống cấp đạo đức cũng nằm trong một bối cảnh chung như thế. Xét theo chiều lịch đại, chúng ta thấy sự thay đổi nhanh chóng của xã hội Việt Nam. Nhiều thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội và cả văn hóa đã được người dân chứng kiến, đặc biệt từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc Đổi mới. Tuy nhiên, không có bất cứ thứ gì không có mặt trái của nó. Sự mở cửa về kinh tế, xã hội, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông, bên cạnh những tác động tích cực, cũng để lại rất nhiều hệ quả. Ở góc độ văn hóa, sự thay đổi xã hội khiến cho lôgic vận hành của văn hóa thay đổi, bao gồm những vấn đề của định hướng giá trị, thói quen và phong tục, tập quán của một xã hội đang trên đà chuyển đổi. Với định hướng giá trị, thì đó là những giá trị cũ, có những thứ không còn thích hợp thì chưa mất hẳn, còn những giá trị mới, phù hợp hơn thì chưa thực sự định hình. Có những tấm gương đạo đức trước kia có tác dụng rất lớn, giờ không còn đóng đúng vị trí của nó nữa! Xã hội rơi vào tình trạng khủng hoảng giá trị. Từ khủng hoảng giá trị dẫn đến mất niềm tin và định hướng trong xã hội, đó là lý do quan trọng của tình trạng xuống cấp đạo đức vì xung đột và khủng hoảng giá trị và niềm tin. Kể cả những nghề được xã hội coi trọng, xem là cao quý như nghề giáo và nghề y đang chứng kiến nhiều hiện tượng xuống cấp đạo đức cũng chính vì những lý do này. Sự thay đổi thói quen, phong tục, tập quán cũng trong vòng quay như vậy. Những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc giờ đây bị thách thức bởi những thói quen mới được ra đời từ cuộc sống giàu sang và tiện nghi hơn, bị quyến rũ bởi những thông tin về cuộc sống xa lạ ở các xã hội xa lạ. Điều này dường như còn được làm đậm hơn bởi những “người của công chúng” khi đưa ra những ca khúc phản cảm với những ca từ nhảm nhí, lối sống tạo scandal để nổi tiếng bằng mọi giá, bất chấp những giá trị đạo đức của dân tộc. Tất cả khiến cho nhiều chủ nhân tương lai của xã hội (thế hệ trẻ) lạc lối trong cách xác định lý tưởng sống cũng như phong cách sống. Những lối sống mới xa lạ, đua đòi, những phong cách thời trang, nghệ thuật không phù hợp với chuẩn mực đạo đức dân tộc đã khiến cho xã hội trở nên hỗn loạn hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự xuống cấp đạo đức trong xã hội xét từ cách nhìn văn hóa. Các phương tiện truyền thông đang khiến cho những giá trị phản văn hóa được dung dưỡng, lan truyền bằng những thông tin thiếu định hướng. Việc xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới với internet và điện thoại di động thông minh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách, đặc biệt trong tầng lớp thanh, thiếu niên. Thế giới ảo nhưng tác động thực là những thứ mà xã hội chúng ta chưa từng chứng kiến và chưa có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Trào lưu cá nhân hóa khác rất nhiều so với lối sống vì cộng đồng từng phổ biến trong xã hội truyền thống. Các cá nhân tưởng tượng mình vô danh trên thế giới ảo, có thể thể hiện ý kiến (kể cả bức xúc) của mình theo cả những cách tiêu cực nhất. Và khi chính sự tự kiểm soát bản thân không thể thực hiện được trên môi trường mạng, cái xấu sẽ lan tràn ra toàn xã hội. Đó là những điều chúng ta thực sự lo ngại.

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG XUỐNG CẤP ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI

Chắc sẽ còn nhiều hơn nữa những lý do giải thích cho sự xuống cấp đạo đức, nhưng câu trả lời cho giải pháp nào để giúp giảm bớt và tiến tới loại trừ hẳn hiện tượng tiêu cực này có lẽ sẽ quan trọng hơn việc mải miết đi tìm nguồn gốc mà không đưa ra những cách làm hữu hiệu để loại bỏ nó. Dưới đây là một vài gợi ý nhỏ cho một vấn đề lớn được tiếp cận từ góc độ văn hóa: Thứ nhất, cần quan tâm hơn đến vai trò của nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng con người mới, xác định những giá trị xã hội mới được xã hội tôn vinh. Trước kia, cha ông chúng ta chỉ sử dụng các loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương, sử dụng tục ngữ, dân ca để chuyển tải các thông điệp nhân văn, mà giáo huấn được cả xã hội đi theo tiếng gọi của lương tri, đạo đức. Bối cảnh xã hội hiện nay không cho phép chỉ sử dụng những biện pháp cũ, nhưng nếu chúng ta cho nghệ thuật, hình thành những tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, thu hút sự quan tâm của nhiều người dân trong xã hội, thì sức lan tỏa của các thông điệp từ nghệ thuật có tác dụng cao hơn nhiều lời hiệu triệu. Chứng kiến cả chục ngàn người đứng lên hát vang quốc ca trong một trận đấu bóng đá và cả nước hân hoan, vẫy cờ, ào xuống phố một cách trật tự, văn minh cùng với niềm vui chiến thắng của dân tộc, cũng là lúc chúng ta hiểu thêm những giá trị tốt đẹp mà văn hóa đem lại cho cả xã hội. Từ những niềm vui tinh thần do văn hóa mang lại đó, bầu không khí xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận tiện hơn để cả dân tộc có thể tạm quên đi những khó khăn, tiếp bước trên hành trình vinh quang của mình. Thứ hai, xây dựng và củng cố hệ thống các quy tắc đạo đức trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi viết cuốn sách “Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản”, Max Weber đã nhấn mạnh đến khía cạnh dẫn dắt sự phát triển của xã hội từ các giá trị đạo đức. Theo đó, chính các giá trị đạo đức đã có tác dụng vừa ổn định xã hội, vừa tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Muốn làm được như vậy, xã hội cần hình thành hệ thống các quy tắc đạo đức ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Nghề giáo, nghề y hay bất kỳ một ngành nghề nào cũng có một bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Bộ quy tắc đạo đức ấy sẽ giúp đạo đức xã hội được ổn định trong từng nhóm nhỏ, rồi từ đó lan ra toàn xã hội (việc Hội Nhà báo Việt Nam vừa cho ra đời Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam là một ví dụ cho thấy, chúng ta cần có thêm các bộ quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức cho các lĩnh vực khác nhau để bảo đảm sự ổn định, rõ ràng trong hành vi ứng xử của từng nhóm xã hội trong những lĩnh vực hoạt động cụ thể). Thứ ba, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông trong việc truyền đi thông điệp tích cực về những lối sống đẹp, những tấm lòng nhân ái trong xã hội, và hình thành một dư luận xã hội ủng hộ các giá trị chân - thiện - mỹ. Về bản chất, xã hội là tốt và con người là hướng thiện. Vì thế, để cái tốt và lòng hướng thiện lan tỏa trong xã hội sẽ khiến cho cuộc sống đẹp hơn. Chính cái thiện, cái đẹp của văn hóa trong xã hội sẽ góp phần đẩy lùi tệ nạn và cái xấu, đạo đức tốt đẹp trong xã hội sẽ dần trở lại. Từ đó, văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, là hệ điều tiết cho sự phát triển xã hội./.

Tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân trên cơ sở lợi ích quốc gia, dân tộc .

Suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng từ “tự do” trong cụm từ “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” của hệ thống pháp luật Việt Nam để tổ chức các hoạt động chống phá, hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội. Để thực hiện mưu đồ ấy, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn nhằm tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước; hậu thuẫn về vật chất, tinh thần cho các đối tượng chống đối, đưa tôn giáo ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị “đối trọng” với Đảng. Chúng xác định lấy “tự do tôn giáo” làm “ngòi nổ” để chống phá Việt Nam. Những năm gần đây, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm tách quyền “tự do” ra khỏi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện dưới các hình thức: Chống phá thông qua việc ra các đạo luật, nghị quyết từ ngoài nước; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng sự mở rộng về dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam để tiến tới quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, hòng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam; tăng sức ép với Việt Nam qua thể chế hóa các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhạy cảm, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, vu khống về tự do tôn giáo ở Việt Nam... Chúng xúi giục, kích động số phần tử phản động trong tôn giáo người Việt ở nước ngoài tổ chức các hoạt động chống phá về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam; tổ chức một số cuộc mít tinh, biểu tình do các hội, nhóm mang danh tôn giáo hải ngoại nhằm đưa ra những yêu sách đòi Việt Nam thực thi cái gọi là "các quyền tự do tôn giáo". Để đi sâu hơn, chúng hỗ trợ, kích động và chỉ đạo một số linh mục cực đoan trong nước đẩy mạnh hoạt động chống phá. Bên cạnh đó, các cơ quan đại diện chính thức của một số nước phương Tây thông qua đại sứ quán, lãnh sự quán đã có những hoạt động công khai, hoặc bí mật ủng hộ số đối tượng cực đoan nói trên. Họ trực tiếp, hoặc cử người đi điều tra, nắm những sai sót, sơ suất trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam ở các địa phương, cơ sở để lợi dụng chống Đảng và Nhà nước, tố cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp giáo sĩ... Thực tế cho thấy, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các thế lực thù địch, một số linh mục cực đoan đã viết và tán phát nhiều tài liệu đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân Việt Nam đã giành được qua các cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ đòi hỏi xã hội phải thừa nhận vai trò của tôn giáo như vai trò của chính quyền trong việc điều hành xã hội... Những hoạt động nói trên tuy chưa phải phổ biến, song nó cho thấy tính chất thâm hiểm và xảo quyệt trong việc chống phá cách mạng Việt Nam, kích động, chia rẽ bà con giáo dân với cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở, gây bất hòa giữa những người theo đạo và không theo đạo, làm phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân và lợi ích chung của dân tộc. Ở các tỉnh miền núi, chúng lợi dụng việc đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, nhận thức còn hạn hẹp để truyền đạo trái phép, hòng lôi kéo, tập hợp quần chúng. Thời gian qua nổi lên là hiện tượng lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo đạo Tin lành Đề-ga; đạo Dương Văn Mình... Thông qua việc giảng đạo, các đối tượng lồng ghép những vấn đề chính trị để chống lại đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, họ kích động đồng bào dân tộc thiểu số không thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, không tham gia các tổ chức chính trị ở địa phương, không tham gia các hoạt động do cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai... nhằm lôi kéo đồng bào ra khỏi sự quản lý của chính quyền, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở. Những vấn đề dẫn ra ở trên cho thấy, cuộc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo đang đặt ra thật sự cấp bách. Bởi sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo có tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị, làm suy giảm những thành tựu của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, việc đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo. Để đập tan những âm mưu, thủ đoạn phản động, trước hết phải nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo mà cụ thể là chiêu bài lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đấu tranh hiệu quả với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của chúng. Cần phải hiểu rằng, cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo và âm mưu “diễn biến hòa bình” trong khu vực và trên thế giới ngày nay sẽ còn nhiều biến động phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Việt Nam vẫn tiếp tục là mục tiêu chống phá của chủ nghĩa đế quốc. Trong những năm tới, vấn đề tôn giáo, dân chủ và nhân quyền vẫn tiếp tục là mục tiêu tiến công, chống phá của các thế lực thù địch, cần phải đặc biệt quan tâm. Phải xác định rõ đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các thế lực thù địch chính là giữ vững được sự ổn định bên trong; linh hoạt, mềm dẻo giải quyết hài hòa các lợi ích giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo trên cơ sở lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc. Trong đó khẳng định việc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và phải lấy đó làm điểm tương đồng để đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc và tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy. Cần phải thực hiện các biện pháp để đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhưng vẫn thực hiện tốt mục tiêu, đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, ngày càng thu hút bạn bè quốc tế theo tinh thần “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Để có cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh này, chúng ta cần xây dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong đó phải chú trọng xây dựng được niềm tin với nhân dân, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hướng các chức sắc, chức việc tôn giáo vào việc vừa phụng sự đạo giáo, vừa phục vụ sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Để làm được điều đó phải dựa chắc vào dân, tổ chức liên kết nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của nhân dân, nhất là trong đồng bào có đạo, định hướng cho đồng bào luôn hành động theo mục tiêu sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó chúng ta phải phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền các địa phương, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế-xã hội mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trên tất cả vùng, miền của Tổ quốc. Làm tốt những vấn đề trên chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được một khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với nhân dân và trong các tầng lớp nhân dân với nhau mà không một thế lực nào có thể phá vỡ.

Giá đất ảo, thị trường méo mó

 

Lý giải nguyên nhân giá đất tăng, ngoài việc vin vào thông tin quy hoạch, trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Phạm Xuân Hòe - chuyên gia ngân hàng - cho rằng việc hạ lãi suất huy động sẽ hướng dòng tiền sang các kênh đầu cơ bất động sản có thể gây bong bóng bất động sản.

GS Đặng Hùng Võ - nguyên thứ trưởng Bộ TN-MT - cũng nhận định nguy cơ bong bóng bất động sản là hiện hữu. Lý do chính khiến giá bất động sản bong bóng, theo ông Võ, là cung thấp hơn cầu. Cụ thể trong 2 năm qua, số lượng dự án nhà ở được phê duyệt tại Hà Nội và TP.HCM bị giảm khoảng 10 lần. Có nghĩa là trong vài 3 năm tới, cung sẽ giảm mạnh trong khi cầu tiếp tục tăng nên đẩy giá nhà đất tăng cao bất thường.

Cùng với câu chuyện lãi suất tiền gửi thấp, cầu nhiều hơn cung, ông Võ cũng nhận định rằng hiện nhiều địa phương bắt đầu phê duyệt quy hoạch 2021-2030, tầm nhìn 2045 thì nảy ra nhiều ý tưởng quy hoạch như Sơn Tây lên TP, một loạt các tỉnh đề xuất xây sân bay... Bên cạnh đó, nhiều dự án hạ tầng cũng được đẩy mạnh. Tất cả các yếu tố này khiến người ta "nhìn thấy" khi hình thành quy hoạch, dự án thì giá đất sẽ lên rất cao.

"Tuy nhiên bong bóng đến một lúc nào đó sẽ phải vỡ. Những người ôm hàng lúc thị trường xì hơi thì thiệt hại sẽ rất lớn" - ông Võ nhận định. Ông Võ lo ngại thực tế này khiến những người cần mua nhà đất để ở thật chứ không phải thương mại sẽ ngày càng khó khăn, cơ hội để tiếp cận sẽ rất hẹp. Hệ lụy thứ hai là nó tạo giá ảo, tức là thị trường bất động sản đang không sát mặt đất, đang lửng lơ cho thấy thị trường không thật, bị bóp méo. 

                                                                                                                 CS. T3

Nêu cao cảnh giác, ngăn chặn kịp thời việc bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. . Như vậy, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước là một trong các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đó cũng là một nội dung trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, kịp thời ngăn chặn biểu hiện này không chỉ là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng mà còn là biện pháp để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Trong các lãnh tụ tiền bối, người bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt nhiều nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng bịa đặt, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”(!). Chúng xuyên tạc tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh là “phi nhân tính”(!). Chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”(!). Chúng còn dựng những câu chuyện hoang đường về thân thế, đời tư của Người cùng với việc vẽ lên “chân dung” người cộng sản không có tình cảm, tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em; công khai mục tiêu phá bỏ thần tượng Hồ Chí Minh. Để tăng cường xuyên tạc, vu cáo, các thế lực thù địch đã tổ chức một số cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế ở các nước có đông bà con Việt kiều sinh sống và làm việc như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới. Sự chống phá của các thế lực thù địch quyết liệt là vậy, nhưng thực tế đã cho thấy, thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một di sản quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, nhiều công trình khoa học, chương trình nghiên cứu, bài nói, bài viết của các học giả, nhân sĩ, trí thức, nhà chính trị… trong và ngoài nước đã công bố là minh chứng rõ nét. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh được toàn thể nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ và nhiều tổ chức, cá nhân có lương tri trên thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh. Trong đó, Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), năm 1987, đã ra Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó, đánh giá Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Với ý nghĩa đó, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người đã trở thành giá trị văn hóa có sức thẩm thấu và lan tỏa mạnh mẽ; là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển; cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh tụ tiền bối khác cũng bị bôi nhọ, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo. Điển hình như, ngày 27-9-2018, Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) đã xét xử sơ thẩm bị cáo Bùi Mạnh Đồng (“tự” Beo, 40 tuổi, ngụ quận Thốt Nốt) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Theo đó, từ năm 2017 đến tháng 7-2018, Bùi Mạnh Đồng đã lấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trên mạng internet, sau đó chèn chữ vào hình ảnh, tạo nên nội dung xuyên tạc, vu khống, nhằm bôi nhọ lãnh tụ. Qua đó, đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chống phá chế độ; gây khó khăn cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Không chỉ lãnh tụ tiền bối, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn bị bịa đặt, vu cáo. Thủ đoạn của chúng là tạo hàng loạt bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc để đăng tải trên tất cả các mạng xã hội. Điển hình như Nguyễn Chí Khương (23 tuổi, trú tại Bến Tre) quay và đăng tải lên Facebook đoạn clip bịa đặt “Đoàn xe Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân về thăm Bến Tre”. Clip cho thấy sự xuyên tạc trắng trợn khi ngày hôm đó (27-10-2016), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đang điều hành phiên họp Quốc hội tại Hà Nội. Thực chất, đoạn clip mà Khương quay và tải lên mạng xã hội là đoàn xe của các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đơn vị chức năng của tỉnh Bến Tre tham gia diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh năm 2016. Nhìn chung, hành động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tác động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học. Trên tinh thần đó, đối với các cơ quan pháp luật Việt Nam, dù đề cao tính giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi các hoạt động bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phải kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp trong đó có cả biện pháp xử lý hành chính, xử lý hình sự. Đặc biệt, với những kẻ cố tình xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo vì động cơ chính trị, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự an toàn xã hội cần được xử lý một cách kiên quyết, nghiêm minh. Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với đảng viên, bên cạnh việc đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản bác luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch, cần thực hiện nghiêm Quy định số 102-QĐ/TƯ ngày 15-11-2017 của Ban Chấp hành Trung ương quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó áp dụng hình thức cao nhất là khai trừ khỏi Đảng đối với nhiều vi phạm, trong đó có trường hợp bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước… Cuối cùng, để kịp thời ngăn chặn tình trạng bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải chủ động trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng văn hóa nhằm phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá, bịa đặt, vu cáo của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị. Tuy nhiên, phải có phương pháp đấu tranh khoa học; trong phê phán phải lập luận chặt chẽ; phải thể hiện tính chiến đấu, tính sắc bén và tính thuyết phục cao. Bên cạnh đó cần phải kịp thời chấn chỉnh những tư tưởng, quan điểm không đúng, lệch lạc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về biểu hiện bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Làm được như vậy sẽ góp phần thực hiện thành công Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG

 Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo cho xã hội Việt Nam được từng bước phát triển bền vững vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng mà là phải thực hiện tốt hơn nữa vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm cho xã hội ngày càng phát triển bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cần quan tâm làm tốt một số vấn đề sau đây:

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo trên cơ sở trung thành và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm của các nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Tích cực đấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Hai là, Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động và phát triển, nhất là tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, nhất là phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là “công bộc” của dân.

Ba là, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương cần kịp thời ban hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân” nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.

Bốn là, chăm lo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu-nghèo.

Năm là, quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, cả người Việt Nam ở trong nước và những người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng mọi thành quả lao động mà chính mình đã sáng tạo ra.

Sáu là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, nhất là trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm khắc, dứt điểm các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng gây hậu quả lớn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

                                                                                                                     T3

Để đấu tranh phòng và chống tham nhũng hiệu quả .

Tham nhũng đang là vấn nạn, có xu hướng gia tăng và gây thiệt hại nặng nề về nhiều mặt, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, làm giảm niềm tin của nhân dân vào các cơ quan công quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm nhiệm các vị trí "có quyền". Công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách vừa khó khăn, phức tạp và lâu dài. . Trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XII, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ghi dấu ấn đậm nét trong cuộc chiến chống tham nhũng, xây dựng và chỉnh đốn Đảng 1. THAM NHŨNG VÀ HỆ LỤY Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi[1](nhưng bài viết này chỉ giới hạn ở những người có chức quyền, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị). Đặc điểm chung của tham nhũng là người thực hiện hành vi có chức quyền, sử dụng chức quyền như một phương tiện để trục lợi cho mình, gia đình mình hoặc cho người thân về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Theo Bộ Luật hình sự, Luật PCTN (năm 2005) và Luật PCTN năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019), các hành vi tham nhũng bao gồm: "1. Các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; đ) Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; g) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; h) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; k) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; l) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. 2. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi"... Thực tế cho thấy, các hành vi tham nhũng nêu trên đã và đang xảy ra không chỉ ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn có giá trị hàng ngàn tỷ đồng (tham nhũng lớn) mà còn xuất hiện nhiều tại các bệnh viện, các cơ quan công quyền ở cơ sở,v.v.. nơi hằng ngày trực tiếp giải quyết những công việc liên quan lợi ích của nhân dân (tham nhũng vặt). Diễn ra càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, quyền hạn, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích - “tham nhũng lớn” hay “tham nhũng vặt” - những hành vi tham nhũng của những người đang chịu trách nhiệm thực thi công vụ, quản lý trong một tổ chức có động cơ, lợi ích cá nhân, trục lợi trên cương vị của mình, sẵn sàng “ăn không từ thứ gì” cũng đều gây hậu quả nặng nề, cũng đều là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong đó, “tham nhũng lớn” bị phát hiện ngày càng tăng về số lượng, mức độ thiệt hại, số tiền và tài sản thất thoát và rất rất nhiều vụ “tham nhũng nhỏ” diễn ra công khai cũng từng bước được “chỉ mặt vạch tên”. Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai,v.v.. mà còn lan rộng sang các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao; trong các chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; trong các chương trình cứu trợ cho đồng bào gặp thiên tai; trong quá trình xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng,v.v... Tham nhũng làm thay đổi mọi lĩnh vực trong trong đời sống xã hội như kinh tế, luật pháp, dân chủ, luân lý, giáo dục... đã xâm phạm, thậm chí làm xê dịch, thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức trong hệ thống các cơ quan công quyền, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Tham nhũng không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn "tiếp tay" cho các thế lực thù địch, phản động trong việc bôi nhọ, hạ uy tín, vị thế của Đảng trong phạm vi quốc gia cũng như trên trường quốc tế. Tham nhũng - những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được đã khiến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao “không giữ được mình”, không gương mẫu trong thực thi trọng trách được giao, nói một đằng, làm một nẻo, không còn xứng đáng với vai trò tiền phong. Họ đã bất chấp việc vi phạm pháp luật mà làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp…để vụ lợi, trục lợi cho mình, người thân, cánh hẩu của mình, nhóm lợi ích của mình... dẫn đến làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bất bình, bức xúc, thậm chí phản ứng của nhân dân đối với các cơ quan công quyền. Vì vậy, bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ[2]; “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”[3]. Tuy các tệ nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song các hành vi tham ô, tham nhũng dù là “lớn’ hay “vặt” cũng đều là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[4]…, cho nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu”[5]. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng, chừng nào và ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng từ nhỏ đến lớn. Tất cả những tệ nạn đó, các hành vi đó, dù xảy ra ở cấp Trung ương hay tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở cũng đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân”, đều “là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ”. Do đó, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”- mặt trận tư tưởng và chính trị. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Thực hiện theo chỉ dẫn của Người, trong những năm tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là trong thời kỳ miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam, công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, quan liêu - chống thứ “giặc ở trong lòng”, “giặc nội xâm” đã được thực hiện, với quyết tâm chính trị cao. Từ Trung ương đến các địa phương đều thống nhất triển khai chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu với tinh thần: 1) “Phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”[6]; 2) “Phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong “những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy”[7]; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường phép luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức quyền; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng” vì “đó là một điều đáng chú ý, một điều đáng nguy hiểm”; đồng thời, cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”, “bọn trộm cắp tinh vi”, để chúng “không sống còn được” [8]… Khi cả nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, tình trạng tham nhũng bộc lộ ngày càng rõ nét, diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp và có nguy cơ lan rộng, làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Mặc dù Đảng đã có Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí", song hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế. Số vụ việc về tham nhũng được phát hiện còn chưa cao so với tình hình thực tế. Một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm; trong đó, có việc thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước. Đánh giá thực trạng và dự báo tình hình tham nhũng ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xác định: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xẩy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”[9]. Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (Ban Chỉ đạo) trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTN. Trong đó, Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo PCTN, nhằm tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ hơn trong công tác đấu tranh PCTN. Tiếp đó, ngày 7/12/2015, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 50-CT/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng"; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy, địa phương, đơn vị gắn tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị với công tác đấu tranh PCTN… Trong đó, nhấn mạnh vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị “phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu”... Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết về PCTN, công tác PCTN đã có bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực rõ rệt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Báo cáo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25/6/2018 khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo thực hiện ráo riết, quyết liệt, đạt nhiều kết quả tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, được nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích cực. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”. Theo đó, nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành về PCTN vừa có tác dụng giáo dục, răn đe, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm… Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN … Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 490 tổ chức đảng và 35 nghìn đảng viên vi phạm, trong đó có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái”. Nhiều cán bộ cao cấp và tổ chức đảng vi phạm, trong đó có cả đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị đã bị kỷ luật; trong đó có cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả trong lực lượng vũ trang,v.v.. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ việc tồn tại từ nhiều năm trước đã được phát hiện, xử lý nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật, rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn; có lý, có tình, thể hiện rõ quan điểm “nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền”, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng và cũng là biện pháp cảnh tỉnh, răn đe có hiệu quả (vụ án Dương Chí Dũng; vụ án Vũ Quốc Hảo; vụ án Huỳnh Thị Huyền Như; vụ án Phạm Công Danh; vụ án Hà Văn Thắm; vụ án Giang Kim Đạt; vụ án Đinh La Thăng; vụ án Trịnh Xuân Thanh; vụ án Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm); vụ án Đinh Ngọc Hệ (Út trọc); vụ án đánh bạc và tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ và một số địa phương;... Việc thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao (vụ Giang Kim Đạt hơn 300 tỷ đồng; vụ Hứa Thị Phấn hơn 10.000 tỷ đồng; vụ Ngân hàng Đông Á hơn 2.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh (giai đoạn I) hơn 6.000 tỉ đồng; vụ Đinh La Thăng hơn 20 tỷ đồng; vụ Trịnh Xuân Thanh hơn 45 tỷ đồng; vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng... Đấu tranh PCTN được làm nghiêm từ trên xuống dưới và đó chính là bước đột phá trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với lĩnh vực này, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác PCTN vẫn còn những tồn tại, hạn chế, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm; việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu… Trong khi đó, không chỉ các vụ “tham nhũng lớn” mà ngay cả “tham nhũng vặt” trong khu vực hành chính, dịch vụ công vẫn còn nhiều, gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp. Đồng thời, việc chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực; công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm thực hiện nghiêm đã tạo “kẽ hở” cho việc lạm quyền để trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu rèn luyện đạo đức, tham lợi, vụ lợi bất chính...

Cảnh giác với âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch

  

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tung ra nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng lên án sự “bảo thủ” của Đảng ta vì không chịu “đổi mới” về chính trị, rằng: ở Việt Nam nếu cứ thực hiện chế độ một đảng duy nhất cầm quyền sẽ không bao giờ có dân chủ! Thậm chí, các thế lực thù địch còn tạo áp lực đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp, xóa bỏ Điều 4, hiến định về Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội.

Để tăng tính thuyết phục cho những luận điệu chống phá này, chúng đã rất kỳ công tiến hành thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những hạn chế, thiếu sót và cả những sai lầm của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trong lãnh đạo lĩnh vực kinh tế, quản lý xã hội để minh chứng cho sự cần thiết chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng ta. Chúng đồng thời ra sức khai thác, lợi dụng sự suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động nhằm tạo sự phân hóa sâu sắc trong nội bộ Đảng, làm suy yếu sức mạnh khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân. Chúng hô hào, khuyến khích, thậm chí tạo áp lực buộc chúng ta phải thực hiện đa đảng đối lập!

Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền và hoạt động chống phá ấy đều nhằm  mục đích làm suy yếu và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Đó là mưu đồ hết sức thâm độc của các thế lực thù địch mà mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi một người dân phải tỉnh táo và luôn nêu cao tinh thần cảnh giác.

                                                                                                                                                T3

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PCTN NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN

Để phòng ngừa và đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân mà còn là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, thiết thực xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành chức năng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người dân về quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với cuộc đấu tranh PCTN; đưa nội dung đấu tranh PCTN vào sinh hoạt định kỳ của các tổ chức Đảng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Trong đó, các tổ chức Đảng tăng cường chỉ đạo quyết liệt công tác giáo dục, phòng ngừa tham ô, tham nhũng; các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về PCTN. Đồng thời, nâng cao và phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng trong thwucj thi trọng trách được giao gắn với đấu tranh PCTN theo Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tăng cường phối hợp và kịp thời cung cấp, công khai thông tin, định hướng tuyên truyền về PCTN, để một mặt tạo sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị; mặt khác thông qua đó, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng PCTN để chống phá Đảng, Nhà nước. Chủ động thông tin về kết quả kiểm tra, thanh tra, xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, bất kể là ai, giữ chức vụ gì; về khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; về những vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội quan tâm trong đấu tranh PCTN đi liền cùng với việc chủ động tuyên truyền gương người tốt, việc tốt; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng. Thông qua tuyên truyền về kết quả đấu tranh PCTN, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm, góp phần làm trong sạch bộ máy, tạo động lực, khí thế, sự thống nhất cao về ý chí và hành động để cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Thứ ba, tiếp tục gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ" với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và với các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”… Qua đó, mỗi người hằng ngày đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng trực lợi và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, lạm dụng chức quyền để mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”,v.v.. Coi đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi cá nhân trong công tác giáo dục và tự giáo dục, vừa đấu tranh và tự đấu tranh để thiết thực phòng và chống 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ nói chung, về đấu tranh PCTN nói riêng. Thứ tư, phải công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,v.v.. nhà nước nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện chức trách, công vụ theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Việc công khai, minh bạch không chỉ góp phần để những người "có chức quyền" hiểu rằng mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để vụ lợi, trục lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý mà còn để người dân nhận biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật cũng như đòi hỏi các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức nhà nước thực hiện các quy định đó. Theo đó, cần công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ, công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức theo quy định,v.v.. đó là “những chìa khóa then chốt” để bảo đảm đấu tranh PCTN hiệu quả, thành công. Thứ năm, tham khảo kinh nghiệm PCTN của một số nước trên thế giới, để có thể vận dụng trong quá trình xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, hoàn thiện thể chế, phân cấp, quy định rõ chức năng cho các ngành, các cấp trong đấu tranh PCTN. Bổ sung một số hành vi tham nhũng thuộc tội phạm tham nhũng; ban hành các quy định về bảo vệ, khen thưởng người có thành tích trong công tác PCTN, nhất là người tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/2/2018. Đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ PCTN; tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng đi liền cùng với đó là cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức,v.v.. để góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh PCTN. Đồng thời, cùng với quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, trước mắt, phải xây dựng và hoàn thiện chế tài pháp lý để mỗi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức quyền tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị “không thể tham nhũng” và “không dám tham nhũng”./

Chủ động đấu tranh làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch

 Trước hết, về mặt nhận thức, tư tưởng, cần xác định rõ: CNĐQ, các thế lực thù địch là đối tượng của cách mạng Việt Nam. Họ đã và đang tiến hành chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Do đó, chống “Diễn biến hòa bình” thực sự là “cuộc chiến” không khoan nhượng, diễn ra hằng ngày, hằng giờ, hết sức quyết liệt, phức tạp. Trong đó, đối tượng mà họ nhằm vô hiệu hóa, trước hết “phi chính trị hóa” là lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là QĐND và Công an nhân dân. Đây là lực lượng có chức năng bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu của họ nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội đứng ngoài chính trị, Đảng Cộng sản mất chỗ dựa vững chắc, mất vai trò lãnh đạo đối với Quân đội, dẫn tới mất vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Và, một khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị vô hiệu hóa, bị xóa bỏ, thì tất nhiên chế độ XHCN sẽ sụp đổ. Để hiện thực hóa mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội và đạt mục tiêu nêu trên, các thế lực thù địch sử dụng mọi lực lượng, phương tiện, tiền bạc, vật chất và tiến hành bằng mọi biện pháp, mọi “chiêu bài” xảo quyệt, tinh vi, thâm độc, nhưng nhìn chung các hoạt động diễn ra chủ yếu trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Nội dung mà họ tập trung tuyên truyền chống phá là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho Quân đội ta từng bước rời bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, để chống mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch đạt hiệu quả cao thì trước hết và quan trọng nhất là phải chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cốt yếu là nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác và phải chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, cả lực lượng, phương tiện, vật chất đảm bảo,… với phương pháp tiến hành (cách thức) linh hoạt, chủ động và có hệ thống giải pháp đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong “cuộc chiến” quyết liệt này.

Về lực lượng, cần có lực lượng đấu tranh rộng rãi là toàn dân và lực lượng nòng cốt được tổ chức thành hệ thống trong các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu, học viện, nhà trường…; trong đó, Quân đội, Công an đóng vai trò xung kích của lực lượng nòng cốt. Những người trong lực lượng nòng cốt phải gồm các nhà nghiên cứu, khoa học có trình độ lý luận chính trị cao, kiến thức rộng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm viết bài đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương tiện, gồm các phương tiện truyền thông, đấu tranh trên in-tơ-nét, các trang mạng xã hội, Blog,… kết hợp với các phương thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình và đối tượng. Đối với các cơ quan báo chí, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, định hướng kịp thời, phân công và phân cấp tuyên truyền về các sự kiện một cách phù hợp; trong đó báo chí quân đội phải là lực lượng nòng cốt, xung kích trong đấu tranh chống quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội.

Về phương pháp đấu tranh, cần phải chủ động, linh hoạt, tránh thụ động khi có sự việc phức tạp xảy ra mới tổ chức tuyên truyền, đấu tranh. Quá trình thực hiện phải coi trọng đấu tranh trực diện, vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, hòng làm phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hoặc kích động gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ giữa Quân đội với Công an và Đảng, Nhà nước. Cần kết hợp đấu tranh tuyên truyền chống các luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội một cách thường xuyên với tuyên truyền theo đợt (cao điểm), nhất là vào thời điểm tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Quân đội.

Về chính sách và cơ chế, cần có chính sách, cơ chế hợp lý nhằm động viên, khuyến khích và bảo vệ những người viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, trong đó có “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời, có cơ chế cung cấp thông tin, định hướng tuyên truyền kịp thời và quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng chỉ đạo, quản lý báo chí và sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

                                                                                                 T3.