Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Trách nhiệm và sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong những tình huống khó khăn, phức tạp .

“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, từ lâu nhân dân đã lưu truyền câu thành ngữ nói lên vai trò, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên trong cuộc sống. Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên lại xao nhãng phẩm cách đó, sa vào trung bình chủ nghĩa, thậm chí a dua, cổ xúy cho những hành vi sai trái… Thật nguy hiểm và đáng tiếc, sự thờ ơ, a dua ấy diễn ra cả trong những tình huống khó khăn, phức tạp, rất cần bản lĩnh chính trị và sự gương mẫu của người đảng viên cộng sản… . Những trường hợp cá biệt và câu chuyện trách nhiệm đảng viên Một trong 19 điều đảng viên không được làm có nội dung: “Tổ chức, tham gia các hội trái quy định của pháp luật; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự”. Song đáng tiếc vẫn có một số trường hợp cá biệt như một đảng viên đã xuất hiện trong cuộc tụ tập, biểu tình tại một khu chợ ở TP Hồ Chí Minh năm ngoái, phát biểu để nhiều người quay clip. Sau đó, clip này bị các trang mạng nước ngoài tán phát, xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước. Gần đây, trả lời một tờ báo nước ngoài, có vị giáo sư nghỉ hưu, đảng viên bất mãn lại vô tư cổ vũ, ngợi ca hành vi gây rối của một số người tụ tập gây rối ở miền Trung. Trong lần các thế lực thù địch lôi kéo, kích động người dân tụ tập đông người ở một số địa phương vào tháng 6 vừa qua, cũng có một số cán bộ, đảng viên vì chủ quan, đơn giản vô hình trung tiếp tay cho kẻ xấu tán phát thông tin sai sự thật về tình hình đất nước trên mạng xã hội. Một số người sau khi nghỉ hưu thì không được tỉnh táo, kiên định như trước mà hay sưu tầm, chia sẻ những thông tin tiêu cực trên trang cá nhân, kể cả thông tin giả được nhào nặn từ những trang web xấu độc, phản động. Một ví dụ rõ nét về sự bịa đặt đó là hình ảnh người dân nước ta đổ ra đường ăn mừng chiến thắng của đội bóng đá U.23 Việt Nam năm 2017 đã được các phần tử phản động xuyên tạc thành “người dân xuống đường biểu tình phản đối Đảng Cộng sản Việt Nam”. Thế nhưng, vẫn có người “hồn nhiên” chia sẻ. Từ đó, họ vô hình trung “nối giáo cho giặc”, vô tình hùa theo luồng tư tưởng phản động, khiến dư luận thêm hoang mang. Trên trang cá nhân của vị giáo sư nọ, một vài người “cùng hội cùng thuyền” với ông gần đây tiếp tục xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước và có kẻ còn tán dương cái gọi là “lời kêu gọi tổng biểu tình” dịp 2-9 tới đây. Trên trang facebook của ông này, hiếm hoi mới có một bài tích cực là bài ca ngợi ý chí của đội tuyển U.23 Việt Nam trước chiến thắng đội tuyển Syria. Khi viết những dòng tương phản đó, không hiểu ông có nghĩ đến tình cảnh của Syria-một đất nước xinh đẹp đã bị phá nát bởi cái gọi là "cách mạng màu". Sau 7 năm chiến tranh, hơn 2,6 triệu người Syria đã phải rời bỏ tổ quốc, 4 triệu người phải đi khỏi nơi cư trú, trong đó có hơn một triệu trẻ em… Tất cả chỉ bắt đầu từ một cuộc biểu tình ngày 26-1-2011. Là một đảng viên, một giáo sư, ông có bao giờ nghĩ đến hàng triệu đồng bào đã hy sinh để những người như ông được thênh thang con đường học vấn. Ông có nghĩ đến việc vẫn còn hàng vạn liệt sĩ chưa trở về, hàng triệu thương binh, bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam đang hằng ngày, hằng giờ chống chọi với đau đớn, bệnh tật do chiến tranh gây ra. Ông có bao giờ từng nghe “Bài ca không quên” nhắc nhở lương tri của những người đang sống hôm nay về cái giá của hòa bình, tự do, độc lập? Lẽ ra là một đảng viên, điều ông nghĩ đến đầu tiên phải là bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước chứ không thể lại là việc hùa theo những "lời kêu gọi biểu tình" để phá hoại đất nước? Những người rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như trên chỉ là cá biệt. Nhưng còn một bộ phận đông hơn tuy chưa đến mức sai trái, "đổi màu" song lại đơn giản, chủ quan, "mũ ni che tai" trước những biến động thời cuộc, những tình huống phức tạp đe dọa đến lợi ích cộng đồng, thậm chí là an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Chuyện xảy ra ở Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh gần đây, nhiều đối tượng gây rối, cầm đầu đã bị ra tòa, lãnh án tù nhưng không thể không đặt câu hỏi trách nhiệm của cấp ủy đảng, của những cán bộ, đảng viên sinh sống trên địa bàn các đối tượng đó. Cán bộ, đảng viên chỉ chấp hành đúng pháp luật, không có vi phạm gì thì chưa đủ mà phải là người dẫn đường chỉ lối, sớm nắm tình hình, phát hiện và góp phần ngăn ngừa, không để xảy ra những điều đáng tiếc như vậy. Sự “ngoảnh mặt” nguy hiểm Nhà bác học Lê Quý Đôn từng đúc kết 5 nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đất nước, bao gồm: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt”. Trong 5 nguy cơ đó, có sự ngoảnh mặt với thời cuộc của những con người có vị trí trong xã hội. Trong "Hịch tướng sĩ", Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng cảnh báo nạn thờ ơ với thời cuộc của tướng sĩ, “thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn”. Ngày nay, sự “ngoảnh mặt”, thờ ơ ấy xét cho cùng chính là biểu hiện trung bình chủ nghĩa của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Hiện tượng cán bộ, đảng viên trung bình chủ nghĩa có thể dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng và chính trị không kém phần nguy hiểm. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng khi xác định 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã đề cập hai biểu hiện: “Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”; “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”. Đây cũng là điều từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận và hết sức coi trọng giáo dục, nhắc nhở cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ: “Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đến đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ... Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình...”. Thời gian vừa qua, những biểu hiện cơ hội xét lại, phản tỉnh, tát nước theo mưa, phụ họa, a dua theo những quan điểm sai trái lệch lạc có xu hướng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và giới trẻ. Thế nhưng dường như, chúng ta chưa phát huy được sự vào cuộc đông đảo, rộng khắp của đội ngũ đảng viên và quần chúng vào việc hình thành dư luận xã hội tích cực, phê phán cái tiêu cực, cái ác, cái xấu đang diễn ra hằng ngày. Ở nhiều nơi tồn tại tình trạng phổ biến: Đảng viên không vi phạm pháp luật nhưng cũng không phải là đầu tàu gương mẫu, không xung kích đi đầu, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, "mũ ni che tai", giữ an toàn cho riêng mình, phó mặc sự đe dọa bình yên của xã hội. Trước chiêu trò "kêu gọi biểu tình" phức tạp như vậy nhưng đúng như có đại biểu Quốc hội từng nhận xét, dường như chúng ta còn bỏ trống trận địa tư tưởng trên mạng xã hội. Số cán bộ trực diện đấu tranh, bày tỏ quan điểm, có lời kêu gọi nhân dân như một đồng chí chủ tịch UBND huyện ở Bình Thuận chưa nhiều… Gương mẫu và vững vàng trong mọi tình huống Đã qua rồi cái thời hễ cứ là đảng viên, là cán bộ thì có thể có được uy tín để lãnh đạo nhân dân. Ngày nay, vai trò của người đảng viên không thể nào được phát huy chỉ qua danh hiệu mà phải bằng chất lượng công việc, bằng cả cái tâm, cái tầm và hành động gương mẫu trước quần chúng nhân dân trong chấp hành pháp luật. Đặc biệt, trước những tình huống phức tạp, nhất là âm mưu xuyên tạc, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, cán bộ, đảng viên vừa phải thể hiện được bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, vừa phải có được thông tin và kỹ năng thuyết phục, vận động quần chúng tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của chúng. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên phải được thể hiện rõ nét trong lời nói, việc làm, nhất là qua phát ngôn, bày tỏ chính kiến, quan điểm, kể cả thông qua kênh mạng xã hội. Trước xu thế bùng nổ thông tin và sức mạnh lan tỏa như vũ bão của công nghệ, bản lĩnh chính trị của đảng viên cần được thể hiện qua từng dòng chia sẻ, bình luận, từng bài viết và lời nói. Hơn ai hết, họ trước tiên phải là những người dùng mạng xã hội thông thái, thông minh trước “chợ trời thông tin”, biết gạn đục khơi trong, không để kẻ xấu dắt mũi, “trâu lấm vẩy bùn”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào”. Với vai trò lãnh đạo, cán bộ, đảng viên còn phải biết dẫn dắt, tổ chức quần chúng và nêu cao trách nhiệm cá nhân; nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, trong đó, bí thư cấp ủy, người đứng đầu mỗi địa phương phải có trách nhiệm cao nhất. Nơi nào để xảy ra tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, phải xem xét trách nhiệm người đứng đầu cùng các lực lượng liên quan. Các cơ quan chức năng, trực tiếp là lực lượng vũ trang cần nắm chắc tình hình hoạt động của các thế lực thù địch để có kế hoạch đấu tranh phù hợp, hiệu quả trên cơ sở xây dựng “thế trận an ninh nhân dân”. Năm 1951, trong bài viết “Phong trào trừ gian”, Bác Hồ đã nêu kinh nghiệm: "Từ thành thị đến thôn quê, nhân dân tự động tổ chức những ủy ban phòng gian trừ gian. Hàng triệu lỗ tai, con mắt của nhân dân chăng thành những bức “thiên la địa võng”, nên lũ mật thám không sao thoát được. Có những em bé, những cụ già, những phụ nữ đã nổi tiếng anh hùng phòng gian trừ gian, vì đã giúp công an tóm được những tên mật thám đầu sỏ… Biết dựa vào sức nhân dân, tổ chức và giáo dục nhân dân, làm cho mọi người hiểu rõ phòng gian là nhiệm vụ chung của công dân, là một công việc ái quốc”. Tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” phải được thể hiện rõ khi mỗi địa phương có những sự việc phức tạp. Cán bộ, đảng viên không chỉ nói không với biểu tình, tụ tập, gây rối mà phải chủ động đấu tranh, đẩy lùi, tuyên truyền vận động gia đình, nhân dân ở nơi làm việc và nơi ở chung sức đấu tranh với thế lực thù địch. Phải phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các tổ chức đảng, đoàn thể, nhà trường. Cuối cùng, gia đình, tế bào của xã hội phải được chú trọng, nhất là các gia đình có con em cá biệt, để ngăn ngừa hiệu quả không để kẻ xấu lôi kéo, lừa phỉnh lớp trẻ.

Sự thật không thể chối cãi!

Nhiều năm qua, đã thành quen thuộc, mỗi dịp người dân cả nước hân hoan hướng tới, kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9… lại xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, không chỉ ở nước ngoài mà cả ở trong nước, rêu rao về sự “hùng mạnh, giàu có của Việt Nam Cộng hòa”, từ đó xuyên tạc con đường mà Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, phủ nhận các thành tựu của đất nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong hàng chục năm qua. . Đáng tiếc, lại có người mơ hồ tin theo, vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, mà không hiểu rõ, đó là luận điệu dối trá để đầu độc dư luận, thực hiện mưu đồ làm “sống lại” một chế độ bán nước, hại dân đã bị xóa sổ gần nửa thế kỷ. “Những năm 1960, kinh tế của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đứng thứ nhì châu Á, chỉ đứng sau Nhật Bản, nếu VNCH thắng trận thì bây giờ kinh tế Việt Nam đứng ở top đầu châu Á, chỉ kém Nhật Bản; còn Singapore (Xin-ga-po), Malaysia (Ma-lai-xi-a), Hàn Quốc, Thái-lan, Indonesia (In-đô-nê-xi-a) không thể sánh bằng”(!) - đó là luận điệu mà một số kẻ vẫn rêu rao về sự “hùng mạnh, giàu có của VNCH”. Tuy nhiên, thực tế lịch sử và đánh giá của giới nghiên cứu lại chỉ rõ một sự thật khác mà ở đó, điều họ rêu rao chỉ là chiếc áo sặc sỡ khoác lên một cơ thể không có sinh khí với nguồn sống duy nhất là viện trợ, qua các số liệu: từ năm 1954 đến 1975, VNCH nhận hơn 26 tỷ USD viện trợ của Mỹ (khoảng 197,6 tỷ USD theo thời giá năm 2015), trong đó khoảng 10 tỷ USD viện trợ kinh tế, 16 tỷ USD viện trợ quân sự, ngoài ra còn các viện trợ khác… Nhưng đó chưa phải tất cả, vì còn chi tiêu trực tiếp của hơn 500 nghìn quân Mỹ và hàng chục nghìn binh lính đồng minh tại miền nam Việt Nam trong hàng chục năm. Theo các nhà nghiên cứu, tính đầy đủ thì Mỹ từng rót vào miền nam số tiền lên đến hơn 160 tỷ USD (khoảng 1.216 tỷ USD theo thời giá năm 2015). Trong khi đó, từ năm 1954 đến 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) được viện trợ xấp xỉ bảy tỷ USD (khoảng 53 tỷ USD theo thời giá năm 2015), bao gồm hơn 3,5 tỷ USD viện trợ quân sự. Cho nên mấy kẻ vẫn biện hộ rằng, VNCH sụp đổ vì VNDCCH được viện trợ nhiều hơn, cần đối diện với sự thật là từ năm 1954 đến 1975, VNCH được viện trợ gấp gần bốn lần so với viện trợ mà VNDCCH đã nhận. Đơn cử năm 1974, theo ước tính của CIA, viện trợ quân sự của Mỹ cho VNCH là 1,7 tỷ USD, gấp hơn bốn lần viện trợ VNDCCH đã nhận cùng năm là 409 triệu USD, chưa kể trong cùng năm, Mỹ còn dành 657 triệu USD viện trợ kinh tế cho VNCH. Có thể lý giải cơ sở khoản viện trợ khổng lồ của Mỹ qua ý kiến của Thượng nghị sĩ J.F Kennedy (J.F Ken-nơ-đi, sau là Tổng thống Mỹ) vào ngày 1-6-1956: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta chủ tọa lúc nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó… Đó là con cái của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới các nhu cầu của nó”! Giới nghiên cứu cũng cho biết, thu nhập quốc dân của VNCH chưa bao giờ vượt quá hai tỷ USD/năm, nhưng trong 5 năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam (1971-1975), Mỹ đã viện trợ hơn 2 tỷ USD/năm. Vì thế, 65% thu nhập của VNCH là từ viện trợ của Mỹ, số tiền này chủ yếu để chi tiêu chính phủ, nhập hàng hóa tiêu dùng. Đáng nói, viện trợ không được sử dụng làm vốn đầu tư cho phát triển, bởi bản chất vấn đề là ở chỗ: khi Mỹ sử dụng viện trợ để nắm chặt yết hầu, chi phối mọi hoạt động, thì một chế độ bù nhìn muốn tự cường cũng không thể thực hiện. Như với việc lập dự trữ ngoại tệ quốc gia chẳng hạn, theo ông Vũ Quốc Thúc - người từng là Thống đốc Ngân hàng quốc gia, Quốc vụ khanh đặc trách tái thiết hậu chiến của VNCH, thì: “điều này không thể giấu được con mắt của người Mỹ, nhập bao nhiêu, xuất bao nhiêu, bán những gì họ đều nắm và quyết định. Khi họ thấy quỹ ngoại tệ đầy lên một chút thì việc nhập khẩu xăng dầu họ bắt phải trả bằng ngoại tệ sở hữu, không viện trợ nữa, do đó có để dành cũng vô ích, vì cuối cùng để dành lại phải chi tiêu, viện trợ bị cắt giảm. Chính cách xử sự đó của người Mỹ đã đẩy các nhà quản lý ở miền nam Việt Nam vào xu hướng ỷ lại. Tự lực tự cường không nổi, vì nếu tự lực tự cường thì viện trợ Mỹ cắt giảm, có khi thiệt hại hơn là không tự lực, tự cường”. Sự thật thì chính quyền VNCH chưa bao giờ đặt mục tiêu ích nước, lợi dân làm tiêu chí hàng đầu, cơ bản cho chế độ, mà chỉ trông chờ vào viện trợ của Mỹ. Như trong cuốn Vietnam, the ten thousand day war (Việt Nam, cuộc chiến mười nghìn ngày) xuất bản tại London (Luân Đôn) năm 1982, tác giả M.McLear (M.Mắc-lia) dẫn lời của Nguyễn Văn Thiệu: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập”. Tự thân câu nói cho thấy thực chất “hùng mạnh, giàu có của VNCH” là gì. Cho nên, không cần phải làm việc, chỉ cần kìm kẹp nhân dân theo ý muốn của nước ngoài để được nuôi nấng, có thể phần nào đánh giá đó là lẽ sống của VNCH. Có thể thấy khá rõ điều này từ việc thực hiện âm mưu chia cắt đất nước, chính quyền bỏ mặc nông dân trong cảnh khốn đốn, buộc người dân miền nam phải loay hoay tìm cách sản xuất trong điều kiện thiếu thốn. Vì thế, sống trên vùng đất có các cánh đồng rộng lớn, phì nhiêu hàng đầu của châu Á mà chính quyền, người dân hoàn toàn phải sống nhờ hà hơi, tiếp sức và viện trợ lương thực từ nước ngoài, như tờ Công luận ngày 1-9-1968 xuất bản tại Sài Gòn - nay là TP Hồ Chí Minh, đã cảnh báo: “Người Việt Nam sẽ sa vào một tấm thảm kịch, đó là thảm kịch không tự nuôi sống mình được. Chỉ trông vào hàng hóa, lúa gạo nhập cảng, thì sợ có ngày vì cái ăn, cái mặc mà phải sa vào cảnh tự sát của một quốc gia”. Sau khi Hiệp định Paris (Pa-ri) được ký tháng 1-1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam; viện trợ cho VNCH cơ bản bị cắt giảm và chi phí của người Mỹ ở VNCH cũng giảm theo. Khi “bầu sữa” không còn dồi dào như trước, nền kinh tế của VNCH nhanh chóng lâm vào khủng hoảng trầm trọng: chỉ trong năm 1973, sản xuất nông nghiệp giảm đến 20%; hàng loạt xí nghiệp phải đóng cửa vì nguyên, vật liệu khan hiếm và giá cao; 750 nghìn người sống bằng lương của Mỹ bị mất thu nhập… Các thống kê cho biết, đến tháng 9-1973, ở miền nam có hai triệu người thất nghiệp, 50% số này sống ở Sài Gòn. Chỉ trong năm 1973, số người ăn xin ở Sài Gòn tăng gấp hai lần so các năm trước, lạm phát gia tăng với tốc độ chóng mặt khiến kinh tế càng suy sụp. Để cứu vớt một chế độ vốn đã ốm yếu đang tiếp tục suy kiệt, chính quyền VNCH đã phải đặt ra nhiều thứ thuế nhằm tăng thu ngân sách. Tuy nhiên, trong năm tiếp theo, khi viện trợ của Mỹ đã giảm xuống mức rất thấp thì tình hình còn bi thảm hơn nữa. ĐỂ tô vẽ một chế độ không thể tự tồn tại, lấp liếm bằng việc lấy mức sống ở đô thị có được nhờ viện trợ của nước ngoài để so sánh, một số kẻ cố tình bỏ qua, “đánh bùn sang ao” các khó khăn của VNDCCH để xuyên tạc sự khác biệt về bản chất. Một nghiên cứu của Đại học Brussels (Brúc-xen - Bỉ) về GDP bình quân đầu người giữa VNDCCH và VNCH trong giai đoạn 1955 - 1975 đã đưa ra các số liệu chi tiết. Theo đó, thu nhập bình quân đầu người trên năm của VNDCCH khá ổn định, cụ thể: năm 1956 là 40 USD, năm 1960 là 51 USD, năm 1964 là 59 USD, năm 1970 là 60 USD, năm 1974 là 65 USD. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người trên năm của VNCH lại rất thất thường, cụ thể: năm 1956 là 62 USD, năm 1960 là 105 USD, năm 1964 là 118 USD, năm 1970 tụt xuống còn 81 USD, đến năm 1974 chỉ còn 65 USD; sự suy giảm này tỷ lệ thuận với sự suy giảm viện trợ của Mỹ. Đó là cơ sở để tác giả Đặng Phong đã nhận xét: “Nền kinh tế miền nam trước 1975 tuy có vẻ ngoài phồn vinh nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”; còn trên BBC, thì TS J.M.Carter (J.M.Các-tơ) ở Đại học Drew (Đờ-ru - Mỹ), tác giả cuốn Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (Các cố gắng của Mỹ trong khi xây dựng nhà nước ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1954-1968) xuất bản ở Mỹ năm 2008, vạch rõ VNCH chỉ là một “nhà nước hư cấu”, “chính thể Sài Gòn không thể nuôi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ”. Phải thấy rằng, giai đoạn 1955 - 1975, VNDCCH đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, cùng lúc vừa phải tiến hành công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế, xây dựng xã hội mới, vừa hỗ trợ miền nam trong sự nghiệp đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Trong bối cảnh ấy, VNDCCH nhận được sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa của bè bạn yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là các nước trong khối XHCN. Cần nhấn mạnh là VNDCCH đã sử dụng viện trợ một cách rất hiệu quả để khôi phục, phát triển kinh tế, như: trang bị, xây dựng khoảng 900 công trình công nghiệp và các ngành kinh tế; nhập máy lẻ, nguyên liệu, phương tiện vận tải, lương thực, thực phẩm, may mặc và các hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. Đáng chú ý, việc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân với miền bắc đã gây thiệt hại nặng nề, kinh tế VNDCCH bị ảnh hưởng nghiêm trọng, công nghiệp nặng hầu như bị phá hủy hoàn toàn. Nhưng với nỗ lực, quyết tâm của chính quyền và nhân dân, hoạt động lao động sản xuất vẫn được tổ chức hợp lý để phù hợp với điều kiện chiến tranh. Vì thế, năm 1965 VNDCCH có 1.132 xí nghiệp (205 xí nghiệp trung ương, 927 xí nghiệp địa phương) thì đến năm 1969 đã có 1.352 xí nghiệp (277 xí nghiệp trung ương, 1.075 xí nghiệp địa phương). Và “Mỗi người làm việc bằng hai” trở thành khẩu hiệu hành động của nhân dân miền bắc, các phong trào thi đua yêu nước diễn ra rất sôi nổi trên mọi lĩnh vực đời sống, như: “Ba nhất” trong quân đội, “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ, “Ba quyết tâm” trong trí thức, “Hai tốt” trong giáo dục… Dù gian khổ, dù thiếu thốn trăm bề, nhưng lòng yêu nước, ý chí tự cường vẫn luôn là động lực để nhân dân miền bắc vượt mọi khó khăn, vừa lao động sản xuất xây dựng đời sống, vừa hỗ trợ và chi viện nhân dân miền nam kháng chiến chống Mỹ. Đó là kỳ tích không thể phủ nhận, đồng thời chứng minh sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong khi xác định chiến lược, tổ chức, động viên, huy động sức người, sức của của toàn dân phấn đấu vì độc lập, vì sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Thủ đoạn mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị sử dụng nhằm xóa bỏ chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện nay là gì?

Ngày nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước không dễ gì có thể dùng lực lượng vũ trang, áp đặt chế độ cai trị của chúng lên đất nước ta như những cuộc chiến tranh xâm lược trước đây. Chúng chỉ có thể thực hiện bằng những chiến lược “mềm”, trước hết là chiến lược "diễn biến hòa bình" (DBHB). Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô, sụp đổ của chế độ XHCN ở các nước Đông Âu là do chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện chiến lược “thẩm thấu” tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” của phương Tây vào các nước XHCN. Khi Liên Xô cải tổ hệ thống chính trị-thực hiện chế độ dân chủ đa đảng, các lực lượng thù địch bên trong và bên ngoài đã móc nối với nhau lật đổ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Từ những kinh nghiệm lật đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chủ trương thực hiện chiến lược DBHB đối với các nước XHCN nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những mục tiêu của chiến lược đó là thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong nội bộ. Thủ đoạn mà chúng thực hiện là lợi dụng internet, mạng xã hội tán phát các thông tin xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội Việt Nam, thổi phồng những mặt trái của xã hội, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên với chế độ xã hội, với Đảng… chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường TBCN. Những năm gần đây, chúng còn chống phá chế độ bằng phương thức đóng vai người “yêu nước” để huy động đám đông, dùng phương thức “bất tuân dân sự” gây rối trật tự công cộng. Như vụ việc lấy cớ phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường diễn ra ở các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, năm 2014-2015 là một ví dụ. Chế độ dân chủ XHCN là thành quả cách mạng hơn 70 năm của nhân dân Việt Nam với biết bao nhiêu hy sinh xương máu, tài sản, sức lực của đồng bào và chiến sĩ. Chế độ dân chủ XHCN đã trở thành văn hóa lối sống của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ khoan nhượng với bất cứ ai, lấy bất cứ lý do gì để phủ nhận thành quả đó

Tự rèn luyện để giữ mình .

“Bước ngắn” nguy hiểm là hình ảnh từng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XII vào tháng 10-2016 để cảnh báo hiện tượng một số cán bộ từ suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". . Nguyên nhân của sự sa ngã ấy có một phần quan trọng do mỗi cá nhân thiếu tự giác, thiếu thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn đạo đức, nhân cách, danh dự, coi đó như những điều thiêng liêng, cao quý nhất. Bài học hạt gạo Thông tin một số cán bộ thiếu tu dưỡng, rèn luyện dẫn đến sa ngã, sai phạm được Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu rõ trong thông báo sau mỗi kỳ họp gần đây thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận; trong đó, có cả một số cán bộ cao cấp từng được rèn luyện, trưởng thành, có nhiều cống hiến, chiến công. Những ngày vừa qua, tại hai phiên tòa xét xử liên quan đến một số cán bộ quân đội, công an, trong phát biểu của một số bị cáo cho thấy sự ăn năn, hối tiếc khi con đường dẫn đến những hậu quả khôn lường bắt nguồn từ sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên và có khi chỉ bắt đầu từ một chút suy nghĩ giản đơn, thiếu nghiêm cẩn với chính bản thân mình. Những sai phạm đó sẽ được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội. Song bài học trước tiên có thể rút ra là nếu như mỗi người đều tự giác tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên thì đã không xảy ra hậu quả khôn lường. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đặt ra yêu cầu: Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm tháng trong lao tù đã có bài thơ với những chiêm nghiệm, triết lý sâu sắc về sự rèn luyện của mỗi con người: Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan, rèn luyện mới thành công. Nhìn ở góc độ xây dựng Đảng, những câu thơ trên chính là triết lý rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt đời của người cách mạng. Chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc chiến đấu suốt đời như thuốc đắng giã tật, vượt lên những đớn đau, thử thách. Gạo đem vào giã bao đau đớn chính là tự rèn mình, trau mình, chống những thói hư tật xấu trong chính bản thân mình, để trau dồi đạo đức cách mạng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Từ vấp ngã đến trượt dài Với một số trường hợp cán bộ suy thoái và vi phạm gần đây, nguyên nhân xét cho cùng là do mỗi người thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên dẫn đến tự biến chất chứ không phải do thế lực nào lôi kéo. Có trường hợp cá biệt như Trịnh Xuân Thanh, khi đã suy thoái nghiêm trọng thì tự rời bỏ hàng ngũ, làm đơn xin ra khỏi Đảng, sau đó chạy ra nước ngoài để trốn tội và còn để các đối tượng xấu có thông tin, tài liệu xuyên tạc, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh khi bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng: Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đúng vậy, từ suy thoái tư tưởng chính trị sẽ dẫn tới cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực. Và khi đã có quyền lực trong tay, một số cán bộ có thể dẫn dắt hình thành những lợi ích nhóm để tham ô, nhũng nhiễu. Khi đồng tiền được đặt lên trên lý tưởng cách mạng, họ có thể chệch hướng, phản bội như nhiều lãnh đạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Đó là những ví dụ cho thấy tác hại khôn lường của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong một số vụ án gần đây, có những cán bộ từng lập nhiều chiến công, kinh qua rèn luyện thử thách, từng là tấm gương cho cấp dưới, nhưng khi ở vị trí có quyền lực cao lại không giữ được mình, bị lôi kéo bởi sự cám dỗ của những thế lực xấu để rồi trượt dài trên con đường sai phạm. Có những trường hợp vi phạm khiến dư luận, đồng chí, đồng đội giật mình, ngỡ ngàng đến khó tin khi “đạn bọc đường” lại có thể làm gục ngã những con người từng vững vàng trong bao sóng gió. Chúng ta thêm thấm thía câu chuyện của một số người vấp ngã, trong đó có cả người từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Thế nhưng, vì thiếu bản lĩnh và không tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên, họ đã vi phạm pháp luật. Sự rèn luyện, tu dưỡng không chỉ dừng ở bản thân mỗi người không vi phạm mà còn bao hàm cả tinh thần trách nhiệm, không buông lỏng quản lý, giữ vững nguyên tắc để cấp dưới không vi phạm, không xảy ra những vụ việc đáng tiếc. Trong một số vụ án gần đây, có những cán bộ cấp cao từng phải nuối tiếc chỉ vì một chút lơi lỏng, họ đã để cấp dưới vi phạm nghiêm trọng dẫn đến họ “vô phúc đáo tụng đình”. Giá như mỗi người lãnh đạo luôn rèn mình, kiên định những nguyên tắc bất di bất dịch với tinh thần dĩ công vi thượng, coi việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh thì đâu xảy những cái “giá mà” như vậy. Bài học mà Bác Hồ căn dặn năm xưa từ câu chuyện hạt gạo nghĩ đến con người “gian nan rèn luyện mới thành công” vẫn còn nguyên giá trị. Song rèn luyện để đi đến thành công vẫn chưa đủ, phải rèn luyện, tu dưỡng tự giác thường xuyên không một phút lơi lỏng, đừng để “ngã mà không biết” như Bác từng căn dặn bộ đội, công an sau chiến tranh, trước giờ phút về tiếp quản Thủ đô. Người còn chỉ rõ: "Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng".

Rèn luyện, giữ mình - việc cần làm suốt cả cuộc đời

Thực tế cho thấy, với mỗi cán bộ, đảng viên, dù trưởng thành bao nhiêu, dù ở cương vị cao bao nhiêu thì vẫn phải rèn luyện, giữ mình nghiêm túc bấy nhiêu. Và sự rèn luyện, giáo dục không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân mà còn là trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy mỗi cơ quan, đơn vị, trách nhiệm của mỗi gia đình; trong đó, phải đặt lên hàng đầu trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp ủy, chỉ huy, tổ chức đảng. Nếu như mỗi tổ chức, trực tiếp là người đứng đầu đề cao trách nhiệm, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, không buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát thì cán bộ, đảng viên rất khó vi phạm và trượt dài trên vũng bùn sai phạm, đến mức từ suy thoái chuyển thành “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”. Những câu chuyện ấy giúp chúng ta thêm rút ra những bài học đắt giá để quán triệt và thực hiện thật tốt những nội dung giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra. Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Nghị quyết cũng đã chỉ rõ, nguyên nhân dẫn đến các biểu hiện trên do cả khách quan và chủ quan, nhưng chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời; nhiều văn bản quy định thiếu chế tài cụ thể. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, chậm đổi mới, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi chưa thường xuyên, không nghiêm túc. Chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến... Nhanh chóng khắc phục những “lỗ hổng” trên là trách nhiệm của cấp ủy Đảng các cấp và cả hệ thống chính trị. Còn với mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên thì phải luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời. Nhận biết rõ những ranh giới, lằn ranh… của pháp luật, kỷ luật và lương tâm, đạo đức thì sẽ không để xảy ra những vấp ngã, không phải ân hận thốt lên “giá mà” một cách chua xót, muộn màng!

Chống tham nhũng có phải là đấu đá phe phái? .

Hàng loạt câu hỏi đặt ra như: tại sao từ hàng chục năm trước, Đảng ta đã nhận ra sự nguy hiểm của tham nhũng mà chưa có chuyển biến quan trọng nào, thậm chí tình trạng tham nhũng có xu hướng nghiêm trọng hơn? Phải chăng vì trong Đảng có nể nang hay ràng buộc phe phái khiến cho không thể chống được tham nhũng, hoặc vì cố bảo vệ uy tín, sự đoàn kết mà ngại không chống tham nhũng triệt để trong từng vụ việc? . Không phải chỉ những kẻ chống đối, cố tình khoét sâu vào điểm yếu tham nhũng, mà không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn hoài nghi tính hiệu lực, hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay. Là một trong những đội quân xung kích bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, những người làm công tác tư tưởng, lý luận đã rất tích cực trong việc tuyên truyền, làm rõ quan điểm của Đảng đối với tham nhũng và những thành tựu trong thực tế đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nhưng để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, cần có những lập luận không những vững về khoa học, mà cần có sức thuyết phục từ sự cầu thị, nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận sự thật, để đề xuất các giải pháp thực tiễn, khả thi của người làm công tác tư tưởng, lý luận. Điều cần phải thừa nhận là, nếu không có tiến bộ trong thực tế đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thì dù rất cố gắng, việc đấu tranh tư tưởng của đội ngũ những người làm lý luận, tuyên truyền với những thế lực chống đối, những người có quan điểm sai trái sẽ chỉ có kết quả rất hạn chế. Điều này có thể khẳng định từ một số luận điểm: 1. Không phải vì một đảng mà nảy sinh tham nhũng, cũng không phải chỉ có đa đảng mới có thể diệt trừ được tham nhũng. Thực tiễn nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh đa đảng vẫn có thể nảy sinh tham nhũng, vẫn có thể khó khăn đấu tranh, ngăn chặn tham nhũng. Bằng chứng là nhiều nước đa đảng, thường xuyên được xếp hàng đầu thế giới về chống tham nhũng thì cũng chưa nước nào đạt được 90 trên 100 điểm tuyệt đối theo thang điểm của Tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International viết tắt là TI). Ví dụ, năm 2017, Niu Dilân xếp thứ nhất đạt 89 điểm; Đan Mạch xếp thứ hai đạt 88 điểm; Phần Lan thứ ba, Na Uy thứ tư, Thụy Sĩ thứ năm cùng 85 điểm; Thụy Điển thứ sáu với 84 điểm; Canada thứ bảy với 82 điểm; Luxembourg thứ tám với 82 điểm; Hà Lan thứ chín với 82 điểm; Anh thứ mười cùng 82 điểm; Đức thứ mười một với 81 điểm... Như vậy là tham nhũng vẫn hiện diện ở ngay những nước đa đảng vốn được phương Tây tự coi là dân chủ và trong sạch nhất. Vậy đâu là những nhân tố quan trọng nhất tạo điều kiện nảy sinh và phát triển tham nhũng? Theo tổng kết của các nhà nghiên cứu và các tổ chức chống tham nhũng quốc tế, đó là: Hệ thống chính trị và hành chính thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, tạo điều kiện cho người có chức vụ, quyền hạn có thể thu lợi bất chính mà không bị ngăn chặn từ bên trong; Thể chế thiếu minh bạch, dân chủ, tạo ra nhiều “vùng tối” khiến người dân khó giám sát và tố cáo hành vi tham nhũng; Chính sách đãi ngộ không đủ bảo đảm mức sống xứng đáng, nhất là trong môi trường kinh tế thị trường, khiến cho người có chức vụ quyền hạn phải tham nhũng như hành vi bất đắc dĩ; Hệ thống pháp luật thiếu nghiêm minh, khiến cho người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi tham nhũng mà không sợ bị trừng phạt; Văn hóa chính trị và công vụ thiếu chú trọng danh dự, liêm sỉ, thiếu đề cao sự trung thực khiến cho kẻ có chức, có quyền không sợ mất danh dự khi tham nhũng; Hệ thống báo chí, truyền thông thiếu dũng khí, không trở thành công cụ hữu hiệu để giám sát, tố cáo hành vi tham nhũng và gây áp lực với đấu tranh chống tham nhũng. Bất cứ ở đâu, dù là một đảng hay đa đảng, song còn những nhân tố như trên thì đều có thể là mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng, gây khó khăn trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Nói cách khác, chống tham nhũng là “thuốc thử” cho phẩm chất và năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền. Điều này càng đúng đối với Đảng Cộng sản. Thực tiễn của nhiều nước chuyển đổi từ một đảng lãnh đạo tới đa đảng cạnh tranh tự do cho thấy, nếu chưa thiết lập được thể chế kinh tế thị trường vững vàng, thể chế pháp lý chặt chẽ, nền công vụ có kỷ luật thì quá trình chuyển đổi đó càng tạo điều kiện cho tham nhũng nảy nở, phát triển mạnh mẽ, thậm chí thành đại dịch của đất nước (nước Nga đã từng mất hàng chục năm như vậy và hiện nay vẫn còn bị xếp vào nhóm dưới của bảng xếp hạng tham nhũng với thứ hạng 135/180 với 29/100 điểm, thấp hơn khá nhiều so với Việt Nam). Nhìn lại thể chế chính trị và văn hóa của nước ta trong những thập niên vừa qua, nhất là từ khi thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phải thẳng thắn thừa nhận có nhiều khiếm khuyết tạo điều kiện cho tham nhũng phát triển, mặc dù điều này đi trái bản chất của Đảng và Nhà nước ta. Trước hết, chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc thiết kế, xây dựng các thể chế pháp lý cho kinh tế thị trường, trong quản lý các dự án, chương trình phát triển của nhà nước; xây dựng các cơ chế, giải pháp phòng ngừa và chống tham nhũng. Chúng ta cũng chưa quyết liệt trong đổi mới tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Đặc biệt chế độ tiền lương của cán bộ, công chức vẫn còn bị kìm hãm bởi tư duy cũ về công bằng, bình đằng trong phân phối, hưởng thụ, khiến cho tham nhũng trở thành “nguồn sống” đối với không ít cán bộ, công chức. Từ khi thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều dự án, chương trình, kế hoạch được triển khai nhưng thiếu cơ chế quản lý giám sát ngay từ đầu đã tạo cơ hội cho tham nhũng. Các khoản hoa hồng, chia chác, gửi giá... gần như đã thành thông lệ giữa các bên A, B. Việc đấu thầu công khai đã trở thành bình phong của sự sắp đặt, sau đó có ăn chia giữa các bên. Có thể nói, tham nhũng dưới nhiều hình thức, nhiều mức độ đã trở thành thói quen của một bộ phận công chức thực hiện chính sách, dự án. Vì những nguyên nhân chủ yếu đó, theo xếp hạng của Tổ chức minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng (Coruption perceptions index - CPI) của Việt Nam trong nhiều năm luôn ở mức trung bình. Từ 2012 đến 2015 chỉ dừng ở mức 31/100 điểm. Nhờ có những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong chống tham nhũng, năm 2016 CPI tăng được 2 điểm lên đến 33 và 2017 tăng lên đến 35 điểm, xếp thứ 107 trên tổng số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, yếu tố quyết định để đánh giá tình trạng tham nhũng chính là sự quyết tâm và biện pháp có hiệu quả của Đảng và Nhà nước, cụ thể là của người đứng đầu nhà nước. Nếu không có điều này thì dù có thể chế dân chủ hoàn thiện đến mấy cũng không thể triệt tiêu được tham nhũng. Từ yêu cầu của thời đại và phát triển đất nước, đã đến lúc phải nhận thức rõ hơn về ý nghĩa của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đối với vận mệnh của Đảng ta và hơn thế là với vận mệnh, sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang định hướng xây dựng. 2. Trong thể chế một đảng cộng sản cầm quyền, có thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng có kết quả, cần phải có quyết tâm triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt. Trong điều kiện một đảng cầm quyền, có thể tham nhũng sẽ giảm xuống, thậm chí bị hạn chế tối đa nếu đảng khắc phục được những nhân tố trên. Thực tiễn đấu tranh quyết liệt với tham nhũng ở Trung Quốc trong những năm gần đây dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã đưa Trung Quốc vào nhóm xếp hạng tương đối cao về chống tham nhũng. Những nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua, với việc đưa ra truy tố, xét xử những cán bộ cao cấp liên quan tới các vụ việc tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được quần chúng và đông đảo cán bộ vui mừng, tin tưởng và ủng hộ, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Người dân hiểu rõ, với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình, trong Đảng Cộng sản Việt Nam có thể có những quan điểm, ý kiến khác nhau giữa các cá nhân, thậm chí giữa một số đảng viên này với một số đảng viên kia, nhưng chưa bao giờ và không bao giờ được phép tồn tại các phe phái. Do đó, đấu tranh chống tham nhũng, có thể động chạm đến bất cứ ai, nhưng không phải là đấu tranh phe phái như thường thấy ở nhiều đảng chính trị khác. Hơn thế, cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang diễn ra có kết quả chứng tỏ rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Điều đó cho thấy, dù ở Việt Nam chỉ một đảng lãnh đạo, thì không những có thể mà còn có nhiều thuận lợi trong đấu tranh chống tham nhũng. Thuận lợi đó trước hết bắt nguồn từ bản chất vì dân, vì nước của một Đảng Cộng sản trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, được Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; vì có được sự yêu mến, tin tưởng, ủng hộ của nhân dân với Đảng; từ nguyên tắc tổ chức thống nhất, đoàn kết của Đảng. Vấn đề đặt ra là khơi nguồn và phát huy những nhân tố thuận lợi trên như thế nào. Những khuyến cáo của tổ chức Minh bạch thế giới với mọi quốc gia nói chung, với Việt Nam nói riêng là đúng đắn, dựa trên những nghiên cứu khoa học, khách quan. Ở đây, xin nhấn mạnh thêm một số khẳng định: Điều đầu tiên, phải thừa nhận ở Việt Nam cũng như các nước khác, tham nhũng có thể nảy sinh trong đội ngũ cán bộ ở tất cả các cấp, các ngành, trong các cơ quan Nhà nước và Đảng. Dù mang bản chất vì dân, vì nước, nhưng không phải đảng cộng sản có thể miễn trừ với tham nhũng, nhất là trong phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường. Do đó, phòng ngừa và chống tham nhũng là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, với chế độ. Hoàn thiện pháp luật về phòng ngừa và chống tham nhũng cần luôn cập nhật với thực tiễn phát triển của đất nước, tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Thứ hai, phải coi phòng ngừa và chống tham nhũng là một trong các mục tiêu của mọi chiến lược, kế hoạch phát triển của đất nước. Nói cách khác, phải gắn mục tiêu phòng ngừa và chống tham nhũng với mục tiêu phát triển; gắn cơ chế, giải pháp phòng ngừa, chống tham nhũng vào cơ chế, giải pháp thi hành chính sách, pháp luật. Hiện nay, điều này chưa được quán triệt, nên còn nhiều khe hở tạo điều kiện cho những người có chức, có quyền, kể cả doanh nghiệp lợi dụng thực hiện hành vi tham nhũng. Phát triển Chính phủ điện tử là một giải pháp hữu hiệu cần phải được thúc đẩy. Thực tiễn cho thấy, các quốc gia có trình độ phát triển Chính phủ điện tử cao thì cũng là các quốc gia có môi trường kinh doanh tốt và mức độ tham nhũng thấp (ví dụ các nước Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Anh, Singapore, Canada….). Trong những năm 2016, 2017, khi Việt Nam cải thiện được Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (trong đó có chỉ số về Dịch vụ công trực tuyến) thì không những nâng cao được chỉ số môi trường kinh doanh (năm 2018 tăng 14 bậc); đồng thời, cũng nâng cao được điểm chống tham nhũng (tăng 4 điểm so với 2012-2015). Cần phải coi cải cách chế độ tiền lương theo hướng công bằng thực chất, không phải là cào bằng, là bình quân chủ nghĩa là một giải pháp quan trọng, tạo động lực của đội ngũ cán bộ công chức trong khu vực công tận tụy, có trách nhiệm và đạo đức công vụ, tránh xa các hành vi tham nhũng. Thứ ba, cần có quyết tâm cao của toàn Đảng, nhất là cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng. Để có được điều này, đòi hỏi Đảng phải lựa chọn được những người lãnh đạo xứng đáng đủ năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức trong sáng, có quyết tâm cao chống tham nhũng./.

Để “hạt nhân chính trị” không rơi vào tẻ nhạt, hình thức .

Nếu nguyên tắc tập trung dân chủ được ví như “chiếc khóa” để giữ vững bản chất cách mạng, tiên tiến của tổ chức đảng và đảng viên thì chi bộ chính là “chiếc chìa khóa” để vận hành nguyên tắc đó. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra một trong những nguyên nhân của tình trạng “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rơi vào suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do “sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu”. . Đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ chính là để “chiếc chìa khóa” phát huy tác dụng, vừa nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng, vừa là liều thuốc phòng ngừa “bệnh suy thoái", “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cho cán bộ, đảng viên. Cuộc chiến đấu để giữ “khóa và chìa” Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của các chính đảng cộng sản nếu phải viết thật ngắn gọn thì chắc chắn không thể thiếu hai cụm từ “tập trung dân chủ” và “chi bộ”. Tại Đại hội II của Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga năm 1903, Lênin đã đấu tranh không khoan nhượng với bè phái cơ hội của Mác tốp để giữ gìn bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Mác tốp đưa ra điều kiện kết nạp Đảng là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của đảng, ủng hộ đảng bằng những phương tiện vật chất và tự mình giúp đỡ đảng một cách đều đặn, dưới sự chỉ đạo của một trong những tổ chức của đảng (chi bộ) thì đều được coi là đảng viên của Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga”. Còn Lênin, trung thành với những vấn đề nguyên tắc của đảng cộng sản mà Mác-Ăng ghen đã vạch ra trước đó, kiên quyết đưa ra điều kiện kết nạp đảng là: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của đảng và ủng hộ đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mình tham gia một trong những tổ chức của đảng, thì được coi là đảng viên của đảng”. Sự khác biệt căn bản trong điều kiện của Lênin và Mác tốp chính là ở chỗ, Lênin yêu cầu đảng viên phải tự giác sinh hoạt, chịu sự quản lý của một chi bộ cụ thể, còn Mác tốp thì không đòi hỏi đảng viên phải như vậy, đảng viên không phải sinh hoạt, không chịu sự quản lý của một chi bộ cụ thể mà chỉ đặt dưới sự chỉ đạo của một tổ chức đảng nào đó. Chính Lênin đã đặt câu hỏi cho Mác tốp: Bằng cách nào có thể chỉ đạo được một người nằm ngoài tổ chức của mình? Làm sao biết họ có giữ được phẩm chất của đảng viên nếu không tham gia sinh hoạt trong một chi bộ cụ thể? Bằng sự kiên trì đấu tranh giữ gìn nguyên tắc tập trung dân chủ và yêu cầu đảng viên phải tự giác tham gia sinh hoạt trong một chi bộ cụ thể, qua nhiều kỳ đại hội, Lênin đã dần thắng thế, những người ủng hộ Lênin đã chiếm đa số (Bolshevik) dẫn đến sự ra đời của Đảng Bolshevik Nga năm 1912. Và cũng từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ trở thành “chiếc khóa” để giữ gìn bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản, chi bộ là “chiếc chìa khóa” để vận hành “chiếc khóa” bảo vệ “tài sản quý nhất” của những người cách mạng. Ngày nay, ngay cả các chính đảng không cộng sản cũng nghiên cứu và vận dụng nguyên lý “khóa và chìa” này để xây dựng đảng chính trị cầm quyền vững mạnh. Đảng Nhân dân hành động (PAP) Singapore là một ví dụ. Đây là đảng liên tục cầm quyền, đã dẫn dắt đất nước Singapore thành công ngoạn mục trong phát triển kinh tế. PAP đã tổng kết, họ có được điều đó nhờ có cương lĩnh rõ ràng, hợp với lòng dân; có các quy định chặt chẽ để quản lý, phòng ngừa, xử lý vi phạm của đảng viên; hệ thống tổ chức đảng chặt chẽ theo 3 cấp (trung ương, quận và chi bộ); đảng viên dù ở cấp nào khi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh. Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong suốt quá trình lãnh đạo xây dựng Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của chi bộ với những câu nói rất giản dị: “Đảng mạnh là do các chi bộ tốt”, “Chi bộ tốt thì mọi việc đều tốt”. Người cho rằng, mỗi đảng viên phải thực hành tự phê bình và phê bình như “soi gương, rửa mặt hằng ngày” và tiến hành tự phê bình và phê bình thì không nơi nào có thể làm tốt hơn chi bộ. Thực tiễn trong Đảng ta hiện nay, chi bộ (bao gồm chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc tổ chức cơ sở đảng) được tổ chức theo nơi ở hoặc nơi làm việc của đảng viên, là tổ chức hạt nhân của đảng, nơi mà các đảng viên có thể hiểu nhau một cách sâu sắc và đầy đủ nhất. Điều lệ Đảng (do Đại hội XI thông qua) hiện hành quy định tại Điều 8: “Đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ hoặc không đóng đảng phí ba tháng trong năm mà không có lý do chính đáng” thì “chi bộ xem xét, đề nghị lên cấp có thẩm quyền xóa tên trong danh sách đảng viên”. Tháng 12-2017, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã đề nghị xóa tên trong danh sách đảng viên ông Lê Phước Hoài Bảo, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam bởi “ý thức tổ chức kỷ luật kém; vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng, bỏ sinh hoạt Đảng nhiều tháng, không chuyển sinh hoạt Đảng theo quy định trong thời gian đi học thạc sĩ tại nước ngoài". Đây là một việc không ai mong muốn, nhưng vì kỷ cương, kỷ luật của Đảng nên được dư luận đồng tình, hoan nghênh. Sự nghiêm minh của Ủy ban Kiểm tra Trung ương qua vụ việc này cũng cho thấy, Đảng ta rất kiên quyết trong việc giữ gìn nguyên lý “khóa và chìa” để phòng, chống căn bệnh suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chữa bệnh hình thức, đơn điệu cho “hạt nhân chính trị” Đúng như Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã đánh giá “sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu”, thậm chí, qua khảo sát của chúng tôi, một số chi bộ không tổ chức sinh hoạt định kỳ hằng tháng như quy định của Điều lệ Đảng. Chính vì sự đơn điệu, hình thức này dẫn đến hiện tượng “nhạt đảng” mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng cảnh báo. Nguyên nhân nào khiến chi bộ-những “hạt nhân chính trị” ở cơ sở lại sinh hoạt đơn điệu, hình thức? Theo chúng tôi, trước hết là do thái độ, ý thức của cấp ủy, bí thư chi bộ. Đây là cơ quan, người lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội của chi bộ, thái độ, ý thức của họ có tác động rất lớn đến sức sống của chi bộ cũng như khả năng phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ chi bộ. Khi cấp ủy, bí thư chi bộ có ý thức trách nhiệm cao, tích cực học tập lý luận chính trị, gương mẫu trong sinh hoạt chi bộ thì các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chi bộ đó khó có cơ hội tồn tại. Cấp ủy, bí thư chi bộ sẽ chủ động mở những cuộc sinh hoạt để đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực trong chi bộ mình; thậm chí, họ sẵn sàng đối đầu với các vi phạm của cán bộ, đảng viên và các biểu hiện lệch chuẩn ngay trong nơi ở, nơi làm việc mà họ có trách nhiệm lãnh đạo. Mặt khác, những cấp ủy viên, bí thư chi bộ như vậy sẽ là tấm gương giáo dục cán bộ, đảng viên trong chi bộ xây dựng lối sống lành mạnh, tránh xa các vi phạm và cám dỗ lợi ích từ việc vi phạm mang lại. Như thế, những biểu hiện suy thoái, vi phạm dễ bị phát hiện, ngăn chặn từ lúc manh nha. Có thể nói, nếu chi bộ là “chìa khóa” thì cấp ủy, bí thư chi bộ chính là những người giữ chiếc chìa khóa này. Mọi đảng viên, dù "quyền cao chức trọng" đến đâu thì đều phải sinh hoạt trong một chi bộ cụ thể. Như vậy, cấp ủy, bí thư chi bộ nơi những đảng viên “quyền cao chức trọng” sinh hoạt lại càng quan trọng. Họ không chỉ là nơi giám sát, góp ý, phê bình những đồng chí này mà còn có thể gần gũi tâm sự, sẻ chia với đồng chí đó những vấn đề cụ thể hằng ngày về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Khi đó, khả năng phòng ngừa suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của chi bộ đó được nâng lên một tầm cao mới. Nội dung sinh hoạt hằng tháng của một chi bộ vô cùng phong phú: Thông tin tình hình thời sự trong nước và quốc tế; phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ chính trị của chi bộ. Đánh giá tình hình và diễn biến tư tưởng, tình cảm của đảng viên, quần chúng thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ; đánh giá tình hình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và những đề xuất, kiến nghị của đảng viên, quần chúng trong địa phương, cơ quan, đơn vị để chi bộ có biện pháp giải quyết hoặc báo cáo cấp trên. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của chi bộ tháng trước; đề ra phương hướng, biện pháp thực hiện nhiệm vụ trong tháng tới. Chi bộ chọn ra một số nhiệm vụ cụ thể, thiết thực, trong đó có những nhiệm vụ trọng tâm, bức xúc; phân công chi ủy viên và đảng viên tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đề ra... Đặc biệt, ở nội dung sinh hoạt tư tưởng, hiện nay chúng ta chưa có nhiều mô hình điển hình cho hoạt động này. Trước đây, khi Đảng chưa là đảng cầm quyền, hoạt động trái pháp luật, đảng viên luôn bị bộ máy bạo lực của đế quốc, thực dân lùng sục, bắt bớ thì sinh hoạt tư tưởng là nơi những người đồng chí "chia ngọt sẻ bùi", không giấu giếm nhau bất cứ điều gì, có gì vướng mắc, tâm tư đều nói ra nhờ chi bộ giúp đỡ. Chính từ những buổi sinh hoạt đó mà mỗi đảng viên "khắc cốt ghi tâm" hai từ “đồng chí”. Ai dao động, ai thoái chí, ai trung kiên... cấp ủy, bí thư chi bộ đều nắm rõ. Ngày nay, Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo đất nước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng với thế giới thì những vấn đề tâm tư, tình cảm của đảng viên càng thêm phức tạp. Vì vậy, điều căn cốt trước tiên để khắc phục tình trạng “đơn điệu, hình thức” trong xây dựng chi bộ là phải coi trọng tiêu chuẩn trong xây dựng các chi ủy, bí thư chi bộ; phải là những người có ý thức trách nhiệm rõ ràng, thực sự tiêu biểu, tiên phong trong chi bộ. Cùng với yêu cầu cao về điều kiện, tiêu chuẩn thì cần có chính sách đãi ngộ phù hợp với đội ngũ này. Một vấn đề khác là cần tiếp tục xây dựng hệ thống các quy định của Đảng thật chặt chẽ, đầy đủ, đồng bộ, có tính khả thi cao trong kiểm soát vấn đề sinh hoạt chi bộ. Phải có một hệ thống các quy định để các chi bộ “không thể vi phạm”, để đưa sinh hoạt chi bộ vào nền nếp, việc phát hiện các chi bộ vi phạm cũng dễ dàng hơn. PGS, TS Trần Thị Anh Đào (Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) trong một hội thảo khoa học bàn về nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chức đảng đã cho rằng: Đối với chi bộ, để nâng cao chất lượng thì trước hết phải sinh hoạt đều đặn, có nền nếp. Nếu các chi bộ tùy tiện trong sinh hoạt, cấp ủy cấp trên lại không kiểm soát được thì không thể nào nâng cao chất lượng. Cùng với duy trì đều đặn, có nền nếp sinh hoạt chi bộ thì sự nghiêm khắc trong xử lý các chi bộ, đảng viên bỏ bê sinh hoạt có tác dụng răn đe, cảnh tỉnh rất lớn. Theo thống kê của Tỉnh ủy Hậu Giang, trong hai năm 2016-2017, các tổ chức đảng trong toàn tỉnh đã kỷ luật, xóa tên trong danh sách hàng trăm đảng viên do không tham gia sinh hoạt đảng 3 tháng trở lên trong năm. Sự nghiêm khắc này đã tác động rất mạnh đến những đảng viên khác, nhiều đồng chí trước đây hay nại khó để xin nghỉ sinh hoạt đã trở lại sinh hoạt chi bộ đều đặn, chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng lên một bước. Nâng cao khả năng tự phòng ngừa suy thoái, biết phòng ngừa "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong mỗi đảng viên cũng là một biện pháp cấp thiết trong tình hình hiện nay. Biện pháp này được hiểu như là tăng cường khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” của đảng viên trước những tồn tại trong Đảng và trong xã hội hiện nay. Do hoàn cảnh khách quan, Đảng ta còn không ít chi ủy viên, bí thư chi bộ trình độ học vấn, trình độ văn hóa chưa cao; chưa hiểu hết những diễn biến phức tạp, khó lường trên trận địa chính trị-tư tưởng. Vì vậy, mỗi đảng viên phải tự nâng cao khả năng phòng ngừa của mình bằng cách tích cực học tập các chương trình, đặc biệt là các chương trình giáo dục chính trị do tổ chức đảng cấp trên chủ trì; học tập nâng cao hiểu biết lý luận chính trị qua đọc báo, xem-nghe các phương tiện truyền thông và biết chia sẻ những điều học được trong sinh hoạt chi bộ. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, hiện nay, đảng viên ở vùng sâu, vùng xa vẫn có thể tự học, tự nghiên cứu các bài giảng của các chuyên gia, giáo sư lý luận hàng đầu của đất nước (chẳng hạn các bài giảng, bài nói chuyện của GS Hoàng Chí Bảo được chia sẻ trên kênh YouTube). Việc các chi bộ và tổ chức cơ sở đảng ứng dụng môi trường internet vào tự học, tự nâng cao trình độ lý luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên vừa đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt của công tác xây dựng Đảng, vừa là biện pháp làm cho các buổi sinh hoạt chi bộ thêm sinh động, hấp dẫn. Chúng tôi đã được chứng kiến một đơn vị thuộc Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 4 đứng chân trên địa bàn biên giới phía tây tỉnh Nghệ An, hằng tuần đều tổ chức cho đảng viên, đoàn viên xem Chương trình video Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên Báo Quân đội nhân dân Điện tử. Các đồng chí đảng viên, đoàn viên sau khi xem đều nhận xét đây là hình thức sinh hoạt Đảng, sinh hoạt đoàn trực quan, sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp thu. Đây cũng là vấn đề đang được Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu khi xây dựng đề án đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức cơ sở đảng. Chi bộ không chỉ là nơi phát hiện, xử lý những trường hợp suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; quan trọng hơn, chi bộ chính là bức tường thành vững chắc ngăn chặn mọi con đường “thẩm thấu hòa bình”, là chỗ dựa tin cậy của đảng viên trước những cám dỗ, sóng gió, xô đẩy của cuộc sống. Vì lẽ đó, duy trì đều đặn và không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ chính là giải pháp cơ bản, quan trọng hàng đầu trên trận tuyến phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhận diện và đấu tranh vạch trần thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

 

Nhận diện và đấu tranh vạch trần thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

Trong thời gian qua, các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đã luôn tìm cách “bẻ lái”, chính trị hóa một số vụ án hình sự nhằm tạo cớ, tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào Việt Nam, phục vụ hoạt động chống phá Nhà nước.

Các đối tượng suy diễn, cắt ghép thông tin nhằm làm sai lệch bản chất vụ án, vu khống các cơ quan chức năng, quy kết để gây ra sự nghi ngờ, hoang mang trong dư luận quần chúng, nhất là thời điểm chuẩn bị diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.

Điển hình, vào ngày 9/3, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Quốc Khánh, quê quán tại Lưu Phương, Kim Sơn, Ninh Bình; ngày 29/3, Công an TP Hà Nội thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Lê Trọng Hùng, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cả 2 đối tượng đều bị bắt theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015, về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngay sau khi các đối tượng bị bắt, khởi tố, lập tức trên các trang truyền thông như “Việt Tân”, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”, RFA, VOA… cùng facebook, blog của một số phần tử chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, vu khống cơ quan chức năng trong hoạt động khởi tố hình sự đối với các vụ án nói trên. Các đối tượng cho rằng, việc cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam các bị can trên là “chỉ dấu cho thấy đang có đợt trấn áp trước bầu cử” nhằm bóp nghẹt, bịt miệng các “tiếng nói trái chiều”… Từ đó, họ cổ suý, kêu gọi những người “hoạt động vì dân chủ” lên tiếng đả kích, chống phá trên mạng internet.

Các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị muốn nhân cơ hội này để “tung diều trước gió”, vu cáo các cơ quan chức năng bắt Trần Quốc Khánh và Lê Trọng Hùng là vì lý do các đối tượng này tự ứng cử.

Với các thông tin sai lệch được đưa lên blog, trang mạng xã hội, các đối tượng xuyên tạc vụ án theo chiều hướng tiêu cực, hướng lái dư luận với mục đích, ý đồ xấu. Trên thực tế, việc điều tra vụ án đối với các bị can trên được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp lý. Việc khởi tố, bắt tạm giam bị can là khi cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, cần khởi tố để điều tra, làm rõ, xét xử theo quy định.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên cơ sở luật pháp không phụ thuộc vào thời điểm trước, trong hay sau bầu cử. Do đó, không thể vu cáo cho rằng vì chuẩn bị bước vào thềm bầu cử nên chính quyền Việt Nam mới tiến hành bắt bớ để ngăn chặn số người tự ứng cử. Hoàn toàn không có việc do các đối tượng này tự ứng cử nên mới bị bắt, đó là lập luận sai trái với động cơ xấu.

Ngay sau khi các đối tượng này bị bắt, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng thông tin trên website, fanpage với chủ đề: “Tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị bắt giam”. Trong bài viết, tổ chức này đưa ra các luận điệu rằng “chỉ vì phổ biến Hiến pháp và tự ứng cử đại biểu Quốc hội mà ông Lê Trọng Hùng (facebooker Hùng Gàn Lê), SN 1979, đã bị nhà nước Việt cộng bắt giam với cáo buộc “Tàng trữ, phát tán tài liệu chống nhà nước”.

Thông tin này được tổ chức khủng bố Việt Tân tung ra nhằm “đánh lận con đen”, lừa bịp, dẫn dắt dư luận theo hướng Lê Trọng Hùng và Trần Quốc Khánh bị bắt chỉ vì ứng cử đại biểu Quốc hội chứ không phải vì hành vi phạm pháp, chống phá Nhà nước. Tuy nhiên, khi đăng tải thông tin lại bỏ đi bản chất vụ án là các đối tượng đã có quá trình dài vi phạm pháp luật hình sự, bất chấp các hoạt động giáo dục, ngăn ngừa của cơ quan chức năng.

Trong bài viết “Bắt những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội: sự vi phạm Hiến pháp” vào ngày 29/3, trang RFA đăng tải thông tin vu cáo rằng “trước lúc bị bắt, vào ngày 18/3, trên Facebook cá nhân của mình, ông Lê Trọng Hùng đã đăng tải các hình ảnh và tài liệu cho thấy ông đã nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại Ủy ban bầu cử thành phố Hà Nội”.

Dẫn lời của một đối tượng chống đối chính trị trong nước, RFA quy kết: “Việc bắt ông Lê Trọng Hùng với một vị bác sĩ đang ứng cử đại biểu Quốc hội, thì tôi thấy họ chà đạp lên chính luật pháp mà họ đặt ra. Bắt vào thời điểm khác còn có thể bào chữa cho việc bắt bớ, đàn áp tự do ngôn luận. Bắt ngay lúc người dân được tự do ra ứng cử thì rõ ràng họ muốn nói việc ứng cử không phải việc của dân”.

Thực tế, việc bắt và khởi tố các đối tượng theo quy định của pháp luật được các cơ quan tố tụng làm rất chặt chẽ, thận trọng, đảm bảo đúng người, đúng tội, song các phần tử chống đối, cơ hội chính trị lại cố tình định hướng, xuyên tạc để làm sai lệch bản chất của vụ án nhằm hướng dư luận theo hướng tiêu cực. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các hành vi là khách quan, bất kỳ ai, vị trí nào, nếu sai phạm đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, theo các điều khoản tương ứng.

 Do đó, không có cớ gì khi các đối tượng này vi phạm pháp luật hình sự, hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm lại không bị khởi tố. Thời điểm diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 là lúc mà các đối tượng chống đối ra sức tuyên truyền chống phá, bản thân các đối tượng cũng nhân cơ hội này để tăng cường “múa bút”, tuyên truyền xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước, nhân dân nên việc bị cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định pháp luật là lẽ hiển nhiên. Khởi tố vụ án hình sự đối với các bị can có hành vi vi phạm pháp luật hình sự là việc làm cần thiết để đảm bảo giá trị pháp lý căn bản, đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại.

 

Chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu: Quan trọng và cần kíp như đánh giặc .

Hồ Chí Minh khẳng định rằng, việc thường xuyên phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu sẽ giúp cho mọi người đoàn kết, thống nhất hơn; giúp cho “cán bộ ta cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng"; "giúp chính quyền ta thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào ta”. . Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ rằng: Giành chính quyền đã khó, nhưng giữ chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và phát triển giàu mạnh còn khó hơn nhiều. Vì vậy, Người không chỉ rất quan tâm, sớm tiên liệu, chỉ rõ những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; trong đó có tham ô, tham nhũng, lãng phí, bệnh quan liêu và cách phòng, chống mà còn luôn gương mẫu thực hiện, đồng thời yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng và nhân dân cùng làm theo. 1. THAM Ô, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU - KẺ THÙ CỦA NHÂN DÂN VÀ CHÍNH PHỦ Hồ Chí Minh từ rất sớm đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong các cơ quan công quyền và trong Đảng. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên, khi giảng về đạo đức cách mạng cho những thanh niên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu, Trung Quốc: trong 14 điều “Tự mình phải” (tác phẩm “Đường Cách mệnh”, xuất bản năm 1927), Người đã dành 3 điều để nói về phòng và chống tư lợi của cá nhân, đó là phải “Vị công vô tư” (điều thứ 8); không có “lòng tham muốn về vật chất” (điều thứ 14) và “xem xét hoàn cảnh kỹ càng" trong công tác (điều thứ 20)[1]. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập và vận hành trong toàn quốc, song không lâu sau đó, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cơ quan Đảng và Nhà nước đã bộc lộ những khuyết điểm, nhất là những thói hư, tật xấu của những “ông quan cách mạng”. Trong số đó, không thể không nhắc đến nạn tham ô, tham nhũng, sự lãng phí của công, bệnh quan liêu, cửa quyền, kiêu ngạo, tư túng, v.v.. đang có nguy cơ lan rộng. Trong thư “Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ngày 17/10/1945, Người chỉ ra 6 lầm lỗi chính cần phải tránh; trong đó, lỗi thứ ba là dùng của dân, của công để tiêu xài riêng: “Ăn muốn cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, tự hỏi tiền bạc ở đâu mà ra? Thậm chí lấy của công làm việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông uỷ viên đi xe hơi, rồi bà uỷ viên, cho đến các cô các cậu uỷ viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó, ai chịu?”[2]… Trăn trở vì những vấn nạn ấy, Hồ Chí Minh đã viết bài “Tự phê bình” và nhận trách nhiệm trước quốc dân: “Chính phủ do tôi đứng đầu chưa làm được việc gì đáng kể cho nhân dân. Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác... Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm là lỗi tại tôi”[3]. Đặc biệt, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra ngày càng quyết liệt, trước yêu cầu phải tập trung trí lực, sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, nhất là phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh một mặt nhấn mạnh: toàn Đảng, toàn quân và toàn dân cần phải nỗ lực, quyết tâm và kiên trì “trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh”; mặt khác, kêu gọi phải đẩy mạnh “- Chống nạn tham ô, - Chống nạn lãng phí, - Chống bệnh quan liêu”[4]. Người chỉ rõ, tham ô, tham nhũng lãng phí và bệnh quan liêu “là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta… làm hỏng tinh thần trong sạch, ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo dức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”[5]. Tuy các tệ nạn này biểu hiện trong đời sống xã hội dưới nhiều dạng khác nhau, song tham ô, tham nhũng là “ăn cắp của công làm của tư”, “đục khoét của nhân dân”, “ăn bớt của bộ đội”, “tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình”, “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[6]. Còn lãng phí là “lãng phí sức lao động”, “lãng phí thời giờ”, “lãng phí tiền của”,v.v.. và “lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tại hại cho nhân dân, cho Chính phủ và có khi còn tai hại hơn nạn tham ô”[7]. Cho nên, cùng với việc coi “tham ô là trộm cướp”, nêu rõ mối quan hệ “có nạn tham ô và lãng phí là vì bệnh quan liêu”[8], Hồ Chí Minh chỉ rõ: những người và những cơ quan mắc bệnh quan liêu là do “không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng”. Trong công việc, họ “trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề”, “chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn”, thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, v.v..vì thế mà “ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh rằng: ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó ắt có tham ô, lãng phí và nơi nào bệnh quan liêu càng nặng, thì ở đó càng nhiều lãng phí, tham ô, càng nhiều hiện tượng tham nhũng. Tất cả những tệ nạn đó đều là con đẻ của chủ nghĩa cá nhân, chúng đều “xâm phạm đến lợi ích của nhân dân”. Trong khi các chiến sĩ đã hy sinh xương máu, đồng bào đã hy sinh mồ hôi nước mắt để góp sức cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc thì những kẻ tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu đã “phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và của nhân dân” nên chúng “là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”[9]. Do đó, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cũng rất cần thiết, “quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”- đó là cuộc đấu tranh gian khó trên mặt trận tư tưởng và chính trị.

CHỐNG THAM Ô, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU LÀ CÁCH MẠNG

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để tiêu diệt cái xấu, xây dựng cái tốt, tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ mới. Song thực dân và phong kiến tuy đã bị tiêu diệt, nhưng nọc độc, xấu của nó là tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu vẫn còn. Những nọc xấu ấy “vẫn ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng của cách mạng” - là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của quá trình xây dựng một xã hội cần, kiệm, liêm, chính. Do đó, muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do và bình đẳng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì nhất định phải “tẩy sạch cho hết những thói xấu của xã hội cũ”. Người nêu cụ thể: 1) Phải chống tham ô, tham nhũng, quan liêu, “phải kiên quyết chống nạn lãng phí ở các cơ quan và trong sự sinh hoạt của chúng ta. Chống cách tiêu dùng bừa bãi tiền của của nhân dân và vốn liếng của Chính phủ”; 2) Cần “phải chấm dứt nạn phô trương, lãng phí” trong “những cuộc khai hội, những lễ kỷ niệm, những đám yến tiệc tốn hàng vạn, hàng chục vạn” và “không thể tha thứ cho những việc phô trương, lãng phí như vậy; 3) Chấm dứt cái thói vô Chính phủ như “xem thường phép luật, chính quyền”, “hy sinh lợi ích của nước nhà để lên mặt mình khảng khái” của một bộ phận cán bộ, đảng viên; 4) Phải chống nạn ăn cắp của công mà các cơ quan quen gọi trộm cắp “đường hoàng” , vì “đó là một điều đáng chú ý, một điều đáng nguy hiểm”; đồng thời cũng phải chống bọn “trộm cắp kín đáo”- mà bọn này càng nguy hiểm, để chúng “không sống còn được”… Từ việc thấu hiểu sâu sắc rằng, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và chính trị này rất cam go, phức tạp và lâu dài, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị phải chuẩn bị kỹ và cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng phải được tiến hành từng bước. Để tập trung cho cuộc đấu tranh chống những tệ nạn làm thiệt hại đến kinh tế, ảnh hưởng đến chính trị, làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước, nhất là rất dễ lây lan này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: dưới bất kỳ hình thức nào, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng cũng phải phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không làm được điều đó, nếu cuộc đấu tranh đó không đạt được kết quả thì nguồn sức mạnh nội lực của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bị rạn nứt, niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chế độ bị xói mòn. Trên tinh thần đó, mỗi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, “ắt phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên” để cuộc đấu tranh nhằm tẩy sạch nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu đạt kết quả thiết thực. Cụ thể, cấp ủy các cơ quan, địa phương, đơn vị phải triển khai thực hiện các biện pháp sau: 1) “Bước đầu đánh thông tư tưởng”; “sửa chữa những ý nghĩ sai lầm”; “yên định những lo ngại không đúng”… nhằm giúp mỗi người hiểu rõ hơn tác hại của tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu; tránh coi nhẹ tác dụng xấu của tham ô, tham nhũng, lãng phí, coi “tham ô là có tội, song lãng phí chỉ là một khuyết điểm”, “những người có công với cách mạng, thì tham ô, lãng phí chút đỉnh, cũng nên tha thứ họ”; trong đấu tranh thì sẽ áp dụng phương pháp “một sự nhịn, chín sự lành”, suy nghĩ giản đơn: ai tham ô, lãng phí thì mặc, còn mình “không tham ô, lãng phí thì thôi”, “tự nhận sai lầm mình sợ mất thể diện, mất uy tín, sợ bị phạt, v.v..”, “chỉ trích lỗi của người sẽ mất đoàn kết”, “nói thật mất lòng, sẽ bị bầu bạn ghét, bị cấp trên trù,v.v..”. 2) Chia từng tiểu tổ nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu; đến cần, kiệm, liêm, chính và cách sửa đổi lối làm việc; thật thà tự phê bình và phê bình, để “tự kiểm thảo và kiểm thảo người khác phải thật thà, phải dựa vào thực lực, phải đào tận gốc rễ những khuyết điểm. Không nên thoa vẽ, che giấu. Không nên ít thít ra nhiều, càng không nên nói việc nhỏ bỏ việc lớn, nói việc cũ, quên việc mới”[10], phải “vừa nêu rõ khuyết điểm, vừa phân tách tư tưởng”, “chỉ trích những khuyết điểm, khen ngợi những ưu điểm”,v.v.. trên tinh thần “giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”. Đặc biệt, trong khi kiểm thảo, nguyên tắc tiến hành là phải làm một cách có trọng tâm, từng bước, phải nắm vững và vào sâu, phải làm từ cấp trên xuống cấp dưới, từ bộ phận chính đến bộ phận phụ; phải chú trọng nguyên tắc tự phê bình và phê bình và phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên: “Cán bộ cao cấp mỗi nơi phải: - Thật thà tự kiểm thảo để làm gương mẫu. -Thật thà báo cáo tình hình cả đơn vị… - Phải kiên quyết “nhổ cỏ”. - Nắm vững trọng điểm. - Tổ chức nhóm trung kiên…”[11]. Khi kiểm thảo “ai kiểm thảo đúng người khác, sẽ được khen thưởng”, “ai có lỗi mà không thật thà nói ra, sẽ bị kỷ luật” và “ai ngăn cản, đe dọa người kiểm thảo mình, sẽ bị kỷ luật”. Trong cuộc chiến này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cũng như mọi việc khác, việc “chống” này phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”[12]. Đồng thời, Người cũng nhấn mạnh, để chống kẻ thù lúc nào cũng kề cận trong ta, “ngấm ngầm ngăn trở, ngấm ngầm phá hoại sự nghiệp xây dựng cách mạng” thì nhất định “từ trên đến dưới phải đồng tâm hiệp lực”, “chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy”. Vì vậy, sự theo dõi, sự cảnh giác của hàng triệu triệu quần chúng sẽ là những ngọn đèn pha soi rọi khắp nơi, không để cho tệ nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu còn nơi ẩn nấp… Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, việc thường xuyên phòng, chống và đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu sẽ giúp cho mọi người đoàn kết hơn, thống nhất hơn; giúp cho “cán bộ ta cải tạo tư tưởng, nâng cao giác ngộ, thấm nhuần đạo đức cách mạng"; "giúp chính quyền ta thành một chính quyền trong sạch, xứng đáng với lòng tin tưởng và sự hy sinh của chiến sĩ và đồng bào ta”.

PHÒNG VÀ CHỐNG THAM Ô, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, QUAN LIÊU - THIẾT THỰC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

Hồ Chí Minh khi nói và viết về vấn đề này đều yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hành chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu từ trong suy nghĩ đến hành động, chứ không chỉ dừng ở việc kêu gọi chung chung “nên” hay “cần”. Bởi theo Người, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, cán bộ quản lý nói riêng trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng và chống các tệ nạn nói trên sinh động và có giá trị thuyết phục hơn nhiều lần những lời kêu gọi, những bài diễn thuyết. Và chính Người, trong mọi hoàn cảnh đều luôn là tấm gương đạo đức mẫu mực, suốt đời phấn đấu hy sinh cho Đảng, cho nhân dân; luôn sống giản dị, tiết kiệm; luôn tránh lãng phí thời gian, tiền bạc và tài sản của nhân dân... Với Người, không có gì là của riêng, tất cả cuộc đời Người đều thuộc về Tổ quốc và nhân dân. Người đã đi xa, nhưng những cảnh báo và nỗi trăn trở của Người về nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong bộ máy các cơ quan công quyền, trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang là nỗi nhức nhối của toàn Đảng và nhân dân ta. Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những thuận lợi của một nước Việt Nam đang ngày càng phát triển về mọi mặt, có vị thế trên trường quốc tế, là không ít những khó khăn, thử thách phải đối mặt bởi nguy cơ và hệ lụy của mặt trái nền kinh tế thị trường. Trong đó, có sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nạn tham ô, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, quan liêu, lãng phí của công, v.v.. của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang đe dọa sự tồn vong của Đảng cầm quyền. Thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu là công việc phức tạp, có nhiều khó khăn, liên quan trực tiếp đến thói quen, lợi ích cá nhân, lợi ích của mỗi cơ quan, đơn vị... Do đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã “xác định đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đồng thời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và của toàn bộ hệ thống chính trị. Kiên quyết phòng, chống , lãng phí với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí”[13]. Thực tế, cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu trong những năm qua đã được Ðảng, Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt và ngày càng được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Nhiều vụ việc, nhiều đại án kinh tế đã được triển khai đồng bộ, bài bản, thận trọng, giải quyết triệt để, đạt nhiều kết quả, được dư luận quan tâm và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Trong đó, lực lượng công an đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp, đóng góp tích cực, quan trọng vào việc đẩy nhanh tiến độ điều tra, đưa ra truy tố, xét xử các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về ma túy, kinh tế, tham nhũng… góp phần ngăn chặn tình trạng tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở… Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước...”. Nguyên nhân sâu xa của thực trạng đó chủ yếu là do bộ phận cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, dẫn đến sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham ô, tham nhũng, tiêu cực để trục lợi cho mình,cho những người thân, nhóm lợi ích; ngày càng quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng… Trong số những kẻ sâu mọt đó, có cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao ở cả Trung ương và địa phương thiếu ý thức tu dưỡng đạo đức, thiếu tinh thần trách nhiệm công tác, bị lợi ích vật chất cám dỗ, bị sa ngã trước sự mua chuộc, quyến rũ của các phần tử xấu, của nhóm lợi ích… đã lợi dụng cương vị công tác, chức quyền để làm hại đến lợi ích chung của nhà nước, của tập thể và lợi ích chính đáng của người dân. Để khắc phục tình trạng trên, bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị, khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, thiết thực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; để củng cố và phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, trong thực hiện thắng lợi, cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và bệnh quan liêu nói riêng như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp sau: Một là, tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí và quan liêu. Trong nội dung và phương thức tuyên truyền phải khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước về phòng, chống các tệ nạn đó; làm cho các tầng lớp nhân dân thấy rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc đấu tranh tư tưởng chính trị này gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân, góp phần tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hai là, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội cần thấm nhuần và tiếp tục "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" theo Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với các chỉ thị, nghị quyết, Luật về phòng, chống tham nhũng. Biến những giá trị tinh thần của Người thành sức mạnh vật chất nhằm nhân nguồn sức mạnh nội lực của từng tổ chức cơ sở Đảng, trong từng cán bộ, đảng viên, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân tin tưởng giao phó. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", nhũng nhiễu, xa rời, vô cảm trước nhân dân. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực ở mỗi cấp, đảm bảo quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa” bởi quyền lực. Ba là, trong mọi mặt công tác, chú trọng phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu theo phương châm trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau. Đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, lối sống giản dị, tiết kiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo Bác. Trong học tập và làm theo, nhất là trong phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cần kết hợp giữa "chống và xây", "xây và chống"; “nói đi đôi với làm”, làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể; thường xuyên tự phê bình và phê bình trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau Bốn là, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, để kịp thời phát hiện những biểu hiện, hành động, hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, bệnh quan liêu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng và củng cố thế trận an ninh nhân dân gắn với công tác phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động. Lấy việc làm cụ thể, hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, trong phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu tại cơ quan, địa phương, đợn vị và từng địa bàn cơ sở, khu dân cư... làm thước đo đánh giá tư cách, năng lực, đạo đức và coi đó là một trong những điều kiện để xem xét đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng. Năm là, tiếp tục xây dựng, nhân rộng những điển hình tiên tiến về làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; trong đó, có những tấm gương tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên gương mẫu, điển hình trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực và hiệu quả công tác, trong phòng và chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Tăng cường tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, kịp thời xử lý nghiêm túc, không có vùng cấm với những biểu hiện vi phạm về tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu gây bức xúc trong dư luận… nhằm củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị./.
"Nhận diện, đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử" Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá là: Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, một chiều, quy chụp, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành có thể kể đến là: xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử; thực hiện chiêu trò "tự ứng cử", hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ký tên ảo, tung hô, ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử; xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ... Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam, đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v… Các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v… Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước.Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.