Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021
Nêu cao tính gương mẫu thực hiện chính sách, pháp luật của đảng viên
Xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời đề cao ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời.
. Mối quan hệ này càng thể hiện rõ tính chất tuy hai mà là một trong bối cảnh toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Kể từ khi ra đời tới nay, nhờ giữ vững tư cách của đảng cách mạng chân chính, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân làm nên những thắng lợi vĩ đại, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, tiến hành thành công công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh những thành công, trong Đảng xuất hiện tình trạng “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng tuy đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu, nhưng vẫn còn rất nhiều việc, nhiều vấn đề rất đáng quan tâm.
Thực tế qua một số vụ việc vi phạm pháp luật vừa qua có liên quan tới CB, ĐV có thể thấy hai biểu hiện: Thứ nhất, CB, ĐV không chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thậm chí trực tiếp vi phạm pháp luật. Thứ hai, vợ, con, người nhà, người thân của CB, ĐV không thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, ỷ thế là người nhà cán bộ mà coi thường pháp luật, vi phạm pháp luật hòng trục lợi. Cả hai biểu hiện nói trên đều gây bức xúc trong xã hội, tác hại đối với uy tín của Đảng, hình ảnh của Đảng trước nhân dân. Mỗi CB, ĐV với sức ảnh hưởng của mình trong xã hội, khi gương mẫu chấp hành pháp luật thì sẽ là những tấm gương tốt lan tỏa lối sống thượng tôn pháp luật trong xã hội và ngược lại.
Bởi vì, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những trật tự xác định, nhằm duy trì trật tự và ổn định xã hội. Trong xã hội ta, pháp luật là sản phẩm phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng. Trong hầu hết các trường hợp, quy định của pháp luật đều là sự kết tinh của ý Đảng và lòng dân. Vì vậy, tuân thủ, thượng tôn pháp luật chính là tuân thủ, thượng tôn ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và lợi ích của đất nước. Đây là một trong những yêu cầu đạo đức hàng đầu của CB, ĐV trong xã hội hiện đại. Theo đồng chí Lê Thành Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì Luật Cán bộ, công chức quy định cán bộ, công chức có nghĩa vụ phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Mỗi cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. CB, ĐV, nhất là CB, ĐV giữ vị trí lãnh đạo, quản lý là nhóm chủ thể đặc biệt, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, họ là “những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”.
Thực tế chỉ ra rằng, trong điều kiện Đảng cầm quyền, CB, ĐV dễ lợi dụng chức quyền của mình và uy tín của Đảng để lộng quyền, đặc quyền, đặc lợi, ức hiếp quần chúng và dễ bị tha hóa. Vì vậy, nếu thiếu sự kiểm soát của pháp luật, xem nhẹ việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với CB, ĐV thì càng làm cho họ dễ bị tha hóa hơn. Song song với đó, nếu thiếu tư cách đạo đức thì CB, ĐV không thể nhận thức đúng và vận dụng đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí còn cố ý bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu lợi cho cá nhân, gia đình hoặc thân hữu; qua đó, làm cho người dân hiểu sai về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Thiếu tư cách đạo đức, CB, ĐV cũng không có năng lực để phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của người dân với Đảng và Nhà nước; từ đó, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước khó sát hợp với yêu cầu phát triển.
Việc chủ động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho CB, ĐV bằng cách cung cấp đầy đủ thông tin về pháp luật, giúp mỗi người nhận thức đúng về các quyền, nghĩa vụ của mình, các chuẩn mực pháp luật, giới hạn hành vi được thực hiện hay không được thực hiện để từ đó tự giác tuân thủ, chấp hành và tổ chức thi hành pháp luật là yêu cầu hết sức quan trọng. Thực hiện tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho CB, ĐV để hình thành lớp CB, ĐV gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật cũng là một trong những biện pháp nhằm góp phần xây dựng Đảng về đạo đức, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, bảo đảm mọi người dân đều tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, phát huy đầy đủ nhất vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, trong quản lý đất nước và kiến tạo sự phát triển xã hội.
Để thể hiện rõ vai trò tiên phong, gương mẫu của CB, ĐV trong chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thời gian tới rất cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, cần phát huy vai trò chủ động, tích cực và tính tự giác, gương mẫu của mỗi CB, ĐV. Mỗi CB, ĐV cần tích cực, chủ động học tập, tìm hiểu, nắm vững và am hiểu sâu sắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thấm nhuần đạo đức cách mạng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Mỗi người cần nêu gương sáng trong tuân thủ và chấp hành pháp luật; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; am hiểu pháp luật để thi hành nghiêm chỉnh pháp luật.
Hai là, mỗi tổ chức đảng cần đưa việc quán triệt, phổ biến nội dung chính sách, pháp luật, nhất là các quy định mới ban hành thành nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ; phát huy đầy đủ nhất vai trò tiên phong, gương mẫu đi đầu trong học tập, tìm hiểu, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ, chấp hành Hiến pháp và pháp luật của từng tổ chức đảng và đảng viên, coi đây là tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức đảng và từng đảng viên.
Ba là, CB, ĐV cần tham gia tích cực giải thích, vận động, thuyết phục, cảm hóa, tập hợp nhân dân để mỗi người dân đều có hiểu biết pháp luật, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật, đồng thời tuân thủ và chấp hành Hiến pháp và pháp luật khi tham gia các quan hệ xã hội. Trước tiên, CB, ĐV cần tuyên truyền, thuyết phục để người thân trong gia đình thực hiện nghiêm pháp luật. Vừa qua, trong Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm (Quy định số 102-QĐ/TW) của Bộ Chính trị đã có điều khoản về kỷ luật đảng viên nếu như vợ (chồng), con vi phạm pháp luật. Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 13 quy định đảng viên sẽ bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách nếu thiếu trách nhiệm trong quản lý, giáo dục dẫn đến có vợ (chồng), con hoặc cấp dưới trực tiếp phạm tội. Khoản 2, Điều 13 còn quy định đảng viên sẽ bị cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) nếu để vợ (chồng), con lợi dụng chức vụ, vị trí công tác của mình tổ chức, thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng, để cấp dưới trực tiếp phạm tội nghiêm trọng, hoặc bản thân bao che các vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra trong tổ chức, đơn vị, lĩnh vực, địa bàn phụ trách.
Có thể thấy quy định kỷ luật nói trên thể hiện rất rõ sự nghiêm khắc của Đảng trong việc xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến đảng viên. Đối với nguyên tắc của pháp luật thì ai vi phạm pháp luật thì người đó bị xử lý. Nhưng với quy định kỷ luật Đảng thì trách nhiệm của đảng viên phải được thể hiện ở mức cao hơn. Điều này cũng sẽ giúp các tổ chức đảng, đảng viên phải luôn nỗ lực thể hiện rõ tính tiên phong, gương mẫu trong chấp hành luật pháp, từ đó nâng cao uy tín của đảng viên, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trách nhiệm, tính tiền phong của cán bộ, đảng viên trước các vấn đề hệ trọng của đất nước
Vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên luôn có một vị trí rất quan trọng. Trong kháng chiến, trước những tình thế khó khăn đòi hỏi cả sự hy sinh xương máu, ý chí cách mạng, tinh thần trách nhiệm, nhuệ khí của người cộng sản không bao giờ lung lay. Trong hòa bình, những lúc gian khó, phức tạp, trước những vấn đề nhạy cảm của đất nước, đại đa số cán bộ, đảng viên đã thể hiện rõ ý chí, quyết tâm, tính tiền phong gương mẫu... .
Thế nhưng thực tế cũng cho thấy, trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, nhất là trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, ở những thời điểm khó khăn của đất nước, vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một bộ phận đảng viên không phải không có vấn đề.
Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên đó chính là sự “kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ rằng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến"(2). Thực tế lịch sử đã chứng minh, quần chúng chỉ thực sự yêu mến, tin tưởng và nghe theo những cán bộ, đảng viên có tư cách, đạo đức, có trách nhiệm với nhân dân, với sự nghiệp chung của đất nước. Trả lời phỏng vấn báo chí nhân kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gương mẫu đi đầu, nói đi đôi với làm… thì dân mới tin”. Tổng Bí thư cũng khẳng định: “Bất kỳ đường lối, chủ trương nào của Đảng muốn được thực hiện thành công, thì trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu”.
Những thành tựu có ý nghĩa rất quan trọng ấy không ai có thể phủ nhận. Nhưng bên cạnh đó một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Đúng như Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đánh giá. “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước". Cùng với đó, vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trước những vấn đề, ở những thời điểm khó khăn, phức tạp của đất nước có biểu hiện suy giảm... Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Mặt khác, đó còn là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên đối với sự nghiệp cách mạng, trong gần 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên quan tâm, chăm lo giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng phát huy vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các đảng bộ, chi bộ đã có nhiều chủ trương, biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu để đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng kịp thời với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, mặc dù số lượng đảng viên chưa nhiều nhưng do phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của các đảng viên nên Đảng ta đã đoàn kết, động viên, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Sau giải phóng, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nhờ phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN....
Đặc biệt, qua một số vụ việc nảy sinh trong đời sống xã hội những năm gần đây cho thấy, việc phát huy vai trò trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên đang có những diễn biến mới đáng lưu tâm. Rõ nhất là tại một số cơ quan công quyền, do trình độ, năng lực hạn chế, do thiếu trách nhiệm, thiếu tính tiền phong gương mẫu nên không ít cán bộ, đảng viên chưa làm tròn chức trách, nhiệm vụ. Trong công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, nhiều tổ chức Đảng, đảng viên do thiếu trách nhiệm nên đã đưa ra những nội dung chưa đúng, chưa trúng và không phù hợp với tình hình thực tế đất nước, nhất là những nội dung, nhiệm vụ, vấn đề hệ trọng, nhạy cảm. Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những vấn đề bức xúc, phức tạp trong xã hội.
Tại các cơ sở, không ít cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ được giao, thiếu tính tiền phong gương mẫu trước quần chúng nhân dân. Không chỉ thiếu trách nhiệm trong công việc, thiếu tính tiền phong gương mẫu trước quần chúng, bản thân những cán bộ, đảng viên này còn vi phạm nguyên tắc, kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước. Chẳng những không gương mẫu thực hiện, không tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân mà nhiều đảng viên còn a dua, vào hùa, theo đuôi quần chúng, phát ngôn trái với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Bộ Chính trị đã có Quy định 102-QĐ/TW và UBKT Trung ương đã có hướng dẫn thực hiện rất cụ thể về việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó có nội dung xác định trách nhiệm của đảng viên trong tuyên truyền, giáo dục, quản lý vợ (chồng), con, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Mặc dù vậy nhưng nhiều đảng viên đã không làm tròn trách nhiệm, vẫn để vợ (chồng), con, có hành vi vi phạm pháp luật hoặc tham gia vào các hoạt động trái pháp luật. Và thực tế đã có những cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật do liên đới trách nhiệm.
Nội dung, yêu cầu của tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong của đảng viên có những điểm chung cơ bản, nhưng trong mỗi thời kỳ, do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, mà tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên có những nội dung, yêu cầu cụ thể. Đặc biệt, trước tình hình và nhiệm vụ mới hiện nay, nói đến tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên không thể là hô hào một cách chung chung mà cần phải được thể hiện bằng những tiêu chuẩn rất cụ thể về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong và trình độ, năng lực. Mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải đối chiếu theo các tiêu chuẩn để tự nhìn nhận, soi xét lại mình, tự điều chỉnh suy nghĩ, hành động của bản thân.
Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhớ, quần chúng luôn soi xét, lắng nghe xem cán bộ, đảng viên nói gì, làm gì, nhất là trong những hoàn cảnh khó khăn, tình huống phức tạp của đất nước. Mỗi lời nói, mỗi hành động của cán bộ, đảng viên, mỗi quyết sách của Đảng, của chính quyền đưa ra đều ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng, tới lòng tin của nhân dân vào Đảng và chính quyền. Hành động nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ vững niềm tin, không hoang mang, dao động, đi đầu trong công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước các giải pháp và tiền phong gương mẫu trong tổ chức thực hiện giải quyết những khó khăn, thử thách ngay tại cơ sở của mỗi cán bộ, đảng viên có tác động rất tích cực đến quần chúng nhân dân. Việc đưa ra những quyết sách kịp thời, đúng đắn, sáng tạo để lãnh đạo, điều hành đất nước đi đúng hướng của Đảng, của chính quyền sẽ góp phần rất quan trọng củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Ngược lại, nếu trước những vấn đề hệ trọng của đất nước mà cán bộ, đảng viên không phát huy được vai trò trách nhiệm, thiếu tính tiền phong gương mẫu, hoang mang, dao động thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân. Do đó, hơn lúc nào hết, càng trong gian khó, hiểm nguy, phức tạp thì càng đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, quyết tâm, vai trò trách nhiệm và tính tiền phong gương mẫu của mình.
Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng
Để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. .
Phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm tăng cường hơn nữa sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, nâng cao ý chí đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài.Tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là đòi hỏi khách quan, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài
Trong những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mới hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là sự chuyển giao quyền lực, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, xu hướng bảo hộ đang nổi lên tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở trong nước, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những diễn biến phức tạp, tinh vi... Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, dồn dập tung ra các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta mất phương hướng về chính trị, tư tưởng để chúng dễ dàng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta.
Đại hội XII của Đảng khẳng định: Trong những năm qua chúng ta đã “tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(1). Bên cạnh đó, “Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”(2). Từ đó, Đại hội XII chỉ rõ: “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”(3). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điểm xuyên tạc là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.
Xác định rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng
Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải kịp thời, kiên quyết, kiên trì, sắc bén, có căn cứ khoa học, có sức thuyết phục; không áp đặt, võ đoán, quy kết, định kiến. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, cần nắm vững và thực hiện tốt các quan điểm sau:
Một là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải đi đôi với phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Hai là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch với đấu tranh chống suy thoái và tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng, nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu.
Ba là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc với đấu tranh chống bảo thủ, giáo điều, cực đoan, duy ý chí với khắc phục hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Bốn là, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng làm công tác tư tưởng, lý luận, báo chí là nòng cốt, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Năm là, giữ vững trận địa tư tưởng, nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Triển khai tích cực, kiên quyết, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị cao, phương pháp khoa học, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng.
Một số giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng
Một là, phải luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
Tại Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đến Đại hội IX, Đảng ta xác định khái niệm, nguồn gốc, nội dung, vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(4). Đảng ta luôn nhấn mạnh yêu cầu phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng; là cách tốt nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Hiện nay, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, bên cạnh những cơ hội, ngày càng xuất hiện những vấn đề mới, những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân phải chủ động, không ngừng sáng tạo.
Đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh ngày nay là một sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng đó là con đường hợp quy luật để có một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự nghiệp cách mạng đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải kiên định, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một lần nữa, cần khẳng định lại: Đổi mới không phải là xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là nhận thức đúng, vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo học thuyết, tư tưởng đó, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, làm cơ sở cho phương pháp luận quan trọng nhất để phân tích tình hình, hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng phải luôn luôn kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc, là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định “sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(5). Càng đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, càng phải giữ vững, tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng, càng “Phải chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”(6). Các văn kiện Đại hội VII đến Đại hội XII và nhiều nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng luôn khẳng định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn của toàn bộ sự nghiệp cách mạng; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra bài học “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”(7).
Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng cách mạng chân chính - một Đảng không chủ quan tự mãn với những thành tích, không né tránh những khuyết điểm, sai lầm. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng có lúc phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí và vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Đó là sự tự phê bình và phê bình chân thành và nghiêm khắc trong cuộc Hội nghị hợp nhất các nhóm cộng sản năm 1930; sự tự chỉ trích chuyển hướng phong trào dân chủ 1936 - 1939; những cuộc học tập nâng cao giác ngộ và dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; sự tự phê bình và phê bình những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau khi được giải phóng; các đợt chỉnh Đảng, sự tự phê bình và phê bình nghiêm khắc tại các đại hội Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, tại các Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém, và đề ra giải pháp khắc phục.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Năm 2017 cuộc đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực được đẩy mạnh hơn và bước đầu đạt nhiều kết quả cụ thể, tích cực, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các vụ án tham nhũng kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý kiên quyết, nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu.
Hai là, nhận thức sâu sắc và kịp thời âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và thường xuyên đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc.
Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Các thế lực thù địch sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, thông qua hàng trăm cơ quan báo chí, xuất bản ở nước ngoài, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư... hòng chuyển hóa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện can thiệp sâu hơn chống phá cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót, yếu kém trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, cũng như những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của một số cán bộ, đảng viên để gây ra những dao động về tư tưởng, mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, lập các tổ chức phản động trong nước. Chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn bây giờ sang thế kỷ XXI, thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam; cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”(!).
Đồng thời chúng còn xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, phong cách, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản; cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng xuyên tạc, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trước hết lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, là sai lầm và đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào Việt Nam là một sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng cũng bôi nhọ, vu khống các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Trên thực tế, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tấn công vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là một sai lầm, bảo thủ, giáo điều; chủ nghĩa xã hội đang khủng hoảng và thoái trào; sự tan rã của Liên Xô, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và hệ thống xã hội chủ nghĩa là bằng chứng về sự bế tắc, vô vọng của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn. Chúng còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt dân tộc làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đã làm tròn sứ mệnh lịch sử; trong quá trình đổi mới, Đảng có nhiều sai lầm, vậy nên cần có lực lượng khác lãnh đạo đất nước; Việt Nam cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cần xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp. Hiện nay, chúng tiếp tục đưa ra những luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng ta, như cần phải tam quyền phân lập; cần phải đẩy mạnh phát triển “xã hội dân sự” theo nghĩa đối lập với Nhà nước; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ...
Ý đồ lâu dài không thay đổi của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, thay đổi chế độ ta. Thông qua việc truyền bá những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện đại hội ở thời kỳ đổi mới, Đảng đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một trong bốn nguy cơ. Đại hội VIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “Uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng. Phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch”(8). Đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là một chủ trương kiên quyết và nhất quán của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.
Để thực hiện chủ trương đó, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, nhiều chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới đã nêu lên 6 nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận, trong đó nhiệm vụ thứ tư là “chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới đã yêu cầu triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thực hiện đa nguyên chính trị, hình thành lực lượng đối lập, gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến” ở cả Trung ương và các ngành, các cấp.
Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, có phương thức đấu tranh phù hợp chống quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc phù hợp.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ quan trọng bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, vì vậy, cần huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; việc tổ chức đấu tranh cần được chuẩn bị kỹ, chặt chẽ, khoa học và quyết tâm cao. Tất cả các cơ quan tư tưởng, thông tin, tuyên truyền, báo chí là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này. Người đứng đầu cấp ủy phải là người tổ chức cuộc đấu tranh. Cần huy động một đội ngũ chuyên gia giỏi, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh. Cần thường xuyên sơ kết, rút kinh nghiệm, biểu dương những cơ quan, những người làm tốt nhiệm vụ.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là một mặt trận lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Cần thực hiện đúng theo phương châm cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn phương châm “thêm bạn, bớt thù”, phải có sách lược đúng đắn, xem xét từng đối tượng cụ thể trong đấu tranh. Biết cách đấu tranh cho phù hợp với từng đối tượng để cuộc đấu tranh có hiệu quả.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng phải theo định hướng, chỉ đạo thống nhất, đồng thời mỗi ngành, cơ quan, đoàn thể, địa phương phải xây dựng lực lượng, hệ thống tuyên truyền, kế hoạch hoạt động.
Tăng cường công tác thông tin, nhất là thông tin đại chúng thông qua báo chí, đài truyền hình, đài phát thanh, in-tơ-nét... Các báo, đài cần tìm ra những hình thức tuyên truyền phù hợp, sát với từng đối tượng. Phát huy vai trò tuyên truyền miệng, thông báo nội bộ, ấn phẩm báo chí, lý luận, diễn đàn trao đổi, đối thoại... Tăng cường hơn nữa thông tin đối ngoại; tiến hành thường xuyên việc nghiên cứu dư luận xã hội để nắm bắt nhanh, nhạy, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh tư tưởng, lý luận sát hợp.
Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; đổi mới tư duy, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định.
Bốn là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.
Điều có ý nghĩa quyết định để phản bác các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng là Đảng, Nhà nước phải lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm; chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tổ chức thực hiện thắng lợi, có hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước là vũ khí mạnh mẽ nhất, có tính thuyết phục nhất để bác bỏ các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc.
Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội XII khẳng định: Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.
Sau Đại hội XII, 2 năm qua, nhất là năm 2017, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới tiếp tục đạt được thành tựu khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tăng trưởng GDP đạt 6,81%, vượt kế hoạch đề ra, là mức cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu đạt 485 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Mặc dù chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ, nông nghiệp vẫn tăng 2,9%, gấp 4 lần so với năm 2016; kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 36 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.
Năng lực đổi mới sáng tạo khoa học - công nghệ được nâng lên. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được quan tâm chăm lo, bảo đảm; thực hiện tốt hơn chế độ, chính sách đối với người có công, người nghèo, nhất là những khi xảy ra thiên tai, bão lũ. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần củng cố an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Năm 2017 là một trong những năm thành công nhất trong công tác đối ngoại, đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Quan hệ với các nước, nhất là với các đối tác quan trọng ngày càng toàn diện và hiệu quả hơn. Đặc biệt, chúng ta đã tổ chức rất thành công tuần lễ cấp cao APEC 2017 ở thành phố Đà Nẵng. Việt Nam cũng lần đầu tiên đón lãnh đạo cao nhất hai cường quốc hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Mỹ tới thăm cấp nhà nước trong hai ngày liên tiếp. Các hợp tác song phương với Mỹ trị giá 12 tỷ USD và một loạt thỏa thuận, ghi nhớ trong nhiều lĩnh vực với Trung Quốc đã được ký kết. Với vai trò chủ nhà, chúng ta đã thực sự tạo nên dấu ấn Việt Nam trong tiến trình hợp tác của APEC nói riêng và liên kết kinh tế và chính trị tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung.
Chúng ta đã kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Những thành tựu mà đất nước ta đạt được là không thể phủ nhận. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm đưa đất nước trở thành “con hổ mới”./.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân
Pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. .
1. Mối quan hệ giữa quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân. Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (1966) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó, người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụphải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”1 đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2. Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, v.v.
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyềnvới nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”3. Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”4 là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.
2. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí. Những năm gần đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”, v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”. Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những “người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật của chính họ.
Thực tế trên thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở nước ta, quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bội nhọ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp (2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
Ngăn chặn và cảnh giác trước nguy cơ từ internet
Những hệ lụy từ việc để lộ bí mật cá nhân qua việc sử dụng những tiện ích mà một số công ty, tổ chức thu thập và phân tích dữ liệu lớn (Big Data) đem lại là cái giá phải trả không hề rẻ mà không ít người dùng internet phải gánh chịu. Ðã đến lúc người sử dụng internet nói chung và tham gia mạng xã hội nói riêng, cần cảnh giác, có ý thức hơn nữa trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình trong bối cảnh các dữ liệu này có thể dễ dàng bị khai thác, lạm dụng. .
Ngày nay, khi mà mỗi năm, các quốc gia phải đối mặt với vô số cuộc tiến công mạng thì an ninh mạng đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu. Theo khảo sát các chuyên gia thuộc Thales (một hãng chuyên cung cấp các giải pháp bảo mật của Pháp), tỷ lệ vi phạm an ninh mạng toàn cầu hiện nay là 67% và tình trạng này đang ngày càng gia tăng. Trong đó, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng đang đặt ra nhiều thách thức, bởi nguy cơ rò rỉ thông tin không chỉ gây thiệt hại cho người sử dụng mà còn ảnh hưởng tới an ninh quốc gia.
Theo số liệu thống kê từ trang Internetworldstats (website chuyên thống kê lượng người dùng internet của các quốc gia trên toàn thế giới) thì hiện Việt Nam có 64 triệu người dùng internet, đứng thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á, trong đó tỷ lệ người sử dụng hai nền tảng Facebook và Google là rất lớn. Thậm chí, nhiều người không thể "rời xa" các nền tảng này dù chỉ trong một ngày.
Tuy nhiên, họ có thể hoặc không nhận ra nguy cơ bị lạm dụng các dữ liệu cá nhân diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều hình thức.
Ðơn giản nhất là khi một người sử dụng thao tác tìm kiếm một mặt hàng gì thì chỉ vài phút sau hoặc liên tiếp trong những ngày tiếp theo, các quảng cáo về các sản phẩm đó liên tục hiện lên màn hình các trang web họ truy cập. Ðiều đó có nghĩa là dữ liệu về việc tìm kiếm của người này đã bị rò rỉ và đang bị khai thác. Tuy nhiên, đây chỉ là những dữ liệu khá đơn giản. Người sử dụng mạng internet còn phải đối diện với nguy cơ các dữ liệu quan trọng về sức khỏe, về tài chính cá nhân… bị rò rỉ và lạm dụng vào nhiều mục đích xấu.
Theo ước tính của hãng nghiên cứu thị trường Statista (Ðức), đến tháng 1-2018, đã có 55 triệu người Việt Nam sử dụng Facebook, trong đó có khoảng 0,77% người dùng bị khai thác và sử dụng thông tin cá nhân một cách trái phép, trong khi mỗi năm hai công ty này lại đã thu về nhiều món lợi khổng lồ từ thị trường Việt Nam. Cụ thể: Facebook đang đứng số một về doanh thu trực tuyến tại Việt Nam với khoảng 3.000 tỷ đồng, tiếp theo là Google với 2.200 tỷ đồng. Với con số khổng lồ thu được từ thị trường Việt Nam kể trên, rất nhiều khả năng một phần doanh thu là có nguồn gốc chính từ việc "tìm hiểu" dữ liệu cá nhân của người sử dụng.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và các tiện ích phát triển trên nền tảng internet, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, sự riêng tư của người sử dụng đã được nhiều nước trên thế giới đặt ra. Vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết sau khá nhiều vụ việc dữ liệu cá nhân bị rò rỉ trong thời gian qua. Vì thế, ngay khi Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR) của Liên minh châu Âu EU có hiệu lực vào ngày 25-5 vừa qua, Google và Facebook đã phải đối diện với những đơn kiện chỉ ra rằng, dữ liệu mà họ thu thập từ người dùng không chỉ được sử dụng trong phạm vi các dịch vụ của họ mà được sử dụng cho cả các quảng cáo mục tiêu. Ðây chính là lý do giúp hai công ty này thu về hàng tỷ đô-la Mỹ mỗi năm từ việc có được thông tin của người dùng mạng.
GDPR có hiệu lực được đánh giá là một bước đi mạnh mẽ của EU với mục tiêu sẽ mang lại cho người sử dụng những quyền lợi bảo mật tối đa. Quy định này yêu cầu các công ty phải thay đổi cách họ thu thập, lưu trữ và sử dụng thông tin cá nhân người dùng ở EU. Theo đó, các công ty phải xin phép và được sự đồng ý của người dùng cho mỗi lần sử dụng dữ liệu của họ. Các tổ chức và doanh nghiệp có thu thập thông tin cá nhân bắt buộc phải giữ bí mật thông tin khách hàng, phải công khai việc dùng thông tin đó để làm gì hay chuyển cho ai khác. Người dùng có quyền điều chỉnh cũng như xóa bỏ dữ liệu của họ bằng quyền truy cập những dữ liệu mà các công ty đã lưu trữ về họ. Khi xảy ra vi phạm, số tiền phạt tương ứng với mức độ vi phạm, có thể lên đến 20 triệu euro (ơ-rô) hoặc 4% doanh thu toàn cầu của công ty vi phạm.
Trong bê bối Facebook để rò rỉ thông tin của 50 triệu tài khoản xảy ra gần đây, Việt Nam đứng thứ 9 trong 10 quốc gia có số người dùng Facebook bị Cambridge Analytica khai thác và sử dụng thông tin trái phép với 427.446 người dùng bị rò rỉ thông tin. Có thể thấy, bên những nguyên nhân khách quan đã được nhắc đến nhiều, một trong các nguyên nhân chủ quan khiến người dùng Facebook tại Việt Nam dễ dàng bị lấy cắp thông tin cá nhân là do ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng chưa cao, thậm chí với một số người là rất kém.
Theo TS Vũ Quốc Khánh, chuyên gia về an ninh mạng, thì nhận thức về bảo mật an ninh mạng tại Việt Nam còn thấp. Phần lớn người sử dụng chưa quan tâm đúng mức, thậm chí là không quan tâm đến an ninh thông tin cá nhân. Thói quen chia sẻ thông tin của nhiều người dùng Việt Nam thường ở chế độ công khai, thay vì đặt ở chế độ riêng tư, hoặc chỉ dành cho bạn bè. Ðồng thời, nhiều người dùng mạng chủ quan không kiểm tra kỹ những dữ liệu riêng tư nào của mình được chia sẻ mỗi khi đăng ký tài khoản hoặc cài đặt các ứng dụng.
Trên thực tế, hiện có khá nhiều ứng dụng liên kết với các mạng xã hội tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn vì có tính năng thu thập thông tin của người sử dụng. Có trường hợp, dù chỉ là một trò chơi nhưng lại yêu cầu người tham gia phải truy cập vào nhiều dữ liệu cá nhân như: ảnh, video và cả quan điểm tôn giáo, chính trị... Một số quảng cáo cũng có thể bao gồm các phần mềm độc hại, thu thập dữ liệu của người dùng. Chưa kể, nhận thức về quyền được bảo vệ các dữ liệu riêng tư của phần lớn người sử dụng cũng rất yếu, hầu như không có phản ứng hoặc khiếu nại khi có nghi ngờ lộ thông tin.
Theo Trung tướng Hoàng Phước Thuận, Cục trưởng Cục An ninh mạng (Bộ Công an), cơ sở dữ liệu người dùng Việt Nam là tài sản quốc gia rất lớn, cần kiểm soát chặt chẽ, tránh bị sử dụng để tiến công vào các mục tiêu khác, nhất là nguy cơ chiếm đoạt bí mật cá nhân rồi bắc cầu tiến công vào hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia. Vì thế, việc bảo vệ hệ thống cơ sở dữ liệu người dùng là rất cần thiết. Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIV của Việt Nam đã thảo luận nhiều vấn đề của Dự thảo Luật An ninh mạng. Ngày 12-6, với 86,86% tổng số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ ngày 1-1-2019).
Thực tiễn công tác an ninh mạng những năm gần đây có nhiều thay đổi cùng với tốc độ phát triển từng ngày của kỹ thuật số. Luật An ninh mạng là cần thiết bởi cần có sự quản lý và xử phạt về luật pháp đối với các đối tượng sử dụng không gian mạng với mục đích xấu, góp phần mang lại sự an toàn cho người sử dụng mạng. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã ban hành luật về an ninh mạng như: Nga, Ðức, Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, Anh…
Tại Ðức, ngày 17-12-2014, Luật An ninh mạng được thông qua nhằm bảo vệ tốt hơn cho công dân và doanh nghiệp. Trong số nhiều quy định mới, Luật An ninh mạng của Ðức cũng yêu cầu các doanh nghiệp viễn thông phải nâng cao năng lực bảo đảm an ninh, an toàn thông tin đối với các công nghệ và dịch vụ ứng dụng cho người dùng. Ðồng thời, các doanh nghiệp này phải có trách nhiệm thông báo cho khách hàng khi phát hiện nguy cơ mất an toàn thông tin. Luật này còn quy định cụ thể những gì người sử dụng được phép chia sẻ trên facebook và những gì bị cấm viết trên mạng xã hội. Tháng 9-2015, Ðạo luật lưu trữ dữ liệu của Nga chính thức có hiệu lực. Theo đạo luật này, nhiều công ty công nghệ nước ngoài hoạt động tại nước này, gồm cả ba công ty lớn là: Facebook, LinkedIn và Google đều phải "địa phương hóa" dữ liệu nhằm bảo vệ tối đa thông tin cá nhân của người sử dụng cũng như bảo đảm an ninh mạng quốc gia.
Luật An ninh mạng của Trung Quốc cũng chính thức có hiệu lực từ ngày 1-6-2017, quy định chặt chẽ việc giám sát và lưu trữ dữ liệu của các công ty hoạt động tại nước này. Theo đó, các công ty cung cấp dịch vụ trực tuyến sẽ không được phép tự thu thập thông tin của người dùng hay bán các thông tin đó cho một bên khác; người dùng mạng có quyền yêu cầu xóa thông tin cá nhân, nếu cảm thấy những thông tin đó bị sử dụng sai mục đích.
Trên thực tế, các giải pháp từ phía các nhà quản lý hay nhà cung cấp dịch vụ là cần thiết. Song bên cạnh việc sử dụng dịch vụ, mỗi người cũng cần tỉnh táo, sáng suốt khi sử dụng các tiện ích, cần cẩn trọng hơn trong các thói quen chia sẻ thông tin hoặc cài đặt ứng dụng. Người dùng nên hạn chế việc chia sẻ những thông tin ở chế độ công khai, thường xuyên kiểm tra cài đặt cũng như cập nhật các biện pháp bảo mật. Ðồng thời, mỗi người dùng cần nâng cao ý thức về quyền được bảo vệ dữ liệu của mình, nâng cao hiểu biết về cơ chế hoạt động, tính năng của các dịch vụ, các công cụ mà mình đang sử dụng, nhất là các dịch vụ miễn phí. Ðó là việc làm thiết thực để góp phần bảo vệ bản thân cũng như bảo vệ cộng đồng.
Kích động biểu tình, bạo loạn: Đừng ảo tưởng và nhầm lẫn
Cuối cùng thì cái đuôi phản động cũng phải lòi ra. Phản đối Dự luật đặc khu và an ninh mạng cũng chỉ là cái cớ. .
Sau các cuộc biểu tình, đập phá tài sản xảy ra vào cuối tuần trước, hàng loạt đối tượng cầm đầu, quá khích đã bị khởi tố, bắt tạm giam. Cơ quan chức năng xác định, có bàn tay 'đạo diễn' của các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài và mục tiêu mà chúng hướng đến là gây rối an ninh trật tự, tiến tới bạo loạn và lật đổ. Nhưng họ đã ảo tưởng và nhầm lẫn.
Cách đây không lâu, một vị Phó giám thị tại một trại giam tâm sự: “Trong trại của ông có những người tù rất trẻ. Họ vào đây với tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Thay vì ăn năn, hối cải, những thanh niên này lại làm một công việc ngược lại. Họ tranh thủ “vận động” những cán bộ quản giáo và hứa hẹn, sẽ dành cho họ một chức vụ xứng đáng trong “chính phủ mới” khi lật đổ được chính phủ hiện thời…”. Vị cán bộ trại giam mỉm cười khi kể lại câu chuyện này vì sự ảo tưởng của những thanh niên mới lớn.
Nay, khi những đối tượng kích động biểu tình, bạo loạn ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận, Tây Ninh, Thanh Hóa… bị bắt tạm giam, họ đã không giấu diếm ý đồ của mình: kêu gọi người dân lật đổ chính quyền nhân dân. Chỉ buồn một nỗi, trong số những “hạt nhân” trực tiếp xuống đường biểu tình hoặc kích động trên mạng xã hội “nhân danh lòng yêu nước”, có kẻ từng có tiền án, tiền sự, có kẻ hành động vì những đồng đô la…
Cuối cùng thì cái đuôi phản động cũng phải lòi ra. Phản đối Dự luật đặc khu và an ninh mạng cũng chỉ là cái cớ. Trong dòng người đổ xuống đường ngày hôm đó, bao nhiêu người thực sự lo lắng cho an ninh quốc gia? Bao nhiêu người hiếu kỳ? Bao nhiêu người bị lợi dụng vào những mục tiêu đen tối?
Bày tỏ thái độ chưa hài lòng, chưa đồng thuận với những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiều chuyên gia, nhân sĩ, trí thức đã dám lên tiếng với mong muốn, khi chính sách đó được thông qua thì sau này, con cháu chúng ta không phải trả giá cho những sai lầm của những thế hệ trước. Nhưng, có người lên tiếng với tinh thần xây dựng, lại có người lên tiếng với giọng điệu thiếu thiện chí, vô hình trung làm cho những bức xúc trong xã hội ngày càng lên cao.
Hay, khi xảy ra biểu tình, đập phá tài sản tại Bình Thuận, nhiều người đã đặt ra câu hỏi: Tại sao lại là Bình Thuận, không phải là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng hay các tỉnh có đặc khu? Rồi nhiều người phỏng đoán, có thể, dân Bình Thuận bị dồn nén những bức xúc về môi trường, đất đai, về sự tắc trách của chính quyền cơ sở… Họ tự đi tìm câu trả lời, rồi đưa lên mạng xã hội… Trong khi, chính những phóng viên có mặt tại hiện trường vào giờ đó, ngày đó khẳng định: dân Bình Thuận không như họ nghĩ. Chính người Bình Thuận cũng thấy sợ hãi vì sự quá khích của những đối tượng cầm đầu.
Nhưng, dù những trí thức góp ý chưa thật khéo léo hay người Bình Thuận có thể chưa hài lòng với dự luật đặc khu, có những bức xúc nào đó thì chắc chắn, tất cả trong số họ đều không mong muốn xảy ra cơ sự như ngày 10 và 11/6 vừa qua. Họ càng không thể hình dung nổi, cuộc biểu tình, xuống đường ngày hôm đó đã bị lợi dụng cho những âm mưu bạo loạn. Đập phá trụ sở chính quyền, trạm cảnh sát phòng cháy chữa cháy và đốt phá xe cứu thương… Vậy, nếu xảy ra cháy nổ và có người bị thương thì lấy gì để cứu dân đây? Cố tình tạo ra điểm “nóng”, tạo ra bất ổn về chính trị- xã hội để bên ngoài can thiệp. Dã tâm đó đã từng xuất hiện trong các dịp lễ lớn, các dịp bầu cử, đại hội Đảng hay những sự kiện quốc tế lớn mà Việt Nam đăng cai…
Một đất nước đã từng trải qua chiến tranh, quá thấm thía về những khổ đau, mất mát, không lẽ, nền hòa bình có được, lại dễ dàng bị đánh đổi bởi những bức xúc tạm thời?
7 năm trước đây, một người bán hàng rong ở Tunisia đã bị viên thanh tra đòi hối lộ 7 USD. Đó là tất cả số tiền mà người đàn ông khốn khổ này kiếm được trong một ngày. Phẫn uất vì bị thu xe bán hàng, anh ta đã quyết định kết liễu đời mình bằng hành động tự thiêu, khởi nguồn cho hàng loạt cuộc biểu tình ở Tunisia và nhanh chóng lan ra các nước lân cận, tạo nên cơn địa chấn “mùa xuân Ảrập”. Hậu quả là nhiều chính quyền đã bị lật đổ.
Nhưng 7 năm sau, tổn thất và hậu quả của các cuộc nổi dậy này đang khiến cả thế giới hãi hùng. Những cuộc nổi dậy mà phương Tây từng ca ngợi là vì tự do và dân chủ cuối cùng có kết cục trái ngược hoàn toàn: thêm hỗn loạn, đất nước tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Đã có những người muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền mùa Xuân”. Còn viên thanh tra tịch thu quầy hàng của người bán rong, cách đây 7 năm, trong cuộc phỏng vấn với Telegraph đã không dấu nổi sự ân hận khi nói rằng: “Tôi ước gì mình đã không làm vậy. Tôi khởi đầu Mùa xuân Ảrập. Và giờ thì chết chóc đang ở khắp nơi, cực đoan thì bùng nổ”.
Câu chuyện này được nhắc tới tại Việt Nam, giống như một bài học để ngăn chặn ý đồ bạo loạn và lật đổ, nhắc nhở tất cả những ai ảo tưởng và nhầm lẫn. Nó cũng không là cũ với những chính quyền sở tại khi vô tình hay cố ý tạo nên những bức xúc trong dân./.
“Chống tham nhũng chậm chạp sẽ tạo thời cơ cho giặc nội xâm kết bè
Cử tri quận Cầu Giấy bày tỏ lo ngại với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về việc nếu làm chậm, những kẻ tham nhũng sẽ có điều kiện kết bè kéo nhóm. .
Một trong những nội dung được cử tri dành sự quan tâm đặc biệt gửi tới Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 5 tại UBND quận Cầu Giấy, Hà Nội chiều 17/6 là vấn đề phòng chống tham nhũng, tiêu cực.
Bên cạnh việc đánh giá cao những nỗ lực của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ trong công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại giặc “nội xâm” vẫn còn ẩn giấu ở nhiều nơi, rất khó phát hiện. Đấu tranh chống tham nhũng vội vàng cũng không được nhưng chậm chạp sẽ tạo thời cơ, điều kiện để “chúng hình thành nhiều dây, nhiều nhóm”.
Cử tri Nguyễn Phi Cơ (phường Quan Hoa) cho rằng, phòng chống tham nhũng là phải phòng từ xa mới mong đạt được hiệu quả. Theo cử tri, sở dĩ chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí là do chúng ta làm chưa tích cực.
“Trong phòng ngừa, vấn đề chủ yếu là phải phòng từ xa, để chúng đến gần rồi thì phòng khó lắm, có nghĩa là phải phòng ngay từ khi hoạch định, từ khi làm kế hoạch, từ cơ chế thì hiệu quả sẽ rất cao. Phòng chống tham nhũng cũng như đánh giặc. Chống giặc ngoại xâm tuy khó nhưng ta còn nhìn thấy giặc để đánh chứ giặc nội xâm, chúng ẩn giấu ở khắp nơi, chúng tạo ra những cơn lốc xoáy sâu vào chế độ, đặc biệt chúng hình thành nên các dây, nhóm tham nhũng nên càng khó phát hiện. Chúng ta làm chậm sẽ tạo thời cơ để chúng tập hợp lực lượng, lập ra càng nhiều nhóm, nhiều dây, đến lúc nào đó đủ điều kiện có khi chúng sẽ kéo cả giặc ngoại xâm vào”, cử tri nêu quan điểm.
Cử tri đề nghị Đảng, Nhà nước cần phát động, kêu gọi người dân tham gia phát hiện giặc nội xâm. Nếu không làm quyết liệt, Đảng, Nhà nước sẽ còn rất vất vả để đối phó với giặc tham nhũng. Một số cử tri kiến nghị đẩy mạnh việc tố giác và bảo đảm an toàn cho người tố giác. Kết hợp chặt chẽ giữa việc xử lý tố giác và vận động, kêu gọi đối tượng tham nhũng ra tự thú. Giải pháp này thực tế đã bước đầu cho thấy có hiệu quả khi vừa qua có 29 cán bộ đã tự giác nộp lại tiền biếu xén.
Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt việc kê khai tài sản cá nhân. Cử tri cho rằng, việc báo cáo cho biết đến nay mới chỉ phát hiện 5 đối tượng kê khai không trung thực là không thể chấp nhận. “Liệu có quan chức nào không biết nhà đất của mình nằm ở đâu bởi đó là những món quà, được biếu xong cất ngay vào tủ nên không biết nó nằm ở đâu? Chắc chắn nếu chúng ta làm quyết liệt, kết quả sẽ nhiều hơn nữa chứ không chỉ dừng lại ở 5 người”, một cử tri nói.
Đồng quan điểm, cử tri Lê Đình Can (phường Mai Dịch) cho rằng, việc Quốc hội thông qua Luật Tố cáo, sẽ phát huy được sức mạnh của toàn dân trong việc tố giác tham nhũng, bất minh. Người dân biết được người nào tham nhũng, có bao nhiêu nhà, bao nhiêu tài sản. Cử tri cũng kiến nghị, khi người dân đã phát hiện, tố giác, cơ quan chức năng cần xử lý nghiêm, làm đến nơi đến chốn.
“Việc phát hiện 5 người kê khai không đúng, tôi không tin vào con số đó, mà chắc chắn phải nhiều hơn. Nhiều người khi làm cán bộ tài sản đã tăng lên gấp 15, gấp 20 lần, dân đều biết. Nhưng quan trọng là chúng ta khai thác và sử dụng nguồn tin từ người dân ra sao”, cử tri Lê Đình Can nêu ý kiến.
Cử tri Hà Huy Thông (phường Nghĩa Tân) lo ngại cuộc chiến chống tham nhũng vẫn còn vô cùng cam go, ác liệt, đề nghị Đảng, Chính phủ, Quốc hội tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, giành thắng lợi hơn nữa. Đặc biệt, việc thực hiện kỷ luật cán bộ đảng viên phải theo đúng quy định của Bộ Chính trị, để thực sự “không có vùng cấm, không có khái niệm hạ cánh an toàn”./.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội
Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. .
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Chính vì vậy, hơn 70 năm qua, Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là học thuyết khoa học và cách mạng, vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân và nhân loại để đấu tranh chống giai cấp bóc lột, giải phóng mình, thực hiện sứ mệnh lịch sử là đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân lao động. Vì vậy, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn bị chủ nghĩa đế quốc, các phần tử phản động ra sức chống phá, phủ nhận. Đối với nước ta, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng những hạn chế trong quản lý, điều hành đất nước, cùng các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi, thâm độc hơn, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đến nay không còn phù hợp nữa; sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, v.v. Từ đó, họ ngụy biện rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, với mục đích đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một luận điệu rất nguy hiểm, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, v.v.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch cũng không nằm ngoài sự chống phá của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện được mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, Cương lĩnh của Đảng,… làm cho cán bộ, chiến sĩ từng bước phai nhạt, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, v.v. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đang là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các cấp, các ngành, tổ chức, lực lượng phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trong đó, công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng; những kiến thức cơ bản về văn hóa - xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Đồng thời, nhận diện rõ các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch; luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị tổ chức được nhiều hoạt động, thu hút được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch. Nhiều webside, blog của tổ chức, cá nhân phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí Quân đội đã tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục, với nhiều bài viết sắc sảo, tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị 87-CT/QUTW, ngày 08-7-2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Các cơ quan thông tấn, báo chí Quân đội mở chuyên trang, chuyên mục riêng về nội dung này, với nhiều bài viết chuyên sâu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đặc biệt, chuyên mục “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa” đã góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Quân đội và xã hội, v.v. Công tác thông tin tuyên truyền, văn hóa - văn nghệ có nhiều đổi mới, giữ vững định hướng, bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đất nước, Quân đội, đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội. Qua đó, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ngăn chặn, hạn chế sự tác động của quan điểm sai trái, thông tin xấu độc đến bộ đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục triệt để tận dụng mạng xã hội, internet để tán phát tài liệu chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng, đường lối, Cương lĩnh, nhân sự của Đảng; nói xấu lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội; thổi phồng những hạn chế, tồn tại trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội, tiêu cực; lợi dụng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những vấn đề liên quan đến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ để công kích Đảng, chế độ, v.v. Qua đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, nhằm từng bước chuyển hóa bản chất cách mạng của Quân đội ta. Do vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, triển khai hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ này1; tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tình đoàn kết quân dân; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, triển khai nghiêm Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 09-02-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Theo đó, đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo, tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trước hết là, đổi mới hệ thống chương trình, giáo trình, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn, bảo đảm đội ngũ này thực sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có phương pháp giảng dạy hiện đại; gắn lý luận với thực tiễn, cập nhật kiến thức mới, khắc phục sự trùng lắp, khép kín, thiếu liên thông giữa các chương trình, các cấp học, bậc học. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị ở đơn vị cơ sở trong tình hình mới”; duy trì nghiêm chương trình, kế hoạch giáo dục chính trị hằng năm của các đối tượng, các chế độ đọc báo, nghe đài, xem thời sự, Ngày Đảng, Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, v.v. Phát huy vai trò của các nhà khoa học, các cơ quan, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, làm cơ sở khoa học đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch.
Hai là, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính trong công tác tư tưởng, lý luận, tạo ra sức đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các cơ quan, đơn vị chủ động tuyên truyền nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiên tiến về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lấy tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống cho nhân dân làm chủ đạo, đảm bảo tính khách quan, toàn diện cả những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong xã hội. Đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực phải trên tinh thần xây dựng, lấy “xây” làm chính và lấy “xây” để “chống”, lấy mặt tích cực đẩy lùi tiêu cực. Trong tuyên truyền cần chỉ rõ sự đổ vỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là do đảng cộng sản của những nước đó đã vận dụng học thuyết Mác – Lê-nin một cách cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí nên dẫn đến sai lầm, chứ không phải do chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, lạc hậu. Đặc biệt, trước những khó khăn, khủng hoảng kinh tế thế giới gần đây, thì chủ nghĩa Mác, nhất là học thuyết kinh tế của C. Mác được nhiều quốc gia nghiên cứu, vận dụng; khẳng định, tư tưởng của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị và sức sống bền vững trong thế kỷ XXI.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kết hợp chặt chẽ phong trào “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội” với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, v.v. Từ đó, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, lòng tin với Đảng, với chế độ và các giá trị chân, thiện, mỹ, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn hướng tới cái đúng, cái đẹp, đẩy lùi cái sai trái, cái xấu; giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nhiệm vụ quan trọng hiện nay là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch; chủ động khắc phục, ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, các ấn phẩm xấu độc xâm nhập vào đơn vị, bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Ba là, đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trước hết, các cơ quan báo chí, xuất bản, nhất là các báo, tạp chí điện tử, trang điện tử tổng hợp phải tích cực, chủ động đi trước trong cuộc đấu tranh này. Bám sát các sự kiện, nắm bắt thủ đoạn chống phá của các thế lực địch để có bài viết cung cấp thông tin chính xác, định hướng dư luận. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân với Quân đội của các thế lực thù địch. Các đơn vị văn học, nghệ thuật tập trung xây dựng, tuyên truyền những hình mẫu lý tưởng cách mạng, nhân văn, ca ngợi, xây đắp những chuẩn mực, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, cổ vũ cho xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,… làm cho những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, chính thống tới mọi cán bộ, chiến sĩ; hình thành các trang web cá nhân của lực lượng nòng cốt, mở rộng, phát triển các bloger để phối hợp đấu tranh trực diện với luận điệu tuyên truyền sai trái trên không gian mạng. Nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để cải tiến, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.
Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nhiệm vụ này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý, điều hành trực tiếp của bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn quân, Quân ủy Trung ương đã ban hành Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”. Trên cơ sở đó, đồng thời bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị, cấp ủy các cấp đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh sát, đúng, hiệu quả. Cơ quan chính trị các cấp nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, vận dụng sáng tạo các hình thức, phương pháp trong đấu tranh tư tưởng, tránh hình thức, đơn giản; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, thu hút đông đảo các đối tượng tham gia; chấp hành nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; quy chế sử dụng internet, thông tin tuyên truyền, v.v.
Năm là, thường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt; bảo đảm tốt phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho công tác thông tin tuyên truyền, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thời gian qua, việc tổ chức, hoạt động của lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận được các đơn vị, nhất là ở các nhà trường, cơ quan báo chí quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, bước đầu đạt hiệu quả tốt. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các đơn vị tập trung xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng này. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm tổ chức lực lượng,... cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường, các cơ quan, đơn vị, đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản. Đồng thời, quan tâm đầu tư, trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng, bảo đảm kinh phí, chế độ chính sách phù hợp đối với lực lượng này, v.v.
Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội.
Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ
Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ (CTCB) là vấn đề được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đặc biệt quan tâm khi đề ra nhiệm vụ, giải pháp để tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ (ĐNCB) các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Quyền lực trong CTCB nằm ở hai chủ thể: Quyền lực của cơ quan quản lý cán bộ và quyền lực của người cán bộ có thẩm quyền trong CTCB. CTCB là của Đảng, trực tiếp và thường xuyên là của cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền. Về nguyên tắc, CTCB là của tập thể lãnh đạo; cá nhân, kể cả người đứng đầu cấp ủy đảng không có quyền quyết định, nhưng với chức trách, thẩm quyền nhất định của thành viên trong tập thể lãnh đạo, sự lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB vẫn có thể xảy ra, nhất là ở người đứng đầu tập thể lãnh đạo.
Các dạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB thường xảy ra, như: Sử dụng thẩm quyền của người đứng đầu để lợi dụng cơ chế tập thể, hợp lý hóa ý đồ cá nhân về CTCB; Lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm cố ý làm trái trong tuyển dụng, tiếp nhận, đánh giá, nhận xét, quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, bầu cử, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ… thiếu công tâm, khách quan, chuẩn xác, không bảo đảm quy trình, thủ tục, thậm chí trái quy định. Tác động, can thiệp, yêu cầu đối tượng tiếp nhận người thân trong gia đình vào làm việc; được nâng lương, đề bạt, bầu, bổ nhiệm trái quy định, không đúng tiêu chuẩn, hoặc được đi tham quan, học tập không đúng chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước. Lợi dụng vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình “gợi ý” đối tượng thuộc quyền lãnh đạo, quản lý để vụ lợi; nhận hoặc gợi ý đối tượng tài trợ tiền, tài sản để chạy chức, chạy quyền; yêu cầu hoặc gợi ý đối tượng cho vay, mượn tiền, tài sản dưới mọi hình thức trái quy định; nhận các giá trị vật chất, tinh thần của đối tượng trái quy định. Chỉ đạo cấp dưới thực hiện hoặc không thực hiện chức trách nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong CTCB để nâng đỡ, hoặc trù dập đối tượng trái nguyên tắc, quy định của Đảng và Nhà nước…
Những biểu hiện lạm quyền, lộng quyền trên là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng tiêu cực, yếu kém trong CTCB, mà Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ: “…Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình, nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, "cánh hẩu" xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”.
Để xảy ra tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB có nhiều nguyên nhân, trong đó việc kiểm soát quyền lực trong CTCB còn những thiếu sót, hạn chế, chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu. Thể chế CTCB còn những bất cập, sơ hở cho kiểm soát quyền lực. Một số quy định chưa thật chặt chẽ trong quy hoạch, bổ nhiệm, đánh giá cán bộ đã bị lợi dụng khá phổ biến, dẫn đến tình trạng “đúng quy trình” nhưng không đúng người xảy ra ở không ít nơi, gây bức xúc dư luận trong những năm qua.
Việc kiểm soát quyền lực của cấp trên đối với cấp dưới còn lỏng lẻo, thiếu thường xuyên, trong khi kiểm soát của cấp dưới, của nhân dân chưa thật sự hiệu lực, hiệu quả. Kiểm soát bên trong tổ chức bị suy yếu, không ít tập thể lãnh đạo, như ban thường vụ cấp ủy mất sức chiến đấu, bị người đứng đầu thao túng trong CTCB. Một số chế tài xử lý khi có lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB còn thiếu cụ thể, mạnh mẽ, nên chưa phát huy tác dụng ngăn chặn, răn đe; thường đến khi gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí rất nghiêm trọng mới có thể xử lý được.
Cơ quan chuyên trách kiểm soát quyền lực nói chung, kiểm soát quyền lực trong CTCB nói riêng chưa đủ mạnh, cũng tạo ra những sơ hở, bất cập cho kiểm soát quyền lực đối với người đứng đầu.
Sự lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong CTCB thường đi liền với tham nhũng. Đặc biệt, tham nhũng trong CTCB rất nguy hiểm, vì quy mô gây tổn hại về kinh tế cho xã hội không thua kém tham nhũng trong kinh tế, nhưng đặc biệt nguy hại vì nó phá hoại đường lối CTCB, đường lối xây dựng Đảng, xây dựng chế độ mới của Đảng, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ - “cái gốc” của mọi công việc. Chính vì vậy, để chống tham nhũng trong CTCB phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong CTCB.
Để thực hiện được điều này, cần có cơ chế kiểm soát đa chiều: Kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức, trách nhiệm; kiểm soát bên trong của tổ chức kết hợp kiểm soát bên ngoài của nhân dân, xã hội; kiểm soát của bên trên đối với bên dưới, kết hợp với kiểm soát của bên dưới đối với bên trên; kiểm soát trong Đảng, đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị; trong mọi tổ chức của xã hội. Kiểm soát của tổ chức thúc đẩy sự tự kiểm soát của cá nhân cán bộ; kiểm soát của cơ quan chuyên trách việc kiểm soát quyền lực kết hợp với cơ quan không chuyên trách; kiểm soát của cơ quan quyền lực kết hợp với kiểm soát của cơ quan báo chí, dư luận…
Trước hết, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và toàn xã hội về kiểm soát quyền lực trong CTCB. Kiểm soát quyền lực đã đến lúc phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và chế độ mới, gắn liền với cuộc đấu tranh chống suy thoái, tham nhũng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Đồng thời, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện, tự quản lý, kiểm soát chính mình trước những tham vọng quyền lực và cám dỗ lợi ích vật chất. Tổ chức đảng có trách nhiệm thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, khuyến khích tự tu dưỡng, rèn luyện, tự quản lý, kiểm soát chính mình trước những tham vọng, cám dỗ của quyền lực.
Cần quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình CTCB; xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong CTCB. Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong CTCB theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm. Điều chỉnh các quy định, quy chế CTCB, trong đó xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong đánh giá, lựa chọn, giới thiệu, bố trí sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo hướng coi trọng đánh giá, lựa chọn của cấp trưởng đối với cấp phó; coi trọng đánh giá của người đứng đầu đối với thủ trưởng các đơn vị trực thuộc. Nghiên cứu, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong tất cả các khâu khác của CTCB, trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ.
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền trong CTCB. Phải thiết lập đồng bộ cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong và bên ngoài. Bên trong cần bảo đảm hiệu lực kiểm soát của tập thể lãnh đạo cùng cấp thông qua chế độ chất vấn và bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với người đứng đầu; cấp trên có quyền đình chỉ tư cách của người đứng đầu cấp dưới khi phát hiện sai phạm nghiêm trọng trong CTCB. Cơ quan tổ chức cấp trên có cơ chế giám sát, kiểm tra thường xuyên CTCB thuộc trách nhiệm người đứng đầu. Bên ngoài cần thiết lập cơ chế để nhân dân và báo chí giám sát người đứng đầu thuận tiện, hiệu lực, kịp thời.
Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch, tạo cơ chế cạnh tranh lành mạnh trong CTCB, nhất là trong các khâu tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Dân chủ, công khai, minh bạch là hết sức quan trọng để kiểm soát quyền lực trong CTCB. Cần quy định rõ tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý các cơ quan trong hệ thống chính trị có tính định lượng cụ thể để tạo ra sự công khai, minh bạch, để có cơ sở giám sát, kiểm tra. Đổi mới mạnh mẽ cách đánh giá, bổ nhiệm, bầu cử, giới thiệu bầu cử theo hướng dân chủ thật sự. Trong bổ nhiệm, bầu cử, giới thiệu bầu cử cần thực hiện chế độ bắt buộc có ít nhất hai ứng cử viên trở lên cho mỗi chức danh. Xây dựng cơ chế chịu trách nhiệm của người giới thiệu bổ nhiệm cán bộ, nếu giới thiệu đúng sẽ có chế độ khen thưởng và ngược lại nếu giới thiệu bổ nhiệm sai thì phải xem xét trách nhiệm. Thực hiện việc giới thiệu bổ nhiệm cán bộ bằng văn bản và quy định việc chịu trách nhiệm về người mà mình giới thiệu.
Cần tăng cường kiểm tra, giám sát CTCB và cán bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi sai trái, lạm quyền trong CTCB. Tiếp tục đồng bộ hóa các quy định của Đảng, Nhà nước về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm, nhằm kiểm soát chặt chẽ quyền lực và triển khai thực hiện nghiêm túc. Thực hiện chế độ cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ; giám sát từ dưới lên, giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong CTCB, hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Kịp thời hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về CTCB; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân sai phạm, không có "vùng cấm". Tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm minh, kịp thời các trường hợp lạm dụng quyền lực để răn đe các ý đồ lạm dụng quyền lực.
Chú trọng thiết lập cơ quan kiểm soát quyền lực đủ mạnh. Quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực. Nếu không có cơ quan kiểm soát quyền lực thì rất nguy hiểm khi mà người đứng đầu lộng quyền, tha hóa. Cơ quan kiểm tra, thanh tra phải có tính độc lập và đủ thẩm quyền để kiểm soát quyền lực trong CTCB.
Vẫn luận điệu xuyên tạc cũ rích về tình hình tôn giáo ở Việt Nam .
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhất quán chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. .
Trong phần đánh giá về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo thế giới 2017 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và pháp luật; thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã đạt được những thành tựu trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, Báo cáo cho rằng, chính quyền tiếp tục “đàn áp” những tổ chức tôn giáo không chịu sự kiểm soát của Nhà nước. Pháp luật Việt Nam với những điều khoản “mơ hồ cho Nhà nước kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa gọi là bảo vệ an ninh quốc gia và duy trì đoàn kết dân tộc”. Cán bộ an ninh một số địa phương gây sức ép, ngăn chặn hoạt động của các tổ chức tôn giáo chưa được cấp phép đăng ký hoạt động. Chính quyền “quấy rối, cản trở” sinh hoạt của tín đồ Công giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai. Còn trong Báo cáo thường niên của USCIRF, mặc dù đã công nhận Việt Nam có những bước tiến trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo, nhưng Báo cáo này lại đánh giá sai lệch, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, khi cho rằng: mặc dù Chính phủ đã nhìn nhận sự đa dạng của tôn giáo nhưng lại chỉ chấp nhận hoạt động của những tôn giáo đã được đăng ký với Chính phủ. Chính quyền “đã gia tăng bắt bớ các blogger, những nhà hoạt động xã hội dân sự và cả những người theo các tôn giáo không được nhà nước thừa nhận”. Báo cáo của USCIRF đã đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo (CPC) vì “có những đàn áp nghiêm trọng nhằm vào tôn giáo trong năm 2017”.
Vì sao Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục lặp lại luận điệu xuyên tạc cũ rích về tình hình tôn giáo ở Việt Nam như vậy? Bởi cũng như USCIRF, Bộ này đã lấy thông tin chủ yếu từ một số nghị sĩ cực đoan Mỹ, những cá nhân bất mãn, chống đối trong nước và các tổ chức phản động lưu vong, tổ chức phi chính phủ quốc tế thường lợi dụng dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam cung cấp để xây dựng Báo cáo. Đó là các thông tin bị bóp méo, xuyên tạc, phản ánh sai lệch tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cả Bộ Ngoại giao Mỹ, USCIRF đã cố tình áp đặt những định kiến chủ quan của họ để đưa ra những nhận xét sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, bất chấp những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Suy cho cùng, mục đích ra Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và USCIRF là nhằm hậu thuẫn, tiếp sức cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật núp dưới vỏ bọc “đấu tranh cho tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền” để xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp nội bộ nước ta. Quan niệm khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo giữa các quốc gia là điều bình thường, nhưng điều cần nói ở đây là Chính phủ Mỹ không có quyền áp đặt mô hình tôn giáo của mình cho các quốc gia khác trong đó có Việt Nam, điều đó chỉ làm tổn hại đến quan hệ đối tác toàn diện đang phát triển hết sức tốt đẹp giữa Mỹ và Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhất quán chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ngay từ ngày mới thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 234/SL khẳng định:“Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là quyền lợi của nhân dân. Chính phủ luôn tôn trọng và giúp đỡ nhân dân thực hiện. Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo phải tuân theo pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác của nhân dân. Việc bảo vệ tự do tín ngưỡng bắt buộc phải trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo gây rối loạn”. Kế thừa, phát triển quan điểm chỉ đạo của Người, Đảng ta đã khẳng định: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Trên cơ sở thể chế hóa quan điểm của Đảng, luật pháp quốc tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24); “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2, Điều 14); nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.Điều này hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế quy định trên lĩnh vực này, như Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị năm 1966 đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng”, “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác” (Điều 18). Đặc biệt, việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là cơ sở pháp lý quan trọng khắc phục những bất cập, tồn tại của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành, đổi mới cơ chế quản lý nhà nước tạo thông thoáng, minh bạch, tạo cơ chế pháp lý nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trên lĩnh vực này; hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế.
Với những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, có thể dễ dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay. Theo thống kê sơ bộ, từ 6 tôn giáo với 16 tổ chức tôn giáo (năm 2005), hiện nay ở nước ta đã có 15 tôn giáo với 41 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 25 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 83 nghìn chức sắc, nhà tu hành, gần 134 nghìn chức việc, 27 nghìn cơ sở thờ tự (năm 2017). Các tôn giáo đã có hệ thống đào tạo quy mô trong cả nước, trong đó, Phật giáo có 04 Học viện, 35 trường Cao đẳng, Trung cấp Phật học; Công giáo có 07 Đại Chủng viện; Tin lành có 01 Viện và 01 trường Thánh kinh Thần học, v.v. Các địa phương đã giải quyết cơ bản việc lập hồ sơ, xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo; thủ tục hành chính giải quyết nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ chức sắc theo cơ chế “một cửa” diễn ra công khai, nhanh gọn. Các cơ sở thờ tự tôn giáo được chính quyền các cấp tạo điều kiện tu sửa, nâng cấp và xây mới. Ngày càng nhiều các chức sắc, nhà tu hành tham gia quản lý nhà nước và xã hội, là đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nhà nước tạo điều kiện cho nhiều đoàn tôn giáo quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam và cho phép nhiều đoàn chức sắc tôn giáo trong nước đi thăm, làm việc ở nước ngoài. Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin; Nhà nước đã cấp phép xuất bản kinh sách bằng các tiếng dân tộc và bằng song ngữ Việt với nhiều quốc gia, v.v. Hằng năm, có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng được tổ chức trên toàn quốc. Đồng bào các tôn giáo thực sự trở thành lực lượng quan trọng hưởng ứng các phong trào Thi đua yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, tích cực đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Những năm qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện các nghĩa vụ, cam kết quốc tế về quyền con người, như: Đảm nhận tốt vai trò thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018; tham gia tích cực, có trách nhiệm Ủy ban Liên Chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR), đồng thời thực hiện đầy đủ các cam kết và nghĩa vụ theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, đặc biệt là thực hiện 182 khuyến nghị theo Cơ chế UPR chu kỳ II mà Việt Nam chấp thuận nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền con người. Việc làm đó, đã thể hiện Việt Nam là một quốc gia tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, được Liên hợp quốc đánh giá cao. Đó là bằng chứng sinh động nhất khẳng định mạnh mẽ nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người; trong đó, có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và là một sự thật khách quan không ai có thể phủ nhận được.
Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật, đồng thời nghiêm cấm hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của công dân. Thời gian qua, các cơ quan chức năng ở một số địa phương, như: Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai,… đã bắt giữ, xử lý một số chức sắc, tín đồ tôn giáo và công dân vì đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của các cơ quan Nhà nước, của người dân, truyền bá mê tín dị đoan, phát triển tà đạo, tạp đạo hoặc các tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước chứ không hề có chuyện chính quyền “đàn áp, bắt bớ” trái pháp luật các tín đồ, chức sắc tôn giáo như Báo cáo đã nêu. Đó là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà ở các quốc gia khác kể cả ở Mỹ nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự công cộng. Cũng như mọi hoạt động bình thường khác, việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Các tôn giáo ở Việt Nam muốn phát triển được đều phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Mỹ là quốc gia tự cho mình luôn đảm bảo tự do tôn giáo thì cũng là nơi bị lên án vi phạm quyền này. Điển hình là Hội đồng Giám mục Mỹ đã nhiều lần tố giác đạo luật tại một số bang ở Mỹ đe dọa hoặc kỳ thị các tín đồ Ki-tô, đặc biệt là Công giáo, như luật buộc các tổ chức Công giáo phải trả bảo hiểm ngừa thai cho các nhân viên. Đặc biệt, sau sự kiện khủng bố xảy ra ở Mỹ ngày 11-9-2001, hiện tượng “bài Hồi giáo” ngày càng diễn ra phổ biến tại Mỹ. Chính Richard Rorty, triết gia nổi tiếng người Mỹ đã nói: “Nếu chủ nghĩa phát xít đến Hoa Kỳ, nó sẽ liên kết với sự cố chấp tôn giáo. Tôi thú nhận rằng nếu phải đánh cược nước nào tới đây sẽ bị phát xít hóa, chắc tôi chọn Hoa Kỳ”. Điều đó cho thấy, ngay nội tại nước Mỹ cũng vẫn diễn ra các vụ việc vi phạm quyền tự do tôn giáo của người dân. Vậy thì hà cớ gì mà Chính phủ Mỹ có quyền đi phán xét vấn đề tôn giáo của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam ?
Nhằm góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng phát triển, Nhà nước ta luôn hoan nghênh các chính khách Hoa Kỳ và đại diện USCIRF tới thăm, làm việc tại Việt Nam để tăng cường sự hiểu biết và có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, tránh đưa ra những đánh giá sai lệch, xuyên tạc vấn đề này ở Việt Nam như các Báo cáo thường niên vừa qua đã nêu.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)