Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021
Tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân
Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra.
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành rất khẩn trương. Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã và đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá cuộc bầu cử với tính chất hết sức quyết liệt, manh động. Thông qua việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những luận điệu sai trái, thiếu trung thực, phiến diện, quy chụp với mục đích hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc nhận thức lệch lạc, sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử ở nước ta. Trong đó, có quan điểm cho rằng: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc, thiếu chính xác của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của chúng.
Ở VIỆT NAM, QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ LÀ MỘT TRONG NHỮNG QUYỀN CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền "làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình.
Trong bất kỳ một thể chế chính trị nào, để Nhà nước có quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" thì phải có được sự đồng thuận của người dân.
Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân và được quy định cụ thể tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946: "Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử", và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (Điều 54). Hiến pháp năm 2013 và quyền của công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân. Trong đó, Điều 15, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân", Điều 21 cũng quy định: "Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân...". Theo Điều 2 Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này". Đồng thời, Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp".
Thông báo Kết luận số 174-TB/TW ngày 08/6/2020 của Bộ Chính trị về phương hướng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 nêu rõ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải là những người trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngoài tiêu chuẩn chung, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW, ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đã quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện của đại biểu Quốc hội chuyên trách và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách.
Bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về quy trình nhân sự theo hướng việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015; quy trình thủ tục, hồ sơ cụ thể thực hiện theo quy định của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy có thể thấy, trong quy trình lựa chọn, sự tín nhiệm của cử tri là thước đo rất quan trọng về tiểu chuẩn của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, tại Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chính phủ lần này, trong quá trình lựa chọn, sàng lọc, đặc biệt quan tâm đến yếu tố tín nhiệm. Nếu ở địa bàn, ở nơi công tác nếu cá nhân đó không được tín nhiệm thì bước đầu tiên sẽ không đưa vào giới thiệu nhân sự bầu cử. Ngoài ra, còn nhiều văn bản khác cũng quy định về quyền, nghĩa vụ của công dân, cũng như tiêu chuẩn về nhân sự bầu của đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cuộc bầu cử được tiến hành dựa trên hệ thống thiết chế pháp luật rất vững chắc như: Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức quốc hội năm 2014, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015… Điều này có nghĩa là các quyền, nghĩa vụ của công dân, của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các quy trình tổ chức đều được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân cũng như phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
Việt Nam không hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân, nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân mỗi cử tri có vai trò quyết định trong việc lựa chọn cho mình những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc.
THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "... ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc.
Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.
Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.
Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.
Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài "đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.
Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét, tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội.
Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thông qua công tác cán bộ nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc Đảng sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Bởi vì, Đảng chỉ định hướng cơ cấu, số lượng nhân sự và xây dựng bộ tiêu chuẩn đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, yếu tố quyết định trong việc lựa chọn người đại diện cho tiếng nói của mình thuộc về nhân dân, ngay từ khâu chuẩn bị nhân sự thông qua việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú và trực tiếp thông qua những lá phiếu cử tri trong quá trình bầu cử.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật, nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.
"Thổi phồng" để bóp méo, xuyên tạc
Nhằm triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước không cùng quỹ đạo, thổi phồng để bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất sự việc, vấn đề là một trong những thủ đoạn được các thế lực thù địch,phản động thường xuyên áp dụng. .
Theo Từ điển Tiếng Việt, thổi phồng được giải nghĩa là “thêm thắt, nói quá sự thật”. Còn bóp méo là “nói, phản ánh sai sự thật, do dụng ý xấu (bóp méo, bôi đen sự thật)”.
Có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng theo quan niệm có tính phổ biến thì thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự thật thuộc phạm trù đạo đức ứng dụng mà cụ thể ở đây là đạo đức truyền thông (thông tin nặc danh, thổi phồng sự kiện, dấu nhẹm thông tin, khiêu khích sân hận).
Không phải đến bây giờ mà ngay từ khi xã hội có phân chia giai cấp, trên mọi lĩnh vực của đời sống đã xuất hiện những người, có khi là nhóm người vì động cơ, mục đích, dụng ý không trong sáng mà dùng những hình thức này, hình thức khác để thổi phồng, phản ánh sai sự việc, bóp méo sự kiện, xuyên tạc, bôi đen sự thật. Việc làm của họ nhằm hai mục đích chính: Một là gây thanh thế, đánh bóng tên tuổi bản thân, tâng bốc người này, tập thể này, lăng xê người kia, đề cao tập thể kia; Hai là thổi phồng lỗi lầm, khuyết điểm, sai phạm làm phức tạp hóa các sự việc, sự kiện, vấn đề có liên quan đến những tập thể, cá nhân không cùng phe cánh, để “dìm hàng” người này, hạ bệ người khác. Trong cơ chế thị trường, những biểu hiện của chiêu trò “thổi phồng, bóp méo” càng bộc lộ rõ nét. Đặc biệt, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh tình trạng thổi phồng, bóp méo sự thực về chất lượng hàng hóa, tác dụng của sản phẩm diễn ra khá phổ biến. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng về tiền bạc mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Vì lợi nhuận, vì đồng tiền không ít cá nhân lợi dụng những kẽ hở của thế giới ảo, sự lan truyền nhanh chóng của thông tin trên không gian mạng để thổi phòng, bóp méo sự việc, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín của doanh nghiệp này, chủ doanh nghiệp kia hòng trục lợi.
Nhìn rộng ra trong cuộc đấu tranh giai cấp, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng chính trị chúng ta dễ dàng nhận thấy, nhằm triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước không cùng quỹ đạo, thổi phồng để bóp méo, xuyên tạc, làm sai lệch bản chất sự việc, vấn đề là một trong những thủ đoạn được các thế lực thù địch,phản động thường xuyên áp dụng. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế trở thành một xu thế lớn, tất yếu của thế giới, các thế lực thù địch, phản động coi đó là thủ đoạn hữu hiệu nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, gây rối an ninh chính trị và sự ổn định tại các quốc gia. Toan tính của họ khi sử dụng chiêu thức này là thêm thắt, nói quá về những sự việc, sự kiện xảy ra trong xã hội để thổi phồng cho nó lớn hơn so với thực tế, từ đó bóp méo, xuyên tạc, bôi đen sự thật, làm cho các vấn đề, các vụ việc thêm phức tạp để kích động, chống phá, lung lạc lòng tin của nhân dân, gây chia rẽ trong nội bộ của các quốc gia. Họ triệt để khai thác và sử dụng những lợi thế của internet làm phương tiện thực hiện các thủ đoạn thổi phồng để bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, tung tin thất thiệt nhằm làm ảnh hưởng tới uy tín của chính phủ và cá nhân lãnh đạo ở các quốc gia; gây nhiễu thông tin, làm suy giảm lòng tin từ đó đẩy tới rối loạn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Thông tin trên internet hiện nay khá nhiễu loạn, có thông tin đúng, có giá trị, nhưng cũng có không ít những thông tin sai sự thật, thông tin xấu độc... Vấn đề là ở chỗ chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, định hướng, trang bị cho người dân có kiến thức, kỹ năng, có hiểu biết về pháp luật và đạo đức truyền thông khi tham gia vào mạng xã hội. Mặt khác cần hỗ trợ, giúp đỡ để người dân khi tham gia vào mạng xã hội, tiếp cận thông tin từ các trang mạng có một “màng lọc” chuẩn, tỉnh táo để lựa chọn thông tin đúng, loại bỏ những thông tin đã bị thổi phồng, bóp méo sai lệch, thông tin độc hại.
Nhìn lại vụ án gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức thổi phồng làm tăng tính nghiêm trọng, phức tạp của vụ việc theo kiểu “có ít xít ra nhiều”, “bé xé ra to” để rồi bóp méo, xuyên tạc “chính trị hóa” một vụ án hình sự đơn thuần thành vụ án chính trị như cách nói của họ. Hay trong vụ án Lê Duy Phong, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, bị Công an Thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái khởi tố, bắt tạm giam để điều tra và truy tố về tội “lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”, theo Điều 280, Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009... Thế nhưng trên một vài trang mạng, một số phần tử phản động, có tư tưởng thù địch đã thổi phồng, bóp méo, suy diễn, xuyên tạc về vụ việc theo kiểu lấy cái cụ thể để đánh giá, kết luận về cái tổng thể và cho rằng chính quyền Việt Nam “gài bẫy” để đưa các nhà báo chống tham nhũng vào vòng lao lý; Việt Nam “vi phạm tự do báo chí”... Hơn thế, từ sự việc này họ còn suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: “Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”; có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng” của cấp ủy, chính quyền các cấp... Nguy hiểm hơn, họ còn chụp mũ cho rằng tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo độc tôn... Không chỉ thổi phồng, bóp méo các vụ việc phức tạp, nhạy cảm, các thế lực thù địch, phản động còn triệt để sử dụng chiêu trò này trước các sự kiện lớn, quan trọng của đất nước. Chẳng hạn trước thời điểm diễn ra Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII, trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền phá hoại đại hội Đảng các cấp và công tác chuẩn bị cho Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc. Chúng ra sức thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt về những hạn chế, yếu kém của Đảng và Nhà nước ta nhằm phủ nhận sạch trơn những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới; thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt đời tư nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây ra sự hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN...
Chỉ cần điểm qua một số nét như vậy đã đủ thấy “thổi phồng để bóp méo”, xuyên tạc sự thật là chiêu trò không có gì mới nhưng vẫn hết sức nguy hiểm mà các thế lực thù địch, phản động, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã và đang triệt để khai thác sử dụng hòng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trước sự tác động đa chiều của thông tin hiện nay, vấn đề đặt ra là phải nâng cao khả năng “miễn dịch” cho nhân dân trước các chiêu trò thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội, bất mãn. Cùng với đó chúng ta cần kịp thời đấu tranh kiên quyết, phê phán, phản bác mạnh mẽ với những bài viết có nội dung thông tin thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự thật, nhất là trên không gian mạng. Đối với những phần tử cơ hội, bất mãn trong nước, tùy từng trường hợp, các cơ quan chức năng cần có biện pháp trừng trị thích đáng, nghiêm minh... Đó là những việc làm cơ bản, cấp thiết để xây dựng một trật tự xã hội ổn định, một môi trường thông tin an toàn, lành mạnh
Bảo vệ an ninh mạng là chính vì lợi ích quốc gia,vì lợi ích mọi người
Không ai có thể phủ nhận những lợi ích mà internet đã mang lại cho xã hội cũng như mọi người dân trên thế giới. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích không lành mạnh của một số người mà ngày nay, tính ưu việt, sự phát triển của internet đã bị lợi dụng, dẫn tới sự gia tăng các cuộc tiến công trên mạng có quy mô ngày càng phức tạp, đồng thời internet bị biến thành phương tiện gây bất ổn xã hội, làm tha hóa con người, tác động tiêu cực đến các quốc gia… An ninh mạng trở thành một vấn đề cấp bách toàn cầu, và thực tế này đang đòi hỏi mỗi quốc gia triển khai các biện pháp thiết thực, hiệu quả để bảo đảm an ninh mạng. .
Sự phát triển mạnh mẽ của internet (in-tơ-nét) đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như sự phát triển của nhiều quốc gia. Nhờ kết nối internet, những nhu cầu của con người như học tập, mua bán, giao dịch ngân hàng, tư vấn khám, chữa bệnh, đăng ký thủ tục hành chính,... có thể được đáp ứng nhanh chóng. Song, cũng phải khẳng định internet ngày nay cũng là mảnh đất màu mỡ của các hành vi phạm tội, tiềm ẩn nhiều thách thức và hiểm họa, trong đó có cả hoạt động mang tính khủng bố, chuyển hóa chính trị, trực tiếp đe dọa kinh tế, văn hóa, an toàn của cộng đồng. Sự bùng nổ của internet và ứng dụng công nghệ mới đã làm nảy sinh loại tội phạm công nghệ cao với mục tiêu là tiến công, chiếm đoạt, phá hoại dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây hậu quả nặng nề. Tại Mỹ, tháng 5-2013, Ủy ban Phòng chống trộm cắp tài sản trí tuệ Mỹ (CTAIP) công bố báo cáo cho biết, Mỹ thiệt hại khoảng 300 tỷ USD và 2,1 triệu việc làm mỗi năm vì nạn ăn cắp sở hữu trí tuệ. Theo Giám đốc Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI), gián điệp công nghiệp đã khiến Mỹ mất khoảng 400 tỷ USD/năm...
Bất chấp nỗ lực phòng ngừa, ngăn chặn của các quốc gia, các vụ tiến công mạng vẫn liên tục xảy ra, mức độ ngày càng nghiêm trọng. Năm 2008, virus Conficker phát tán, xâm nhập chín triệu máy tính trên toàn thế giới khiến hàng triệu người dùng bị đánh cắp mật khẩu, dữ liệu cá nhân. Cũng năm này, mạng lưới tuyệt mật (SIPRNet), hệ thống tình báo toàn cầu (JWICS) được người Mỹ coi là “bất khả xâm phạm” bị sâu máy tính Agent.btz xâm nhập từ một USB. Năm 2011, khoảng 100 triệu thông tin tài khoản người dùng (gồm cả số tài khoản ngân hàng, tên tài khoản, tên, địa chỉ khách hàng...) bị đánh cắp do hệ thống Playstation Network (PSN) của Sony bị tiến công. Năm 2012, một tập đoàn dầu khí của A-rập Xê-út đã bị tin tặc đột nhập, phá hủy hoàn toàn 35 nghìn máy tính. Năm 2013, hệ thống bán lẻ Target bị tin tặc tấn công và 110 triệu số thẻ ngân hàng của người dùng đã bị đánh cắp. Tháng 5-2017, mã độc tống tiền WannaCry khiến chỉ trong vòng ba ngày, hơn 230 nghìn máy tính ở 150 quốc gia bị ảnh hưởng; nạn nhân của mã độc bị chiếm đoạt dữ liệu trong máy tính đồng thời nhận được yêu cầu thanh toán tiền chuộc. Tháng 10-2017, Yahoo bị tố cáo làm mất cắp dữ liệu của ba tỷ tài khoản vào năm 2013, tức là tin tặc có thể sử dụng thông tin cá nhân của người dùng để thực hiện hành vi bất hợp pháp. Tình trạng trở nên trầm trọng đến mức, tháng 8-2010, Chính phủ Anh đã xếp tội phạm trên không gian mạng vào nhóm các nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước, ngang với tiến công khủng bố, vũ khí hóa học, thảm họa hạt nhân…
Các cuộc tiến công mạng quy mô lớn diễn ra trong thời gian qua đã nhằm tới tất cả các đối tượng: Cơ quan chính phủ, hệ thống ngân hàng đến các công trình an ninh quốc gia quan trọng (sân bay, hệ thống phòng thủ...), dịch vụ công cộng, tổ chức, cá nhân. Để kịp thời ứng phó, ngăn chặn loại hình tội phạm mới với diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều quốc gia đã đặc biệt quan tâm đến an ninh mạng. Rất nhiều nước trên thế giới đã nhanh chóng xây dựng và triển khai chiến lược, chính sách, xây dựng văn bản luật về an ninh mạng, tổ chức các lực lượng làm nhiệm vụ chuyên phòng, chống tội phạm công nghệ... Thống kê của Liên hợp quốc cho biết, đến nay đã có 138 quốc gia (trong đó có 95 nước đang phát triển) ban hành Luật An ninh mạng. Chỉ trong vòng sáu năm trở lại đây, có 23 quốc gia trên thế giới ban hành hơn 40 văn bản luật về an ninh mạng. Tại Nhật Bản, tháng 11-2014 Luật Cơ sở về an ninh mạng đã được ban hành, Bộ Chỉ huy chiến lược an ninh mạng được thành lập. Tại Đức, tháng 7-2015, Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, theo đó yêu cầu các công ty cơ quan liên bang phải có tiêu chuẩn bảo mật mạng tối thiểu, phải được Văn phòng Bảo mật thông tin liên bang (BSI) chứng nhận; cấm người sử dụng internet âm mưu sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền, xúi giục hành vi phạm tội. Tại Thái-lan, ngày 16-12-2016, Quốc hội thông qua Luật Tội phạm máy tính, quy định hành vi đăng tải thông tin sai sự thật để phá hoại an ninh quốc gia, an toàn công cộng, ổn định kinh tế quốc dân, gây hoang mang dư luận,… là phạm tội, phải chịu mức án cao nhất là 5 năm tù. Tại Mỹ, ngày 27-10-2017, Thượng nghị viện thông qua Luật Chia sẻ thông tin an ninh mạng (CISA); đồng thời, quy định về an ninh mạng không còn phù hợp được kịp thời sửa đổi, quy định mới tiếp tục được ban hành như: Đạo luật Tăng cường an ninh mạng, Đạo luật Tăng cường bảo vệ an ninh mạng quốc gia sửa đổi, Đạo luật Thông báo vi phạm dữ liệu trao đổi liên bang. Tại Ô-xtrây-li-a, hệ thống văn bản pháp lý về an ninh mạng hiện gồm có: luật về tội phạm mạng, luật về viễn thông, luật bảo mật, luật về thư điện tử rác, Luật Tiết lộ dữ liệu. Tại Xin-ga-po, ngày 5-2-2018, Quốc hội nước này cũng đã thông qua Luật An ninh mạng về tăng cường bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin trọng yếu (CII) thiết lập khung pháp lý để ngăn chặn nguy cơ tiến công mạng trên phạm vi quốc gia. Luật này cho phép cơ quan an ninh mạng Xin-ga-po theo dõi, quản lý an toàn không gian mạng của đất nước, đề xuất 11 lĩnh vực được xem là cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng gồm: Thông tin, truyền thông, y tế, năng lượng, hàng hải, hàng không... Tại Liên hiệp châu Âu (EU) từ ngày 25-5-2018, Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực với những điều khoản không chỉ áp dụng cho các tổ chức hoạt động trong EU mà còn áp dụng cho các tổ chức xử lý dữ liệu của bất kỳ cư dân nào thuộc EU; đối tượng vi phạm có thể bị phạt tiền lên tới 20 triệu ơ-rô hoặc 4% doanh thu hằng năm…
Như vậy có thể thấy, dù tên gọi khác nhau nhưng đặc điểm chung trong các văn bản luật kể trên ở mọi quốc gia là đều hướng đến mục tiêu bảo vệ an ninh thông tin của đất nước, bảo vệ con người, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội… khi các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên internet.
Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài các nguy cơ, hiểm họa có tính toàn cầu đã được cảnh báo. Những năm gần đây, Việt Nam đã phải đối mặt, chịu hậu quả nặng nề từ rất nhiều cuộc tiến công qua mạng. Trên phạm vi rộng, tin tặc đã xâm nhập hệ thống dữ liệu của một số cơ quan nhà nước, doanh nghiệp ngân hàng thực hiện hành vi lấy cắp tiền bạc, chiếm đoạt dữ liệu, đánh bạc xuyên quốc gia, tống tiền, cài mã độc đào tiền ảo, môi giới mại dâm, rao bán ma túy, buôn bán hàng giả, bùng nổ tin tức giả mạo, truyền bá sản phẩm suy đồi... Đặc biệt, trên không gian mạng còn xuất hiện rất nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước; xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí, tự do tôn giáo ở Việt Nam; kêu gọi và kích động biểu tình gây rối loạn xã hội, cổ vũ thái độ cực đoan để phá hoại khối đoàn kết dân tộc, phá hoại quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Về kinh tế, thí dụ điển hình là năm 2017, virus máy tính đã làm người dùng internet ở Việt Nam phải chịu thiệt hại với số tiền lên tới 12.300 tỷ đồng (tương đương 540 triệu USD), cao kỷ lục so với những năm gần đây (năm 2016, con số này là 10.400 tỷ đồng). Và trong khi mạng xã hội Facebook ngày càng thu hút nhiều người sử dụng thì họ đồng thời cũng phải đối mặt với nguy cơ bị khai thác, sử dụng thông tin cá nhân trái phép. Thí dụ, trong sự kiện Công ty Cambridge Analytica khai thác, sử dụng bất hợp pháp thông tin của người sử dụng, Việt Nam đứng ở vị trí 9 trong số 10 quốc gia, với 427 nghìn tài khoản Facebook bị khai thác trái phép.
Phải khẳng định, dù thế giới phẳng đến mức nào thì không gian mạng tại mỗi quốc gia vẫn thuộc chủ quyền, trách nhiệm của quốc gia đó. Điều này đặt ra trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ, giữ vững chủ quyền, quyền lợi của người dân nước mình trên internet. Với Việt Nam, vấn đề này lại càng quan trọng, cần thiết khi trình độ và năng lực về công nghệ thông tin của chúng ta còn khá hạn chế (có thể thấy rất rõ từ vụ tiến công hệ thống an ninh hàng không và sự tiến công của mã độc tống tiền WannaCry) nhận thức, thói quen tùy tiện, dễ dãi khi sử dụng internet vẫn tồn tại trong khá nhiều người. Cho dù báo cáo Chỉ số An toàn thông tin mạng toàn cầu (GCI) năm 2017 của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) còn nhiều vấn đề chưa phản ánh đúng thực tế tại nước ta, tuy nhiên việc Việt Nam xếp thứ 100 trên tổng số 193 nước thành viên về khả năng bảo đảm an ninh mạng cũng là một thông số cần tham khảo…
Rõ ràng việc triển khai, xây dựng pháp luật lĩnh vực an ninh mạng là nhiệm vụ, công việc cần thiết, và phổ biến với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Diễn biến vấn đề ở trong nước và quốc tế cũng cho thấy, tại Việt Nam yêu cầu ban hành, thực thi Luật An ninh mạng trong hoạt động thực tiễn đã trở nên cấp bách, là tất yếu khách quan trong bối cảnh nước ta đã và đang hội nhập, mở rộng các quan hệ kinh tế, văn hóa với thế giới. Ngày 12-6-2018, kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ 1-1-2019) gồm 7 chương, 43 điều quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Sự đồng thuận cao của các đại biểu Quốc hội đã phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, hình thành cơ sở pháp luật để kịp thời điều chỉnh, xử lý các hoạt động liên quan internet để bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì thế, việc cố tình hay vì thiếu hiểu biết mà cản trở, phản đối Luật An ninh mạng cũng là đang đi ngược lại với trào lưu chung của thế giới và đất nước. Thậm chí, làm như vậy cũng có nghĩa là trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp tay cho tội phạm mạng lộng hành, làm gia tăng tình trạng mất an toàn trên không gian mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền của quốc gia, quyền và lợi ích của dân tộc, quyền và lợi ích của người dân Việt Nam.
"Xã hội dân sự" và âm mưu của các thế lực thù địch
Những năm qua, âm mưu, hoạt động lợi dụng một số tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với Việt Nam tập trung vào các hướng sau đây:
Thứ nhất là, đề cao và nhấn mạnh vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức “xã hội dân sự”, triệt để khai thác tính đa dạng về thành phần, mục tiêu thành lập. lợi ích của tổ chức và các thành viên, đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hướng lái hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” đã hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Vì vậy, do tác động, hướng lái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, bản chất đích thực của một số tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam mất dần, thay thế vào đó là cho ra đời các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây như ở Đông Âu và Liên Xô trước đây.
Thứ hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Một số tổ chức “xã hội dân sự” mang tính giai cấp rõ rệt, những người sáng lập không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thay vì đặt mục tiêu hoạt động nhằm góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã hướng lái tổ chức phục vụ lợi ích của một số tầng lớp, một nhóm người, đối lập với lợi ích của dân tộc, quốc gia. Vì vậy, họ luôn tìm cách tách hoạt động của tổ chức khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan chức năng. Tổ chức “xã hội dân sự” của họ chỉ là vỏ bọc, thực chất đó là những tổ chức mang màu sắc chính trị, ẩn chứa trong mục đích thành lập và hoạt động là động cơ và mục đích chính trị. Về lâu dài, đây sẽ là diễn đàn đấu tranh giai cấp trên mọi phương diện: chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế… Những người sáng lập một số tổ chức “xã hội dân sự” thường là những người các thế lực thù địch gọi là “bất đồng chính kiến”; những người cơ hội chính trị, có quan điểm trái chiều, đối lập với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, công khai yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp; đòi đổi tên Đảng, tên nước, từ bỏ con đường xây dựng CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.
Thứ ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để hướng lái xã hội dân sự vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích. Một số tổ chức “xã hội dân sự” có khuynh hướng đi theo mục tiêu chính trị, đề cao các “giá trị” tự do, dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa tư bản. Những người sáng lập tìm cách tuyên truyền, tác động, lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, luật sư tham gia, mở rộng phạm vi, không gian hoạt động trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, phụ họa và tiếp tay cho các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam. Một số người công khai viết, tán phát tài liệu, sách, sử dụng các trang mạng truyền bá những quan điểm, tư tưởng trái chiều, tạo diễn đàn đối lập với Đảng, Nhà nước. Họ triệt để lợi dụng những sai sót, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội, những chủ trương, chính sách chưa hợp lòng dân, các vấn đề phức tạp nổi lên về an ninh, trật tự để phê phán đường lối của Đảng, đổ lỗi, quy kết trách nhiệm cho Đảng ta trong các vấn đề hạn chế, tồn tại của đất nước, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo… Nhiều bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây và yêu cầu, hô hào, tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên… Từ đa nguyên chính kiến trong “phản biện chính sách”, “phản biện xã hội” dưới danh nghĩa ủng hộ quan điểm mở rộng dân chủ ở cơ sở, đảm bảo quyền con người để tuyên truyền, vận động có thêm lực lượng, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ tham gia, từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai.
Thứ tư là, các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư… hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây, các nước Đông Âu và Liên Xô trước khi sụp đổ, tan rã.
Trong các nhóm đã được thành lập, có những hội, nhóm, câu lạc bộ, viện nghiên cứu thành phần tham gia khá phức tạp. Được sự cổ vũ, khích lệ của các thế lực chống CNXH ở bên ngoài, họ thường xuyên gặp gỡ bàn bạc, biên soạn, phát tán tài liệu có nội dung phê phán đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một số tổ chức thông qua hoạt động nghiên cứu, phản biện, tư vấn để truyền bá quan điểm, tư tưởng sai trái, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cổ súy cho một phong trào “xã hội dân sự” độc lập. Họ còn tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo, trả lời phỏng vấn, đăng tải trên trang mạng các bài viết phủ nhận thành quả cách mạng, yêu cầu Đảng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo; tổ chức dịch, phát hành hàng chục đầu sách của các tác giả nước ngoài có nội dung nhạy cảm về chính trị, đề cập đến sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu như những tài liệu phổ biến kinh nghiệm biểu tình, lật đổ, tiến hành “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”, cổ vũ cho “xã hội dân sự” đối lập…
Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập - Mục tiêu hướng tới của "xã hội dân sự" kiểu phương Tây
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền cổ vũ cho chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tại Việt Nam. Luận điệu của họ là trong nền chính trị Việt Nam phải tồn tại các nhóm chính trị, các chính đảng khác nhau để đa dạng hóa đường lối cho nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử tự do thì mới đảm bảo cho một nền dân chủ. Vì vậy, những năm qua các phần tử chống CNXH luôn tìm mọi cách tập hợp lực lượng, cho ra đời tổ chức, đảng phái chính trị đối lập trong nước.
Thời gian tới, hoạt động của các thế lực thù địch đối với vấn đề “xã hội dân sự” ở Việt Nam sẽ được đẩy mạnh theo các hướng sau:
Một là, gia tăng hoạt động truyền bá tư tưởng “xã hội dân sự” của phương Tây, đề cao và tuyệt đối hóa để gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của “xã hội dân sự” Việt Nam - mầm mống của đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Hai là, tập trung tuyên truyền tác động phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm tạo dựng, phát triển lực lượng chống đối, bổ sung nhân sự cho việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị, đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, gia tăng các hoạt động móc nối, tác động chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” kiểu phương Tây, làm mất dần bản chất đích thực, vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự hiện nay. Từ đó sẽ trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống đối chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta. Đây là bước chuẩn bị điều kiện nhân sự, tổ chức cho sự ra đời của đảng chính trị đối lập, từng bước công khai hóa, hợp thức hóa, quốc tế hóa trở thành đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua đấu tranh chính trường, từng bước gạt Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi vũ đài chính trị, chiếm đoạt quyền lực, đưa nước ta theo quỹ đạo của phương Tây.
Bốn là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị làm công cụ tuyên truyền tác động tư tưởng, lôi kéo quần chúng, những người có tâm tư bất mãn trong các giai tầng xã hội, các phần tử chống chủ nghĩa xã hội để tập hợp lực lượng quần chúng, chuẩn bị điều kiện kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội để phát động một cuộc “cách mạng đường phố”, thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.
Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “xã hội dân sự” chống phá Việt Nam trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Trước hết, phải xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang.
Vấn đề đầu tiên đặt ra là phải thống nhất và nâng cao nhận thức về xã hội dân sự, phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực để tập trung lãnh đạo, định hướng cho các tổ chức này tuân thủ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, cảnh giác trước âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo vào các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Không đánh đồng các tổ chức xã hội dân sự đích thực với các tổ chức “xã hội dân sự” theo mô thức của phương Tây.
Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân các giai tầng xã hội để thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch trong việc cổ súy và sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ đất nước ổn định và phát triển đúng định hướng./.
Vắc-xin cho lòng tham
Năm 1928, bác sĩ Alexander Fleming trở về phòng thí nghiệm sau chuyến đi du lịch, ông phát hiện ra một sơ suất ngớ ngẩn vì tính bừa bãi của bản thân khi quên đậy nắp một số đĩa nuôi cấy vi khuẩn. Sơ suất này đã thay đổi lịch sử y khoa thế giới, nó giúp loài người tìm ra một loại kháng sinh tên là penicilin - thứ mà nếu không biết đến nó, 75% nhân loại hiện nay không tồn tại vì tổ tiên của chúng ta đã chết do nhiễm khuẩn. Những liều kháng sinh này sau đó được sản xuất đại trà và tỏa đi khắp nơi trên thế giới, từ những tòa nhà chọc trời ở New York cho đến những vùng rừng núi hẻo lánh ở Burundi.
Nhận diện rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá Việt Nam .
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Không phải đến bây giờ mà cuộc đấu tranh PCTN đã được tiến hành ở Việt Nam kể từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1930 cho đến nay...
. Có thể nói, chưa bao giờ công tác đấu tranh PCTN lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Giữa lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó.
Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.
Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng.
Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động PCTN, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN được mở rộng. Kết quả công tác PCTN của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong hai năm sau nhiều năm giữ nguyên, từ 31 điểm năm 2015 tăng lên 35 điểm trong năm 2017.
Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.
Thực tế đã khẳng định cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng. Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh, đó là sự thống nhất một ý chí, một quyết tâm chống tham nhũng trong toàn Đảng. Chính quyết tâm chính trị của Đảng là lời hiệu triệu lòng dân và những cán bộ, đảng viên đồng lòng trong cuộc chiến này. Kết quả của cuộc đấu tranh PCTN thời gian qua cho thấy quần chúng nhân dân và toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí quyết tâm, nỗ lực đấu tranh PCTN của Đảng... Nhưng cũng cần phải thấy ngay rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao.
Thời gian tới, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.
Những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn
Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.
Kết quả của công tác chống tham nhũng là không thể phủ nhận
Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng.
Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động PCTN, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN được mở rộng. Kết quả công tác PCTN của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong hai năm sau nhiều năm giữ nguyên, từ 31 điểm năm 2015 tăng lên 35 điểm trong năm 2017.
Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.
Không để những “bàn tay đen” tiếp tục kích động, phá hoại .
Sau khi kích động tụ tập, tuần hành, gây rối hòng tạo ra các đợt “biểu tình toàn quốc kéo dài”, điểm nóng bạo loạn bị thất bại, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng hai vấn đề Luật An ninh mạng và xây dựng dự luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt để thực hiện các chiêu trò nham hiểm. Cùng với sự tỉnh táo, rút kinh nghiệm đấu tranh vừa qua, chúng ta cần chủ động, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, không để những “bàn tay đen” tiếp tục ném đá giấu tay.
Những thủ đoạn xuyên tạc, chống phá “hậu biểu tình”
Hiện nay chúng tiếp tục “la làng”, “tát nước theo mưa”, xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật vừa qua là “đàn áp dã man” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc.
Đặc biệt, sau khi Chủ tịch nước ký lệnh công bố ban hành Luật An ninh mạng, chúng tiếp tục thổi phồng đạo luật này nhằm “bịt mồm nhân dân”, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân và vi phạm chính bản Hiến pháp 2013. Từ đó, chúng kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà chuyển sang dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”. Chúng cũng phát động cái gọi là phong trào “bất tuân dân sự” đối với Luật An ninh mạng và sự quản lý của Nhà nước.
Còn đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện nhưng chúng tiếp tục lập luận bậy bạ rằng đây là đạo luật “bán nước”; kích động phải đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân 2015.
Không dừng lại ở đó, chúng tiếp tục kích động, cho rằng để giải quyết tận gốc của vấn đề thì không chỉ dừng ở đấu tranh cho 1, 2 đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng tiếp tục lợi dụng lòng yêu nước, cổ súy các đợt biểu tình, tuần hành vừa qua bằng những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”… Chúng kêu gọi cần tiếp tục biểu tình phản đối với những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài…
Tỉnh táo hơn, chủ động hơn, kiên quyết hơn
Những sự việc gần đây cho thấy, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng thể hiện rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn chính trị; bộc lộ rõ lực lượng, phương tiện, phương thức, âm mưu thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; có lúc công khai, trực diện, có sự hỗ trợ, tham gia của các đối tượng từ nước ngoài… Từ kích động tuần hành, biểu tình, tạo cớ đẩy lên thành bạo loạn; từ thăm dò phản ứng, hiệu quả ứng phó của cơ quan chức năng, chúng có thể tập dượt để đi tới tổng biểu tình đi kèm bạo loạn lật đổ chính quyền, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
Thời gian vừa qua, tuy có địa phương xử lý ban đầu còn chậm trễ, lúng túng, thiếu linh hoạt, thiếu kiên quyết nhưng nhìn chung, chúng ta đã tập trung chỉ đạo xử lý quyết liệt, kịp thời, hiệu quả, chặn đứng những “bàn tay đen”, không để tình hình phức tạp kéo dài. Dù các thế lực thù địch ra sức cổ súy, ba hoa cho rằng, đó là “thắng lợi lớn” và tiếp tục nhiều lần kêu gọi các đợt “tổng biểu tình toàn quốc” vào các ngày nghỉ sau đó nhưng âm mưu của chúng đã bị ngăn chặn. Đông đảo nhân dân, trong đó có phần lớn người dân ở những nơi từng xảy ra sự cố đã đề cao cảnh giác, đấu tranh, lên án làm thất bại mọi thủ đoạn kích động.
Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá “hậu biểu tình” hiện nay, từ kinh nghiệm thời gian qua, đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương và nhân dân phải tỉnh táo hơn nữa, cảnh giác hơn nữa, chủ động hơn và kiên quyết hơn trong phòng ngừa, đấu tranh. Cần chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của kẻ xấu để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh. Khi có tình huống phải xử lý kịp thời, linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả. Đối với lực lượng vũ trang (LLVT), phải làm tốt công tác phối hợp theo Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng. Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ LLVT phải gương mẫu, đi đầu trong đấu tranh và tuyên truyền vận động nhân dân, gia đình, người thân trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.
Bảo vệ, hoàn thiện pháp luật vì sự phát triển của đất nước
Không phải ngẫu nhiên mà Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua với tỷ lệ 86,86%. Đây là một đạo luật rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng.
Theo thống kê, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 4 trong top 10 quốc gia bị mất an toàn an ninh mạng. Để giải quyết vấn đề an ninh mạng, hàng chục quốc gia trên thế giới đã ban hành, thậm chí có những quy định khắt khe hơn cả Việt Nam. Tại Đức, Facebook nếu không quản lý tốt để người dân kích động bạo lực, xuyên tạc xúc phạm cá nhân, tổ chức sẽ bị phạt nặng cả nhà cung cấp và người dùng; thậm chí nhà cung cấp phải lưu trữ dữ liệu về lịch sử truy cập lên đến 6 tháng để phục vụ điều tra. Các hành vi bịa đặt, nói xấu và bôi nhọ danh dự hoặc tổ chức, kích động bạo lực trên Facebook, kêu gọi gây rối trật tự công cộng sẽ bị truy tố. Tại Singapore, cơ quan an ninh mạng được phép tiến hành cuộc điều tra và công ty hoặc thực thể bị ảnh hưởng sẽ phải chia sẻ thông tin với cơ quan này trong vài giờ, nếu không sẽ bị phạt khoản tiền lên tới 100.000 SGD Singapore hoặc bị phạt tù đến 10 năm. Tại Thái Lan, Luật Tội phạm máy tính được thông qua từ năm 2016 quy định mức phạt tới 5 năm tù đối với những người đăng tải những thông tin sai sự thật nhằm phá hoại an ninh quốc gia, an toàn công cộng, gây hoang mang dư luận...
Những kẻ xuyên tạc cũng đưa ra không ít thông tin mù mờ, như Luật An ninh mạng sẽ khiến nhiều công ty lớn cung cấp dịch vụ mạng xã hội rời khỏi Việt Nam, sự ngăn chặn dòng chảy thông tin có thể giảm 1,7% GDP và giảm 3,1% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam... Song thực chất, đây là thông tin được tung ra bởi chính những doanh nghiệp đang có hoạt động kinh doanh nhưng không đóng thuế, không làm tăng GDP cho Việt Nam nhiều năm qua. Họ đã cản trở Luật An ninh mạng để chậm nghĩa vụ đóng thuế.
Ngược lại, chính việc quản lý chặt chẽ, kể cả việc yêu cầu lưu trữ dữ liệu người dùng và các dữ liệu quan trọng khác tại Việt Nam, đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam cũng là cơ sở phục vụ tốt công tác quản lý doanh nghiệp và bảo vệ người dân. Thực tế, trong quá trình soạn thảo luật, nhiều công ty lớn như Google, Facebook, Amazon đề nghị được làm việc với ban soạn thảo và chính họ đã đồng ý phối hợp cơ quan chức năng Việt Nam. Trong khi đó, một số công ty nước ngoài khác, trong đó có nhiều công ty ở Mỹ đã tìm cách đối phó với hoạt động quản lý mạng chặt chẽ của các quốc gia ASEAN, trọng tâm là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Song hiện nay, đã có 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ quy định về lưu trữ dữ liệu quan trọng quốc gia trong nước. Các quy định của Việt Nam trong luật đã trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, không vi phạm các cam kết quốc tế.
Còn đối với dự án Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hiện nay Quốc hội đã lùi thời hạn thông qua để có thời gian rà soát, tiếp thu ý kiến của xã hội, tiếp tục hoàn thiện tốt nhất để trình Quốc hội thông qua. Tiếp xúc cử tri gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: Luật Đặc khu (gọi tắt của Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt-PV) thì tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, có lợi thì thông qua”.
Trên báo chí quốc tế gần đây, đã có nhiều phân tích đáng suy nghĩ về vấn đề này. Thậm chí, BBC, hãng truyền thông từng đăng tải nhiều thông tin thiếu thiện chí về Việt Nam song cũng đã có bài viết đa chiều, trong đó có những ý kiến khách quan về đặc khu kinh tế. Theo đó, kinh nghiệm từ Ba Lan, một đất nước công nghiệp hóa thành công, từ "bán lông thú đi lên bán máy móc" hiện còn 14 đặc khu kinh tế. Tiến sĩ Beata Glinkowska, Đại học Lodz (Ba Lan) cho rằng, ở Trung và Đông Âu, trong đó có Ba Lan, đặc khu kinh tế trở thành công cụ biến đổi kinh tế. Đặc khu kinh tế phổ biến ở nhiều nước, hỗ trợ phát triển kinh tế. Các quốc gia cần tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp và các điều kiện cần minh bạch”. Tiến sĩ Arpita Mukherjee, Hội đồng Nghiên cứu Quan hệ Kinh tế Quốc tế Ấn Độ cho rằng, nhiều nước, trong đó có Nhật Bản, hiện đang cổ vũ cho đặc khu kinh tế. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi có khoảng trống hạ tầng, các đặc khu này cung cấp hạ tầng tuyệt hảo để thu hút đầu tư (cả trong nước và nước ngoài) và công nghệ. Ban đầu, có thể có biểu tình nhưng chốt lại, chính sách đặc khu là có lợi nhưng phụ thuộc vào cách thiết kế và nội dung cụ thể”.
Những ý kiến nêu trên phần nào cho thấy, xây dựng các đặc khu kinh tế là chủ trương đúng chứ không phải là mô hình “lỗi thời, lạc hậu”, thậm chí bôi đen rằng là để “bán nước” như những luận điệu xuyên tạc. Vấn đề là việc hoàn thiện dự án luật phải làm sao cho thật chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả, không để các lỗ hổng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và để các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Thượng tôn pháp luật, không chấp nhận cái gọi là “bất tuân dân sự”
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua, được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng, thực thi. Theo Bộ Công an, từ nay đến khi Luật An ninh mạng có hiệu lực, còn có tới 25 nghị định và thông tư được thông qua. Vì thế, không thể tiếp tay cho các thế lực xấu phá hoại sự thượng tôn pháp luật bằng những thông tin vu vơ, không có cơ sở.
Còn với dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện. Chúng ta tin tưởng rằng, dự án luật sẽ được hoàn thiện tốt nhất, tiếp thu đầy đủ nhất mọi góp ý, không để tồn tại những sơ hở, thiếu sót phương hại đến an ninh quốc gia. Nhưng những góp ý phải trên cơ sở tìm hiểu dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho sự xuyên tạc, kích động, phá hoại đất nước. Không thể dựa trên những bịa đặt vô căn cứ và những ý kiến phiến diện, không đúng quy định của Luật Trưng cầu ý dân để kêu gọi phải trưng cầu ý dân để thông qua dự án luật.
Mặt khác, cũng cần cảnh giác với cái gọi là bất tuân dân sự trước Luật An ninh mạng. Bất tuân dân sự với nguồn gốc là một phong trào đấu tranh từ đầu thế kỷ 20 chống thực dân về sau trở thành phong trào người dân phản kháng những đạo luật không công bằng. Nhưng gần đây, nó đã bị biến tướng gắn với các cuộc “cách mạng nhung” ở Đức, Tiệp Khắc, “cách mạng hoa hồng”, “cách mạng cam” ở Liên Xô (cũ)… Gần đây, các thế lực thù địch đang tìm cách du nhập nó về Việt Nam, kêu gọi nhen nhóm bất tuân dân sự bằng việc lợi dụng một số quy định của pháp luật hay vấn đề thu phí đường bộ… Tuy nhiên, ngay cả luật sư từng có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước cũng từng phải thừa nhận, không nên cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật khi “bất tuân dân sự”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động” nhưng cũng chỉ rõ: “Người nào sử dụng quyền tự do quá mức của mình mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”. Pháp luật nước ta chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Chúng ta ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật nhưng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ súy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi.
Cán bộ, đảng viên không chỉ thượng tôn pháp luật, mà còn phải đi đầu đưa pháp luật đến với nhân dân .
Thậm chí, một số người vì thế còn dẫn đến nói, viết không đúng pháp luật, vô hình trung “nối giáo” cho các thế lực thù địch. Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng coi nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của học tập, lười học tập pháp luật Nhà nước cũng là một biểu hiện suy thoái.
Những hiện tượng đáng tiếc
Khi Quốc hội chuẩn bị bàn thảo về dự án Luật An ninh mạng, vị viện trưởng một viện nghiên cứu đưa ra bài viết với nhiều ý kiến chủ quan, một chiều, thổi phồng những tác động tiêu cực của Luật An ninh mạng như làm giảm 1,7% tăng trưởng GDP, giảm 3,1% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đáng tiếc nữa, bài viết này được nhiều người, trong đó có cả CB, ĐV chia sẻ, khi mà chính họ cũng chưa tìm hiểu sâu về dự thảo luật. Trước đó, chính vị viện trưởng này cũng từng có phát ngôn không đúng về hoạt động của lực lượng đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", các quan điểm sai trái trong quân đội… nhưng một số người thiếu hiểu biết vẫn “hồn nhiên” chia sẻ thông tin.
Khi xảy ra sự cố tụ tập, biểu tình, TP Cần Thơ là một trong những địa phương rất sớm có tờ rơi, tài liệu tuyên truyền, định hướng nhân dân. Nhưng ở nhiều địa phương khác khá bị động, thậm chí một bộ phận CB, ĐV có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân còn chưa hề đọc, nghiên cứu hai dự thảo luật.
Tại Bình Thuận, khi xảy ra sự cố, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong đã ra hiện trường vận động đám đông thì xảy ra hiện tượng hàng loạt thanh thiếu niên nhao nhao hỏi “đặc khu” là gì? Thực tế đó nói lên hiện tượng rất nhiều thanh niên, thiếu niên bị kích động đi biểu tình trong khi chưa hề hiểu, nắm được gì về hai dự án luật. Lỗ hổng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho thanh niên vẫn còn đó, trong khi không ít cán bộ Đoàn cũng chưa nắm vững, hiểu sâu luật, nói gì đến tìm phương thức tuyên truyền như thế nào cho hấp dẫn đối với thế hệ trẻ?
Lại có một số CB, ĐV vẫn tham gia “luận bàn thế sự” trên mạng xã hội, theo kiểu “thầy bói xem voi” thiếu trách nhiệm, vô hình trung tạo ra những luồng dư luận xã hội tiêu cực. Sau khi xảy ra việc tụ tập, gây rối, TP Hồ Chí Minh đã có cách làm hay là rút gọn, phô tô những nội dung cần thiết về dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Luật An ninh mạng gửi tới người dân ở từng tổ dân phố thì lại có nhiều người, trong đó có cả CB, ĐV “phán xét” trên mạng xã hội: Giờ là thời đại nào rồi còn phát tờ rơi? Họ đâu biết rằng với một bộ phận đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa hoặc những người già không sử dụng internet, điện thoại thông minh, thì tờ rơi vẫn là kênh truyền thông cần thiết.
Đó chỉ là những ví dụ đáng tiếc về hiện tượng một bộ phận CB, ĐV vừa thiếu trách nhiệm, lười học tập, nghiên cứu pháp luật, vừa thiếu trách nhiệm trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới nhân dân.
Một nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”
Không phải ngẫu nhiên mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã xác định một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của CB, ĐV hiện nay là “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (biểu hiện thứ 3).
Phát biểu tại hội nghị truyền hình trực tuyến toàn quốc học tập các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII mới đây, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cũng nhấn mạnh vấn đề này và phân tích: Chính sai phạm ở việc lười học tập này dẫn đến một sai phạm khác được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ ra. Đó là biểu hiện thứ 6: “Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu…”. Ngoài ra, nó còn là nguyên nhân dẫn đến một trong 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ (biểu hiện thứ 3): “Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước…”.
Người “chở luật”
Nói chuyện tại Đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội về thắng lợi của Kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa I (13-1-1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh vai trò của CB, ĐV phải “phổ biến Hiến pháp, pháp luật một cách kỹ lưỡng và rộng khắp trong nhân dân” và “gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luật lệ”. Sau này, Người cũng khẳng định: CB, ĐV là “những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Chúng ta nhận thức rõ rằng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là hết sức cần thiết nhưng để có Nhà nước pháp quyền thì trước hết mỗi người dân phải hiểu luật và thực thi đúng pháp luật. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội”; “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội”. Những yêu cầu đó không tự nhiên mà có được. Pháp luật cần được đi vào cuộc sống thông qua các kênh rộng khắp, trong đó có vai trò CB, ĐV phải là những người đi đầu “chở luật”.
Cha ông ta có câu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” phần nào đã nói lên tinh thần ấy. Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước (Điều 8). Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định mỗi cán bộ, công chức đều có trách nhiệm “tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật; tham gia các khóa học, lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về pháp luật; gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật; chủ động, tích cực kết hợp thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động chuyên môn, thực thi nhiệm vụ” (Điều 34).
CB, ĐV không chỉ gương mẫu trong học tập, nắm bắt, hiểu đúng và thực hiện đúng pháp luật mà còn phải đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân, nhất là đối với những đạo luật mới ra đời hoặc đang được triển khai xây dựng nhưng được dư luận xã hội quan tâm, còn nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh càng cần thiết vai trò CB, ĐV “giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Như đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc hiện nay, công tác tuyên truyền, vận động phải hướng vào những vấn đề dư luận còn băn khoăn, thắc mắc; làm rõ, bác bỏ những vấn đề bị xuyên tạc; đồng thời kịp thời phản ánh những ý kiến góp ý của nhân dân để tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật. Với Luật An ninh mạng, Chủ tịch nước đã ký quyết định ban hành nhưng vẫn còn không ít những luận điệu xuyên tạc, chống phá. Vì thế, phải tuyên truyền khẳng định các nội dung đúng đắn, bác bỏ thông tin sai trái. Hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân phải thiết thực, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, đặc biệt chú trọng tuyên truyền trên không gian mạng và tuyên truyền với thế hệ trẻ.
Không dừng lại ở đó, CB, ĐV phải là những chiến sĩ vững vàng nhất trên trận địa chính trị, tư tưởng và là một tuyên truyền viên pháp luật tích cực nhất. Không chỉ bản thân mỗi người gương mẫu trong chấp hành pháp luật mà phải tuyên truyền và vận động để gia đình, người thân cũng gương mẫu, vững vàng, không mắc mưu kẻ xấu. Phải thực hiện thật tốt hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định 102 của Bộ Chính trị về việc xử lý đảng viên vi phạm, trường hợp để con cái phạm tội thì phải chịu trách nhiệm liên đới. Đây là quy định giúp nâng cao vai trò của đảng viên trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự xã hội, góp phần ngăn chặn tình trạng đảng viên bảo kê, làm ngơ, dung túng cho con cái, người thân trong gia đình vi phạm pháp luật.
Có nên vận dụng mô hình tam quyền phân lập vào Việt Nam hiện nay? .
Mô hình này mang tính lịch sử, xã hội và sự vận dụng còn phụ thuộc vào truyền thống văn hóa, điều kiện lịch sử, quan hệ cũng như tương quan lực lượng giữa các giai cấp và trong từng giai cấp trong xã hội. Cho nên, chưa nên và không nên vận dụng vào Việt Nam hiện nay .
Hiện nay, nguyên tắc phân quyền được áp dụng trong tổ chức bộ máy nhà nước của một số nước trên thế giới nhưng mức độ áp dụng không hoàn toàn giống nhau. Những nước theo chế độ cộng hòa tổng thống thường áp dụng triệt để nguyên tắc phân quyền theo quan điểm của tam quyền phân lập. Trong khi đó các nước theo chính thể cộng hòa đại nghị hoặc quân chủ đại nghị thường áp dụng nguyên tắc phân quyền mềm dẻo hơn. Theo đó, có sự dung hợp quyền lực giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp. Mô hình tam quyền phân lập là kết quả của sự phát triển triết học về nhà nước từ trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ John Locke (1632-1704) và Charles de Secondat Montesquieu (1689- 1755).
Mô hình tam quyền phân lập ra đời, ban đầu nhìn chung, với chủ trương phân quyền để chống lại chế độ phong kiến chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và bảo đảm quyền tự do cho nhân dân. Tuy nhiên, mô hình này mang tính lịch sử, xã hội và sự vận dụng còn phụ thuộc vào truyền thống văn hóa, điều kiện lịch sử; quan hệ cũng như tương quan lực lượng giữa các giai cấp và trong từng giai cấp trong xã hội. Cho nên, chưa nên và không nên vận dụng vào Việt Nam hiện nay, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, quyền lực nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thống nhất, mà quyền lực này thuộc về Nhân dân. Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp 2013) ghi rõ:
“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Khi quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân thì quyền lực này về nguyên tắc không chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác. Về bản chất, các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (2015) cũng do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm, nghĩa vụ phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ mà nhân dân ủy quyền. Điều 94, Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”. Điều 102, Hiến pháp 2013 quy định:
1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Điều 107, Hiến pháp 2013 quy định:
“1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.
3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Như vậy, ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước Việt Nam đều có mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân. Trên thực tế, ba cơ quan này đều thực hiện quyền lực của nhân dân ủy quyền. Hơn nữa, trong Nhà nước Việt Nam có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Như vậy, về bản chất quyền lực của nhân dân không thể phân chia. Nhà nước Việt Nam không cần tới mô hình tam quyền phân lập bởi sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vì mục tiêu phục vụ Nhân dân được bảo đảm và thực hiện tốt.
Thứ hai, như chúng ta đều rõ, lý luận phân quyền của J. Locke và Ch.S. Montesquieu đều xuất phát từ khảo sát thực tế mô hình chính thể quân chủ lập hiến của nước Anh thế kỷ XVII - XVIII. Lý luận phân chia quyền lực của J. Locke được tiến hành trong thời kỳ cách mạng của giai cấp tư sản Anh đạt được thắng lợi, tạo ra sự thỏa hiệp giai cấp và phân quyền giai cấp. Từ đời sống chính trị nước Anh, ông quan sát đến cách thức củng cố quyền lực nhà nước của giai cấp tư sản, phòng trừ việc phục hồi của thế lực phong kiến. Ông phản đối chế độ quân chủ quyền lực vô hạn, vì cho rằng nếu nhà vua có toàn quyền thì quyền lợi của mọi người sẽ bị nhà vua xâm hại, không thể có được sự xét xử công bằng. Tuy nhiên, ông không chủ trương xóa bỏ triệt để chế độ quân chủ vì cho rằng người dân Anh không dễ gì từ bỏ chế độ cũ, chỉ trong trường hợp nghiêm trọng khi nhà vua lạm dụng quyền lực thì mới đặt vấn đề phế truất nhà vua.
Trong khi chế độ quân chủ lập hiến của nước Anh đã được xác lập và chế độ dân chủ nghị viện đã bước đầu định hình thì nền chính trị nước Pháp vẫn có xu hướng phản động, cụ thể là khi Luis XIV (1638-1715) lên nắm quyền vẫn cho rằng “nhà nước chính là ta”. Để đấu tranh chống xu hướng độc đoán, chuyên chế này, Ch.S. Montesquieu quyết tâm học tập chế độ quân chủ lập hiến của nước Anh, đả kích chế độ chuyên chính của Pháp, đưa ra nhiều sáng kiến cho việc cải cách chế độ chính trị của Pháp. Ông cũng phản đối chuyên chế quân chủ, cho rằng trong các nhà nước chuyên chế người ta chẳng khác gì một sinh vật phục tùng một sinh vật có ý chí khác, sinh mệnh con người ở đâu cũng giống nhau. Ông cũng không chủ trương xóa bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ, cho rằng nguyên tắc của chính thể quân chủ là vinh dự, tự trọng mà vinh dự, tự trọng là động lực thúc đẩy các “bộ phận của cơ thể chính trị”. Có nghĩa là cả J. Locke và Ch.S. Montesquieu đều nhận định chế độ quân chủ lập hiến của Anh vừa bảo đảm được chế độ quân chủ vừa hạn chế được quyền lực của vua. Do vậy đó là một thể chế chính trị lý tưởng. Lý luận phân quyền của các ông mặc dù về nội dung và hình thức có những điểm không giống nhau nhưng đều dựa trên chế độ quân chủ lập hiến của Anh và đều là biểu hiện lý luận của chính thể này. Hơn nữa, phân quyền mà cả hai ông cùng nghiên cứu là phân quyền giai cấp. Điều này cho thấy, tính lịch sử và điều kiện lịch sử của sự ra đời cũng như của việc vận dụng mô hình tam quyền phân lập. Ở Việt Nam hiện tại không có những điều kiện lịch sử giống như lịch sử nước Anh và Pháp thế kỷ XVII-XVIII, cũng không có nhà nước chuyên chế phong kiến cần đánh đổ. Do vậy, không nhất thiết và không cần phải vận dụng mô hình tam quyền phân lập.
Thứ ba, như trên chúng ta đã rõ, phân quyền mà cả J. Locke và Ch.S. Montesquieu cùng nghiên cứu là phân quyền giai cấp - phân chia quyền lực giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến quý tộc đứng đầu là vua - đang “lụi tàn”, nhưng còn rất mạnh và vẫn chiếm vị trí quan trọng trong lòng người dân ở các nước này do truyền thống văn hóa và tâm lý dân tộc. Để dung hòa, xoa dịu mâu thuẫn và để giải quyết tương quan lực lượng giữa hai giai cấp này tốt nhất họ đã tìm thấy mô hình nhà nước chính thể quân chủ lập hiến. Mô hình này giúp cho giai cấp tư sản lợi dụng được truyền thống của giới quý tộc phong kiến trong việc khơi gợi tự hào dòng tộc, truyền thống quốc gia. Trên cơ sở đó giúp giai cấp tư sản tập hợp được sự nhất trí của các giai tầng vì một dân tộc quốc gia thống nhất. Mặt khác, về hình thức thì giai cấp phong kiến quý tộc vẫn còn danh dự, vẫn có quyền lực mặc dầu chỉ là quyền lực hình thức. Đối với Việt Nam, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức,v.v.. mặc dù khác nhau về tính chất nghề nghiệp, công việc, đặc điểm lao động, trình độ học vấn, v.v.. nhưng nếu xét về địa vị trong nền sản xuất xã hội, xét về địa vị chính trị trong chế độ chính trị - xã hội thì các giai cấp này thống nhất và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, kể cả đối với quyền lực nhà nước. Hơn nữa, trong nội bộ mỗi giai cấp này cũng có sự thống nhất. Cơ sở của sự thống nhất giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức ở Việt Nam cũng như trong nội bộ từng giai cấp này là sự thống nhất về lợi ích. Hơn nữa, lợi ích của các giai cấp này cũng thống nhất với lợi ích của Nhà nước Việt Nam và toàn thể dân tộc Việt Nam. Tương quan giữa giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức cũng như tương quan trong nội bộ từng giai cấp như vậy không đòi hỏi phải phân chia quyền lực nhà nước!.
Thứ tư, chúng ta đều rõ ở phương Tây, chính phủ được thành lập bởi nhóm thắng cử đa số và đủ số lượng phiếu theo luật định trong cuộc bầu cử. Nếu thắng cử với đa số phiếu nhưng vẫn chưa đủ thắng áp đảo theo luật định thì nhóm thắng cử phải liên minh với các nhóm chính trị khác để có đủ số phiếu theo luật định thành lập chính phủ. Trong khi đó, có thể nhóm chính trị khác lại thắng cử ở hạ viện hoặc thượng viện. Nói khác đi, ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp có thể thuộc về các nhóm chính trị khác nhau hoặc liên minh của các nhóm chính trị khác nhau của các giai cấp. Các nhóm chính trị này chỉ đại diện cho ý chí của các nhà tài trợ thuộc các tập đoàn tài phiệt kinh tế, các ngân hàng lớn, các công ty luật,v.v.. mà thôi. Trong giai cấp thống trị có nhiều nhóm chính trị khác nhau (chẳng hạn ở Mỹ có tới 112 đảng, phái, nhóm chính trị), nhưng nhóm thắng cử trong bầu cử chỉ đại diện cho ý chí của những nhà tài trợ. Do vậy, nếu không kiểm soát quyền lực bằng cách phân chia (dù chỉ là hình thức) thì nguy cơ lạm quyền, độc quyền, chuyên quyền bởi các nhóm chính trị này là không tránh khỏi. Nghĩa là từ tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước giữa các giai cấp trong xã hội của J. Locke và Ch.S. Montesquieu thì ở phương Tây hiện đại, người ta đã vận dụng tư tưởng này vào phân chia quyền lực nhà nước giữa các nhóm chính trị trong nội bộ các giai cấp. Nghĩa là sự tương quan lực lượng giữa các giai cấp cũng như sự tương quan lực lượng trong nội bộ từng giai cấp mất cân bằng và cần đến mô hình tam quyền phân lập để cân bằng quyền lực.
Ở Việt Nam, như trên chúng ta đã khẳng định, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức,v.v.. thống nhất và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, kể cả đối với quyền và nghĩa vụ trong thực hiện quyền lực nhà nước. Các giai cấp này chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Do vậy, không cần phải nói tới việc phân chia quyền lực giữa các giai cấp này cũng như trong nội bộ từng giai cấp này. Từ đây cho thấy, những người hô hào phải vận dụng mô hình tam quyền phân lập vào nhà nước Việt Nam là những người ủng hộ đa đảng, đa nguyên chính trị. Mà điều này là không phù hợp thực tế Việt Nam cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn.
Thứ năm, tinh thần tam quyền phân lập của J. Locke và Ch.S. Montesquie rất phù hợp trong điều kiện chống chế độ quân chủ phong kiến thế kỷ XVII-XVIII ở châu Âu nhưng vận dụng vào điều kiện hiện nay cần cân nhắc rất kỹ lưỡng. Chưa kể, một số tư tưởng của họ còn hạn chế. Chẳng hạn, J. Locke chưa phân định rõ ràng giới hạn quyền năng của các cơ quan nhà nước, quyền đối ngoại mà ông nói đến thực chất chỉ là một loại quyền hành pháp. Do đó, ba quyền mà ông đề cập trên thực tế chỉ là hai quyền lập pháp và hành pháp. J. Locke chỉ nói về phân quyền nhưng chưa luận giải được nếu trong quá trình thực hiện quyền lực phát sinh mâu thuẫn hoặc xung đột thì phải giải quyết thế nào. Mặc dầu, Ch. S. Montesquieu có đề cập quan hệ chế ước và cân bằng giữa ba quyền. Tuy nhiên, cũng chính Ch.S. Montesquieu đã máy móc khẳng định rằng khí hậu ảnh hưởng đến luật pháp. Ông viết: “Ở các vùng khí hậu khác nhau, tính cách, tinh thần, tình cảm và dục vọng của con người cũng rất khác nhau. Nếu như thế thì luật pháp cũng phải tương ứng với sự khác nhau ấy”(1). Ông cũng có hạn chế, thiên vị tầng lớp quý tộc khi cho rằng cần ưu tiên cho những người có nguồn gốc từ quý tộc trong cơ chế bầu cử. Do vậy, không nên tiếp thu và vận dụng mọi tinh thần, tư tưởng của J. Locke và Ch.S. Montesquieu bất chấp sự khác biệt và hạn chế của họ. Có thể chúng ta tiếp thu những luận điểm riêng biệt tiến bộ, phù hợp phong tục, tập quán, văn hóa Việt Nam chứ không thể vận dụng một cách máy móc được. Bởi lẽ, như đã nói ở trên điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như phong tục, tập quán, văn hóa của chúng ta khác với các nước khác. Hơn nữa, tương quan giữa các giai cấp, cũng như tương quan trong mỗi giai cấp ở nước ta cũng khác.
Phòng chống "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới .
(TG) - Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, do vậy, việc phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới cần nhận diện và lưu ý một số vấn đề. .
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng… Qua đó, tác động “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là:
Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động.
Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân. Để bảo đảm được tính thống nhất này, liên quan đến các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương theo phân cấp quản lý cần cung cấp thông tin kịp thời để định hướng xử lý, đề xuất phương án chỉ đạo và thực hiện một cách chủ động và khoa học. Cơ chế thực hiện công tác thông tin về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm cần được xây dựng thành văn bản, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân.
Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.
Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm. Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội.
Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện công tác định hướng thông tin tuyên truyền các cấp cần được tham gia ngay từ khâu hoạch định chính sách, dự án đến quá trình triển khai thực hiện. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên internet hiện nay.
Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.
Cần nắm vững quyền chủ động trong công tác định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, cụ thể là: 1) Chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; việc lựa chọn chủ đề cần tăng tính tương tác, tạo sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích, thông tin một cách sinh động, cụ thể, gắn với cuộc sống, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt chuẩn xác theo kiểu “mỗi cái chìa chỉ mở được một cái ổ khóa”. 2) Nắm vững quy luật truyền tải thông tin. Internet có quy luật riêng, chỉ khi nắm chắc quy luật, nghiên cứu chắc tâm lý của cư dân mạng, thích ứng với các kỹ thuật mới, ứng dụng mới trong vận dụng quy luật truyền tải trên mạng, thì công tác định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng mới có kết quả. Việc truyền tải thông tin tuyên truyền dẫn dắt dư luận trên mạng không chỉ cần coi trọng nguồn gốc thông tin, mà còn phải coi trọng việc dẫn dắt và bảo vệ quá trình truyền tải, lưu thông thông tin. 3) Sự thống nhất thông tin trong truyền thông không phải là sự chắp nối đơn giản, mà là sự sắp xếp thống nhất trong hệ thống, giữa thông tin phản ánh trên báo chí, truyền hình và thông tin trên báo chí điện tử, trang tin điện tử... tạo thành chuỗi dòng chảy thông tin tích cực, lan tỏa nhanh trong cộng đồng, góp phần định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ./.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
