Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021
Phát huy vai trò của chi bộ trong ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" từ cơ sở
“Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" là biểu hiện hết sức nguy hiểm đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
“Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" đang diễn ra từng ngày, từng giờ ở mọi cấp, mọi ngành, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn đến những biến động xã hội, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, sự an nguy của chế độ. Một trong các biện pháp đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đó là, phát huy vai trò của chi bộ cơ sở.
Chi bộ là tế bào của Đảng, là cơ quan lãnh đạo trực tiếp, gần gũi với nhân dân, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Mọi đảng viên đều tham gia sinh hoạt, chịu sự quản lý về mọi mặt của tập thể chi bộ. Điều đó cho thấy, chi bộ có vai trò, tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng nói chung và công cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" nói riêng. Tuy nhiên, trong thời gian qua, vai trò của chi bộ chưa được phát huy đầy đủ, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ rõ: “Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu”.
'Phân tích tình trạng tham nhũng, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" những năm qua cho chúng ta thấy: Một trong những nguyên nhân dẫn đến hàng loạt cán bộ, đảng viên (CB, ĐV), trong đó nhiều đồng chí là cán bộ chủ trì vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước là do vai trò của chi bộ cơ sở chưa được phát huy. Việc tổ chức quán triệt, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nhiều chi bộ chưa tốt. Đặc biệt, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi bị buông lỏng. Các vi phạm của những CB, ĐV bị xử lý thời gian vừa qua không phải tức thì, bột phát mà đều có quá trình, từ những biểu hiện manh nha vi phạm nhỏ, đến vi phạm lớn, sai phạm nghiêm trọng và chắc chắn cấp ủy, chi bộ đều biết. Nếu như công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng được tiến hành một cách thường xuyên, ráo riết ngay từ chi bộ; việc đấu tranh với những vi phạm không “dĩ hòa vi quý” nể nang, né tránh... thì chắc chắn sẽ ngăn chặn được những biểu hiện vi phạm và các vụ việc nghiêm trọng sẽ không xảy ra... Vì vậy, muốn ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả cao, cần có những biện pháp cụ thể, hữu hiệu ngay từ cấp chi bộ.
Để phát huy vai trò của chi bộ trong phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ cơ sở cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó, cần nhấn mạnh những giải pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cấp ủy chi bộ cần tích cực, chủ động tổ chức tốt hoạt động học tập, nghiên cứu nâng cao nhận thức của đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Cần coi đây là giải pháp hàng đầu, bởi lẽ, nhận thức của đảng viên về mục tiêu, lý tưởng cách mạng có sâu sắc triệt để hay không phụ thuộc vào sự hiểu biết của từng người về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thông tin đa chiều đang tác động từng ngày, từng giờ đến mọi người, nên không tránh khỏi sự lệch lạc về nhận thức, tư tưởng. Bởi vậy, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng hiện nay, chỉ giành được thắng lợi, khi toàn Đảng thống nhất cả về nhận thức và hành động.
Theo đó, trước hết từng cấp ủy, chi bộ cần tổ chức tốt việc tự học tập, tự bồi dưỡng cho CB, ĐV để nâng cao trình độ lý luận, trình độ về mọi mặt, đáp ứng với nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, trong thời kỳ mới. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu, bởi lẽ, khi Đảng ta đang hoạt động bí mật, tự học tập, tự bồi dưỡng là biện pháp quan trọng nhất, được thực hiện rất nghiêm túc, công phu. Chính lao tù của thực dân, đế quốc đã trở thành trường học lớn để những chiến sĩ cộng sản bồi dưỡng cho nhau các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng của Đảng. Ngày nay, chúng ta có điều kiện tốt hơn rất nhiều, nhưng chưa được các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng, chủ yếu vẫn trông chờ, ỷ lại sự tổ chức bồi dưỡng của cấp trên.
Cùng với đó, cần tổ chức tốt các buổi học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp của Nhà nước cho CB, ĐV. Biện pháp này hết sức quan trọng, bởi vì, nghị quyết, chị thị của Đảng sẽ được thể chế hóa, luật pháp hóa, tùy theo từng thời kỳ khác nhau, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững nghị quyết, chỉ thị của Đảng là tiền đề để từng đảng viên hiểu rõ và tự giác thực hiện luật pháp của Nhà nước đề ra. Làm tốt điều này, lẽ đương nhiên sẽ ngăn chặn có hiệu quả mầm mống của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”.
Mặt khác, duy trì và thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nội dung này cần được cấp ủy, chi bộ duy trì một cách thường xuyên, tránh tình trạng, khi có chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thì triển khai rầm rộ, sau đó rơi vào trầm lắng. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phải được tổ chức chặt chẽ, đi vào hoạt động thực tiễn một cách cụ thể, thiết thực.
Thứ hai, cấp ủy, chi bộ cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, phát huy mạnh mẽ tự phê bình và phê bình của mọi CB, ĐV ngăn chặn mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Giải pháp này rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, bởi lẽ, một tổ chức đảng muốn vững mạnh phải có sự gắn kết của các thành viên. Nội dung, hình thức sinh hoạt đơn điệu, thiếu tính chiến đấu sẽ làm cho mọi thành viên không còn mặn mà hăng hái tham gia sinh hoạt chi bộ, chưa nói là tham gia các hoạt động lãnh đạo với tư cách là một đảng viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng đã chỉ ra, đây là một trong những nguyên nhân mang tính chủ quan dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng.
Bởi vậy, cần đổi mới nội dung ra nghị quyết hằng tháng, hằng quý của chi bộ cơ sở, tránh tình trạng lặp đi, lặp lại các vấn đề đã được đưa ra mang tính rập khuôn, đơn điệu. Điều này, đòi hỏi cấp ủy phải bám sát chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, tình hình nhiệm vụ của địa phương, đơn vị. Trong mỗi lần ra nghị quyết, nên cập nhật thông tin mới về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh... của từng địa phương, đơn vị thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ. Làm tốt điều này, vừa phong phú hóa nội dung sinh hoạt, vừa nâng cao nhận thức về mọi mặt và làm tăng sự gắn bó của CB, ĐV đối với chi bộ. Cùng với sinh hoạt thường kỳ, nên tổ chức nhiều hình thức sinh hoạt, như: Sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt học tập, đúc rút kinh nghiệm về những điển hình tiên tiến, mô hình hoạt động kinh tế, quốc phòng, an ninh hiệu quả... Tổ chức tham quan thực tế các mô hình kinh tế tốt, nông thôn mới, khu vực có môi trương sinh thái đẹp... để mở rộng tầm nhìn cho CB, ĐV. Phát huy cao độ tinh thần dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng lệch lạc, thoái hóa, biến chất của đảng viên trong chi bộ. Tránh tình trạng dĩ hòa vi quý, nhất là những chi bộ có sự tham gia sinh hoạt của đảng viên là cán bộ chủ trì về Đảng, chính quyền cấp trên.
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch lạc, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và những sai trái, tiêu cực trong hoạt động kinh tế-xã hội của từng đảng viên trong chi bộ để sớm uốn nắn, xử lý.
Giải pháp này có ý nghĩa rất thiết thực đối với quá trình chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng hiện nay. Bởi, thông qua công tác kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ, nghiêm túc, mọi biểu hiện lệch lạc về tư tưởng, đạo đức và lối sống của CB, ĐV sẽ sớm được phát hiện để uốn nắn kịp thời, nhất là ở cấp chi bộ. Trong thời gian qua, công tác này vẫn được các cấp ủy đảng tiến hành một cách thường xuyên, nhưng nặng về hình thức, chưa đi vào thực chất, nên vẫn còn một bộ phận CB, ĐV có các biểu hiện nhận thức lệch lạc, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống. Theo đó, trong từng nhiệm kỳ, từng năm, quý và tháng, chi bộ cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đảng viên theo định kỳ và đột xuất một cách cụ thể, thiết thực. Căn cứ vào tình hình nhiệm vụ của từng đảng viên để xác định nội dung kiểm tra, giám sát, không nên xây dựng kế hoạch mang tính hình thức. Đối với những CB, ĐV giữ vị trí chủ trì các cơ quan, đơn vị, nếu thấy có những biểu hiện sai phạm, thì phải tìm mọi cách để thực hiện công tác kiểm tra, giám sát một cách nghiêm túc, không vị nể, né tránh. Làm tốt điều này, vừa ngăn chặn từ xa, vừa bảo vệ được đội ngũ CB, ĐV dù người đó nắm bất kỳ cương vị nào của Đảng, Nhà nước. Quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát đảng viên, cấp ủy, chi bộ cần nhắc nhở, kiểm tra chi tiết, cụ thể việc chuẩn bị của đảng viên; tránh tình trạng chuẩn bị không chu đáo, tỉ mỉ, còn kiểm tra, giám sát, thì tiến hành một cách qua loa, đại khái để báo cáo lên trên. Chi bộ cần kết luận rõ ràng, chính xác những nội dung được kiểm tra, giám sát, nhất là những đảng viên có biểu hiện vi phạm kỷ luật, lệch lạc về nhận thức tư tưởng, suy đồi về đạo đức, lối sống. Rút kinh nghiệm nghiêm túc trong chi bộ, báo cáo kịp thời với cấp ủy cấp trên để uốn nắn, xử lý thích đáng và rút ra bài học chung cho đảng bộ... Nếu từng chi bộ làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đảng viên, thì mọi biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ không có đất để phát sinh và phát triển.
Các giải pháp trên có mối quan hệ nhân quả, nếu được thực hiện đồng bộ thống nhất trong toàn Đảng, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách thiết thực.
Đấu tranh với việc lợi dụng dân chủ để chống phá bầu cử
Ngày 23-5-2021, cử tri cả nước sẽ bước vào Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Là ngày để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của chính mình trong cơ quan quyền lực Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
Tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN theo tư tưởng của V.I.Lênin
V.I.Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của Karl Marx và Friedrich Engels về vũ trang toàn dân để xây dựng học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền, góp phần rất quan trọng vào bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân Xô viết.
Sự thật đã được chứng minh
Ông Hồ Ngọc Thắng là người Ðức gốc Việt Nam, là cộng tác viên của Báo Nhân Dân các năm gần đây. Ðó là một trong những lý do để ông trở thành mục tiêu vu cáo, bịa đặt của một số địa chỉ truyền thông và cá nhân thiếu thiện chí ở nước ngoài.
. Ðáng tiếc là căn cứ vào các vu cáo, bịa đặt đó, tháng 8-2017, ông bị nơi làm việc sa thải. Song ông quyết tâm bảo vệ mình trước tòa án. Và tháng 3-2018, quyết định sa thải đã được thu hồi, mọi quyền lợi của ông được khôi phục. Bài viết dưới đây được chính tác giả Hồ Ngọc Thắng gửi đến Báo Nhân Dân cho thấy một số nét chính của sự việc từng được các thế lực thù địch với Việt Nam coi là một… “thắng lợi”!
Ngày 9-8-2017, tôi nhận quyết định tạm dừng làm việc, nhận giấy triệu tập đến Cơ quan Liên bang phụ trách di cư và tị nạn (BAMF) của CHLB Ðức vào ngày 10-8-2017. Tại BAMF, tôi được biết lý do triệu tập là hai trạng thái (status) tôi công bố trên facebook cá nhân, một số bài báo và thư của một số người tố cáo tôi, với nội dung như: cho rằng tôi bình luận phiến diện theo ý của Chính phủ Việt Nam; trả lời phỏng vấn của Tổng Giám đốc Ðài Tiếng nói Việt Nam (VOV), là cộng tác viên Báo Nhân Dân, được trao nhiều giải thưởng; so sánh đường lối đối ngoại của Chính phủ Ðức với chiến tranh ở Việt Nam; không che giấu sự trung thành đối với Việt Nam, đăng bài trên Báo Nhân Dân để phê phán dân biểu Ðức Patzelt (Pát-xê) và Vũ Quốc Dụng; trong các bài viết đã sử dụng kiến thức thu thập từ công việc tại Cơ quan Liên bang, tức là không tôn trọng nguyên tắc trung lập về chính trị…
Các câu hỏi của đại diện BAMF đều được tôi trả lời thấu đáo. Tuy nhiên, ngày 23-8-2017 qua đường bưu điện, tôi nhận quyết định sa thải, với lý do là các cáo buộc mà ban lãnh đạo cho tôi biết hôm 10-8-2017. Tình huống này làm tôi hiểu rằng, cơ quan không có cách hành xử nào khác, họ không thể chỉ tiếp nhận phản biện của tôi thông qua lời nói.
Như vậy, sự việc phải được một bên thứ ba độc lập tiến hành kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm tính chất một nhà nước pháp quyền. Và bên thứ ba chỉ có thể là tòa án, quan tòa. Ngày 28-8-2017 tôi đệ đơn khiếu nại tại Tòa án Gera (bang Thüringen - Ðức). Sau khi thụ án, Tòa án yêu cầu nơi ra quyết định sa thải tôi trình bày chi tiết lý do dẫn đến quyết định sa thải với chứng cứ cụ thể. Ðầu tháng 12-2017, tôi nhận được phần trình bày tỉ mỉ lý do sa thải, xem thư tố cáo của các cá nhân. Về cơ bản, những cáo buộc đưa ra hôm 10-8-2017 vẫn được nhắc lại, được coi là bằng chứng của thủ tục kiện tụng. Dự kiến phiên tòa sẽ tiến hành ngày 22-2-2018.
Ngày 28-12-2017, tôi gửi tới Tòa án lời phản biện và chứng cứ. Tôi khẳng định status bày tỏ suy nghĩ, bình luận mà tôi công bố trên facebook cá nhân là một ý kiến khách quan, bảo đảm tính trung lập, nguồn thông tin sử dụng là từ Báo miền Nam Ðức và hãng DPA. Bản dịch tiếng Ðức của status này mà bị đơn đưa ra rất không chính xác, câu chữ sử dụng để “kết tội” tôi đều được dịch không đúng nội dung. Tiếp đó tôi khẳng định chưa bao giờ trả lời phỏng vấn của ông Tổng Giám đốc VOV. Trong văn bản giải thưởng báo chí đối ngoại của Việt Nam ghi Hồ Ngọc Thắng là cộng tác viên, nhưng khái niệm cộng tác viên ở Việt Nam hoàn toàn không tương ứng với khái niệm này ở Ðức. Vì ở Ðức, người được gọi là cộng tác viên phải ký hợp đồng, ký cam kết, thỏa thuận về thù lao… Trên thực tế, tôi là tác giả tự do, hoạt động độc lập, không ký hợp đồng, không ký cam kết, thỏa thuận thù lao,… với bất kỳ tờ báo nào ở Việt Nam. Xem xét hai bài báo tôi được trao giải thưởng sẽ thấy tôi đã tuyên truyền cho Nhà nước CHLB Ðức. Bài được trao giải A của Báo Nhân Dân năm 2015 là tổng thuật giới thiệu về công trình nghiên cứu của Viện Institut der deutsche Wirtschaft Köln - một viện nghiên cứu danh tiếng ở Ðức, với bạn đọc Việt Nam. Bài được trao giải thưởng báo chí đối ngoại năm 2015 ca ngợi chuyến thăm của Thủ tướng Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Ðức, ca ngợi quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia, vạch rõ thủ đoạn của Vũ Quốc Dụng lợi dụng cái gọi là phiên điều trần của Quốc hội Ðức để xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Tôi có lý khi phê phán dân biểu Ðức ông Patzelt. Tôi công khai tỏ thái độ trung thành với Tổ quốc Việt Nam, song điều đó không có nghĩa tôi không trung thành với nước Ðức. Vì với tôi, Việt Nam là mẹ đẻ, Ðức là cha nuôi, một người con nghiêm túc phải yêu cả mẹ đẻ và cha nuôi của mình. Tôi công bố các bài báo và status trên facebook với tư cách một công dân bình thường, chỉ có người khác coi tôi là chuyên gia luật, cho dù tôi đã học luật, từng nghiên cứu khoa học về luật, nhiều năm nay vẫn xuất hiện trước tòa án với tư cách luật sư đại diện quyền lợi của một cơ quan thuộc Chính phủ Ðức.
Đầu tháng 1-2018, BAMF cho tôi biết: Kết quả kiểm tra, ý kiến phản biện, chứng cứ tôi đưa ra cho thấy những lý do dẫn đến quyết định sa thải tôi là không có cơ sở, BAMF muốn hủy quyết định sa thải. Như vậy, nếu hủy quyết định sa thải, tôi sẽ tiếp tục làm việc hơn một năm nữa mới đến tuổi nghỉ hưu. Tuy nhiên, BAMF cho rằng, việc tôi tiếp tục đi làm là bất cập với cả hai bên, cho nên BAMF kêu gọi tôi chấp nhận đề nghị và kết thúc công việc tại BAMF vào ngày 31-3-2018, Chính phủ sẽ trả cho tôi một khoản tiền đền bù bảo đảm đầy đủ thu nhập như tôi vẫn làm việc; tuy nhiên tôi phải cam kết tuyệt đối giữ bí mật về con số cụ thể; đồng thời tôi sẽ nhận được một đánh giá tốt về cống hiến trong 27 năm làm việc, lời cảm ơn của BAMF, bộ phận nơi tôi làm việc sẽ tổ chức chia tay với tôi trong tháng 3-2018. Nếu đồng ý với đề nghị, tôi chỉ cần thông báo đến Tòa án Gera về thỏa thuận, Tòa án sẽ không ra phán quyết. Và tôi chấp nhận đề nghị này, vì qua đó tôi đã được phục hồi 100% về phương diện pháp lý, chính trị, tài chính. Và ngày 1-2-2018, Tòa án Gera ra nghị quyết xác nhận thỏa thuận giữa hai bên, và kết thúc thủ tục kiện tụng.
Ngày 15-3-2018, cơ quan đã tổ chức gặp mặt chia tay, và tại đó, trước cán bộ và nhân viên, thủ trưởng chi nhánh đã cảm ơn tôi về những cống hiến trong 27 năm làm việc. Các đồng nghiệp chúc mừng, chia sẻ thắng lợi của tôi. Ngày 6-4-2018, tôi đã nhận được bản nhận xét của lãnh đạo cơ quan về quá trình làm việc, trong đó viết rõ: “Trong khi thực hiện các công việc trong chức trách của mình, ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) tỏ ra có kiến thức chuyên môn vượt trội và đã vận dụng thành công các kiến thức này. Thể hiện qua việc ông nhanh chóng nhận biết và phân tích vấn đề một cách kỹ lưỡng. Ông thường xuyên làm việc một cách đáng tin cậy, chuẩn xác, chủ động từ sáng kiến và sẵn sàng nhận nhiệm vụ với chất lượng cao. Ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) có thể diễn đạt rõ ràng các sự việc và truyền tải một cách thuyết phục. Khả năng phán đoán của ông được thể hiện qua tư duy rõ ràng và hợp lý, điều đó đã giúp ông có thể đưa ra các phán quyết chắc chắn. Ông cũng luôn linh hoạt, thích nghi có hiệu quả với những điều mới mẻ, và đã làm việc với cống hiến to lớn, theo đuổi mục tiêu với sự kiên trì, đạt được kết quả tốt ngay cả khi khối lượng công việc nặng nề. Chúng tôi luôn thấy rất hài lòng với những thành quả mà ông đã đạt được. Tinh thần làm việc của ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) luôn ở mức hoàn hảo, đồng thời ông luôn đồng cảm và lắng nghe một cách cầu thị. Vì thế, ông đã được cấp trên và đồng nghiệp đánh giá rất cao. Bên cạnh đó, ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) còn thể hiện tinh thần hỗ trợ, hợp tác trong cơ quan, luôn sẵn sàng hỗ trợ người khác, và chấp nhận sự phê bình. Qua Bản nhận xét này, chúng tôi cảm ơn ông Hồ (Hồ Ngọc Thắng - người dịch) vì đã cùng làm việc lâu năm, chúc ông tiếp tục đạt nhiều thành tích, có mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống riêng tư và sự nghiệp của ông trong thời gian tiếp theo”.
Vậy là tới tháng 8-2017, tôi đã làm việc hơn 27 năm tại BAMF. Vào ngày làm việc đầu tiên, tôi được giao nhiệm vụ là một quyết định viên độc lập (tiếng Ðức: Einzelentscheider), sau 5 năm tôi đã được giao thêm vai trò là một đại diện của BAMF trong các thủ tục xét xử trước tòa án hành chính. Ngoài ra, trong hơn hai thập kỷ qua, tôi vẫn được giao trách nhiệm giúp đỡ về chuyên môn với một số nhân viên mới vào làm việc. Trước năm 2012, do quy định của cơ quan, tôi không được xuất hiện trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Sau khi có quy định mới, từ năm 2013 tôi tham gia facebook và bắt đầu viết báo. Nhiều bài báo, ý kiến đã thể hiện rõ ràng thái độ của tôi với một số người lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí để xuyên tạc Việt Nam. Vì thế, tôi trở thành “cái gai” trước mắt họ, và sự phối hợp giữa một số người làm báo bất lương tại một số địa chỉ truyền thông ở Ðức và phương Tây, kết hợp một số trang facebook cá nhân tổ chức chiến dịch bịa đặt, dựng chuyện để vu cáo, vu khống, thóa mạ tôi vừa qua là cách họ tiến hành nhằm “nhổ cái gai Hồ Ngọc Thắng”, rồi qua báo chí, họ đã thể hiện sự hỉ hả như thế nào khi tôi bị sa thải. Nhưng như người Việt Nam vẫn nói, “bàn tay không che nổi mặt trời”, rốt cuộc mọi cố gắng của một liên minh ma quỷ đã thất bại thảm hại, sự thật đã được chứng minh, công lý được thực hiện. Có thể nói, sự kiện liên quan đến tôi vừa qua càng cho thấy điều hiển nhiên là trên trái đất này, cái xấu không bao giờ có cơ hội cản bước những người lương thiện!
Tỉnh táo, kiên định về nguyên tắc, chiến lược
Chiến lược “diễn biến hòa bình” là một cuộc tiến công phản cách mạng toàn diện, rất thâm độc và xảo quyệt. Đó là sự can thiệp vừa tinh vi, thâm hiểm, vừa trắng trợn, ngạo mạn của CNĐQ và các TLTĐ vào các nước XHCN. Nó được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn, trên các lĩnh vực khác nhau.
. Chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch (TLTĐ) luôn xác định Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và độc lập dân tộc. CNĐQ đối với nước ta cũng mang tính chất hai mặt. Một mặt, buộc phải cùng tồn tại hòa bình với nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vì những lợi ích kinh tế, chính trị và chiến lược trong chiến lược toàn cầu mới của CNĐQ hiện nay. Mặt khác, xuất phát từ bản chất giai cấp, từ tính đối kháng giữa chủ nghĩa tư bản (CNTB) và chủ nghĩa xã hội (CNXH), CNĐQ đã và đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
"Diễn biến hòa bình" là chiến lược tiến công trên quy mô toàn cầu của CNĐQ và các TLTĐ, đứng đầu là đế quốc Mỹ nhằm chống, phá CNXH, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội bằng các biện pháp phi vũ trang, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của CNTB do Mỹ điều khiển và thao túng”.
Chiến lược “diễn biến hòa bình” được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp các phương thức, thủ đoạn hoạt động, phá hoại thâm độc, tinh vi với tính chất, phạm vi và mức độ khác nhau, kể cả biện pháp răn đe quân sự, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, kinh tế, chính trị, tư tưởng và nội bộ là mặt trận nóng bỏng, dân tộc và tôn giáo là “ngòi nổ”. Mục tiêu chiến lược của CNĐQ là: Thúc đẩy tự do hóa về chính trị và kinh tế, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB, khôi phục vai trò thống trị của CNĐQ ở Việt Nam và Đông Dương.
Chủ trương, biện pháp chiến lược của CNĐQ và các TLTĐ đối với Việt Nam có sự điều chỉnh trong tình hình mới. Đó là, đẩy mạnh thực hiện kết hợp chặt chẽ ba nội dung chiến lược then chốt: “diễn biến hòa bình”; kết hợp bạo loạn lật đổ; răn đe quân sự và sẵn sàng chiến tranh khi cần thiết và khi có thời cơ, điều kiện. Ba nội dung chiến lược đó quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, tác động sâu sắc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của chúng ta.
“Diễn biến hòa bình” của CNĐQ và các TLTĐ đối với xã hội Việt Nam nhằm mục tiêu duy nhất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam, thiết lập chính quyền thân CNĐQ, đi theo quỹ đạo của CNTB.
Để thực hiện mục tiêu đó, CNĐQ và các TLTĐ thực hiện “diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trên lĩnh vực kinh tế, bằng mọi thủ đoạn và biện pháp, chúng tác động thúc đẩy kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế phi XHCN khác để lấn át và tiến tới vô hiệu hóa vai trò của kinh tế Nhà nước, làm cho kinh tế Nhà nước mất vai trò chủ đạo, không còn là “là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế”; chuyển hóa nền kinh tế nước ta đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực chính trị, chúng tìm mọi cách nhằm xóa bỏ sức ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định chân lý “độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam; đặc biệt là văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống XHCN; truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây: lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, kích thích chủ nghĩa hưởng lạc, lối sống trụy lạc, phi nhân tính. Chúng ráo riết đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, các phương tiện thông tin, truyền thông, sử dụng in-tơ-nét và địa chỉ truyền thông nước ngoài để phát tán tài liệu, xuyên tạc, vu cáo, gieo rắc thông tin xấu, độc hại. Nhiều thông tin xấu trên mạng xã hội đã gây hoang mang, làm nhiễu loạn thông tin, tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội.
Trên lĩnh vực xã hội, chúng triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ sự đoàn kết, cố kết dân tộc. Chúng khai thác, khoét sâu những mặt trái của cơ chế thị trường; những khiếm khuyết của Đảng và Nhà nước ta trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các vấn đề xã hội trong quá trình đổi mới; triệt để lợi dụng mâu thuẫn xã hội và sự thoái hóa, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên để kích động chống phá, gây biến động chính trị, kinh tế - xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” tạo cớ can thiệp, lật độ chế độ XHCN.
Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chúng hết sức tranh thủ lợi dụng những hoạt động công khai, hợp pháp để thu thập thông tin tình báo, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”, phá hoại về quốc phòng, an ninh. Trong đó, chúng chĩa mũi nhọn chống phá vào lực lượng vũ trang; tìm mọi cách để “phi chính trị hóa” và “vô hiệu hóa” lực lượng vũ trang, trước hết là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; chia rẽ lực lượng vũ trang với Đảng, Nhà nước và nhân dân, chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang; lôi kéo lực lượng vũ trang ngả theo các lực lượng phản cách mạng, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN.
Trên lĩnh vực đối ngoại, chúng kết hợp hoạt động ngoại giao với các hoạt động kinh tế, quân sự để gây sức ép buộc Việt Nam phải nhân nhượng trong các vấn đề nội bộ, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; chia rẽ Việt Nam với các nước láng giềng; dùng mọi thủ đoạn ngoại giao để truyền bá quan điểm tư sản của phương Tây vào đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng và Nhà nước ta.
Tất cả những hoạt động chống phá nêu trên đều nhằm một mục đích duy nhất là: “Thúc đẩy tự do, xóa bỏ CNXH ở Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của CNTB, lệ thuộc vào CNĐQ”.
Các TLTĐ vừa tiến công trực diện, trực tiếp về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vừa thông qua các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, thông qua các mối quan hệ đối ngoại, giao lưu quốc tế để tác động chống phá. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết T.Ư 4 (Khóa XI và XII) và các nghị quyết khác, các TLTĐ triệt để khai thác, lợi dụng sự thiếu đồng bộ, chưa hoàn chỉnh trong chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, nhất là những thiếu sót trong công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện để kích động chống phá, tác động làm chệch hướng XHCN, đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chúng sử dụng và kết hợp hết sức linh hoạt các thủ đoạn tác động, chống phá giữa bí mật với công khai; nửa hợp pháp, bất hợp pháp với hợp pháp; khi tinh vi, tế nhị, khi thô bạo, trịch thượng; kết hợp chặt chẽ các biện pháp kinh tế, ngoại giao với kiềm chế và răn đe quân sự; giữa bên trong với bên ngoài để tiến hành các hoạt động chống phá: từ tuyên truyền xuyên tạc, vu khống làm mất uy tín, tạo ra sự nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ đến tác động cả bên trong và bên ngoài gây sức ép, khống chế, bao vây, phong tỏa, cô lập, đến các hoạt động phá hoại trực tiếp, kích động gây rối, chống đối, bạo loạn, ly khai, lật đổ với các phương thức: bạo loạn chính trị, bạo loạn bán vũ trang và vũ trang; kết hợp bạo loạn chính trị với bạo loạn vũ trang; hoặc vận dụng tổng hợp các phương thức, biện pháp, thủ đoạn để lật đổ chính quyền Nhà nước XHCN. Chúng kết hợp tiến công, chống phá toàn diện với tập trung vào những điểm yếu nhất để đánh đòn quyết định.
Hiện nay, CNĐQ và các TLTĐ đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền. Chúng tìm mọi cách quốc tế hóa sự xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo,... để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Trong những năm qua, nhất là trong hai năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách, biện pháp cụ thể nhằm bảo đảm người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo được Quốc hội thông qua tháng 11-2016 (có hiệu lực vào tháng 1-2018). Thế nhưng, rất đáng tiếc các TLTĐ vẫn thường xuyên đưa ra những thông tin bịa đặt, thiếu khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam. Mượn chiêu bài về dân tộc, tôn giáo, chúng tạo điều kiện, tiếp tay, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động chống đối, phá hoại để thay đổi, chuyển hóa chính quyền nhà nước XHCN đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chúng đặc biệt chú ý phương thức, thủ đoạn chuyển hóa chế độ nhà nước XHCN sang chế độ nhà nước tư bản chủ nghĩa một cách “êm thấm”, thông qua quá trình làm tha hóa, biến chất cả con người lẫn cơ cấu tổ chức, cơ chế lãnh đạo, quản lý điều hành từ trung ương đến các địa phương, cơ sở. Vấn đề then chốt nhất của phương thức này là làm biến chất cả ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Có thể, tên Đảng Cộng sản, tên Nhà nước XHCN vẫn còn; nhưng về bản chất thì thay đổi, đó không còn là Đảng Cộng sản được tổ chức, xây dựng và hoạt động theo những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lê-nin; không còn là nhà nước XHCN dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, không còn là nhà nước của dân, do dân, vì dân; mà đó là nhà nước đã biến đổi về chất - nhà nước tư bản chủ nghĩa, xét về bản chất. Phương thức này diễn ra từ từ, không dễ nhận biết.
Nhận biết rõ âm mưu, thủ đoạn để chủ động phòng chống, chúng ta phải hết sức cảnh giác, không thể xem nhẹ phương thức “diễn biến hòa bình” vô cùng nguy hiểm này; phải đặc biệt coi trọng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, từ trên. Và, vấn đề có ý nghĩa quyết định là ở chỗ, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải hết sức kiên định về nguyên tắc, về chiến lược; giữ vững bản chất cách mạng triệt để của Đảng Cộng sản trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững bản chất cách mạng của Nhà nước XHCN. Song chúng ta phải hết sức mềm dẻo về sách lược, khôn khéo và linh hoạt xử lý những vấn đề nảy sinh trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, cũng như trong các mối quan hệ quốc tế theo phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, sao cho “trong ấm ngoài êm”. Đó là thượng sách giữ nước.
Tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN theo tư tưởng của V.I.Lênin
QĐND - V.I.Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của Karl Marx và Friedrich Engels về vũ trang toàn dân để xây dựng học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền, góp phần rất quan trọng vào bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân Xô viết.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, 14 nước đế quốc câu kết với các thế lực tư sản, phản động trong nước hòng xóa bỏ Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần kíp đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết non trẻ phải chủ động tăng cường sức mạnh mọi mặt của đất nước để bảo vệ thành quả cách mạng. V.I.Lênin đã nêu lên một luận điểm nổi tiếng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”(1).
Thời kỳ nội chiến Nga trong giai đoạn 1918-1920, V.I.Lênin đã trực tiếp chủ trì gần 100 cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng để thảo luận và quyết nghị những vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc; gửi gần 600 thư và điện cho các đơn vị quân đội để chỉ đạo các tình huống chiến dịch, chiến lược... Người đặc biệt coi trọng tăng cường sức mạnh về quân sự, quốc phòng và xây dựng quân đội làm lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc và chế độ XHCN. V.I.Lênin chỉ rõ: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”(2). Ngày 15-1-1918, Hội đồng Dân ủy do V.I.Lênin đứng đầu đã thông qua Sắc lệnh thành lập Hồng quân và Hải quân công nông-một quân đội chính quy kiểu mới đầu tiên của giai cấp vô sản trên thế giới.
Tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN theo tư tưởng của V.I.Lênin
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền Xô viết tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN, V.I.Lênin luôn chú trọng xây dựng và tăng cường sức mạnh chính trị-tinh thần của các lực lượng vũ trang. Dưới sự chủ trì của V.I.Lênin, Đại hội các Xô viết toàn Nga (6-1918) đã thông qua nghị quyết quan trọng về xây dựng Hồng quân công nông, trong đó có vấn đề thiết lập chế độ chính ủy trong Hồng quân làm người đại diện cho Đảng Bolshevik và Nhà nước Xô viết, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản ở các đơn vị; tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Thực tiễn đã chứng minh, chế độ chính ủy, chính trị viên có vị trí, vai trò rất quan trọng để không ngừng củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong quân đội Xô viết.
V.I.Lênin rất chú trọng phát huy vai trò to lớn của Nhà nước đối với việc ưu tiên nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư vũ khí, trang bị, phương tiện ngày càng hiện đại để nâng cao sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang Xô viết. Người khẳng định: “Không có khoa học thì không thể xây dựng được một quân đội hiện đại”(3). Theo V.I.Lênin, một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ. Thực hiện quan điểm chiến lược về bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền của V.I.Lênin, Hồng quân Xô viết đã phát triển mạnh mẽ về lực lượng. Hệ thống các nhà trường quân sự Xô viết cũng được xây dựng đồng bộ. Đó là những cơ sở nền tảng tạo nên sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước Xô viết, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của quân đội và nhân dân Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Đối với nước ta sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới có thể khẳng định, chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản, điều kiện rất thuận lợi cho công cuộc tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng làm sụp đổ chế độ XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Bên cạnh đó, tình hình Biển Đông, các hoạt động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới, biển, đảo của nước ta vẫn diễn biến khá phức tạp.
Trước tình hình đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thường xuyên quan tâm chăm lo tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược “từ sớm, từ xa”, trong mọi tình huống, đủ sức đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhằm “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”, như Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng đã đề ra.
Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng, quan điểm của V.I.Lênin về tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII của Ðảng khẳng định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”, nhằm gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.
Trong phát triển tư duy về lực lượng để tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Ðảng nêu rõ: "Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng... phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống..."4.
Phòng chống "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới
Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, do vậy, việc phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới cần nhận diện và lưu ý một số vấn đề.
. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa' Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung chủ yếu là sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta. Thông qua việc thiết lập các website, blog để tổ chức truyền tải thông tin xấu, độc nhằm: 1) Phá hoại tư tưởng, đời sống văn hóa tinh thần của các tầng lớp nhân dân; 2) Gây nhiễu loạn thông tin, làm phức tạp về chính trị xã hội; 3) Làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chiêu bài chính chúng tập trung hướng vào là lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn, đưa ra cái gọi là “tài liệu chứng minh” để, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt về bí mật theo kiểu hé lộ những “thâm cung bí sử” trong Đảng… Qua đó, tác động “dương Đông kích Tây” làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và kích động xã hội nảy sinh quan điểm tùy tiện, phản biện vô nguyên tắc, phản đối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kêu gọi từ bỏ Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin; thúc đẩy lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân (nhất là thế hệ trẻ) làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, băng hoại đạo đức xã hội...
Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là:
Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động.
Việc định hướng thông tin đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân phải được thực hiện thống nhất giữa mục tiêu đặt ra của hệ thống chính trị, của nhà lãnh đạo, quản lý các cấp với nhu cầu cần cung cấp thông tin chính thống của quần chúng nhân dân. Để bảo đảm được tính thống nhất này, liên quan đến các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm nảy sinh trong đời sống xã hội, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương theo phân cấp quản lý cần cung cấp thông tin kịp thời để định hướng xử lý, đề xuất phương án chỉ đạo và thực hiện một cách chủ động và khoa học. Cơ chế thực hiện công tác thông tin về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm cần được xây dựng thành văn bản, quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của tập thể, cá nhân.
Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.
Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm.
Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội.
Công tác thông tin cần nhận diện, phát hiện và dự báo sớm một số vấn đề có thể gây bức xúc về tư tưởng và phải luôn đi trước, đi cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện công tác định hướng thông tin tuyên truyền các cấp cần được tham gia ngay từ khâu hoạch định chính sách, dự án đến quá trình triển khai thực hiện. Phải có sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo ban tuyên giáo các cấp kịp thời bám sát thực tiễn, bảo đảm tính chính xác, có chiều sâu trí tuệ, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân thì mới hạn chế tối đa những tác động của thông tin xấu, độc trên internet hiện nay.
Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử.
Cần nắm vững quyền chủ động trong công tác định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trên không gian mạng, cụ thể là: 1) Chủ động thiết kế xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; việc lựa chọn chủ đề cần tăng tính tương tác, tạo sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích, thông tin một cách sinh động, cụ thể, gắn với cuộc sống, cần “phân loại” công chúng trên cộng đồng mạng để xác định, lựa chọn cách thức, phương pháp dẫn dắt chuẩn xác theo kiểu “mỗi cái chìa chỉ mở được một cái ổ khóa”. 2) Nắm vững quy luật truyền tải thông tin. Internet có quy luật riêng, chỉ khi nắm chắc quy luật, nghiên cứu chắc tâm lý của cư dân mạng, thích ứng với các kỹ thuật mới, ứng dụng mới trong vận dụng quy luật truyền tải trên mạng, thì công tác định hướng tư tưởng, dư luận trên mạng mới có kết quả. Việc truyền tải thông tin tuyên truyền dẫn dắt dư luận trên mạng không chỉ cần coi trọng nguồn gốc thông tin, mà còn phải coi trọng việc dẫn dắt và bảo vệ quá trình truyền tải, lưu thông thông tin. 3) Sự thống nhất thông tin trong truyền thông không phải là sự chắp nối đơn giản, mà là sự sắp xếp thống nhất trong hệ thống, giữa thông tin phản ánh trên báo chí, truyền hình và thông tin trên báo chí điện tử, trang tin điện tử... tạo thành chuỗi dòng chảy thông tin tích cực, lan tỏa nhanh trong cộng đồng, góp phần định hướng nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
Không làm tròn chức trách, nhiệm vụ - một biểu hiện của suy thoái
Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh và chỉ rõ, đó là biểu hiện suy thoái rất nguy hại không chỉ làm mất uy tín, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, mà còn gây lãng phí thời gian, tiền bạc, tài sản, tổn hại đến kinh tế đất nước.
.'Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đánh giá và chỉ rõ tình trạng cán bộ, đảng viên: “Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”.
Ban chấp hành Trung ương nhấn mạnh và chỉ rõ, đó là biểu hiện suy thoái rất nguy hại không chỉ làm mất uy tín, giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, mà còn gây lãng phí thời gian, tiền bạc, tài sản, tổn hại đến kinh tế đất nước.
Chưa có một nghiên cứu, khảo sát mang tính định lượng đầy đủ, cụ thể về thực trạng trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức (CB, ĐV, CC) trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhưng qua đánh giá của Trung ương và báo cáo của các cơ quan chức năng cho thấy, về cơ bản đội ngũ CB, ĐV, CC nước ta luôn đề cao trách nhiệm, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được phân công. C B, ĐV, CC không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỷ lệ không nhiều.
Thế nhưng, đúng như đánh giá của Ban Chấp hành Trung ương, tình trạng CB, ĐV, CC né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao có những diễn biến đáng lo ngại. Số lượng CB, ĐV, CC bị xử lý kỷ luật do thiếu trách nhiệm ngày càng tăng. Đặc biệt, dư luận gần đây xôn xao trước việc ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên giữ các vị trí chủ trì, chủ chốt vi phạm các nguyên tắc của Đảng, buông lỏng quản lý, làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý kỷ luật, bị khởi tố, truy tố, xét xử. Điển hình như vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm gây thất thoát hơn 9.000 tỷ đồng, ông Đặng Thanh Bình, nguyên Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng 4 cán bộ dưới quyền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Gần đây nhất, liên quan đến những sai phạm ở Tổng công ty Thái Sơn (Bộ Quốc phòng), ông Phùng Danh Thắm, Tổng giám đốc Tổng công ty Thái Sơn, bị khởi tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”....
Không ít cán bộ, đảng viên giữ vị trí chủ trì, chủ chốt phải đưa ra xem xét, kiểm điểm, xử lý kỷ luật bằng các hình thức. Điển hình như ông Phạm Văn Vọng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2010-2015, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc; ông Phùng Quang Hùng, nguyên Phó bí thư Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2011-2016 vì thiếu trách nhiệm trong việc quyết định giao chủ đầu tư dự án không có năng lực; phê duyệt đầu tư, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, giao chỉ định thầu một số dự án trọng điểm trái quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư.... Ngoài những sự việc, vụ án lớn, tình trạng một bộ phận không nhỏ CB, ĐV, CC thiếu trách nhiệm, không làm tròn chức trách được giao, lợi dụng chức quyền sách nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp vẫn diễn ra phức tạp, gây bức xúc trong dư luận. Những biểu hiện làm trái các quy định của Nhà nước, thiếu trách nhiệm; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; quản lý, sử dụng đất đai; quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản và đầu tư công....
Việc khởi tố, bắt tạm giam, truy tố đối với một số cán bộ trong thời gian qua thể hiện rõ nét quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta làm trong sạch bộ máy công quyền nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Để khắc phục tình trạng CB, ĐV, CC thiếu ý thức trách nhiệm đối với nhiệm vụ chung, với công việc của tập thể; thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách nhiệm vụ, công việc được phân công, chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nhưng trước hết phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước dân, trước nhiệm vụ chung của cách mạng và trách nhiệm của từng CB, ĐV, CC đối với chức trách, nhiệm vụ, công việc mà mình được giao đảm đương, phụ trách.
Chúng ta phải đặt nội dung này lên hàng đầu bởi lẽ, ý thức trách nhiệm có vai trò quyết định đến tinh thần, thái độ làm việc của từng CB, ĐV, CC. Thành tích, hiệu quả thực hiện công vụ của CB, ĐV, CC cũng do ý thức trách nhiệm quyết định. Do đó, cần phải làm cho mọi CB, ĐV, CC hiểu ý thức trách nhiệm được thể hiện ở tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Trước nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của tập thể, người cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm luôn nêu cao tinh thần dám nhận trách nhiệm về mình, thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, đổi mới, sáng tạo và nỗ lực hết mình để vượt lên mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên có ý thức trách nhiệm còn thể hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ họ luôn biết kết hợp hài hòa giữa tư tưởng chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc với thực hành tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Với những CB, ĐV có ý thức trách nhiệm, họ không thể đánh giá một nhiệm vụ, một công việc là hoàn thành nếu để xảy ra tiêu cực, thất thoát, gây tốn kém, lãng phí tài sản của tập thể, của Nhà nước. Khi thành công, người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm, có tinh thần tập thể không vơ cả thành tích về mình và khi thất bại cũng không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể, cho người khác, hay đổ lỗi cho khách quan. Người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm cao luôn biết nhận lỗi và sẵn sàng gánh chịu hậu quả để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm mà phấn đấu trưởng thành. Người CB, ĐV có ý thức trách nhiệm cao còn thể hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn tuân thủ theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành của cấp trên, với tinh thần chủ động, linh hoạt và sáng tạo, nhưng không vượt quá chức trách, phạm vi quyền hạn mà mình được giao đảm nhiệm.
Khen thưởng, động viên, khích lệ, nêu gương những CB, ĐV, CC có ý thức trách nhiệm cao với nhiệm vụ là việc làm cần thiết. Nhưng cùng với đó, mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức cần phải thường xuyên cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến chất lượng, nhất là tinh thần, ý thức trách nhiệm của đội ngũ CB, ĐV, CC. Đặc biệt, trước những vụ việc, những sai phạm của CB, phải tổ chức kiểm điểm, xử lý nghiên minh và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, kịp thời.
Đi đôi với việc giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ CB, ĐV, CC có ý thức trách nhiệm, chúng ta cần phải đấu tranh để loại bỏ những biểu hiện trách nhiệm hình thức, theo kiểu bên ngoài tỏ ra ta là người có ý thức trách nhiệm, nhưng thực tế trong lòng lại không nhận trách nhiệm về mình, nhận trách nhiệm kiểu nửa vời. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải kiên quyết lên án, đấu tranh với những biểu hiện vô trách nhiệm trong công việc; bỏ bê nhiệm vụ được phân công, hoặc thực hiện theo kiểu hời hợt, qua loa, đại khái, không quan tâm đến những ảnh hưởng tiêu cực từ thái độ, hành vi sai trái của mình. Cùng với tuyên truyền, giáo dục cần tăng cường công tác quản lý, giám sát chặt chẽ, phát hiện mọi biểu hiện thiếu trách nhiệm CB, ĐV ngay từ ban đầu, ngay từ cơ sở để có các biện pháp đấu tranh ngăn chặn kịp thời, phù hợp và hiệu quả.
Đấu tranh quan điểm sai trái trên mạng xã hội
Mạng Internet và các trang mạng xã hội (viết tắt MXH) đang phát triển mạnh tại Việt Nam. Thực tế, trong thời gian qua, các thế lực phản động cùng những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất trong nước đã sử dụng MXH đăng tải không ít thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc...
. Từ đó gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, nhất là đối với một bộ phận trí thức và thanh niên, sinh viên - những người thường xuyên tiếp cận phương tiện này.
Mục đích cuối cùng là làm cho cán bộ, đảng viên và người dân mơ hồ, dao động; từng bước tác động làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ.
Tại quận Tân Phú (TPHCM), với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, phương án tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc trên MXH đã được triển khai thực hiện bước đầu phát huy hiệu quả.
Tuyên truyền đa dạng
“Từ năm 2012, chúng tôi đã suy nghĩ đến việc sử dụng MXH Facebook để đấu tranh, phản bác với các quan điểm sai trái trên MXH, đặc biệt cao điểm là thời gian Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014 và sự cố môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra vào năm 2016. Các thế lực phản động ở nước ngoài cấu kết với một số đối tượng cực đoan, chống đối trong nước lợi dụng dịp này để sử dụng Facebook kêu gọi tuần hành đông người, tụ tập gây rối, đập phá tài sản của doanh nghiệp; kích động, lôi kéo người dân thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, chống đối Đảng, Nhà nước, phá hoại an ninh kinh tế, chính trị của đất nước. Từ đòi hỏi của tình hình thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng đặt ra, Ban Tuyên giáo Quận ủy tham mưu cho Ban Chỉ đạo đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của quận ban hành phương án tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc trên mạng xã hội trên địa bàn quận Tân Phú”, Trưởng ban Tuyên giáo Quận ủy quận Tân Phú Võ Văn Thành chia sẻ.
Thực hiện phương án này, quận Tân Phú nâng cấp, củng cố các trang, nhóm công khai trên MXH với tên gọi gợi được sự chú ý của cư dân mạng, phản ánh tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, giá trị chân - thiện - mỹ.
Trên trang fanpage “Tuyên giáo Tân Phú” cũng như những trang mang tên các tổ chức thuộc hệ thống chính trị (như tuyên giáo phường, đoàn phường, hội phụ nữ phường...) và nhiều trang cá nhân trên Facebook của đảng viên, đoàn viên, hội viên trên địa bàn quận thường xuyên đăng tải, chia sẻ bài viết tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thông tin từ các trang thông tin điện tử, các báo chính thống về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; bài viết về truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, gương sáng, người tốt việc tốt..., nhằm tạo sự đồng thuận hưởng ứng của cộng đồng với mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Những bài viết được đăng tải đã góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng “sức đề kháng” để cư dân mạng chống lại tác động từ thông tin, quan điểm sai trái, xuyên tạc trên MXH.
Đấu tranh toàn diện
Bên cạnh tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những thành quả phát triển của đất nước trên nhiều lĩnh vực, thì hình thức đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái trên MXH cũng được tổ chức thực hiện đa dạng, phong phú.
Theo đồng chí Võ Văn Thành, việc đấu tranh phản bác tiến hành theo phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; vừa tập trung chia sẻ những thông tin có lợi cho Đảng, cho Nhà nước, vừa phân tích, tìm ra điểm sai trái, phi lô gích, lập lờ của các bài viết, thông tin xuyên tạc.
Khi có các thông tin cần đấu tranh trên MXH, lực lượng tham gia đấu tranh sẽ trực tiếp đăng bài, chia sẻ, tham gia bình luận phản bác vào các trang Facebook, Zalo... có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ.
Những bài viết sử dụng cho việc đấu tranh đều ngắn gọn, rút tít hay, có sức ảnh hưởng lớn, dẫn dắt vấn đề, phù hợp với từng trình độ cần phản bác, dẫn chứng một cách khoa học và chân thật, ngôn từ có văn hóa, lý luận sắc bén đánh đúng điểm yếu của những luận điệu vu khống, bịa đặt.
Cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên mạng Internet là “cuộc chiến” không khói súng, tính chất rất khó khăn và phức tạp. Vì vậy, trong cuộc đấu tranh này cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp.
Tại quận Tân Phú, dưới sự chỉ đạo của Thường trực Quận ủy, giữa Công an quận, Ban chỉ huy Quân sự quận, Mặt trận Tổ quốc, các cơ sở Đảng, tổ chức chính trị - xã hội đã phối hợp chặt chẽ, liên kết, thống nhất; từ đó đưa công tác tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái trên MXH đi vào nề nếp, thường xuyên.
Hiệu quả tuyên truyền và đấu tranh phản bác ngày càng lan tỏa đã góp phần ổn định tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và tình hình an ninh chính trị trên địa bàn quận.
Trong thời đại “thế giới phẳng”, “cuộc sống số”, thông tin đang dần trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi cá nhân, tổ chức. Thông tin được khai thác trên mạng Internet có nội dung ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều chiều, dễ dẫn đến người đọc chịu sự tác động của thông tin bịa đặt, xuyên tạc.
Trên mặt trận tư tưởng mới, Ban Thường vụ Quận ủy quận Tân Phú xác định đây là nhiệm vụ tất yếu và cấp bách, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, không để các thế lực thù địch lợi dụng thông tin tiêu cực dẫn dắt người dân; qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng, giữ vững hòa bình, ổn định trong nước và đảm bảo sự ổn định tư tưởng chính trị ở địa phương.
"Không phải ở Việt Nam, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham ô, tham nhũng"
Việc lựa chọn một đảng cầm quyền như ở Việt Nam hay đa đảng như các quốc gia khác là tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia. Khi nhà nước và quyền lực chính trị còn tồn tại, thì một đảng cầm quyền hay đa đảng cầm quyền đều sẽ có điều kiện để nảy sinh tham nhũng.
Luận điệu "Ruột cũ bình mới"
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc; luôn luôn trung thành, kiên định lãnh đạo nhân dân ta thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Song, thời gian vừa qua, các thế lực thù địch ở nước ngoài và phần tử cơ hội chính trị ở trong nước đang rêu rao cho rằng: “Ở Việt Nam, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham ô, tham nhũng”. Đây là luận điệu kiểu “ruột cũ bình mới”, tiếp nối sự thất bại của các luận điểm mà chúng từng cao hứng cho rằng: “Ở Việt Nam, do có một Đảng cầm quyền nên không có dân chủ, đất nước còn nghèo khổ và không giàu mạnh, phát triển được...”. Mẫu số chung, mục đích chính trị sâu xa của những luận điểm thù địch đó là đánh đồng hiện tượng tham ô, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đi đến phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, nhằm lừa bịp, kích động, gây mơ hồ ảo tưởng, nhận thức sai lệch của quần chúng nhân dân lao động về Đảng. Từ đó, dọn đường cho một lực lượng chính trị lãnh đạo khác thay thế sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới đổi màu chế độ xã hội theo một kịch bản đã định. Sự tinh vi của mỗi luận điểm phản động nêu ra đều dựa vào những hiện tượng không phải là bản chất của chế độ ta; bới tìm những hạn chế nhất thời để vu khống, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tính chất sai trái của luận điểm cho rằng: “Ở Việt Nam, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham ô, tham nhũng”, thể hiện ở cả góc độ lý luận và thực tiễn.
Về lý luận, tham nhũng luôn luôn gắn với quyền lực và lợi ích cá nhân, là một hiện tượng xã hội gắn với sự xuất hiện chế độ tư hữu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước và các quyền lực công khác. Tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ, với những mức độ khác nhau, phụ thuộc vào bản chất và trình độ quản lý của nhà nước đó, chứ không phải do một đảng cầm quyền hay thực hiện chế độ đa đảng. Việc lựa chọn một đảng cầm quyền như ở Việt Nam hay đa đảng như các quốc gia khác là tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia. Khi nhà nước và quyền lực chính trị còn tồn tại, thì một đảng cầm quyền hay đa đảng cầm quyền đều sẽ có điều kiện để nảy sinh tham nhũng.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra lợi ích, siêu lợi ích và đó là tiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng có điều kiện nảy sinh và phát triển. Chừng nào điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạm quyền của những người có chức vụ, quyền hạn vẫn còn thì chừng đó vẫn còn sinh ra tệ tham ô, tham nhũng. Từ đó, có thể thấy, với mỗi một quốc gia, dù là một đảng cầm quyền hay thực hiện chế độ đa đảng thì tệ tham ô, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, trong các cơ quan công quyền vẫn luôn là nguy cơ tiềm tàng.
Về thực tiễn, tham nhũng là vấn nạn chung của toàn cầu, xảy ra ở mọi lĩnh vực có liên quan hoạt động quản lý kinh tế, xã hội, không phải chỉ xuất hiện ở Việt Nam, với chế độ một đảng cầm quyền mà ngay tại các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng như Hoa Kỳ, Singapore, Nga, Hàn Quốc… cũng diễn ra nghiêm trọng. Tại Mexico, tháng 12-2003, đại diện hơn 120 nước trên thế giới đã họp và thông qua Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc (có hiệu lực ngày 13-1-2005). Công ước là bước tiến lớn của cộng đồng quốc tế trong hợp tác chống tham nhũng và Việt Nam là một trong hơn 110 nước đã ký Công ước chống tham nhũng… Vì vậy, lập luận rằng “Ở Việt Nam, chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham ô, tham nhũng” không phải chỉ là một sự ngụy biện phản động, áp đặt thô thiển mà còn là sự thiển cận trong tư duy!
Chống tham nhũng ở Việt nam không có vùng cấm
Thực tế ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định tham nhũng là một trong bốn nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tác hại của tệ tham ô, tham nhũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng được xác định rất phức tạp và lâu dài. Đảng Cộng sản Việt Nam trong các Đại hội từ VI đến XII đã khẳng định quyết tâm tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề, như Nghị quyết 04-NQ/TW khóa VI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết số 14-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VII về “Lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”. Trong đó, đã xác định rõ đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta hiện nay, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng Đảng và bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền dân chủ của nhân dân...
Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” đã xác định rõ mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã chú trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI đề ra 6 giải pháp, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội để phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để phòng, chống tham nhũng, lãng phí…
Gần đây, Chỉ thị số 50-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng trong tình hình hiện nay”, Nghị quyết số 126/NQ-CP của Chính phủ về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2020”,v.v.. nhất là, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mạnh mẽ phê phán tham ô, tham nhũng, coi đó là một trong 27 biểu hiện sự suy thoái của cán bộ, đảng viên và đưa ra cảnh báo: Tham nhũng đang làm xói mòn uy tín của Đảng cầm quyền, đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Thể hiện rõ quyết tâm phòng, chống tham nhũng, thể chế hóa quan điểm của Đảng, Luật Phòng, chống tham nhũng ra đời có hiệu lực thi hành từ ngày 1-6-2006; Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban được thành lập năm 2013 cùng hàng loạt các đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng được thành lập tại các bộ, ban, ngành đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta không bao che cho các hành vi tham ô, tham nhũng, các hành vi làm trái với pháp luật và làm tổn hại đến tài sản của đất nước, niềm tin của nhân dân. Những vụ việc liên quan đến tham ô, tham nhũng, làm trái quy định, gây tổn hại đến tài sản quốc gia, đến uy tín của Đảng đều được xem xét, xử lý công khai và khẳng định không có vùng cấm.
Một số kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, một số vụ “đại án” gần đây cho thấy, các dấu hiệu của tham ô, tham nhũng, liên quan đến tham ô, tham nhũng đều được chỉ đạo điều tra, giải quyết kịp thời và minh bạch thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đây là những hoạt động thể hiện sự phát huy tối đa những thuộc tính dân chủ xã hội ở Việt Nam theo phương châm “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” - thường gọi là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vậy nên, cả về lý luận và thực tiễn đều đã chứng minh rằng: vấn đề tham ô, tham nhũng là vấn nạn nhiều quốc gia phải đối mặt trong nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều bối cảnh chính trị khác nhau. Việc quy chụp, xiên xẹo thể chế chính trị là nguyên nhân gây ra tham ô, tham nhũng là luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc hòng đánh tráo khái niệm, làm sai lệch bản chất trong tranh luận, cần phải được nhận thức và phản bác quyết liệt
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Hai thầy trò đang trò chuyện rôm rả về những kỷ niệm thưở “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, bỗng thầy dừng lại hỏi tôi: “Em có nhớ cậu Nam nổi tiếng thông minh ở trường không?”. “Có, thầy ạ! Anh ấy học trước em hai lớp, con nhà giàu, đẹp trai, tính tình phóng khoáng, từng thi đỗ thủ khoa một trường đại học lừng danh. Sau này ra trường, anh đầu quân vào một doanh nghiệp lớn của nhà nước. Hơn chục năm công tác mà anh đã lên ghế giám đốc dưới có cả nghìn cán bộ, nhân viên. Rồi anh rẽ ngang, chuyển sang làm quan chức ở một cơ quan nhà nước. Nhưng cách đây mấy tháng, anh ấy đã bị kỷ luật cách hết các chức vụ. Nghe đâu cơ quan điều tra cũng đang “sờ gáy” nên số phận anh như “ngồi trên đống lửa”.
“Em có biết căn nguyên sâu xa vì sao không? Không ngẫu nhiên mà thiên tài Nguyễn Du đã viết câu thơ “Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Đó là một sự chiêm nghiêm, đúc kết vô cùng sâu sắc em ạ!” - Thầy nhấn mạnh, bày tỏ sự nuối tiếc. “Lẽ thường, cái tài của ai đó càng nổi trội thì càng dễ nhìn thấy, song cũng dễ bị những kẻ tiểu nhân soi mói, dèm pha, thậm chí dễ bị thói đời nhỏ nhen ganh ghét, đố kỵ. Còn ai đó có tài mà lại tự cao, tự đại, khoe khoang thì đó chính là mầm mống của tai họa. Trở lại câu chuyện liên quan đến Nam. Khi là giám đốc, cậu ta có tài quản trị kinh doanh, đóng góp nhiều cho doanh nghiệp, nhưng do tính cách “bốc đồng”, lại tự ảo tưởng mình là “nhất”, là “đỉnh” nên tự ý đưa ra những quyết định không phù hợp. Kể cả thời điểm chuyển sang làm việc ở cơ quan nhà nước, cậu ta vẫn nghĩ mình từng giỏi giang trên thương trường thì cũng dễ hanh thông trên hành trình quan lộ. Nhưng sự ngộ nhận đó là “cái gót chân a-sin” mà một người tài như Nam không biết mình là ai. Và rồi, “chữ tài liền với chữ tai một vần” manh nha từ đó...
Trở lại triết lý của đại thi hào Nguyễn Du. Khi nói “chữ tài liền với chữ tai một vần”, cụ Nguyễn muốn gửi tới một thông điệp cho hậu thế, đó là khi tạo hóa đã ban phước cho ai tài năng thiên bẩm, thì người sở hữu tài năng ấy phải mang hết trí tuệ, tâm sức phụng sự, cống hiến cho xã hội thì cái tài ấy mới phát huy giá trị cao cả của mình. Nghĩa là, khi cái tài được hóa thân vào cái tâm, cái đức, cái nghĩa, thì cái tài ấy mới có cơ hội tỏa sáng. Và chỉ khi nào cái tài đứng trên cái tâm vững chãi như thế chân kiềng: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” thì cái tài mới có khả năng ngự trị được “chữ tai”, tức là có thể phòng ngừa nguy cơ tai họa. Ngược lại, tài mà thiếu tâm, tài mà không đức độ thì “chữ tài” dễ chuyển thành “chữ tai”, tức là tài năng có nguy cơ thui chột và người tài có thể dính dáng, dây dưa, thậm chí sa vào tai họa!
Nói đến đây, người thầy giáo già của tôi bày tỏ: Thời gian qua, không ít quan chức có trình độ chuyên môn cao và năng lực lãnh đạo, quản trị tốt cũng chỉ vì quá tin cậy vào “chữ tài” của mình và khi đứng trên đỉnh cao quyền lực lại không thấu “chữ tâm”, không rèn phẩm hạnh, không trọng tích đức nên để cho “chữ tai” rình rập trước mắt mà chủ quan làm ngơ, để rồi khi đã “ngộ sự” thì cái họa ập đến không sao ngăn nổi. Âu đó cũng là bài học cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta, nhất là những người đang gánh vác, phụng sự việc nước việc dân chỉ coi trọng “chữ tài” mà coi thường tôi rèn, bảo trọng “chữ tâm” thì nguy cơ “đứt gánh giữa đường” đâu tránh khỏi!./.
Cộng đồng là những ai?
Hiện nay, (nhất là sau Tết Tân Sửu), cứ mỗi sớm mai thức dậy, mở tivi hay vào mạng xã hội, mọi người đều hồi hộp và lo lắng khi nhận thông tin về dịch bệnh Covid-19 đang tái phát trở lại. Những tin đại loại như: "Theo thông tin từ Ban chỉ đạo Quốc gia Phòng chống dịch covid-19, sáng nay, ngày..., lại có thêm 3 ca mắc mới, trong đó, 1 ca nhập cảnh và 2 ca lây nhiễm trong cộng đồng". Vậy từ cộng đồng ở đây được hiểu thế nào?
Cộng đồng là một từ Hán Việt hai thành tố. Cộng (共), có nghĩa là "chung vào, cùng nhau", đồng (同)có nghĩa "cùng (như một)". Cộng đồng có nghĩa gốc là "cùng chung với nhau" và từ đó, có nghĩa (đang được sử dụng) trong tiếng Việt hiện nay là "toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội" (Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2020).
Cộng, với nghĩa là "chung, cùng", tiếng Việt còn có các từ kết hợp với thành tố này. Cộng hoà (hoà: cùng với nhau) là danh từ hoặc tính từ, "chỉ [chính thể] có quyền lực tối cao (không thuộc về vua chúa mà) thuộc về các cơ quan dân cử". Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chính là Nhà nước Công Nông đầu tiên của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám 1945 mang đặc trưng đó. Cộng cư (cư: ở), có nghĩa "[các dân tộc] sống cùng, sống chung trên một vùng đất, một địa bàn" (đồng nghĩa với quần cư). Ví dụ: Nơi đây, là nơi cộng cư của 3 dân tộc thiểu số ít người nhất. Cộng sinh (sinh: sống) chỉ "[sinh vật không cùng một loài] sống chung và cùng làm lợi cho nhau". Chẳng hạn, các sinh vật trong quá trình chung sống, chúng cung cấp cho nhau các điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển liên tục, từ đó, các đối tác đều cùng hưởng lợi cho sự sinh tồn của chúng; cộng sự (sự: việc làm) chỉ "những người cùng làm chung một nhiệm vụ trong một tổ chức". Ví dụ: Ông ấy đã cùng với các cộng sự hoàn thành công trình này; v.v.
Trở lại với từ cộng đồng, ta thấy có nhiều kết hợp mở rộng: cộng đồng xã hội (xã: nhiều người cộng lại, hội: họp lại), chỉ "tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, đặc điểm sinh tụ và cư trú"; cộng đồng làng xã là “tập hợp những người sống theo quan hệ xóm làng ở nông thôn”; cộng đồng ngôn ngữ chỉ “tập hợp những người cùng nói một ngôn ngữ nào đó”; cộng đồng người Chăm là “tập hợp tộc người Chăm với sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán...”; cộng đồng người Việt ở nước ngoài chỉ “những người gốc Việt hiện không sinh sống ở trong nước mà đang ở các quốc gia khác”; Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp - Cộng đồng Pháp ngữ là “các quốc gia có sử dụng tiếng Pháp là ngôn ngữ chính hoặc ngôn ngữ thứ hai...”; v.v.
Khi báo chí viết "Hôm nay, Việt Nam không phát hiện ra một ca nhiễm virus corona nào trong cộng đồng", thì từ "cộng đồng" ở đây được hiểu là "tất cả những ai đang sống trong chính thể nước Việt Nam (theo phạm vi cùng một lãnh thổ có biên giới quốc gia) nói chung" (phân biệt với người nhập cảnh vào Việt Nam từ nước khác). Nhưng nếu viết "Hải Dương hay TP Chí Linh (cũng thuộc Hải Dương) hôm nay không có ca nhiễm nào trong cộng đồng" thì người viết đã hạn chế đối tượng sang một điểm quy chiếu hẹp hơn và "cộng đồng" ở đây được "khoanh vùng" chỉ Hải Dương hoặc TP Chí Linh (2 đơn vị địa danh thuộc một tỉnh) sau khi đã có sự cô lập, theo dõi. Thậm chí, khi nói "Sau khi bệnh nhân số N được phát hiện, chính quyền sở tại đã tạm cách li khu phố X để theo dõi dịch bệnh trong phạm vi cộng đồng" thì cộng đồng (đang được nói đến) chỉ trong một phạm vi rất hẹp (một khu phố hay một thôn bản, một phường hay một xã...).
Đừng cổ xúy bệnh háo danh
Háo danh đang là một trong những “căn bệnh” trong xã hội. Với sứ mệnh định hướng dư luận, bồi đắp giá trị chân- thiện- mỹ cho công chúng, đáng ra báo chí, truyền thông phải có trách nhiệm góp một tiếng nói để phòng ngừa, giảm thiểu “căn bệnh” này. Tuy nhiên, không hiểu vô tình hay hữu ý, một số cơ quan báo chí, truyền thông thời gian gần đây lại sử dụng từ ngữ so sánh không chuẩn mực để định vị cho một số nhân vật trong bài viết.
1. Trên một tờ báo có số lượng bạn đọc khá lớn phát hành vào những ngày cuối tháng 12-2019, có một bài báo viết về một cựu cán bộ từng có những hành động và phát ngôn gây sự chú ý của dư luận. Xin không luận bàn về tính cách của người cán bộ này, mà chỉ trao đổi đôi điều về cách dùng cụm từ “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè” khi tác giả nói về nhân vật.
Từ “ngôi sao”, về nghĩa đen, là tên chung gọi các thiên thể nhìn thấy những những điểm sáng lấp lánh trên bầu trời vào ban đêm; về nghĩa bóng, “ngôi sao” thường để ví von những người đạt thành tích xuất sắc, nổi bật trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật và thể thao, được công chúng hâm mộ. Họ được ví như những vì sao sáng rực rỡ trên bầu trời. Chẳng hạn, “ngôi sao ca nhạc”, “ngôi sao điện ảnh”, “ngôi sao sân cỏ”…
Còn từ “dẹp loạn” có nghĩa gốc là “làm tan rã những cuộc nổi dậy chống chính quyền”. Hiểu theo nghĩa hiện nay, “dẹp loạn” là dùng những biện pháp hành chính mạnh mẽ, cương quyết nhằm ngăn chặn, giảm thiểu một tình trạng lộn xộn nào đó trong thực tế cuộc sống, qua đó góp phần thiết lập trật tự an toàn, kỷ cương xã hội. “Dẹp loạn vỉa hè” nghĩa là sử dụng biện pháp mạnh tay để chấn chỉnh những lộn xộn, sắp xếp lại việc buôn bán, kinh doanh của người dân trên hè phố trong khu vực đô thị.
Với hai từ “ngôi sao” và “dẹp loạn” không tương đồng về mặt ngữ nghĩa như vậy, việc gán ghép thành cụm từ “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè” để nói về nhân vật trong bài viết là không phù hợp, thiếu logic, chưa chuẩn mực về văn phong tiếng Việt. Việc gán ghép này không những có thể khiến người trong cuộc tự ảo tưởng về mình, mà khiến cho việc nhìn nhận của độc giả về hình ảnh nhân vật trong bài viết cũng dễ hướng lái theo một nghĩa khác.
2. Không chỉ viết “ngôi sao dẹp loạn vỉa hè”, truyền thông còn gọi một nữ ca sĩ khá nổi hiện nay là “Nữ hoàng văn học dân gian”, “Nữ hoàng văn học Vpop”, vì ca sĩ này đã đưa các nhân vật văn học điển hình của một số tác giả văn học nổi tiếng và khá nhiều yếu tố dân gian vào các sản phẩm MV ca nhạc của mình. Quả thật, các MV của nữ ca sĩ được phối khí, thể hiện theo phong cách mới, trẻ trung, sôi động, vì thế có thời điểm nó trở thành “cơn sốt” của giới trẻ và thu hút hàng chục triệu lượt người xem trên Youtube.
Dù không phủ nhận thông điệp khá ý nghĩa mà MV này chuyển tải tới người xem và mong muốn mọi người, nhất là giới trẻ quan tâm hơn đến các tác phẩm văn học kinh điển của nước nhà thế kỷ XX; nhưng ví nhân vật chính của MV như “Nữ hoàng văn học” là thái quá, không phù hợp với bản chất vấn đề định danh. Vì trên thực tế, nữ ca sĩ và ê kíp làm MV này chủ yếu cóp nhặt các nhân vật văn học điển hình cho vào tác phẩm MV của mình rồi để họ hội ngộ với nhau và nhảy nhót tưng bừng, chứ hoàn toàn không phải là hoạt động sáng tạo phái sinh nhằm làm mới, làm hay hơn các nhân vật điển hình nói riêng, các tác phẩm văn học kinh điển nói chung
Nghĩa gốc từ “Nữ hoàng” để chỉ một người phụ nữ làm hoàng đế cai trị một đế quốc. Ở nghĩa rộng hơn, “nữ hoàng” được hiểu là người có quyền lực tối cao hay có khả năng nổi bật, năng lực xuất chúng về một lĩnh vực/một mặt nào đó. Những người được gắn, trao danh hiệu “nữ hoàng” phải thực sự tài năng, đức độ và có nhiều đóng góp, cống hiến cho xã hội, thì mới xứng đáng với danh hiệu giàu ý nghĩa này.
Khi nói đến “Nữ hoàng văn học” là nói đến một tài năng đặc biệt, có sáng tạo đặc biệt, đóng góp đặc biệt trên lĩnh vực văn học và mang ý nghĩa xã hội. Ví như, phải là nữ thi sĩ nổi đình nổi đám rất đặc biệt trên văn đàn và có những bài thơ nôm bất hủ, độc đáo, vô tiền khoáng hậu như Hồ Xuân Hương mới được gọi “Bà chúa thơ Nôm”. Hay phải sáng tạo ra những bài thơ tình mới lạ, khác biệt, ấn tượng như thi sĩ Xuân Diệu thì mới được ví là “Ông hoàng thơ tình”!
Nhà báo sử dụng từ ngữ ví von, so sánh, liên tưởng trong một tác phẩm báo chí cũng không ngoài mục đích làm cho vấn đề, sự kiện, nhât vật, chi tiết, thông tin trở nên phong phú, nhiều màu sắc và hấp dẫn hơn với công chúng. Điều quan trọng là sự so sánh phải hướng tới đích “lột lả” được bản chất vấn đề và tạo được sự mới mẻ, riêng biệt trong góc độ so sánh, liên tưởng mà không được phép đi quá giới hạn cho phép. Còn mọi sự khoa trương, ngoa ngôn, lộng ngữ… khi dùng hình ảnh so sánh, nhất là so sánh các nhân vật còn nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, không những dễ làm cho người trong cuộc tưởng mình “cao siêu như thần thánh”, mà còn làm cho “căn bệnh” háo danh càng có nguy cơ lan rộng ra xã hội, làm nhiễu loạn các giá trị văn hóa./.
Lòng ta phải vững như kiềng ba chân
Cha ông ta có câu “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt dù nguy hiểm, thâm độc nhưng cũng sẽ không gây tác động tiêu cực nếu lòng ta đã vững. Đó hẳn là niềm tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng, tự hào về thành quả lãnh đạo trong công cuộc đổi mới nói chung, CTCB nói riêng. Mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải tự xây dựng cho mình bức tường thành tự miễn dịch trước mọi thông tin xuyên tạc, xấu độc của kẻ thù, bằng cách tích cực học tập, rèn luyện, công tác. Trong bất luận, cán bộ, đảng viên không được rơi vào cái bẫy của thuyết “giành giật niềm tin” mà các thế lực thù địch cố tình giăng ra.
Cụ thể hơn, khi hành xử với loại thông tin bịa đặt lần này rất cần sự tỉnh táo của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng, không sa đà, mất thời gian vô bổ cho những chia sẻ, bình luận phá đám. Đồng thời, mỗi người phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh phê bình với những biểu hiện chủ quan thiếu chín chắn của đồng đội, bạn bè, người thân; nhất là việc vô tình tán phát, khuếch trương những thông tin, bài viết, bình luận về các vấn đề xã hội dưới góc nhìn chủ quan sai lạc trên mạng xã hội... Cũng cần nhận rõ một thực tế rằng, những người chia sẻ, tán phát thông tin xấu phần nhiều là những người nhẹ dạ cả tin, thiếu thông tin, nhận thức lệch lạc. Chúng ta cần giúp họ nhận thức đúng, sửa sai trên tinh thần coi trọng giáo dục thuyết phục.
Về trước mắt, ngay trong quá trình diễn ra HNTƯ 7, cơ quan chức năng và hệ thống báo chí truyền thông cả nước cần đề cao trách nhiệm, chủ động nắm bắt, thông tin kịp thời, chính xác về tình hình diễn biến hội nghị đến toàn xã hội. Sau hội nghị cần chú trọng tuyên truyền toàn diện kết quả hội nghị, phân tích làm sâu sắc các chủ trương, giải pháp được Trung ương quyết nghị thông qua. Các cấp ủy chủ động tổ chức học tập, nghiên cứu, quyết liệt triển khai, sớm đưa tinh thần HNTƯ 7 đi vào đời sống. Đó là cách chúng ta đồng tâm, hợp sức đập tan những âm mưu, thủ đoạn xấu xa, đê hèn của các thế lực thù địch.
Có thể sắp tới, nhất là sau HNTƯ 7 (khóa XII) dự báo sẽ tiếp tục xuất hiện nhiều hơn nữa những thủ đoạn tinh vi, trá hình của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội; chia rẽ nội bộ và quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân. T'ế nhưng, tất cả những chiêu trò ấy chỉ là chút bóng tối, sẽ nhanh chóng bị ánh sáng của sự thật xua tan
Thiếu trung thực, mầm mống của sự thoái hóa
Thiếu trung thực, cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) không chỉ làm mất đi vẻ đẹp nhân nghĩa, trong sáng của mình mà còn vô hình trung hạ thấp tư cách bản thân trong quan hệ ứng xử với nhân dân, với đồng chí, đồng đội, với tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không chỉ vậy, thiếu trung thực còn là mầm mống nuôi dưỡng sự thoái hóa nhân cách cán bộ, đảng viên.
Một trong những lý do làm cán bộ, đảng viên sa ngã
Đối với những người đảng viên cộng sản, đức tính trung thực là tiêu chí hàng đầu để đánh giá, kiểm nghiệm tư cách đạo đức và phẩm chất chính trị. Sức mạnh, uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản trước hết thể hiện ở lòng trung thành, tinh thần trung kiên, đức tính trung thực của đội ngũ đảng viên. Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, một điều dễ nhận thấy là hầu hết CB, ĐV không những thể hiện phẩm chất trung thành với Đảng, ý chí trung kiên với cách mạng mà luôn có ý thức trung thực với tổ chức, với nhân dân và với bản thân mình. Vì vậy, nói đến đảng viên là nói đến đức hy sinh, lòng trung thành, tính trung thực và đảng viên trở thành một hình mẫu, một biểu tượng nhân cách cao đẹp trong lòng nhân dân.
Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, cùng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của cá nhân, một bộ phận không nhỏ CB, ĐV đang tự bào mòn nhân cách vì không giữ gìn, thể hiện được đức tính trung thực trong cuộc sống, sinh hoạt và công tác. Sự thiếu trung thực biểu hiện dưới muôn hình vạn trạng. Nào là khai man lý lịch, bằng cấp, trình độ học vấn; kê khai tài sản không đúng với số lượng hiện có; nào là “dối trên, lừa dưới” bằng việc khai vống kết quả, tô hồng thành tích, giấu nhẹm khuyết điểm của tổ chức và cá nhân. Trên đăng đàn, trong hội nghị, trước tập thể, lúc đương chức thì nói một đằng nhưng khi ra ngoài, lúc “trà dư tửu hậu” hay khi về hưu thì lại nói kiểu khác. Trong sinh hoạt, ứng xử, bên ngoài thì tỏ vẻ cởi mở, chan hòa, “anh anh chú chú”, nhưng bên trong thì “bằng mặt mà không bằng lòng”, ngấm ngầm giữ miếng, nghi kỵ, thậm chí tìm cách hãm hại lẫn nhau. Tinh vi hơn, sự thiếu trung thực của một số người còn thể hiện ở “vỏ bọc” hào hoa, phong nhã nhưng thâm tâm lại chứa đựng bao điều nhỏ nhen, vị kỷ. Biểu hiện nổi cộm nhất của sự thiếu trung thực là ở thái độ tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, hứa nhiều làm chẳng đáng bao nhiêu, thậm chí nói nói đúng, làm sai, chỉ đạo và yêu cầu cấp dưới phải “làm thế này”, nhưng bản thân làm ngược lại chính những điều mình đã nói.
Thời gian qua, những hành vi tham ô, hối lộ, lãng phí, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm của hầu hết các CB, ĐV vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự, đều có nguyên nhân vừa sâu xa, vừa trực tiếp do thiếu trung thực. Nếu sống trung thực với mình, với tổ chức, với Đảng, với nhân dân, có lẽ nhiều cán bộ cấp cao không phải mất quyền, mất chức, mất uy tín, mất danh dự; thậm chí sa vào vòng lao lý để rồi mất cả quyền công dân như trường hợp các ông Đinh La Thăng, Trần Văn Minh, Phan Văn Vĩnh, Phan Hữu Tuấn, Nguyễn Thanh Hóa… Cũng chỉ vì thiếu trung thực mà một số cán bộ lãnh đạo dối gian với cả cấp ủy, tổ chức để “đánh bóng” lý lịch, trình độ học vấn con em mình rồi bổ nhiệm “thần tốc” người thân vào những chức vụ dễ “sinh lợi, kiếm lộc” khiến tổ chức, cơ quan, địa phương cũng bị “mang tiếng” lây.
Đáng nói hơn, thời gian qua, sự thiếu trung thực không dừng lại ở một vài cá nhân, mà lan sang cả tập thể. Vì nếu đề cao, coi trọng và thể hiện thái độ thẳng thắn, trung thực trong việc tự phê bình và phê bình, có lẽ một số tập thể thường vụ cấp ủy ở Vĩnh Phúc, Đà Nẵng… không đến mức phải bị xử lý kỷ luật kéo theo hàng loạt cán bộ cấp tỉnh cùng phải chịu liên đới trách nhiệm!
Cần thường xuyên rèn luyện, đề cao tính trung thực ở mọi lúc, mọi nơi
Trung thực trái với gian dối, man trá. Trung thực cũng có nghĩa là trái với sự thiếu thành tâm, thiếu công tâm với đồng chí, đồng đội, với tổ chức, tập thể. Thế nên, một nhân cách đàng hoàng không thể không lấy đức tính trung thực làm đầu. Một CB, ĐV chân chính không thể không coi trọng, đề cao lòng chính trực, chân thật của bản thân trong đối nhân xử thế. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng đã xác định, trung thực là một trong những đức tính cao đẹp của người Việt Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Đảng cũng chỉ rõ: Trung thực cùng với các đặc tính: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, cần cù, sáng tạo là những giá trị cơ bản làm nên nhân cách chuẩn mực của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của đảng viên đã được quy định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là: Đảng viên phải trung thực với Đảng. Như vậy, đức tính trung thực của đảng viên lúc này không chỉ là một yêu cầu về phẩm chất đạo đức cần có như một người công dân bình thường mà đó còn là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận của người cộng sản đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, bởi đảng viên là đại diện tiêu biểu về trí tuệ, lương tâm và danh dự của giai cấp và dân tộc.
Trung thực là một trong những đức tính đáng quý nhất của con người. Người có đức tính trung thực trước hết phải trung thực với chính mình, không tự dối bản thân và càng không thể dối với đồng chí, đồng đội, với tập thể. Trung thực là sống có trước, có sau, có tình, có nghĩa, thấy điều lợi thì làm, thấy điều hại thì tránh. Sống trung thực phải biết phân biệt đúng-sai, nhận rõ phải-trái, phân minh thiện-ác và hiểu được đâu là niềm tin chân chính, đâu là trò huyễn hoặc dối trá, bịp bợm để phòng ngừa, tránh xa.
Để giữ gìn được phẩm giá trung thực, mỗi CB, ĐV phải luôn nghĩ, nói và làm những điều hay lẽ phải, hợp lòng người, tuân theo đạo lý và chuẩn mực tốt đẹp của cộng đồng và những quy ước của xã hội. Đảng viên trung thực khi thấy cái tốt, cái đúng, cái đẹp thì giữ gìn, bảo vệ và cổ vũ, khích lệ để phát huy; thấy cái sai, cái xấu, cái ác thì phê phán, đấu tranh để ngăn ngừa, hạn chế. Luôn sống thư thái, ung dung, đàng hoàng, phong cách trung thực của cán bộ, đảng viên hoàn toàn trái với kiểu sống ra luồn vào cúi hay nịnh nọt, ton hót người khác để cầu mong hưởng lợi lộc, công danh phú quý cho bản thân.
Trong ba yếu tố “chân- thiện- mỹ” thì cái thật, cái đúng của con người luôn được đặt ở nấc thang giá trị hàng đầu. Vì cái chân, cái thật luôn là tiền đề, cơ sở để xây dựng cái tốt, cái đẹp. Mặt khác, bản chất cái tốt, cái đẹp luôn hàm chứa trong nó cái chân thật xác đáng. Lòng tự trọng, tự tôn của mỗi đảng viên chân chính đều có xuất phát điểm từ đức tính trung thực. Xã hội nào cũng vậy, khi đức tính trung thực được coi trọng và đề cao thì đó là nhân tố góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội và trở thành nền tảng của một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao đức tính trung thực của cán bộ, đảng viên sẽ góp phần hạn chế lòng tham lam, tính ích kỷ và sự bon chen, cạnh tranh gay gắt về lợi nhuận, đồng thời góp phần điều tiết lợi ích cho các thành viên trong xã hội bảo đảm hài hòa, nhân đạo hơn.
Bầu cử Quốc hội khoá XV: Xứng đáng là đại biểu tiêu biểu của nhân dân
Cuộc bầu cử Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là ngày hội lớn của toàn dân, là đợt sinh hoạt dân chủ sâu rộng, trực tiếp lựa chọn những đại biểu tiêu biểu xứng đáng, đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan quyền lực nhà nước địa phương.
Cuộc bầu cử thể hiện bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta, tính nhân dân sâu sắc của Nhà nước ta thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhân dân với Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong cả nước phải ra sức chuẩn bị và tiến hành cuộc bầu cử, nhất là thực hiện tốt quyền của công dân, bảo đảm cho cuộc bầu cử được tiến hành thực sự dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là ngày hội lớn của toàn dân.
Vào thời điểm đất nước đã đủ thế và lực để có thể bứt phá, vươn lên mạnh mẽ thì Quốc hội phải xứng tầm với khát vọng của dân tộc. Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội lần này có ý nghĩa đặc biệt, ghi dấu mốc của thời kỳ chúng ta đưa đất nước bước vào giai đoạn “cất cánh”.
Đó là chia sẻ của GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam với Báo Điện tử Chính phủ về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sắp diễn ra.
GS.TSKH Vũ Minh Giang cho biết, trong đời sống chính trị của bất kỳ quốc gia nào, bầu cử đại biểu Quốc hội luôn giữ vai trò rất quan trọng. Đặc biệt, ở nước ta, mỗi dịp tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, nguyện vọng của người dân được gửi gắm vào một cơ quan quyền lực cao nhất, đó là Quốc hội.
GS.TSKH Vũ Minh Giang điểm lại những cột mốc quan trọng trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội các thời kỳ kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập vào năm 1945 đến nay.
Đầu tiên phải kể đến kỳ bầu cử lịch sử, có tính bước ngoặt là Tổng tuyển cử năm 1946. Đó là thời kỳ mà chúng ta giành được chính quyền sau gần 1 thế kỷ mất quyền độc lập và việc bầu cử Quốc hội chính là sự khẳng định tính chính danh cho chính quyền ấy trước quốc dân đồng bào và với thế giới. Chính vì vậy, mặc dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có uy tín rất cao mà Người vẫn quyết định phải tổ chức bằng mọi giá cuộc Tổng tuyển cử ngay đầu năm 1946.
Ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc Tổng tuyển cử là khẳng định chính quyền cách mạng là của dân, do dân và vì dân. William S Turley, một Giáo sư chính trị học có tên tuổi ở Hoa Kỳ, trong cuốn sách “Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam dưới góc nhìn so sánh” (Vietnamese Communism In Comparative Perspective), đã nhận định: Trong số các đảng cộng sản cầm quyền thì Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền mà tính hợp hiến, hợp pháp, tính chính danh không một đảng nào có thể so sánh được.
Đến khi đất nước thống nhất, cuộc đại tổng tuyển cử trên quy mô cả nước mang ý nghĩa quan trọng, tạo ra một Quốc hội thống nhất và bầu ra một Chính phủ thống nhất trên quy mô toàn quốc.
“Sau một thời gian phấn khởi với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng có một nốt trầm trong lịch sử, đó là khủng hoảng kinh tế, nhiều tiêu chí phát triển suy thoái. Khi đó, chúng ta đã có một quyết định dũng cảm đó là Đổi mới. Đại hội Đảng lần thứ VI tiến hành theo tinh thần đó và Quốc hội sau Đại hội VI xuất hiện nhiều gương mặt tài năng mới. Đó là một dấu mốc quan trọng”, GS.TSKH Vũ Minh Giang chia sẻ về một số kỳ bầu cử Quốc hội có tính bước ngoặt.
Với cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV, GS.TSKH Vũ Minh Giang cho rằng, đây cũng là một kỳ bầu cử có ý nghĩa đặc biệt.
Kỳ bầu cử được tiến hành sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đại hội được giới nghiên cứu đánh giá là đi vào lịch sử khi chuyển giai đoạn phát triển của đất nước từ khời kỳ phát triển để tạo thế và lực sang giai đoạn phát huy đến mức cao nhất tất cả các thế và lực đã tích lũy được để có thể phát triển đột phá theo cách gọi mà báo chí hay dùng là ‘cất cánh’.
“Vai trò của Quốc hội là tìm chọn, chuẩn y và bầu ra những gương mặt xứng tầm để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ lịch sử hết sức quan trọng ấy. Quốc hội không chỉ đóng vai trò hoạch định chính sách, bổ sung điều luật hay ban hành những quy chế ở tầm quốc gia, mà còn là cơ quan giám sát hữu hiệu và sắc bén. Trong bối cảnh ấy, những đại biểu Quốc hội được chọn trong kỳ bầu cử này cũng sẽ có những đòi hỏi đặc biệt hơn.
Mỗi một kỳ bầu cử đều có ý nghĩa quan trọng và đợt bầu cử Quốc hội khóa XV sẽ đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đất nước đã tạo đủ thế và lực để thực hiện khát vọng của cả dân tộc là hướng đất nước trở thành một quốc gia phồn vinh”, GS.TSKH Vũ Minh Giang nói.
Với tất cả những điều đã phân tích, GS.TSKH Vũ Minh Giang cho biết, không chỉ riêng ông mà tất cả người dân đang trông chờ những quyết sách lớn ở tầm quốc gia sẽ được Quốc hội thông qua, trông chờ vào những gương mặt mà Quốc hội bầu ra, đủ tầm, đủ tài, đủ đức để có thể đưa đất nước đi lên.
Riêng về mặt cá nhân, GS.TSKH Vũ Minh Giang chia sẻ, ông không chỉ kỳ vọng vào những thành công to lớn đặc sắc của Quốc hội sắp được bầu ra mà còn có niềm tin sâu sắc vào những kết quả khả quan sẽ đạt được trong thời gian tới.
“Ngoài những người lãnh đạo Quốc hội trực tiếp như Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban thì các thành viên Chính phủ như Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan ngang bộ đều có những vị trí trong Quốc hội. Trách nhiệm của họ là phải thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan quyền lực cao nhất được nhân dân giao phó, ủy thác. Những gương mặt đó phải có trình độ cao, có tâm huyết và đặc biệt là có phẩm chất đạo đức, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.
Nhìn vào những gương mặt thành viên Chính phủ được bầu, phê chuẩn trong kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV, tôi thấy đều là những gương mặt đáng tin cậy mà nhân dân có thể đặt lòng tin của mình một cách xứng đáng. Đặc biệt, điều có thể thấy rất rõ ở những gương mặt này là khát vọng cống hiến, tận tâm, trách nhiệm, sẵn sàng cùng với toàn dân đưa đất nước phát triển lên tầm cao mới”. GS.TSKH Vũ Minh Giang nhận xét.
“Bầu cử Quốc hội khóa XV thành công cũng chính là thời cơ để chúng ta thực hiện một cách tương đối trọn vẹn lời hứa với toàn dân khi chúng ta giành được chính quyền, ghi lên Quốc hiệu 3 tiêu ngữ: Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc. Bây giờ chúng ta đang nói tới việc thực hiện khát vọng là đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Tăng trưởng về mặt kinh tế, đem lại GDP cao, đấy mới là cải thiện mức sống, cuộc sống hạnh phúc phải đáp ứng nhiều nội dung khác. Chúng ta đã đến lúc phải thực hiện một cách trọn vẹn những cam kết của chính quyền với nhân dân”, GS.TSKH Vũ Minh Giang kỳ vọng.
VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐẤT NƯỚC "CẤT CÁNH"
Kỳ bầu cử được tiến hành sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đại hội được giới nghiên cứu đánh giá là đi vào lịch sử khi chuyển giai đoạn phát triển của đất nước từ khời kỳ phát triển để tạo thế và lực sang giai đoạn phát huy đến mức cao nhất tất cả các thế và lực đã tích lũy được để có thể phát triển đột phá theo cách gọi mà báo chí hay dùng là ‘cất cánh’.
“Vai trò của Quốc hội là tìm chọn, chuẩn y và bầu ra những gương mặt xứng tầm để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ lịch sử hết sức quan trọng ấy. Quốc hội không chỉ đóng vai trò hoạch định chính sách, bổ sung điều luật hay ban hành những quy chế ở tầm quốc gia, mà còn là cơ quan giám sát hữu hiệu và sắc bén. Trong bối cảnh ấy, những đại biểu Quốc hội được chọn trong kỳ bầu cử này cũng sẽ có những đòi hỏi đặc biệt hơn.
Mỗi một kỳ bầu cử đều có ý nghĩa quan trọng và đợt bầu cử Quốc hội khóa XV sẽ đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đất nước đã tạo đủ thế và lực để thực hiện khát vọng của cả dân tộc là hướng đất nước trở thành một quốc gia phồn vinh”, GS.TSKH Vũ Minh Giang nói.
Với tất cả những điều đã phân tích, GS.TSKH Vũ Minh Giang cho biết, không chỉ riêng ông mà tất cả người dân đang trông chờ những quyết sách lớn ở tầm quốc gia sẽ được Quốc hội thông qua, trông chờ vào những gương mặt mà Quốc hội bầu ra, đủ tầm, đủ tài, đủ đức để có thể đưa đất nước đi lên.
Riêng về mặt cá nhân, GS.TSKH Vũ Minh Giang chia sẻ, ông không chỉ kỳ vọng vào những thành công to lớn đặc sắc của Quốc hội sắp được bầu ra mà còn có niềm tin sâu sắc vào những kết quả khả quan sẽ đạt được trong thời gian tới.
“Ngoài những người lãnh đạo Quốc hội trực tiếp như Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban thì các thành viên Chính phủ như Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan ngang bộ đều có những vị trí trong Quốc hội. Trách nhiệm của họ là phải thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan quyền lực cao nhất được nhân dân giao phó, ủy thác. Những gương mặt đó phải có trình độ cao, có tâm huyết và đặc biệt là có phẩm chất đạo đức, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân.
Nhìn vào những gương mặt thành viên Chính phủ được bầu, phê chuẩn trong kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV, tôi thấy đều là những gương mặt đáng tin cậy mà nhân dân có thể đặt lòng tin của mình một cách xứng đáng. Đặc biệt, điều có thể thấy rất rõ ở những gương mặt này là khát vọng cống hiến, tận tâm, trách nhiệm, sẵn sàng cùng với toàn dân đưa đất nước phát triển lên tầm cao mới”. GS.TSKH Vũ Minh Giang nhận xét.
“Bầu cử Quốc hội khóa XV thành công cũng chính là thời cơ để chúng ta thực hiện một cách tương đối trọn vẹn lời hứa với toàn dân khi chúng ta giành được chính quyền, ghi lên Quốc hiệu 3 tiêu ngữ: Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc. Bây giờ chúng ta đang nói tới việc thực hiện khát vọng là đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Tăng trưởng về mặt kinh tế, đem lại GDP cao, đấy mới là cải thiện mức sống, cuộc sống hạnh phúc phải đáp ứng nhiều nội dung khác. Chúng ta đã đến lúc phải thực hiện một cách trọn vẹn những cam kết của chính quyền với nhân dân”, GS.TSKH Vũ Minh Giang kỳ vọng.
Lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để bịa đặt, vu cáo
Được tận mắt chứng kiến hằng ngày hàng triệu người dân vẫn đến các cơ sở tôn giáo để thực hành đức tin, tôi càng nhận ra rõ hơn về thói "đạo đức giả" của những người đang nấp dưới chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo Nhà nước Việt Nam. .
Sau chuyến về thăm quê hương vừa qua, tận mắt chứng kiến sự phát triển của đất nước, được tiếp xúc với sự phong phú, đa dạng trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, từ CHLB Ðức, tác giả Hồ Ngọc Thắng có bài viết gửi Báo Nhân Dân. Bài viết thông qua sự cảm nhận và tìm hiểu của chính tác giả đã phê phán luận điệu của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Những năm qua, mỗi lần về thăm quê hương tôi đều cố gắng dành thời gian đến thăm nhiều vùng miền từ thành thị đến nông thôn, kể cả vùng hẻo lánh, xa xôi. Ði như vậy, tôi biết thêm nhiều điều về quê hương mình, tận mắt chứng kiến mọi người dân được hưởng quyền tự do, dân chủ như Hiến pháp quy định, nhất là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua chuyện trò, tâm sự của người thân, của bà con họ hàng, bạn bè và những người tôi đã gặp trên đường hoặc khi dừng nghỉ ở đâu đó, tôi hiểu ở Việt Nam, mọi người đều được tạo điều kiện thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, không ai bị cản trở hay gặp khó khăn.
Là người làm nghề luật, tôi quan niệm để có đánh giá khách quan về thực trạng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở một quốc gia phải nhìn nhận cả hai mặt: cơ sở pháp lý, thực tế đời sống tôn giáo của người dân. Về cơ sở pháp lý, ở Việt Nam, Ðiều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Quy định này được thể chế hóa qua sự kiện ngày 18-11-2016, kỳ họp thứ hai Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước tiến lớn trong chính sách tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Và để luật đi vào cuộc sống, giúp người dân, hiểu rõ hơn về quyền, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 30-12-2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 162/2017/NÐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Cũng như những lần về nước trước đây, không chỉ nắm bắt qua tin tức trên báo chí, vì muốn trực tiếp tìm hiểu đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của bà con quê nhà, tháng 5-2018, tôi đến thăm Vương cung Thánh đường La Vang, nơi được coi là Thánh địa và là một trong ba trung tâm hành hương quan trọng của người Công giáo ở Việt Nam. Vương cung Thánh đường La Vang tọa lạc tại Hải Lăng - Quảng Trị, năm 1972 từng bị bom Mỹ phá hủy hoàn toàn, hiện còn một phần là di tích tháp chuông. Tôi thật sự ấn tượng với Thánh đường có sức chứa 5.000 người đang trong quá trình xây dựng, được thiết kế theo phong cách kiến trúc Việt Nam truyền thống. Nắng nóng oi bức, song từng đoàn xe vẫn nối đuôi đưa những đoàn người Công giáo cũng như du khách từ mọi miền đất nước hành hương, thăm viếng nơi này. Tìm hiểu trên internet (in-tơ-nét) và tiếp xúc với người Công giáo ở địa phương, tôi được biết tại đây: năm 1995 tháp chuông, Nhà nguyện Ðức Mẹ đã được tu sửa; năm 2002 khánh thành Nhà nguyện Thánh thể; năm 2004 khánh thành Công trường Mân Côi, Lễ đài, Nhà hành hương. Năm 1998, tượng Ðức Mẹ La Vang mới đã thay thế cho pho tượng cũ. Pho tượng mới được Giáo hoàng Gioan Phaolô II làm phép ngày 1-7-1998 tại Roma, chuyển về Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ La Vang. Năm 2008, chính quyền tỉnh Quảng Trị đã cấp lại cho Thánh địa 21 ha đất nhằm "phục vụ hoạt động tín ngưỡng của giáo dân" và Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định xây lại nhà thờ La Vang cho tương xứng một trung tâm hành hương. Ngày 6-1-2011, nghi thức đặt viên đá đầu do Hồng y Ivan Dias (I-van Ði-át) - Ðặc sứ của Giáo hoàng Benedicto XVI, và các Giám mục Việt Nam được tiến hành nhân dịp bế mạc Năm Thánh nhân 50 năm hàng giáo phẩm Việt Nam (1960 - 2010). Ngày 15-8-2012 đã diễn ra lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Vương cung Thánh đường dự kiến xây dựng trên mặt bằng có diện tích 13.464 m2. Khung cảnh sinh hoạt nhộn nhịp mà tôi chứng kiến hoàn toàn đối lập với đánh giá về vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam của một số thế lực, tổ chức ở phương Tây. Không nói đâu xa, từ sân bay quốc tế Nội Bài theo quốc lộ 1A đi về phía nam hoặc phía bắc, người đi đường đều có thể quan sát, nhận thấy hai bên đường thi thoảng có nhà thờ Công giáo khang trang với tháp chuông cao vút giữa nền trời. Cảnh quan đó giúp nhận biết mật độ nhà thờ Công giáo ở thành thị và nông thôn Việt Nam như thế nào. Nếu so sánh với châu Âu, nơi hằng năm hàng loạt nhà thờ bị phá dỡ do không còn nhu cầu sử dụng vì lượng giáo dân đã giảm trong các thập kỷ qua, thì không thể kết luận ở Việt Nam "không có tự do tôn giáo". Ngược lại điều đó đã phần nào cho thấy sự phát triển của đời sống tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay cũng như quyền tự do tín ngưỡng của người dân tại Việt Nam được công nhận và tạo điều kiện như thế nào.
Không chỉ ở La Vang, không chỉ đối với Công giáo Việt Nam, mà ở nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam với các bộ phận khác nhau của cộng đồng tôn giáo, những năm qua rất nhiều công trình hoành tráng như thế đã được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của hàng chục triệu người dân. Một nơi không xa La Vang mà tôi đến thăm lần này là TP Huế, nơi tôi có nhiều người họ hàng sinh sống. Thừa Thiên - Huế là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của cả nước. Hơn 60% số người dân của TP Huế theo đạo Phật, Phật giáo ở Thừa Thiên - Huế hiện có hơn 1.000 tu sĩ, gần 600 tu viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường. Có thể nói, mọi nơi của thành phố, dù ban ngày hay ban đêm, khách từ phương xa tới đều có thể chứng kiến khung cảnh hoạt động của tín đồ Phật giáo trong không khí an lành, hướng thiện. Cũng cần nhắc đến quần thể chùa Bái Ðính ở Ninh Bình, với khu chùa mới được xây dựng năm 2003, nơi tổ chức Ðại lễ Phật đản Liên hợp quốc - Vesak 2014 vào tháng 3-2014. Và như báo chí đã đưa tin, năm nào cũng vậy, đến dịp đầu năm, không quản mưa gió, hàng chục nghìn người lại hành hương về đất Phật Yên Tử (Quảng Ninh)… Phải khẳng định đó là những minh chứng hết sức sống động, phản ánh chân thực sự phát triển đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam, đặc biệt cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được tôn trọng, được tạo điều kiện để phát triển, không có người dân nào bị gây phiền hà, sách nhiễu.
Từ những gì đã thấy, đã đọc, đã nghe, tôi rút ra kết luận rằng một số chính phủ ở phương Tây, một số tổ chức nhân danh dân chủ, nhân quyền không muốn xem xét, đánh giá vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam một cách khách quan. Vì các lý do khác nhau, trong đó chắc chắn có động cơ chính trị, họ muốn áp đặt cái gọi là "giá trị phương Tây" lên Việt Nam, cản trở sự phát triển của đất nước tôi, dung túng và o bế một số cá nhân có thái độ chống đối chính quyền… Từ đó gây sức ép đối với Nhà nước Việt Nam. Ðể thực hiện mưu đồ, họ sử dụng phương pháp cũ là khai thác luận điệu bịa đăt, vu khống của nhóm nhỏ cá nhân bất mãn, người có thái độ thiếu thiện chí hay thù địch với chính quyền để xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Cuối những năm 90 của thế kỷ 20, phương pháp này được áp dụng tại các nước ở Ðông Âu. Tại đó, nhiều cuộc biểu tình, phản đối được khơi mào bởi các phần tử nấp dưới cái gọi là "tự do tôn giáo", nhà thờ bị lạm dụng làm nơi quy tụ lực lượng chống đối, muốn lật đổ chính quyền. Trước khi vào Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, tôi dừng chân ở Nghệ An và Hà Tĩnh, nơi thời gian gần đây đã có một số người hoạt động gây rối. Các phần tử quá khích trong Công giáo lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển liên quan Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa (Hà Tĩnh), để gây ùn tắc giao thông, phá hoại trụ sở chính quyền, gây thiệt hại về tài sản, thương tích cho nhiều người. Báo chí Việt Nam nhiều lần đưa tin về các vụ án, trong đó người bị tuyên án không phải vì theo một tôn giáo hay hoạt động cho tổ chức tôn giáo nào, mà là lợi dụng danh nghĩa giáo dân để vi phạm những điều luật ghi cụ thể trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam, và những quy định pháp luật khác. Rõ ràng, đây là hoạt động đội lốt tôn giáo để phá vỡ cuộc sống bình yên, cản trở hoạt động chung của toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi các biện pháp trong khuôn khổ pháp luật để duy trì kỷ cương xã hội thì họ lu loa "chính quyền vi phạm tự do tôn giáo". Ở một vài giáo phận, một số vụ tranh chấp đất đai thuần túy mang tính dân sự đã bị người quá khích thổi phồng nhằm gây sức ép với chính quyền, đưa ra yêu cầu phi lý, gây rối tại cơ quan tư pháp, hành pháp ở địa phương. Báo chí cũng đã cho biết một sự thật không thể bỏ qua là thủ đoạn chống phá của các tổ chức thù địch ở nước ngoài. Họ không chỉ sử dụng internet để bịa đặt, dựng chuyện vu cáo mà còn chuyển tiền và tài liệu từ nước ngoài vào Việt Nam, lôi kéo người nhẹ dạ tham gia hoạt động lật đổ chính quyền, một số người được đưa ra nước ngoài để bồi dưỡng kỹ năng chống phá… Sống ở phương Tây nhiều năm, tôi khẳng định đó là việc làm mà bất cứ chính quyền ở một nước phương Tây nào cũng không bao giờ chấp nhận, luôn có biện pháp xử lý công khai, nghiêm khắc.
Được tận mắt chứng kiến hằng ngày hàng triệu người dân vẫn đến các cơ sở tôn giáo để thực hành đức tin, tôi càng nhận ra rõ hơn về thói "đạo đức giả" của những người đang nấp dưới chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vu cáo Nhà nước Việt Nam. Và khi đứng trước tháp chuông là di tích của một Vương cung Thánh đường tại Thánh địa La Vang đã bị bom tàn phá, tôi nghĩ đến câu hỏi: Một số tổ chức, chính quyền, thậm chí là ở quốc gia từng ném bom phá hoại nhà thờ đã thực lòng đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam như thế nào? Cũng như họ suy nghĩ gì khi tự cho mình có tư cách để phê phán một quốc gia đã cấp đất để xây nhà thờ?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)