Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

Tự do internet ở Việt Nam: Một thực tế không thể phủ nhận .

Thời gian vừa qua, một số cá nhân, tổ chức quốc tế đã phát tán trên nhiều trang mạng các bài viết rêu rao rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do internet, chính quyền Việt Nam dùng nhiều biện pháp, trong đó có ban hành văn bản pháp luật để kiểm duyệt việc truy cập internet, đàn áp, bắt giữ các blogger… Đó là những luận điệu xuyên tạc “cũ rích” về tình hình tự do thông tin, tự do internet ở Việt Nam. . Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do internet. Đảng ta đã khẳng định, tôn trọng và bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước. Mọi công dân Việt Nam được thực hiện các quyền tự do cá nhân trên cơ sở pháp luật. Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân luôn gắn chặt với bảo đảm quyền, nghĩa vụ của cộng đồng. Cách nay hơn 20 năm, ngày 19-11-1997, Việt Nam chính thức kết nối với internet toàn cầu, đánh dấu cột mốc quan trọng trong lịch sử của ngành thông tin, truyền thông Việt Nam. Những năm qua, nước ta đã tận dụng được tối đa tính năng ưu việt của internet trong xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực xã hội. Nếu những ngày đầu Việt Nam kết nối internet, số người sử dụng chỉ hơn 200.000 người, thì đến năm 2012, con số này đã tăng lên hơn 31 triệu người và đến năm 2017, con số này đã tăng lên hơn 50 triệu người. Điều đó cho thấy được sự phát triển như vũ bão của internet ở Việt Nam. Theo Tổ chức quản lý tên miền và địa chỉ internet quốc tế (ICANN) và công ty DAMMIO - We Are Social (Anh), tính đến năm 2017, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 17 thế giới về số lượng người dùng Internet, chiếm gần 53% dân số, tăng khoảng 6% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, có 46 triệu người Việt Nam dùng mạng xã hội (Facebook, Twitter, Zalo…), hiện được xếp trong nhóm đứng đầu thế giới về số người sử dụng. Theo kết quả nghiên cứu của Báo Nikkei (Nhật Bản) về tốc độ internet của các nước Châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2017, đã khẳng định: “Ấn Độ và Việt Nam vượt xa các nước phát triển”; tốc độ sẽ tiếp tục tăng khi Chính phủ Việt Nam đang tập trung phát triển kinh tế số. Còn theo báo cáo về tốc độ internet trên toàn cầu năm 2017 của Amakai, công ty chuyên cung cấp dịch vụ mạng phân phối nội dung (CDN) và điện toán đám mây của Hoa Kỳ, Việt Nam hiện đang xếp thứ 58/193 nước trên thế giới, tăng tới 89% so với cùng kỳ năm 2016, mức tăng cao nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện nay, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất châu Á, đứng thứ 12/20 quốc gia dẫn đầu thế giới về số người dùng internet. Đặc biệt, ngày 14-5-2018 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo các bộ, ngành chức năng khẩn trương triển khai xây dựng Chính phủ điện tử gần và thuận lợi với công dân hơn bằng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, mọi hoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa”. Đó là cơ sở quan trọng cải cách, đổi mới hoạt động của bộ máy Chính phủ đặc biệt là cải cách hành chính, góp phần chống tham nhũng, tiêu cực, phiền hà cho nhân dân; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng cho các nhà đầu tư vào Việt Nam; thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của internet ở nước ta trong thời gian tới. Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Pereric Högberg khẳng định, Việt Nam đang tận dụng tốt cơ hội từ internet, là một trong những nước đi đầu ở Đông Nam Á về kết nối và phát triển internet. Từ năm 2010 đến nay, Việt Nam liên tục đứng trong nhóm 20 quốc gia có số người sử dụng Internet lớn nhất thế giới. Điều đó thể hiện nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc tận dụng thế mạnh của internet trong xây dựng và phát triển đất nước. Ông Denis Brunetti, Tổng Giám đốc công ty Ericsson Việt Nam, Myanmar, Lào và Campuchia đã khẳng định, hiện nay việc tiếp cận internet ở Việt Nam rất dễ dàng và giá cả phù hợp, Chính phủ và các doanh nghiệp viễn thông đang có những hướng đi đúng đắn và bền vững. Có thể khẳng định rằng, internet, mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước; đã trở thành công cụ rất quen thuộc và là “một phần tất yếu” của các tầng lớp xã hội. Người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội; nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương sử dụng internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân… Tất cả những điều đó cho thấy bảo đảm tự do internet luôn là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước và được bảo đảm thực hiện trên mọi lĩnh vực xã hội ở nước ta. Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy, việc thực hiện quyền tự do internet luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Điển hình như: Ủy ban châu Âu đã ban hành luật về bảo vệ sự riêng tư toàn cầu nhằm hạn chế hoạt động của internet, mạng xã hội vi phạm quyền riêng tư của công dân của các nước thành viên. Nhằm thực hiện những quy tắc về bảo vệ quyền riêng tư của công dân; tháng 10-2016, 28 cơ quan bảo vệ dữ liệu quốc gia ở châu Âu đã yêu cầu Facebook chấm dứt ngay việc chia sẻ dữ liệu thông tin cá nhân của các công dân ở các quốc gia này trên ứng dụng WhatsApp, buộc Facebook phải dừng ngay dịch vụ này tại châu Âu. Năm 2017, Ủy ban châu Âu (EU) cũng đã yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh ngay các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Không chỉ ở châu Âu, nhiều nước châu Phi và Trung Quốc đã nghiêm cấm Facebook triển khai dịch vụ ở các nước này. Riêng ở Trung Quốc, Chính phủ nước này đã chặn toàn bộ các mạng xã hội, trong đó có Facebook, Google nhằm ngăn chặn người dùng truy cập các trang web đồi trụy hoặc có nội dung nhằm mục đích chính trị. Chính phủ Hàn Quốc tuyên bố chặn các trang web có nội dung vi phạm luật an ninh, hoặc có nội dung khiêu dâm. Ở Thái Lan, Chính phủ nước này đã yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet phải kiểm duyệt, ngăn chặn các tài khoản, clip có “nội dung không phù hợp” trên các mạng xã hội như Youtube, Facebook, Line và Twitter. Ngay ở Mỹ, quốc gia tự cho mình là “đất nước tự do”, Quốc hội nước này đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực hay là vi phạm sở hữu trí tuệ... Là nước có tốc độ phát triển internet mạnh mẽ, đồng thời, Việt Nam cũng là quốc gia xảy ra các hành vi tội phạm mạng cao trên thế giới. Nguyên nhân cơ bản là do hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ; lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ an ninh mạng còn thiếu, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ bảo vệ an toàn thông tin, an ninh mạng còn lạc hậu, chưa theo kịp với trình độ phát triển của thế giới… Theo đánh giá của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) công bố báo cáo về tình hình an ninh mạng của các nước thành viên năm 2017, khả năng bảo đảm an ninh mạng của Việt Nam đứng vị trí 101/193 nước, thấp hơn cả Lào, Campuchia. Đó chính là lý do giải thích tại sao Việt Nam là một trong những nước bị tội phạm tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới. Lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội, các loại tội phạm đã triệt để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, như vi phạm sở hữu trí tuệ, đánh cắp công nghệ, bản quyền, tán phát thông tin bịa đặt nhằm vu khống, bôi nhọ cá nhân; kích động, lôi kéo khủng bố; lấy cắp bí mật nhà nước; chia sẻ cách thức, thủ đoạn phạm tội hoặc làm lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp... nhằm phá hoại kinh tế, cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế của nước ta. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, trong năm 2016, các cơ quan chức năng đã phát hiện 135.000 cuộc tấn công vào hệ thống thông tin của Việt Nam. Năm 2017, đã phát hiện và xử lý gần 10.000 cuộc tấn công các website của Việt Nam. Nhằm bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, internet để vi phạm pháp luật Việt Nam, trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự năm 2017, Luật Công nghệ thông tin, Luật an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 15-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, Nghị định 101/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng để khủng bố, Nghị định số 38/2016/TT-BTTTT ngày 26-12-2016 quy định chi tiết về cung cấp thông tin công cộng qua biên giới và mới đây là Nghị định số 27/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, bổ sung điều kiện về quản lý nội dung các trang thông tin điện tử, mạng xã hội. Trong đó, Nghị định số 27/2018/NĐ-CP đã quy định rõ cơ chế phối hợp loại bỏ nội dung vi phạm khoản 1, Điều 5, Nghị định 72/2013/NĐ-CP như: Chống lại nhà nước, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm; tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh; phát tán thông tin giả mạo, sai sự thật… chậm nhất sau 3 giờ kể từ khi tự phát hiện hoặc có yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc cơ quan cấp phép. Việc ban hành các văn bản pháp luật trên đây, trong đó có Nghị định số 27/2018/NĐ-CP là hết sức cần thiết nhằm phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng lợi dụng internet vi phạm quyền và lợi ích của nhà nước và công dân. Điều này không chỉ phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia khác quy định trên lĩnh vực này mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của internet và nền kinh tế số tại Việt Nam; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và của công dân. Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật, các bộ, ngành chức năng đã tăng cường mở rộng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế có trình độ phát triển cao về an ninh mạng để học tập, tiếp thu công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đẩy mạnh đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công nghệ…; yêu cầu các tập đoàn truyền thông như: Google, Facebook… gỡ bỏ các clip, tài khoản có nội dung xấu, độc hại, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc và xâm phạm an ninh quốc gia nước ta, cam kết chấp hành pháp luật trong quá trình hoạt động ở Việt Nam. Các bộ, ban, ngành chức năng cũng đã triển khai công tác phát hiện, đấu tranh, xử lý nghiêm các đối tượng có hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội vi phạm pháp luật nước ta, như sử dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh chính trị. Không hề có chuyện “đàn áp”,“tra tấn” trái pháp luật bất kỳ blogger nào như các tổ chức quốc tế đã rêu rao, xuyên tạc. Cũng như các quyền tự do cơ bản khác, việc thực hiện quyền tự do thông tin, tự do internet cũng phải được thực hiện trên cơ sở pháp luật, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người khác, của xã hội; sẽ là vi phạm pháp luật nếu lợi dụng tự do internet, mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam; xâm hại quyền và lợi ích chính đáng của người dân và của xã hội. Quan điểm nhất quán của Việt Nam không cấm sự phát triển của mạng internet, mà chỉ nghiêm cấm mặt trái do internet gây ra, trái với bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, cản trở sự phát triển xã hội, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Với chính sách nhất quán Việt Nam muốn là bạn của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhằm mục tiêu mở rộng quan hệ hợp tác, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, Nhà nước Việt Nam mong muốn các cá nhân và tổ chức quốc tế vào thăm, tìm hiểu tình hình thực tế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó quyền tự do thông tin, tự do internet để chấm dứt việc đưa thông tin lệch lạc, sai sự thật về vấn đề này, ảnh hưởng đến uy thế, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế./.

Định hướng nhận thức cho Thanh niên Quân đội trước sự chống phá mới của các thế lực thù địch trên không gian mạng hiện nay .

Sự phát triển nhanh chóng của intenet, mạng xã hội đã đem lại những lợi ích thiết yếu trong đời sống xã hội, tạo ra môi trường cung cấp, chia sẻ, trao đổi, khai thác sử dụng thông tin và thâm nhập vào cuộc sống của mọi người trên khắp thế giới. . Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống nhân loại, tác động một cách trực tiếp đến nhận thức, hành vi của mỗi con người, cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Song, intenet, mạng xã hội cũng có những mặt trái tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển của xã hội, nhất là chi phối đến lập trường tư tưởng và khả năng xử lý thông tin của người sử dụng còn có sự bất cập, hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài đã triệt để lợi dụng intenet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài; bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Những thủ đoạn chúng thường dùng trên mạng xã hội, như: tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn,… làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nghe theo lời kích động để tụ tập đông người, gây rối, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản của nhà nước và công dân. Thủ đoạn của chúng là rất nguy hiểm, nổi lên một số hiện tượng sau: 1. Thực hiện Live stream trực tiếp để kêu gọi cộng đồng mạng can thiệp vào nội bộ hoặc tham gia bình luận trái chiều trên mạng xã hội. Đây là thủ đoạn dùng tài khoản Faceook với công cụ Live stream để phát videoclip trực tiếp về một sự việc do chúng dựng lên hoặc “lên sóng” trực tiếp trên mạng xã hội để tạo “diễn đàn” kêu gọi mọi người tham gia bình luận về một vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm. Chúng xây dựng “kịch bản” khá công phu, nội dung được quay video phát trực tiếp thường là các vụ việc liên quan đến các cuộc tụ tập đông người, khiếu kiện tại trụ sở các cơ quan công quyền. Chủ đề chúng chọn bình luận thường là các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi thiết thực, vấn đề bức xúc của người dân, như: môi trường, dân sinh, giải phóng mặt bằng, quan hệ ứng xử của cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, thực thi công vụ của các lực lượng chức năng, v.v. Thời điểm chúng chọn để Live stream thường vào dịp có các sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước (các kỳ họp, ngày lễ, ngày kỷ niệm, nguyên thủ các nước đến thăm Việt Nam,…), hoặc chúng lồng ghép quan điểm cá nhân, bình luận xuyên tạc, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng và kêu gọi sự “phù họa” của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị cùng tham gia, chia sẻ. Mục đích của chúng nhằm: “vẽ ra” trong mắt công chúng một Đảng cầm quyền bất ổn, một nhà nước bị chia rẽ cục bộ, một hình ảnh Quân đội yếu đuối, Công an tham nhũng, v.v. Từ đó, kêu gọi sự can thiệp của dư luận quốc tế và các tổ chức phản động vào chống phá Việt Nam. 2. Sử dụng “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng. Đây là thủ đoạn chúng lợi dụng việc báo chí chính thống trong nước khi đưa tin đều phải qua quá trình tiếp cận thực tế, kiểm định nguồn tin, biên tập, thông qua mới cho đăng tin, bài (thậm chí, để bảo đảm tính chính xác của thông tin và tính toán lợi ích của việc đưa tin, một số vấn đề cụ thể nào đó, có thể bị chậm trễ khi đưa tin). Lợi dụng “khoảng trống thông tin” này, chúng phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật bằng những tiêu đề “giật gân”, “câu khách” về những gì dư luận đang quan tâm, nhất là các vấn đề liên quan đến nội bộ Đảng, Nhà nước, tham nhũng, tiêu cực dưới các dạng, như: thông tin sự việc, đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề bể bạn đọc suy ngẫm1,… với những thông tin trộn lẫn thật giả, kích thích tính hiếu kỳ, tò mò của cộng đồng mạng vào các trang Facebook, Blog và các tờ báo điện tử có nội dung phản động, gây tâm lý hoang mang, bán tín, bán nghi, v.v. 3. Làm mới thông tin cũ, bịa đặt thông tin mới để chống phá Quân đội là thủ đoạn được chúng tiến hành khá “bài bản”. Thông tin cũ được lựa chọn để “làm mới” và “thông tin mới được lựa chọn để bịa đặt” thường là những đoạn videoclip hoặc hình ảnh có liên quan đến mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, cán bộ được cho là “hành hung chiến sĩ”, “chiến sĩ cũ đánh chiến sĩ mới”, các vấn đề liên quan đến dân chủ trong Quân đội, quan hệ quân dân,… do chúng tạo dựng lên. Thủ đoạn của chúng là, các vụ việc đã được xử lý, giải quyết từ lâu nhưng đưa ra “làm mới”; hoặc những thông tin mới, mặc dù đã có kết luận của các cơ quan chức năng nhưng chúng bịa đặt, xuyên tạc, đưa ra những bình luận trái chiều làm sai lệch bản chất của vấn đề. Thời điểm tán phát để “làm mới” hoặc bịa đặt thường là trước mùa tuyển chọn, giao nhận quân, quá trình huấn luyện chiến sĩ mới, trước các sự kiện chính trị của đất nước, Quân đội, v.v. Mục đích của việc tán phát các thông tin, hình ảnh, đoạn videoclip không thuần túy chỉ là sự phản ánh một vụ việc, một con người cụ thể, mà đằng sau đó là âm mưu và sự toan tính hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Họ muốn đánh vào tâm lý lo lắng, sợ hãi trong nhân dân và thanh niên không muốn nhập ngũ vì sợ vào Quân đội sẽ bị “đánh đập tàn bạo”, sẽ trở thành những “quân oan”, hoặc tâm lý chấp nhận “ma cũ bắt nạt ma mới” trong chiến sĩ, v.v. Từ đó, gây dư luận trái chiều trong xã hội về bản chất của Quân đội ta, kích động thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, làm giảm sức mạnh chiến đấu, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong Quân đội. Qua các thông tin, hình ảnh, videoclip tán phát, sẽ gây nghi ngờ, làm mất đi hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, làm giảm niềm tin của nhân dân về môi trường Quân đội, cuối cùng là thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội. Trước thực trạng đó, cần tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi quân nhân - thanh niên trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong thế hệ trẻ nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Bởi, trong Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng thanh niên rất đông đảo, lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đây cũng là lực lượng rất năng động, giàu hoài bão, dễ tiếp thu các luồng thông tin, nhất là thông tin trên intenet và những tư tưởng mới lạ. Tuy nhiên, khả năng phân tích, nhận định, chọn lọc thông tin của đối tượng này còn hạn chế, dễ bị dao động, lôi kéo, kích động dẫn đến những quyết định không chính xác, thậm chí sai lầm. Vì thế, cần định hướng cho thanh niên Quân đội khi tham gia mạng xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay. Theo đó, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng này; trong đó, tập trung vào một số giải pháp sau: Một là, tiếp tục giáo dục mục tiêu, lý tưởng, đạo đức cách mạng, tinh thần tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện kỷ luật của quân nhân. Là lứa tuổi sôi nổi, ham học hỏi, hiểu biết, sáng tạo, khám phá cái mới, mỗi thanh niên Quân đội phải nỗ lực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao tầm hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm gắn bó cán bộ với chiến sĩ, quân với dân, chức trách, nhiệm vụ; không ngừng trau dồi đạo đức, nếp sống văn minh, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa; xung kích, tích cực đấu tranh phê phán, loại bỏ những thói quen, hành vi thiếu văn hóa trong sinh hoạt và công tác. Yêu cầu đó, đòi hỏi thanh niên Quân đội phải đi sâu vào xây dựng nền nếp chính quy, ý thức chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; tự giác học tập, cầu tiến bộ, phấn đấu vươn lên làm chủ khoa học - kỹ thuật quân sự tiên tiến. Đồng thời, nêu cao cảnh giác cách mạng, biết phân biệt đúng - sai, ý thức tự phòng, chống các tác động xấu từ mặt trái kinh tế thị trường và âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng nước ta thông qua không gian mạng. Hai là, đoàn viên thanh niên trong Quân đội cần được trang bị “vũ khí phòng vệ và phản công” khi tham gia mạng xã hội. Các đơn vị cần đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho đoàn viên thanh niên Quân đội về mạng xã hội, cách sử dụng mạng xã hội hợp lý. Tăng cường các hoạt động phổ biến, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị. Động viên đoàn viên, thanh niên tự học, tự trang bị các kiến thức, kinh nghiệm sống để nhận diện thông tin xấu độc, hình thành khả năng phân tích trước các thông tin tràn lan trên mạng xã hội. Phát huy vai trò định hướng của cơ quan chính trị, tổ chức Đoàn các cấp và tính tự giác của đoàn viên thanh niên khi tham gia mạng xã hội; đề ra cơ chế kiểm soát thông tin, loại bỏ các nội dung xuyên tạc, gây bất an trong dư luận trên mạng xã hội. Định kỳ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong Quân đội để cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; đấu tranh trên không gian mạng, v.v. Coi việc đấu tranh, phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tạo ra hệ “miễn dịch” đối với mọi thông tin sai trái, xấu độc của các thế lực thù địch là thước đo kết quả xây dựng bản lĩnh chính trị của đoàn viên thanh niên Quân đội. Ba là, chủ động, tự giác, tích cực tuyên truyền làm cho mọi đoàn viên thanh niên Quân đội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chủ động trong việc giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, nhất là các quy định trong việc dùng và sử dụng mạng xã hội trong đơn vị. Tăng cường công tác quản lý, sử dụng, khai thác mạng xã hội trong việc học tập, nghiên cứu, sử dụng phải đúng mục đích; nghiêm cấm đưa các hình ảnh phản cảm lên mạng xã hội để chia sẻ. Kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là mất cảnh giác khi tham gia mạng xã hội, không để các thông tin tiêu cực trên mạng xã hội tác động xấu tới tư tưởng, nhận thức của đoàn viên thanh niên. Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức tuyên truyền để mang lại hiệu quả cao. Các cơ quan, đơn vị tích cực, chủ động đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh quan điểm sai trái cho mọi đoàn viên thanh niên. Khi định hướng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mạng xã hội cần chú ý: không sử dụng ảnh đại diện của cá nhân mang mặc quân phục, hình ảnh của đơn vị trong huấn luyện, trong sinh hoạt làm ảnh đại diện, cũng như không chia sẻ thông tin, hình ảnh trên, tránh bị các đối tượng lợi dụng làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của quân nhân và Quân đội. Xây dựng ý thức và phong cách ứng xử có văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ để khi tham gia mạng xã hội, không làm lộ, lọt thông tin liên quan đến quân sự trên mạng.

Công nghệ “cắt ghép”… .

Vấn nạn cố tình cắt ghép có chủ đích, cắt ghép ác ý các phát biểu của những nhân vật có uy tín trong xã hội đã tồn tại từ rất lâu rồi. Nạn nhân của nó ở tất cả các giới, từ chính trị gia cho tới doanh nhân, từ văn nghệ sỹ nổi tiếng cho tới các học giả, trí thức... . Mấy ngày vừa qua, trên mạng xã hội lan truyền một câu nói được cho là của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, đại ý rằng "tôi tuy nói giọng Bắc nhưng là người Nam". Kèm theo là những bình luận ác ý, theo hướng kỳ thị vùng miền. Thực chất, trong buổi tiếp xúc đồng bào Thủ Thiêm, quận 2, cùng với các lãnh đạo Thành ủy, Bí thư Nguyễn Thiện Nhân đã nói rất gần gũi, chân thành rằng: "Chúng tôi mỗi người một góc trời, tôi nói tiếng Bắc nhưng sinh ở trong này, đi tập kết ngoài Bắc, đi bộ đội ngoài Bắc nhưng mà dân miền Nam, mấy anh chị này cũng người trong này nên dù ở đâu làm gì, bây giờ về với thành phố, mình chỉ vui khi mà bà con vui, khi bà con khổ, bà con buồn chúng tôi không vui". Tâm sự ấy của Bí thư Nguyễn Thiện Nhân trong bối cảnh cuộc gặp những bà con vốn bức xúc lâu ngày về chuyện đất đai thực tế như một sự chia sẻ với mong muốn gây dựng niềm tin trong đồng bào, cho thấy quyết tâm của Thành ủy TP Hồ Chí Minh trong việc giải quyết dứt điểm khiếu kiện. Trong bối cảnh bà con đang băn khoăn, trăn trở, thậm chí còn nghi ngại, việc tạo một sợi dây đồng cảm, thấu hiểu là vô cùng quý giá và quan trọng. Nhưng khi bị cắt ra khỏi bối cảnh ấy, khỏi văn cảnh của toàn văn bài nói chuyện của Bí thư Nguyễn Thiện Nhân, bị dàn dựng trong những bài viết đậm màu sắc chống phá tiêu cực, nó đã mang một ngữ nghĩa vô cùng khác. Đó là một trong những ví dụ điển hình nhất, mới nhất, nóng hổi nhất về vấn nạn cố tình cắt ghép có chủ đích, cắt ghép ác ý các phát biểu của những nhân vật có uy tín trong xã hội. Vấn nạn này đã tồn tại từ rất lâu rồi. Nạn nhân của nó ở tất cả các giới, từ chính trị gia cho tới doanh nhân, từ văn nghệ sỹ nổi tiếng cho tới các học giả, trí thức. Và tất nhiên, một nạn nhân khác không thể không kể đến chính là cộng đồng, những người đọc vốn dĩ cả tin. Khốn khổ thay, chính những độc giả cả tin đến hồn nhiên kia lại thiếu suy nghĩ khi tiếp tục lan truyền những thông tin độc hại kể trên để thứ dối trá được lặp lại nhiều lần, bỗng dưng được khoác áo "sự thật". Cắt ghép ác ý, có chủ đích thực sự phải bị liệt vào loại tung tin giả, tin vịt, tin thất thiệt gây hỗn loạn xã hội. Cần phải xác định rất rõ rằng, khi một ai đó tung tin thất thiệt được cắt ghép dàn dựng lại có chủ đích, người ấy luôn xác định rất cụ thể đối tượng bị hại mà họ nhắm tới là ai. Cần nhận thức rằng việc cắt ghép ác ý này thậm chí còn nguy hiểm hơn việc tung 1 tin vịt đơn thuần. Dễ hiểu, khi đã có bàn tay dàn dựng với dã tâm, tức là khi đó đã tồn tại một âm mưu thôi thúc. Một ví dụ khác, câu chuyện liên quan đến World Cup. Gõ từ khóa "MC mặc bikini trên sóng truyền hình", chúng ta sẽ thấy một loạt kết quả công kích một kênh truyền hình về việc đưa MC mặc bikini lên sóng. Nhưng thực chất, đó là một show dự đoán kết quả bóng đá mang tính giải trí mà "nhà tiên tri" là những chú cá heo hoặc hải cẩu. Nữ MC, khi tương tác với "nhân vật chính", buộc phải xuống hồ bơi. Không lẽ MC mặc áo dài truyền thống và xuống bơi với hải cẩu, cá heo sao? Không thể trách cứ hình ảnh ấy nếu xem trọn vẹn cả show. Nhưng ta sẽ thấy nó phản cảm nếu chỉ nhìn ảnh cắt lại được đưa lên mạng. Tách rời câu nói, hình ảnh khỏi văn cảnh toàn diện của nó, người làm việc ấy đủ có một phương tiện để chuyển tải thông điệp khác. Thực tế, chương trình này nếu đáng trách thì chỉ nên trách người sáng tạo nội dung. Tại sao lại phải là cá heo và hải cẩu trong khi có thể chọn phương án là voi, chó hay mèo? Tất nhiên, lựa chọn một "diễn viên" nào đó, người làm chương trình đã có sẵn dụng ý. Nhưng việc cắt lại hình ảnh để công kích thì lại là việc làm không thể chấp nhận được. Lựa chọn sai có thể bị chỉ trích, nhưng là theo cách khác chứ không thể bị dàn dựng để làm to chuyện lên thành kênh truyền hình vi phạm thuần phong mỹ tục hay xúc phạm khán giả. Thời đại thông tin mạng xã hội bùng nổ như hiện nay, thận trọng tiếp nhận, kiểm chứng thông tin là việc rất cần mỗi cá nhân phải tự có ý thức. Mỗi người đều cần xây dựng cơ chế kiểm duyệt tự thân cho riêng mình. Bởi đơn giản, trong cơn hỗn loạn thông tin chưa thể kiểm soát nổi kia, mỗi một mắt xích thiếu tỉnh táo hoàn toàn có thể trở thành một công cụ truyền tin độc hại một cách đắc lực.

Ở VIỆT NAM KHÔNG CẦN VÀ KHÔNG CHẤP NHẬN CHẾ ĐỘ ĐA ĐẢNG!

Dựa trên cơ sở khoa học cả về lý luận và thực tiễn, cho phép chúng ta khẳng định dứt khoát rằng: Ở Việt Nam hiện nay không cần và không chấp nhận chế độ đa đảng! Trước hết, dưới góc độ lý luận: Trong lịch sử, chế độ đa nguyên, đa đảng đã sớm xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII. Đây là thời điểm giai cấp tư sản đóng vai trò là lực lượng tiến bộ, tích cực đi tiên phong trong đấu tranh chống phong kiến, bảo vệ quyền bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do, dân chủ tư sản. Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng chính là chủ nghĩa đa nguyên - một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Chiristian Woiff (1679-1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Chủ nghĩa đa nguyên phủ định tính thống nhất của thế giới, cường điệu cái riêng; phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp; chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Vì vậy, đây là một học thuyết phi mácxít. Nếu áp dụng quan điểm này vào chủ nghĩa xã hội sẽ dẫn tới hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân thành một tổ chức tầm thường và nguy cơ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Như thế, chủ nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phi khoa học, trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong khi đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ vẫn mãi xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng. Chính điều đó đã, đang và sẽ mãi bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng chính trị duy nhất tồn tại, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Do vậy, ở Việt Nam không cần sự tồn tại của chủ nghĩa đa nguyên - một thứ cơ sở lý luận cho việc thực hiện chế độ đa đảng. Thứ hai, trên phương diện thực tiễn: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử; là ý nguyện của nhân dân Việt Nam. Điều này được lịch sử minh chứng rõ ràng. Vượt lên trên tất cả những hạn chế về đường hướng, phương pháp của những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam đã hướng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, do Nguyễn Ái Quốc truyền bá và phát triển mạnh mẽ. Đáp ứng đòi hỏi đó, trải qua quá trình được chuẩn bị chín muồi về chính trị, tư tưởng và tổ chức, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đã khẳng định lấy “chủ nghĩa Lênin làm cốt”. Đây là một tất yếu lịch sử và cũng từ đây, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời đại mới cho lịch sử dân tộc. Trong thời kỳ 1930 - 1945, lịch sử Việt Nam đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không cần thêm bất cứ một tổ chức, đảng phái chính trị nào khác lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của công cuộc đấu tranh giành chính quyền mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc và đi lên chủ nghĩa xã hội - đó chính là công lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những năm 1945-1946, do bối cảnh tình hình chính trị diễn biến phức tạp, ở Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại một số đảng phái đối lập như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội..., nhưng trên thực tế, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng. Các đảng phái, tổ chức đối lập thời kỳ này đã không vì lợi ích quốc gia, dân tộc mà âm mưu phá hoại cách mạng, xoá bỏ chính quyền cách mạng non trẻ, nên bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Trong cuộc trường chinh 30 năm (1945-1975) kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, một lần nữa lịch sử và nhân dân lại lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ này, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này hoàn toàn tự nguyện giải tán. Cũng trong thời gian này, còn có những đảng phái thân Pháp, thân Mỹ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và lợi ích của nhân dân lao động, nên cũng đã bị chính nhân dân ta đấu tranh loại bỏ. Từ sau năm 1975 đến nay, nền chính trị nhất nguyên, với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển toàn diện, đã một lần nữa khẳng định tính tất yếu khách quan: Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng. Với bản lĩnh, trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, vượt qua khủng hoảng gay gắt về kinh tế - xã hội, trở thành một quốc gia đang phát triển hết sức năng động. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hoá, xã hội có nhiều bước phát triển; vị thế, uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trong khu vực và trên trường quốc tế. Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đạt được những tiêu chí cao nhất trong hoạt động chính trị của một đảng cầm quyền (dù là chế độ đa đảng hay một đảng đều phải hướng tới vấn đề cốt tử nhất), đó là: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng, văn hoá, xã hội phát triển bền vững, an sinh xã hội được bảo đảm. Chính thực tiễn này đã khẳng định, ở Việt Nam hiện nay không cần đa đảng và cũng đúng với nhận định của đồng chí Nguyễn Phú Trọng: “Ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ”(1). Một trong những luận điệu tuyên truyền được các thế lực thù địch tập trung tung hô, cổ suý nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”(!). Họ cho rằng: “Đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”(!); Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ “thực sự”(!); “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng””(!)... Chúng ta đều biết rằng, dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Dân chủ tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Về điều này, C.Mác đã chỉ rõ: “Quyền không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế xã hội đó quyết định”(2). Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít những nước đa đảng, nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển nhất; ngược lại, cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ vẫn được bảo đảm, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Điều đó minh chứng là: đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho dân chủ và sự phát triển, đúng như đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn”(3). Cũng từ thực tiễn lịch sử đã cho thấy, một điều hết sức đau xót đối với cách mạng thế giới, đó là sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xôviết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Đặc biệt, ở Liên Xô, dưới tác động bởi những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, cùng với sự “phản bội” của một số người trong Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đứng đầu là M.Gorbachev đã đưa tới tại Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân ngày 15-3-1990, quyết định xoá bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên Xô, hiến định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Bắt đầu từ điểm mốc này, đã hình thành chế độ đa đảng ở Liên Xô, với sự ra đời của vô số các tổ chức, đảng phái chính trị, đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, để rồi đưa tới một kết cục bi thảm: Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng trong hơn 70 năm hoàn toàn sụp đổ vào tháng 8-1991. Chính bài học thực tiễn đau xót này chỉ ra rằng, nếu hiện nay Việt Nam chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì kết cục chắc chắn sẽ không khác gì như Liên Xô trước đây. Cũng cần phải làm rõ hơn, các lập luận của những người muốn thực hiện đa đảng ở Việt Nam thường lấy “thực tiễn” ở các nước tư bản để minh chứng, dẫn tới một số người do thiếu hiểu biết nên đã ít nhiều tin vào những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, mà lầm tưởng rằng cứ nhiều đảng cạnh tranh thì sẽ dân chủ hơn, xã hội phát triển hơn. Hãy nhìn sang một số nước tư bản hiện nay, nhất là nước Mỹ với sự tồn tại của 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà) thay nhau cầm quyền. Tuy bề ngoài là chế độ đa đảng đối lập, nhưng xét về bản chất chỉ là một đảng - đảng của giai cấp tư sản. Vì thế, dù Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hoà nắm quyền, cũng đều là đảng của giai cấp tư sản, đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản; dân chủ ở Mỹ không gì khác là nền dân chủ tư sản, nền dân chủ chỉ dành cho một bộ phận thiểu số, một số ít người trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu tại sao ở Mỹ, bên cạnh “một xã hội” với những người có cuộc sống xa hoa, hào nhoáng thì vẫn còn tồn tại “một xã hội” hoàn toàn khác hẳn, gồm hàng chục triệu người phải sống trong sự bất công, thất nghiệp, đói nghèo, bệnh tật, không có quyền dân chủ... Chính người Mỹ, Paul Mishler - Giáo sư trường Đại học bang Indiana đã chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng này: Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học,v.v.. đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra; nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là Đảng Cộng hoà hay Dân chủ(4). Như vậy, thực chất luận điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mang nặng tính chất mị dân, hết sức nguy hiểm, bởi rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người có nhận thức hạn chế. Từ đó, có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và mất dần niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng từ những luận điểm này, đã hướng đến việc xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thiết lập nền dân chủ tư sản; nguy cơ gây nên những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị - xã hội mất ổn định, kinh tế suy giảm, văn hoá đạo đức xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội sẽ gia tăng, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc... Từ đó, chắc chắn hậu quả đối với đất nước sẽ vô cùng lớn, chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ, thành quả cách mạng bao nhiêu năm có được sẽ tan vỡ; người dân không những không được dân chủ, mà xã hội cũng rơi vào rối loạn, khủng hoảng, trì trệ, không phát triển được. Để không để xảy ra những hậu quả tai hại đó, ở Việt Nam hiện nay, nhất thiết không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn!

ĐẰNG SAU NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐÒI ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

Đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phá hoại cách mạng Việt Nam, trong những năm qua, các thế lực thù địch tập trung tung ra nhiều luận điệu đòi thực hiện đa đảng đối lập. Chúng phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam không chịu đổi mới về chính trị, “không chịu thực hiện đa nguyên chính trị, giữ độc quyền lãnh đạo”(!); rằng ở Việt Nam “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”(!). Chúng quy kết: “Độc tài, Đảng trị là cái gốc sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam hiện tại”(!) và khuyên rằng “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”(!). Các thế lực thù địch đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp, xoá bỏ Điều 4, hiến định về Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội. Không chỉ dừng lại với những luận điệu trên, chúng còn thống kê, tổng hợp lại toàn bộ những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trong quá khứ, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, quản lý xã hội để minh chứng cho sự cần thiết “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”(!). Chúng ra sức khai thác, lợi dụng những thiếu sót, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái biến chất, tham ô, tham nhũng, kích động nhằm tạo sự phân hóa sâu sắc trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và giữa Đảng với nhân dân. Chúng hô hào, khuyến khích cải tổ, cải cách, đổi mới triệt để, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trắng trợn hơn, chúng đã ra sức xây dựng, nhen nhóm các tổ chức đảng đối lập phản động, như cái gọi là “Đảng Dân chủ”, “Đảng Dân chủ xã hội”, “Đảng Dân chủ tự do Thiên chúa giáo”, “Đảng Dân chủ tự do Phật giáo”... Đằng sau tất cả những luận điệu tuyên truyền, hoạt động chống phá ấy, đều không ngoài mục đích hàng đầu và quan trọng nhất là làm suy yếu, đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc. Đó là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn của các thế lực thù địch

Nhận thức đúng về dân chủ ở Việt Nam để không mắc mưu kẻ xấu

Nhân việc Quốc hội nước ta cho ý kiến về dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, trước sự kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch, phản động, một số người dân tham gia gây rối trật tự công cộng, phá hoại tài sản Nhà nước tại tỉnh Bình Thuận và một số địa phương. Trên một số trang mạng xã hội, kẻ xấu rêu rao rằng Việt Nam không có dân chủ, chế độ xã hội mà Việt Nam đang xây dựng là chế độ độc đảng toàn trị...; rằng đã đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới học thuyết, đường lối, tìm ra mô hình mới mang “bản chất dân chủ”, hòa nhập với “thế giới dân chủ”... Đây là những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Hơn lúc nào hết, cán bộ, đảng viên, nhân dân ta cần nhận thức rõ ràng và đầy đủ về dân chủ ở Việt Nam để có thái độ, hành động đúng. Tư duy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ là rất rõ ràng và không ai có thể bóp méo, xuyên tạc. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang xây dựng. Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; đặc biệt coi trọng phát huy dân chủ trong mọi tổ chức, hoạt động của mình; bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của dân chủ. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin về dân chủ, Người khẳng định, dân chủ nghĩa là: “Dân là chủ”, “dân làm chủ”, “dân là gốc”, “nước ta là nước dân chủ”, “dân chủ là cái chìa khóa vạn năng”. Khẳng định vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, Người nhấn mạnh: “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, nền dân chủ XHCN mà Đảng, Nhà nước xây dựng là nền dân chủ đối với quảng đại quần chúng nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi vi phạm giá trị dân chủ chân chính của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là phải làm sao cho người dân có quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết sử dụng quyền làm chủ của mình. trong nền dân chủ XHCN, dân chủ gắn liền với pháp luật, kỷ cương, kỷ luật. Dân chủ và kỷ cương, pháp luật không bài trừ, phủ định nhau, trái lại, chúng nằm trong sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề phát triển của nhau. Người nhấn mạnh, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước phải mang ý nghĩa pháp lý, đạo lý và đạo nghĩa lớn nhất. Nó phải tỏ rõ sự quang minh chính đại, chính tâm và thân dân để tiến tới dân chủ. Đó chính là tinh thần trọng dân và trọng pháp. Xây dựng nền dân chủ XHCN là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu của đất nước. Muốn vậy, vấn đề trung tâm là phải xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thông qua thực thi pháp luật bảo đảm cho nhân dân là chủ thể thực sự của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Đảng ta khẳng định, dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta đang xây dựng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Dân chủ XHCN là nền dân chủ trong đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Điều đó không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp, pháp luật nước ta, mà còn được thể hiện sinh động trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng, Nhà nước ta luôn nỗ lực phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ của người dân trong hoàn thiện và thực thi pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển KT-XH. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, công bằng xã hội và phải được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực xã hội. Bảo đảm cho nhân dân tham gia tất cả các khâu của quá trình hoạch định, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật trên thực tế. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và do nhân dân làm chủ là đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng; xây dựng nền dân chủ XHCN là một trong những phương hướng cơ bản cho việc thực hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên CNXH. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân", tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội. Thực hiện quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng, Nhà nước, những năm qua, việc xây dựng, phát huy dân chủ ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa to lớn, được cộng đồng thế giới công nhận. Dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị và toàn xã hội không ngừng được mở rộng; quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được bảo đảm phát huy trên thực tế. Tổ chức, phương thức hoạt động của Đảng và của hệ thống chính trị không ngừng được đổi mới, chỉnh đốn, nhờ đó dân chủ trong Đảng ngày càng được nâng cao. Sự tham gia của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả. Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân không ngừng được xây dựng và hoàn thiện nhằm bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, công khai; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp của Quốc hội, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn được chú trọng đẩy mạnh. Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế. Nền hành chính quốc gia được cải cách. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội từng bước được đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được tham gia vào tiến trình xây dựng, hoạch định và giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, được bày tỏ quan điểm, chính kiến công khai và được pháp luật bảo hộ. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được đặc biệt coi trọng. Quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân được bảo đảm thực hiện trên thực tế; việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo của người dân ngày càng hiệu quả và kịp thời hơn. Đặc biệt, thời gian qua, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng, hối lộ, kể cả các quan chức cao cấp trong Đảng, Nhà nước; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy Nhà nước những cán bộ yếu kém, tiêu cực, sách nhiễu nhân dân. Đảng ta đã khẳng định “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, người nào vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, không loại trừ bất kỳ ai. Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến phát triển KT-XH, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân vùng sâu, vùng xa; đã hoàn thành chỉ tiêu xóa đói, giảm nghèo trước thời hạn so với Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (LHQ), đồng thời thực hiện tốt các khuyến nghị về nhân quyền của LHQ theo Cơ chế UPR chu kỳ 2 nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực. Việc thực hành dân chủ đã và đang tạo động lực thúc đẩy, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khắc phục tệ nạn quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức; đóng góp tích cực vào việc cải cách hành chính, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Điều đó không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật trên thực tế. Vì vậy, nước ta mới có được nền dân chủ thực sự, nhân dân được thực sự làm chủ như ngày hôm nay. Đó là thực tế không ai có thể phủ nhận được. Bên cạnh những kết quả đạt được, cần thẳng thắn chỉ ra trong xây dựng và phát huy dân chủ chúng ta vẫn còn những tồn tại. Đáng chú ý là tình trạng một bộ phận đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền chưa gương mẫu trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thiếu tôn trọng dân chủ, còn biểu hiện quan cách, gia trưởng, độc đoán, thậm chí có những cá nhân và tập thể trù dập, ức hiếp quần chúng. Do nhận thức chưa đầy đủ, không rõ ràng nên một bộ phận người dân lợi dụng dân chủ để yêu cầu, đòi hỏi không chính đáng, không đúng pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, lôi kéo tham gia biểu tình, gây rối, tụ tập đông người, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật.... Nhằm bảo đảm ổn định an ninh chính trị, xã hội, những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã xử lý các cá nhân lợi dụng dân chủ, nhân quyền dưới vỏ bọc các “nhà đấu tranh cho dân chủ” để vi phạm pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Việc lợi dụng dân chủ gây mất ổn định chính trị, xã hội, đi ngược lại đường lối, chủ trương của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước thời gian qua thực chất là hoạt động "phản dân chủ", "phá hoại dân chủ". Việc xử lý đó hoàn toàn bình thường và cũng như ở các nước khác trên thế giới, dân chủ phải trên cơ sở pháp luật, không có dân chủ đứng ngoài pháp luật. Tôn trọng và bảo đảm quyền làm chủ của người dân, nhưng Nhà nước Việt Nam cũng khẳng định nghiêm trị theo pháp luật mọi hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật... Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định quyết tâm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong xây dựng và thực hiện dân chủ bằng nhiều giải pháp đồng bộ. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện. Tập trung xây dựng những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân”(1). Nhưng Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ: “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân”(2)... Một trong những yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả của việc xây dựng và thực hiện dân chủ chính là vai trò của đội ngũ đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị. Tại Hội nghị toàn quốc về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Từng đồng chí bí thư cấp ủy, từ Trung ương đến cơ sở, lãnh đạo chủ chốt các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan, đơn vị phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, công khai, minh bạch trong điều hành của chính quyền, đề cao vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân”. Tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên thể hiện trước hết ở việc bản thân mỗi người phải tích cực, chủ động quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ, rõ ràng và toàn diện các quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và phát huy dân chủ. Đồng thời, đảng viên phải là đầu tàu trong thực hiện xây dựng và phát huy dân chủ. Trên cơ sở đó, đảng viên phải tích cực tham gia vào việc tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ quần chúng thực hiện và phát huy dân chủ, đặc biệt là ở cơ sở. Cùng với phát huy, mở rộng dân chủ, đảng viên phải chú trọng giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật; đề cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân; kiên quyết đấu tranh phê phán, lên án, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng dân chủ, coi thường kỷ cương phép nước, làm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân.

Không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm

Những ngày gần đây, trước tình hình rối loạn ở Myanmar, một số phần tử tự xưng là “nhà dân chủ” trên mạng xã hội đã tung ra nhiều thông tin lôi kéo, kích động, nhắm vào giới trẻ Việt Nam. Họ ca tụng những người trẻ tuổi xuống đường biểu tình ở Myanmar với danh xưng mỹ miều như những “anh hùng trẻ tuổi”... Tuy nhiên luận điệu tung hứng đó không lôi kéo được những người Việt Nam có nhận thức đúng đắn. . Cảm thấy việc lôi kéo đó không mấy hiệu quả, họ thay đổi “chiến thuật”, quay sang cà khịa bằng những lời lẽ châm chọc, kích động, chen ngang vào các dòng trạng thái tích cực của người dùng mạng xã hội Việt Nam với nhiều bình luận, như: Người trẻ Việt Nam thiếu trách nhiệm, thờ ơ với thế sự, đang tự bằng lòng với chính mình mà bỏ mặc những biến động của tình hình thế giới... Trước sự "cà khịa" đó, một số người đã "sập bẫy khiêu khích" của các thế lực thù địch, sa vào tranh luận gay gắt, thậm chí sử dụng những lời lẽ có phần khiếm nhã. Chỉ chờ có thế, họ lu loa rằng, chúng ta không đủ lý lẽ biện luận, phản ứng tiêu cực, tranh luận thiếu văn hóa. Thậm chí họ còn giở trò "rạch mặt ăn vạ" quy kết người dùng mạng xã hội ở Việt Nam công kích, tấn công, trù dập tập thể... Do đó, mỗi người Việt Nam yêu nước, yêu chuộng hòa bình bên cạnh một "trái tim nóng" cần phải giữ "cái đầu lạnh", tỉnh táo trước thủ đoạn của các phần tử cơ hội, chuyên đi tìm cớ nhằm xuyên tạc, kích động người khác. Khi đấu tranh với những kẻ đội lốt dân chủ phải luôn tỉnh táo, kiên quyết, sắc bén, đúng mực. Tuyệt đối không để mắc mưu những kẻ dân chủ rởm.

Hoành tráng đêm 'Linh thiêng nguồn cội-Đất Tổ Hùng Vương' .

Chương trình “Linh thiêng Đất Tổ-Hùng Vương năm 2021” để lại cảm xúc sâu lắng và ấn tượng đặc biệt trong lòng du khách khi về với nguồn cội, về nơi trung tâm của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Tối 20/4 (tức ngày 9/3 âm lịch), tại Hồ Công viên Văn Lang, thành phố Việt Trì (Phú Thọ), Ban tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng 2021 tổ chức Chương trình nghệ thuật “Linh thiêng cội nguồn-Đất Tổ Hùng Vương.” Chương trình có sự tham gia của gần 200 nghệ sỹ trình diễn những tiết mục đặc sắc, ca ngợi công đức của Vua Hùng - người có công lập ra Nhà nước Văn Lang đầu tiên - Tổ chung của dân tộc Việt Nam; đồng thời ca ngợi tinh thần đoàn kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Mở đầu chương trình nghệ thuật là các ca khúc “Công đức Vua Hùng,” “Linh thiêng một cõi tiên rồng,” “Lời ru Âu Lạc”... đã tái hiện lại hình ảnh về cha rồng, mẹ tiên; cảnh cuộc sống sinh hoạt từ thuở hồng hoang, cảnh lễ hội mùa xuân với các màn đánh trống đồng, dâng lễ vật, rước kiệu, hội vật, hát Xoan, con Lạc cháu Hồng cùng hành hương về dự giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng... Tiếp đó, các tiết mục hát Xoan “Bỏ bộ,” “Phú Thọ một khúc ca xanh,” “Tháng ba vui Hội Đền Hùng,” “Câu ca em hát Phú Thọ quê mình,” “Phú Thọ quê hương tôi”... đã đưa người xem đến với những làn điệu Xoan mượt mà đằm thắm mang đậm giá trị văn hóa, đã trở thành di sản trong kho tàng văn hóa nhân loại; hội tụ những giá trị văn hóa đã được UNESCO công nhận là di sản của thế giới. Không khí sôi động, hào hùng được thể hiện qua các tiết mục “Phú Thọ ngày mới,” “Rạng rỡ Việt Nam”... đã mang đến hình ảnh về quê hương, đất nước, con người Việt Nam, hình ảnh về quê hương Phú Thọ trong thời kỳ hội nhập, đổi mới, vừa thể hiện sức mạnh, khí phách anh hùng, tinh thần yêu nước và lòng tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, vừa làm nổi bật hình tượng nối vòng tay lớn chào đón bạn bè khắp muôn phương, hành hương về Đất Tổ để tri ân công đức tổ tiên và dự lễ hội trên quê hương Phú Thọ... Đặc biệt, chương trình nghệ thuật đã mang đến sự hào hứng, cuốn hút cho người xem qua màn trình diễn bộ sưu tập áo dài “Hướng về nguồn cội” của Nhà thiết kế Trần Thị Thoa. Bộ sưu tập với hơn 10 mẫu áo dài được thiết kế theo phong cách truyền thống, toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, trên thân áo in các hình ảnh về Đền Hùng, hình tượng rồng, phượng tượng trưng cho cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ và truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” của dân tộc Việt Nam. Việc đưa các họa tiết trên lên trang phục áo dài góp phần quảng bá di sản và du lịch Phú Thọ. Bộ sưu tập này góp phần khẳng định và tôn vinh giá trị của áo dài trong đời sống xã hội, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hóa vùng quê Đất Tổ nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung. Ngay sau chương trình nghệ thuật là màn trình diễn pháo hoa tầm cao rực rỡ và lung linh trên bầu trời Đất Tổ chào mừng sự kiện Giỗ Tổ Hùng Vương-Lễ hội Đền Hùng năm 2021. Chương trình nghệ thuật “Linh thiêng Đất Tổ-Hùng Vương năm 2021” để lại cảm xúc sâu lắng và ấn tượng đặc biệt trong lòng du khách khi về với nguồn cội, về nơi trung tâm của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương; được hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của hai chữ “đồng bào”, được cùng sinh ra trong một bọc của mẹ Âu Cơ.../.

CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TỪNG BƯỚC HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG CHÍNH ĐÁNG, NHÂN VĂN

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại. Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN. Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước. Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9/4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới. Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”./.

MỘT LỐI SUY DIỄN QUY CHỤP, VÔ LƯƠNG

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội thể hiện quyết tâm thực hiện khát vọng đúng đắn của nhân dân Việt Nam

 

Lịch sử phát triển loài người là sự vận động phát triển từ mông muội đến văn minh. Các nhà khoa học đã chứng minh lý luận về sự vận động phát triển của xã hội bắt đầu từ xã hội mông muội nguyên thủy đến xã hội văn minh cộng sản chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra mà là hiện thực xã hội đi lên từ sự phát triển xã hội từ mông muội tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đây là quy luật tiến hóa của loài người. Khát vọng của nhân loại về một xã hội tương lai tốt đẹp, ở đó con người được sống tự do, ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, công bằng và văn minh được bắt nguồn từ thực tiễn. Khát vọng chính đáng đó được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học, cách mạng – Chủ nghĩa MácLênin và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng trên thế giới.

Ở Việt Nam, xuất phát từ khát vọng độc lập, chủ quyền của Lý Thường Kiệt, hào khí Đông A của nhà Trần đến khát vọng “Độc lập tự do”, “đi lên chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tới năm 1945 khát vọng ấy mới bắt đầu trở thành sự thật. Sự thật này đã bác bỏ những lời nhăng cuội cho rằng đây là sự “cố chấp theo đuổi điều xằng bậy”; là sự “lừa gạt có tính hệ thống” có thể “dắt mũi được toàn xã hội” của Đỗ Ngà.

Khát vọng và kiên định – sự thống nhất trong mỗi con người. Khi có khát vọng, con người, từng cá nhân mới biết được mình muốn gì, làm gì. Từ đó xây dựng lý tưởng, hoạch địch mục tiêu, con đường, biện pháp thực hiện. Song để khát vọng thành hiện thực phải kiên định. Kiên định là một thuộc tính phản ánh sự vững tâm, quyết liệt theo đuổi đến cùng khát vọng đã đặt ra. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX đến nay đã minh chứng rõ điều đó. Chính sự khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã thúc đẩy nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng lên đấu tranh chống áp bức, xâm lược, làm thay đổi thân phận từ con người bị nô dịch, nô lệ trở thành con người làm chủ xã hội và bản thân. Do đó, kiên định thực hiện khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là điều hiển nhiên! Thiếu khát vọng vươn lên con người sẽ trở lên ngu muội, đần độn; còn luôn dao động sẽ khiến con người hay nghi ngờ với chính khát vọng, lý tưởng, mục tiêu, con đường bản thân đã chọn và sẽ rơi vào trạng thái “đẽo cày giữa đường” làm hỏng mọi việc. Điều đáng sợ hơn là sự dao động dẫn đến thiếu niềm tin, sự tuyệt vọng của con người đối với con đường của dân tộc đã chọn, với cá nhân thì sẽ rơi vào sự mù mờ chuyển thành phán xét, phản lại khát vọng và sự kiên định của dân tộc đã sinh ra mình. Đỗ Ngà là một kẻ như thế!

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội thể hiện quyết tâm thực hiện khát vọng đúng đắn của nhân dân Việt Nam. Đi lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là khát vọng mà còn là con đường duy nhất đúng đã được Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam lựa chọn trong quá trình tiến hành cách mạng. Thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không chỉ là một xã hội tương lai mà còn là một xã hội hiện thực tươi đẹp ở Việt Nam hiện nay./.


BẢN SẮC VIỆT NAM Ở LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

 

Hôm nay (21-4, tức mồng 10 tháng 3 âm lịch năm Tân Sửu), Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm 2021 sẽ chính thức diễn ra tại Phú Thọ. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, lan tỏa mạnh mẽ đến mọi miền Tổ quốc, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Lễ Quốc giỗ này giờ đây đã thực sự trở thành ngày hội của đồng bào cả nước với nhiều chương trình, hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống, hoạt động văn hóa dân gian của các vùng miền dân tộc; thể hiện lòng thành kính, tri ân của con dân đất Việt với công đức các Vua Hùng- những người có công dựng nước./.

Nâng cao khả năng “tự đề kháng”, tự bảo vệ chính mình trước các thông tin, xấu độc, xuyên tạc tính dân chủ trong bầu cử

 

Ngày 23-5-2021, cử tri cả nước sẽ bước vào Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Là ngày để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của chính mình trong cơ quan quyền lực Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

Tuy nhiên, trái ngược với khí thế, kỳ vọng, niềm tin, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước ngày hội lớn của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại ra sức tìm mọi cách để xuyên tạc, chống phá. Một trong những nội dung chúng tập trung công kích là tính dân chủ trong bầu cử. Chúng cho rằng, cuộc bầu cử của chúng ta chỉ là hình thức; kết quả bầu cử đã được sắp đặt trước, nên nhân dân không nên đi bầu cử cho phí thời gian. Đây là hành động không mới, nhưng chúng ta cũng cần nêu cao cảnh giác, đấu tranh.

Ngay từ khi động viên toàn thể nhân dân tích cực tham gia bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa của việc bầu cử: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó.  Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”.

Thấm nhuần tư tưởng có tính nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra ngày 06-1-1946 đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân trong bầu cử.

Trong đó, quyền bầu cử, ứng cử được coi là quyền quan trọng của công dân được Hiến pháp quy định. Gần đây nhất, Điều 27 của Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Ngoài các quy định về độ tuổi là cần thiết bảo đảm độ chín chắn trong sự lựa chọn của cử tri, pháp luật nước ta không quy định điều kiện nào khác.

Cụ thể hơn, tại Khoản 1 Điều 7 Hiến pháp 2013 quy định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Nguyên tắc phổ thông thể hiện tính toàn dân, toàn diện, công khai và dân chủ rộng rãi của bầu cử. Bầu cử là công việc của mọi công dân, là sự kiện chính trị trọng đại của xã hội, đòi hỏi sự bảo đảm để công dân thực hiện quyền bầu cử, ứng cử. Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm để mọi công dân có khả năng như nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt, nhằm bảo đảm sự khách quan trong bầu cử, không thiên vị.

Để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, Nhà nước có các biện pháp bảo đảm để đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ chiếm tỷ lệ thích đáng trong bộ máy của mình. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình, không qua khâu trung gian. Đây là nguyên tắc cần thiết, bảo đảm tính khách quan của bầu cử. Nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn, để sự lựa chọn đó không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài.

Các nguyên tắc bầu cử nêu trên thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài, đủ uy tín và trách nhiệm đại diện cho quyền, nguyện vọng chính đáng của mình trong các cơ quan Nhà nước.

Để chuẩn bị cho ngày hội lớn diễn ra vào tháng 5 tới, ngay từ giữa năm trước (ngày 20-6-2020), Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; yêu cầu cả hệ thống chính trị tập trung dốc sức chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử, bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành một cách thật sự dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm.

Trong Chỉ thị cũng nhấn mạnh,  Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội và mang lại ấm no, hạnh phúc cho chính người dân.

Để đấu tranh trước những luận điệu, xuyên tạc về tính dân chủ trong bầu cử, trước tiên, cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ về ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử.

Trong đó, tập trung tuyên truyền về các quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và HĐND; Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong bầu cử. Từ đó, động viên cử tri tự giác, tích cực và chủ động tham gia bầu cử, gắn với việc nắm bắt tư tưởng chính trị, tâm tư nguyện vọng của mọi cử tri; đề ra các giải pháp kịp thời đối với những vấn đề nhạy cảm, những vấn đề có thể phát sinh; tuyên truyền bảo đảm tỷ lệ cử tri đi bầu cao nhất.

Trước, trong và sau khi cuộc bầu cử diễn ra, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang cần phải nâng cao cảnh giác SSCĐ; phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng quân, kịp thời đấu tranh với những cá nhân, tổ chức  lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải làm hạt nhân trong cung cấp, định hướng thông tin giúp nhau nhận diện rõ bản chất sai trái, bịa đặt về tính dân chủ trong bầu cử, từ đó,  cảnh giác với các luồng thông tin xấu, độc liên quan đến cuộc bầu cử do các thế lực thù địch, phản động tung ra.

Để làm được điều đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần có cơ chế thông tin phù hợp, hiệu quả để kịp thời cung cấp các thông tin thường xuyên, liên tục về công tác chuẩn bị và quá trình bầu cử, qua đó giúp nhân dân có điều kiện tiếp cận các thông tin chính thống; hạn chế ảnh hưởng của những thông tin sai trái, xấu độc, đồng thời  chủ động đấu tranh kiên quyết với các luận điệu chống phá, phá hoại bầu cử trên không gian mạng; nhất là việc lợi dụng dân chủ để dẫn dắt dư luận xã hội, phá hoại cuộc bầu cử.

Điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cần nâng cao khả năng “tự đề kháng”, tự bảo vệ chính mình trước các thông tin, xấu độc, xuyên tạc tính dân chủ trong bầu cử. Từ đó, có thái độ, trách nhiệm đấu tranh không khoan nhượng với kẻ xấu cả trước, trong và sau thời điểm diễn ra cuộc bầu cử./.


HỎI - ĐÁP VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP, NHIỆM KỲ 2021-2026

Câu hỏi. Nhiệm kỳ của Quốc hội được quy định như thế nào?

Trả lời: Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 05 năm kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa sau. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khóa mới phải được bầu xong. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá 12 tháng, trừ trường hợp có chiến tranh./.

Câu hỏi. Nguyên tắc và hiệu quả hoạt động của Quốc hội nước ta như thế nào?

Trả lời: Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.

Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác./.


ĐỒNG BÀO KINH HAY THỔ, MƯỜNG HAY MÁN, GIA RAI HAY Ê ĐÊ, XÊ ĐĂNG HAY BA NA VÀ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ KHÁC, ĐỀU LÀ CON CHÁU VIỆT NAM, ĐỀU LÀ ANH EM RUỘT THỊT. CHÚNG TA SỐNG CHẾT CÓ NHAU, SƯỚNG KHỔ CÙNG NHAU, NO ĐÓI GIÚP NHAU

 

Đó là đoạn trích trong Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dan tộc thiểu số miền Nam tại Plâyku, thể hiện quan điểm, tư tưởng của Bác đối với 

Ngày 19-4-1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam khai mạc tại Pleiku (Gia Lai). Do ở xa, không có điều kiện đến dự, Bác đã gửi thư động viên và chúc mừng đại hội. Bức thư được viết ngắn gọn, súc tích, khoảng 300 từ, hàm chứa trong đó những chủ trương, đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng hết sức gần gũi, thân thiết, chân thành.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam đã đứng lên đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, thiếu thốn và hy sinh, nhưng tinh thần chiến đấu quả cảm, anh dũng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở mọi vùng miền của Tổ quốc đã góp phần quan trọng cùng với quân và dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại trong các cuộc chiến tranh giải phóng, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt chủ trương, chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước và lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội, không phân biệt người Kinh, người dân tộc thiểu số, thành phần xuất thân, nơi sinh sống, luôn nêu cao tình đồng chí, nghĩa đồng đội, đoàn kết với nhau như ruột thịt theo tinh thần “toàn quân một ý chí”.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, những năm gần đây, các đơn vị trong toàn quân tích cực làm tốt công tác dân vận với nhiều mô hình, cách làm hiệu quả, tiêu biểu như: “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết biển đảo”, “Nâng bước em tới trường”, “Chương trình 12 quân dân y kết hợp”… Cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực làm công tác vận động quần chúng, chung sức xây dựng nông thôn mới; hàng nghìn lượt cán bộ biên phòng tăng cường về cơ sở vùng sâu, vùng khó khăn, căn cứ cách mạng…; góp phần ổn định tình hình tại các địa bàn phức tạp về an ninh trật tự ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… Bộ đội “4 cùng” với nhân dân, vận động đồng bào các dân tộc chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương giàu đẹp; đồng thời kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch./.


Không thể có một nền dân chủ "hòa tan" ở Việt Nam .

Có thể nói, trên thế giới hoàn toàn không có mô hình dân chủ, quyền con người “chuẩn” nào cả. Các chế độ dân chủ đều do các cơ quan lập pháp quốc gia quyết định. Thường thì những đảng chính trị chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực chi phối các tiêu chí, cơ chế, chính sách, pháp luật của chế độ dân chủ và quyền con người ở đó. . Nhân loại đang sống trong những năm cuối thập niên thứ hai, thế kỷ 21, trong thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khác với quá trình toàn cầu hóa trước đây, toàn cầu hóa ngày nay dựa trên cuộc cách mạng khoa học hiện đại, đặc biệt là có vai trò của công nghệ thông tin. Nếu như trước đây người ta chỉ có thể nhận được thông tin từ hệ thống tuyến tính thì ngày nay, với sự phát triển của internet, mạng xã hội, con người có thể tiếp cận với các nguồn thông tin đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Qua các công cụ lưu trữ, tìm kiếm dữ liệu, như: Google, Yahoo, mạng xã hội lớn như facebook, YouTube… con người có thể tiếp cận thông tin hoàn toàn chủ động, có lựa chọn… Điều này làm cho thế giới ngày càng “thu nhỏ” và trở thành “thế giới phẳng” (theo Thomas L.Friedman). Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, nhà nước dân tộc vẫn không mất đi mà còn được khẳng định, duy trì sự tồn tại của mình một cách vững chắc hơn. Trong thời đại ngày nay, các giá trị dân chủ và quyền con người (QCN) được chia sẻ giữa các quốc gia, dân tộc thông qua cơ chế gia nhập, ký kết các công ước của Liên hợp quốc. Thế nhưng một số kẻ kỳ thị với chế độ xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vẫn cố tình lợi dụng internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Gần đây, nhất là từ khi Quốc hội Việt Nam xem xét, thảo luận dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và thảo luận, thông qua Luật An ninh mạng... trước đó là những vụ án xét xử một số kẻ lợi dụng tự do báo chí, internet… vi phạm pháp luật, các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tuyên truyền rằng Việt Nam vi phạm dân chủ và QCN. “Chứng cứ” mà họ đưa ra thường là “pháp luật Việt Nam lạc hậu”, nhiều điều luật của Việt Nam vi phạm chuẩn mực QCN. Chẳng hạn, Điều 258 (Bộ Luật Hình sự 2015 về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”(1). Có kẻ còn nói: “Pháp luật Việt Nam vi phạm chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người”, “lạc hậu” so với pháp luật các nước... Vậy chế độ dân chủ và QCN là gì? Trên thế giới có mô hình “chuẩn” về dân chủ và QCN không? Và vì sao có thể khẳng định không thể có một nền dân chủ “hòa tan” ở Việt Nam? Chế độ dân chủ là gì? Chế độ dân chủ là một giá trị xã hội được hình thành từ khi xuất hiện giai cấp và nhà nước. Chế độ dân chủ sở dĩ được xem là một giá trị xã hội vì ở đó nhà nước ra đời với sự thừa nhận của một bộ phận dân cư dưới một hình thức nào đó. Mở đầu của chế độ dân chủ là chế độ nô lệ. Trong chế độ nô lệ chỉ có người dân tự do và giới chủ nô mới có quyền tham gia vào việc định ra bộ máy cầm quyền, còn người nô lệ chỉ như các “công cụ lao động biết nói”. Trải qua nhiều hình thái kinh tế, xã hội, chế độ dân chủ đã có những bước phát triển nhất định, quyền của người dân được mở rộng dần. Các cuộc cách mạng dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng đối với tất cả mọi người. Nền dân chủ ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa (TBCN) là một bước tiến lớn của lịch sử nhân loại. Hiến pháp của các nhà nước TBCN tuyên bố tôn trọng, bảo đảm các quyền về tinh thần và vật chất của tất cả mọi người, nói cách khác là bảo vệ các QCN. Hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lại trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945 là dấu mốc quan trọng thể hiện chế độ dân chủ và QCN trong xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tuy nhiên, xem xét trong nội bộ mỗi quốc gia, chế độ dân chủ và QCN ở các nước TBCN vẫn hạn hẹp do tình trạng bất bình đẳng về chế độ sở hữu, về sự phân hóa giàu-nghèo và về sự kỳ thị chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo... Thực tế cho thấy, hiện nay, các cuộc bầu cử ở nhiều nước phát triển, số cử tri đi bầu cử thường thấp. Cuộc bầu cử gần đây nhất của Hoa Kỳ (2016) chỉ “ở mức dưới 70%. Số cử tri tham gia bầu vào những năm 1980 còn thấp hơn, dao động từ 48% đến 57%”(2). Mặt khác, sự phân biệt chủng tộc đang tác động đến nhiều mặt của cuộc sống. Hoa Kỳ có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn nhiều quốc gia nhưng vẫn còn không ít người nghèo (theo tiêu chuẩn quốc gia). Điều đáng nói là sự phân hóa giàu-nghèo lại gắn với tình trạng phân biệt chủng tộc. Theo một thống kê (vào năm 2014), “tỷ lệ người nghèo của dân da đen là 26%, so với dân gốc người Tây Ban Nha (Hispanics) là 24%, dân Á châu 12% và dân da trắng là 10%”(3). Xem xét trên phạm vi thế giới thì chủ nghĩa tư bản (CNTB), bao gồm cả sản phẩm của chế độ đó là chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc đã đi ngược lại các giá trị dân chủ và QCN. Các quốc gia thuộc địa (của CNTB) là những chế độ áp bức, bóc lột, độc tài hà khắc. Bởi vì đó là sự câu kết giữa các quan cai trị thực dân với quan lại phong kiến. Sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam hơn 80 năm (từ năm 1858 đến 1945) là một ví dụ. Dân tộc Việt Nam không bao giờ quên được nạn đói khủng khiếp xảy ra vào năm 1945. Chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên. “Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Nghiêm trọng nhất là ở các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Nhiều làng xã chết 50% đến 80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai…”(4). Ở Việt Nam, đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Lần đầu tiên chế độ dân chủ với các quyền công dân và QCN không những được tuyên bố mà còn được bảo đảm về mặt pháp luật, cũng như trong cuộc sống. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và bản Hiến pháp 1946 đã ghi nhận điều này. Trên thế giới không có mô hình “chuẩn” về dân chủ và QCN Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều mô hình về chế độ dân chủ với những tên gọi khác nhau, như: Cộng hòa dân chủ nhân dân; chế độ cộng hòa; chế độ cộng hòa nhân dân. Ngoài một số ít quốc gia vẫn theo chế độ quân chủ, các nhà nước có chế độ nghị viện; cộng hòa đại nghị... đều là những chế độ dân chủ TBCN. Trong những nước dân chủ này lại có nhiều mô hình dân chủ khác nhau; chẳng hạn: Chế độ dân chủ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chế độ dân chủ một đảng cầm quyền… Tương tự như chế độ dân chủ, QCN ở các quốc gia cũng không giống nhau, cho dù những quy định pháp luật ở đó đều mang những giá trị phổ biến. Trong tính hiện thực của nó, QCN là các quy định của pháp luật (quốc gia) nhằm tôn trọng, bảo vệ những nhu cầu, lợi ích về vật chất và tinh thần của tất cả mọi người không phân biệt già-trẻ, gái-trai, dân tộc, quốc tịch, vị thế chính trị, tài sản và những vị thế khác… Trong mỗi chế độ xã hội nói chung, chế độ dân chủ nói riêng, đều có những quy định về quyền công dân và QCN khác nhau. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt về truyền thống lịch sử, bản chất chính trị và bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Ví dụ, ở nhiều quốc gia phương Tây, quyền tự do ngôn luận không loại trừ việc xúc phạm niềm tin tôn giáo. Chẳng hạn, vụ xả súng ngày 7/1/2015 tại tòa soạn Tạp chí Charlie Hebdo ở Paris (Pháp) khiến 12 người thiệt mạng. Thủ phạm là những người theo đạo Hồi. Họ phẫn nộ vì tạp chí này đăng tải bức biếm họa xúc phạm thánh A-la. Hoặc ở Hoa Kỳ thì người dân có quyền sở hữu và sử dụng súng. Gần đây, người dân ở quốc gia này còn có cả “quyền” được sử dụng máy in 3D tự sản xuất súng (tại gia đình)(5). Như vậy có thể nói, trên thế giới hoàn toàn không có mô hình dân chủ, QCN “chuẩn” nào cả. Các chế độ dân chủ đều do các cơ quan lập pháp quốc gia quyết định. Thường thì những đảng chính trị chiếm đa số trong các cơ quan quyền lực chi phối các tiêu chí, cơ chế, chính sách, pháp luật của chế độ dân chủ và QCN ở đó. Ở Hoa Kỳ thì hai đảng-đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền. Ở Trung Quốc tuy có nhiều đảng chính trị nhưng các đảng đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, việc người ta lấy một mô hình chế độ dân chủ nào đó, chẳng hạn như mô hình dân chủ Hoa Kỳ với chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” và thể chế “tam quyền phân lập” làm “chuẩn” để phủ nhận chế độ dân chủ XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, cầm quyền là một cách nhìn hạn hẹp, nếu không nói là vì động cơ chính trị, muốn xóa bỏ chế độ hiện hữu và thành quả cách mạng hơn 70 năm của dân tộc Việt Nam. Nền dân chủ XHCN của Việt Nam bắt nguồn từ lịch sử, bản chất chính trị và từ những quy định về pháp lý. Thực tiễn cách mạng Việt Nam minh chứng: Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam ra đời sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945-cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chế độ xã hội và nền dân chủ XHCN ở Việt Nam đã phải chống chọi với các thế lực xâm lược hùng hậu trong các cuộc kháng chiến anh dũng bảo vệ Tổ quốc kéo dài hơn 30 năm (1945-1975) với không biết bao nhiêu hy sinh xương máu của đồng bào và chiến sĩ. Đó là thành quả đấu tranh của cả dân tộc, là nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc .

Ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông. MỘT LỐI SUY DIỄN QUY CHỤP, VÔ LƯƠNG Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”! CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ TỪNG BƯỚC HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG CHÍNH ĐÁNG, NHÂN VĂN Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại. Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN. Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước. Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9/4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới. Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”./.