Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

"Lật tẩy thủ đoạn phá rối bầu cử" Gần đến ngày diễn ra cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, đi ngược lại với mong muốn đó, các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị, phần tử xấu lại xem đây là thời cơ để chống phá. Họ ráo riết thực hiện các âm mưu, hoạt động chống phá, đưa ra những luận điệu sai trái, đòi hỏi phi lý nhằm phá hoại bầu cử. Bởi vậy, cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, từ đó nâng cao cảnh giác, góp phần tổ chức thành công cuộc bầu cử. Âm mưu của họ là nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang, hoài nghi trong dư luận, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng, bôi lem chế độ, từ đó gây mất niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, phá hoại cuộc bầu cử; làm cho cuộc bầu cử không diễn ra theo kế hoạch, dự kiến. Những thủ đoạn đang được các đối tượng sử dụng để xuyên tạc, chống phá cuộc bầu cử là: Tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về cuộc bầu cử, cho rằng cuộc bầu cử này chỉ là hình thức, người dân không có vai trò gì: “Cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”, “Bầu cử chỉ là hình thức bởi nhân sự đã do Đảng chọn”, “Cuộc bầu cử không có gì mới so với trước đây”, Đảng “phân biệt đối xử với người tự ứng cử”, “Việc quy định con số và tỷ lệ đại biểu do Đảng áp đặt là tùy tiện, trái Hiến pháp”... Từ đó, quy kết rằng, ở Việt Nam không có “dân cử, dân bầu”, đó chỉ là diễn kịch, trò hề… Không những vậy, các đối tượng còn tung ra các luận điệu kiểu như: Quốc hội qua các nhiệm kỳ chưa làm tròn chức trách là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, phần lớn đại biểu chỉ là cơ cấu để bấm nút bỏ phiếu, chưa thể hiện được tiếng nói và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; tổ chức bầu cử như hiện tại chỉ gây lãng phí tiền của nhân dân; cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là “hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”... Từ đó, các đối tượng kêu gọi phải mở rộng “dân chủ trong bầu cử”, Đảng cần ủng hộ những người “tự ứng cử”, phải vận động, tranh cử công khai để cử tri lựa chọn; Kêu gọi, kích động người dân không đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Để cổ suý luận điệu “Quốc hội chỉ là hội nghị mở rộng của Đảng”, các đối tượng thông qua Internet kêu gọi, kích động người dân không đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Đối với những người đi bầu cử, các đối tượng tuyên truyền gạch chéo tất cả những phiếu bầu; Tán phát cái gọi là “thư ngỏ”, “thư kiến nghị”, “góp ý” nhằm tuyên truyền luận điệu kêu gọi thay đổi cơ chế, chính sách, quy định về bầu cử. Lấy cớ những nhà trí thức, nhà khoa học, với những “ý kiến tâm huyết” với Đảng, Nhà nước, một số đối tượng đã chủ động viết, tán phát “thư ngỏ”, “thư kiến nghị”, “góp ý” kêu gọi Đảng, Nhà nước thay đổi cơ chế, chính sách, quy định về bầu cử hiện nay. Họ kêu gọi Đảng, Quốc hội phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do. Họ hô hào: Để lập được một Quốc hội có năng lực thì trước hết phải kiên quyết bỏ hẳn cách Đảng cử dân bầu, mặt trận độc quyền giới thiệu. Phải mở rộng đường cho việc tự ứng cử và vận động ứng cử tự do; Lợi dụng quyền tự ứng cử, phát động các chiến dịch truyền thông hô hào ký tên ảo trên Internet, tung hô, ủng hộ cho người này, người kia. Trước thời điểm bầu cử, các tổ chức phản động, chống đối trong và ngoài nước thường chỉ đạo số thành viên, cơ sở trong nước đăng ký tự ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu HĐND các cấp. Không những vậy, các đối tượng còn phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, mạng xã hội để kêu gọi ký tên ảo nhằm tung hô, ủng hộ cho những nhà “dân chủ” tự ứng cử. Ý đồ của họ là tìm cách xâm nhập người vào các cơ quan dân cử. Trong trường hợp những người này trúng cử thì họ sẽ có điều kiện để phá hoại, tác động chuyển hóa nội bộ. Trường hợp những người này không trúng cử thì họ sẽ lợi dụng để vu cáo, xuyên tạc công tác bầu cử, cho rằng cuộc bầu cử là thiếu minh bạch, thiếu dân chủ. Có thể thấy, những luận điệu trên tuy không mới nhưng lại được che đậy dưới những thủ đoạn tinh vi và được tung ra trong thời điểm chuẩn bị bầu cử nên gieo rắc hoang mang, gây nghi ngờ, phân tâm trong nội bộ nhân dân. Nếu ai mất cảnh giác, có thể lầm tưởng, thậm chí bị dẫn dắt và tin theo. Hiện nay, các cơ quan chức trách đang tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Thường xuyên bám sát các vấn đề, sự kiện chính trị liên quan tới cuộc bầu cử để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, có định hướng theo quan điểm, đường lối của Đảng và yêu cầu của xã hội cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Đồng thời, nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm đảng viên, chủ động sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống; không nghe theo các luận điệu sai trái, thù địch, thủ đoạn kích động chống phá của các đối tượng.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Hội tụ tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh dân tộc Việt Nam thời kỳ đổi mới

 

Giỗ Tổ Hùng Vương - Hội tụ tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh dân tộc  thời kỳ đổi mới

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý truyền thống của người Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ con cháu đối với công đức của tổ tiên.

Từ bao đời nay, trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, các Vua Hùng đã có công dựng nên Nhà nước đầu tiên trong lịch sử, là tổ tiên chung của toàn dân tộc. Mọi người dân Việt Nam đều tự hào mang trong mình dòng máu “Lạc Hồng.” Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý truyền thống của người Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ con cháu đối với công đức của tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Theo các tư liệu lịch sử và thống kê của các nhà nghiên cứu, trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hiện có 1.417 địa điểm có di tích thờ cúng các Vua Hùng và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương. Trong đó, tỉnh Phú Thọ có 183 di tích thờ cúng Hùng Vương (122 di tích đang thờ tự và 61 di tích đã thất truyền).

Mỗi địa điểm di tích lại gắn liền với một tín ngưỡng thờ cúng và tri ân công đức của tiên tổ. Đây thực sự là một minh chứng khẳng định tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là một di sản văn hóa độc đáo, trường tồn cùng lịch sử dân tộc. Lễ Giỗ tổ Hùng Vương là dịp quan trọng để giới thiệu ra thế giới một di sản đã thấm đẫm vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của mỗi người dân Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có sức sống mãnh liệt, trường tồn với thời gian, bởi đức tin và sự linh thiêng. Đó chính là hai yếu tố cơ bản tạo thành sợi dây cố kết cộng đồng.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trong tâm thức của người dân Việt Nam, vua Hùng là vị vua dựng nước, là tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Người dân đất Việt tôn vinh Vua Hùng là Thánh Tổ và dựng lên các ngôi đền trên núi Nghĩa Lĩnh để thờ tự từ bao đời nay. Thái độ tôn kính Hùng Vương theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của các thế hệ người dân Việt Nam đã khiến cho Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ngày càng linh thiêng và sức lan tỏa sâu rộng trên mọi miền đất nước và kiều bào ta ở nước ngoài.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương còn thể hiện ở đức tin trong lòng dân. Đó là niềm tin về một sức mạnh thiêng liêng, có thể giúp người dân vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống trước thiên tai, địch họa. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương xuất phát từ mạch nguồn dân tộc, từ sự tôn vinh những nhân vật lịch sử có công dựng nước đã tạo lập ra một quốc gia, dân tộc...

Trong thời đại ngày nay, đất nước đang trên đà hội nhập và phát triển, thời cơ thuận lợi có nhiều, nhưng khó khăn, thách thức không hề nhỏ. Để đưa đất nước đi lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu, chúng ta cần có sự đồng tâm hiệp lực của đồng bào cả nước, trong đó có những người con đất Việt đang sinh sống ở nước ngoài.

Nếu biết phát huy sức mạnh cội nguồn - sức mạnh của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, chúng ta sẽ tập hợp được sự đoàn kết đối với tất cả người dân đất Việt, cùng chung sức, chung lòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là thực hiện được lời dặn dò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào cả nước.

Ngày 6/12/2012, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ đã được Ủy ban Liên chính phủ theo Công ước năm 2003 của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, ngày Giỗ tổ Hùng Vương hằng năm là ngày lễ trọng đại mang bản sắc văn hóa sâu sắc và độc đáo của dân tộc Việt Nam, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tưởng nhớ và biết ơn công đức các Vua Hùng đã có công dựng nước và giữ nước.

Đây cũng là dịp quan trọng để quảng bá ra thế giới về một Di sản vô cùng giá trị, độc đáo, đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”

Ông Lê Trương Giang, Giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng cho biết hằng năm, Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ được giao chủ trì phối hợp với 3-5 tỉnh, thành trong cả nước tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng.

Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, thành kính theo các nghi lễ truyền thống với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh, thành, kiều bào nước ngoài và đông đảo nhân dân.

Phần hội diễn ra vui tươi, lành mạnh với nhiều hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc vùng Đất Tổ cội nguồn. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương giờ đây trở thành ngày hội văn hóa của toàn dân tộc, có ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng.

Thành công lớn nhất trong việc phát huy giá trị di sản chính là từ Đền Hùng - Trung tâm thực hành nghi lễ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, nơi hội tụ sâu sắc nhất nghĩa “Đồng bào," nơi thể hiện cho ý thức về nguồn cội của hàng triệu triệu người dân đất Việt đã có sự lan tỏa mạnh mẽ không chỉ đến các di tích thờ Hùng Vương, danh tướng thời Hùng Vương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, mà còn lan rộng ra các di tích thờ Hùng Vương trong và ngoài nước.

Ngày 10 tháng 3 âm lịch, vào thời khắc tại Đền Thượng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh linh thiêng thuộc Di tích Quốc gia đặc biệt Đền Hùng tổ chức nghi lễ Giỗ Tổ thì tại các di tích thờ cúng Hùng Vương trong cả nước đều đồng loạt tổ chức nghi lễ Giỗ Tổ.

Đồng thời, cũng vào ngày này, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ những năm gần đây đã khuyến khích mỗi gia đình làm mâm cơm dâng cúng lên ban thờ tổ tiên tại gia để cùng tưởng nhớ, tri ân tổ tiên ông bà, cha mẹ trong mỗi gia đình mình theo phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt.

Đó cũng chính là bản thể, cội nguồn sự hình thành, kết nối của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, từ gia đình đến dòng họ, đến quốc gia, dân tộc. Sự cố kết chặt chẽ ấy chính là sức mạnh bền vững để tạo nên giá trị bản sắc riêng có của dân tộc Việt Nam và của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.

Nhằm tiếp tục bảo tồn Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương một cách thiết thực, trong những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã có nhiều giải pháp và tạo mọi điều kiện để hỗ trợ cộng đồng bảo tồn các tập quán Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại địa phương.

Tỉnh chú trọng việc truyền dạy cho thế hệ trẻ việc kết nối và thực hành di sản để sáng tạo, tiếp nối và duy trì bản sắc văn hóa truyền thống trong cuộc sống đương đại; đồng thời chú trọng tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng - chủ thể văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị to lớn, độc đáo và ý nghĩa sâu sắc của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.

Nhiều chương trình văn hóa, giáo dục và truyền thống đa dạng được xây dựng để giới thiệu, phổ biến, quảng bá nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của xã hội đối với việc bảo vệ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương...

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không có biên giới riêng mà là biên giới cộng đồng. Đó là điều căn bản triết lý để hình thành một quốc gia thống nhất. Ở đó tất cả mọi người đều có chung một vị Thánh Tổ - Vua Hùng.

Trong tâm thức nguồn cội của người Việt - Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Giỗ Tổ Hùng Vương là điểm đồng quy về ý thức cộng đồng-quốc gia-dân tộc, đã kết tinh thành dòng chảy bất tận trong đời sống văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam.

 

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”! Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc Cơ sở khoa học để từng bước hiện thực hóa khát vọng chính đáng, nhân văn Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại. Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN. Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước. Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới. Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

Niềm tin vào “khát vọng hùng cường”

“Khát vọng hùng cường” đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045 được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đó cũng là niềm tin của toàn dân ta. Thế nhưng, lại có những người tỏ ra nghi ngờ về mục tiêu ấy. Thậm chí, họ còn cho rằng, đất nước đã thống nhất gần nửa thế kỷ mà Việt Nam mới phát triển thành nền kinh tế đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Như thế, “khát vọng hùng cường” vào năm 2045 là phi thực tế?! Cần nhớ lại rằng, sau 30-4-1975, nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chiến tranh. Bom đạn đã tàn phá nặng nề cơ sở hạ tầng, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất bị phá hủy, phá hỏng nghiêm trọng... Giao thương với thế giới bị thu hẹp. Thế nhưng, từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra quyết sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã nhanh chóng chuyển mình. Hơn 35 năm đổi mới, những thành tựu mà nước ta gặt hái trở thành một bài học nêu gương cho nhiều quốc gia trên thế giới. Giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4% thì giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm. Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%. Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 22% năm 2005; 9,45% năm 2010; 7% năm 2015 và còn dưới 3% năm 2020 (theo chuẩn nghèo đa chiều). Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương với độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới... Ai cũng biết, việc tăng tốc từ điểm xuất phát thấp bao giờ cũng tốn thời gian và sức lực hơn. Vì thế, tất yếu, để tịnh tiến đến các thành tựu, Việt Nam cần rất nhiều thời gian và nỗ lực. Gần đây, tốc độ “chín” của “quả ngọt” ngày càng tăng nhanh. Tính trong thời kỳ chiến lược 2011-2020, quy mô GDP Việt Nam tăng 2,4 lần, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN. Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một câu chuyện huyền thoại trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 là 0,704, xếp thứ 117 trong tổng số 189 nước, nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Đặc biệt, mặc dù năm 2020 ghi nhận những suy giảm mạnh về tăng trưởng và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của tất cả các nước trên thế giới, song các đánh giá và dự báo về kinh tế Việt Nam đều rất tích cực, nằm trong số hiếm hoi các nước vẫn giữ được mức tăng trưởng GDP dương với con số 2,91%. Việt Nam được coi là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, phục hồi kinh tế nhanh hình chữ V, với mức tăng trưởng dự báo từ hơn 6% tới 11,2% trong năm 2021. Với cơ sở vững chắc, đà phát triển mạnh mẽ cùng quyết tâm cao độ của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và đại đa số quần chúng nhân dân, việc Việt Nam bứt tốc để gặt hái những thành tựu lớn hơn, đưa khát vọng hùng cường trở thành sự thật sẽ hoàn toàn đạt được.

Giúp đỡ ngư dân khắc phục sự cố tàu cá bị hỏng trên biển

Chiều 21-4, Trung tâm Dịch vụ Hậu cần – Kỹ thuật (HC-KT) đảo Sinh Tồn, thuộc Hải đoàn 129 (Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn), cho biết, đơn vị vừa khắc phục thành công sự cố hỏng máy phát điện của tàu cá ngư dân QNg 90684 TS. Trước đó, ngày 19-4, khi đang đánh bắt hải sản ở khu vực biển truyền thống thuộc quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa), tàu cá QNg 90684 TS gặp sự cố máy phát điện. Ông Đỗ Văn Công, thuyền trưởng tàu cá đã liên hệ với Trung tâm Dịch vụ HC-KT đảo Sinh Tồn nhờ sửa chữa. Giúp đỡ ngư dân khắc phục sự cố tàu cá bị hỏng trên biển Đến 15 giờ 30 phút ngày 19-4, tàu cá QNG 90684 TS được đưa vào cập âu tàu đảo Sinh Tồn an toàn. Cán bộ, nhân viên Trung tâm Dịch vụ HC-KT nhanh chóng nắm thông tin thời gian xuất bến, thực hiện các biện pháp phòng dịch Covid-19, kiểm tra sự cố và phát hiện hệ thống bơm nhiên liệu máy phát điện bị hỏng. Ngay sau đó, các nhân viên kỹ thuật đã tháo rời hệ thống, đưa về xưởng rà xoáy, căn chỉnh kim phun, khắc phục hỏng hóc, sau đó lắp ráp điều chỉnh khe hở nhiệt. Đến tối 20-4, sự cố tàu cá QNg 90684 TS được khắc phục thành công, thử tải hoạt động bình thường trước khi bàn giao phương tiện cho thuyền trưởng tiếp tục hải trình mưu sinh. Trong thời gian chờ đợi ở âu tàu, tàu cá QNg 90684 TS được Trung tâm Dịch vụ HC-KT đảo Sinh Tồn tuyên truyền Chỉ thị 45 của Thủ tướng Chính phủ; cấp miễn phí 3.000 lít nước ngọt; cung ứng 4.000 lít dầu DO theo giá đất liền.

Làm thất bại những âm mưu lợi dụng, chống phá

Trong những năm qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để đánh tráo và đồng nhất khái niệm quyền dân tộc tự quyết là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các DTTS để kích động đồng bào các DTTS ở Việt Nam đứng lên đòi “quyền dân tộc tự quyết”. Chúng ra sức truyền bá, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi; chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam; kích động các dân tộc chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; gây mất ổn định chính trị, xã hội, nhất là vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Lợi dụng quyền dân tộc tự quyết làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các DTTS ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Chúng còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước Việt Nam từ bên trong. Lợi dụng các vấn đề về lịch sử, đất đai, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; lợi dụng cuộc sống khó khăn của một bộ phận đồng bào DTTS để vu cáo Nhà nước Việt Nam "phân biệt đối xử, đàn áp người DTTS", ép người DTTS phải “bỏ đạo, bỏ văn hoá dân tộc” để hoà nhập với “cuộc sống văn minh” của người Việt… để kích động, lôi kéo người DTTS biểu tình, bạo loạn đòi “quyền dân tộc tự quyết, tự quản”. Chúng còn tìm cách mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc vượt biên trái phép, gây mất ổn định chính trị, xã hội, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp. Chúng vận động các tổ chức quốc tế vào các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ nắm tình hình rồi xuyên tạc thực tế, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người DTTS, vi phạm dân chủ, nhân quyền, qua đó, hòng gây sức ép yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải trao quyền “dân tộc tự quyết” cho người DTTS. Chúng kích động đồng bào các DTTS trong nước đòi quyền dân tộc tự quyết, thành lập “Nhà nước Tin lành Đề-ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chămpa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... qua đó nhằm hình thành các tổ chức đối lập với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, như: "Hội người Mông thế giới", "Hội người Thượng Đề-ga", "Hội những người miền núi", "Nhà nước Đề-ga độc lập"… tổ chức biểu tình ủng hộ các đối tượng trong nước hoạt động tích cực hơn. Để phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá Việt Nam, cần tăng cường tuyên truyền để xã hội hiểu đúng về quyền dân tộc tự quyết theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam. Không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; giữ vững ổn định chính trị, xã hội; mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tôn giáo; chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc. Làm tốt công tác nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng dân tộc, quyền dân tộc tự quyết để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá cách mạng. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, bức xúc trong đồng bào DTTS trên cơ sở pháp luật...

Bản lĩnh chính trị vững vàng - phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của chúng ta

Thực tế cho thấy, sự tác động, ảnh hưởng từ những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đặc biệt là tác động xấu từ các quan điểm sai trái tán phát trên không gian mạng đối với xã hội hiện nay và trong tương lai là rất lớn. . Để không hoang mang, dao động trước sự tác động ấy, mỗi chúng ta, mà trước hết là cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị thật sự vững vàng. Thế nhưng do khả năng "miễn dịch" và “sức đề kháng” hạn chế nên trước những tác động ấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã có những biểu hiện hoang mang, dao động. Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tăng cường khả năng "miễn dịch", nâng cao "sức đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là việc làm thường xuyên. Trước yêu cầu mới hiện nay, đây là vấn đề cần được đặc biệt coi trọng. Nhìn từ góc độ y học, khả năng miễn dịch, sức đề kháng là khả năng chống lại các loại vi rút gây bệnh, hủy hoại sức khỏe con người. Như vậy, đối với sức khỏe con người, khả năng miễn dịch, sức đề kháng có vai trò hết sức quan trọng. Nguy cơ mắc các căn bệnh truyền nhiễm đối với cơ thể con người sẽ càng cao nếu khả năng miễn dịch suy giảm, sức đề kháng yếu... Tương tự, dưới góc nhìn chính trị, tư tưởng, sự vững vàng về bản lĩnh, ý chí, niềm tin sẽ có vai trò rất quan trọng quyết định "sức đề kháng", khả năng "miễn dịch" của mỗi người trước các tác động tiêu cực từ những hành động sai trái, thông tin xấu độc ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Đối với mỗi cá nhân, bản lĩnh đó chính là sự vững vàng, tính kiên định, sự chủ động thể hiện trong hành động trước những thử thách mà cuộc sống đặt ra. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta, bản lĩnh chính trị là phẩm chất hàng đầu không thể thiếu. Bản lĩnh chính trị của Đảng chính là sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng-độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); kiên định nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng... Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vững vàng về bản lĩnh phải luôn kiên định, không dao động trước mọi hoàn cảnh, có ý chí, quyết tâm phấn đấu, vượt lên mọi gian khổ, khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đảng viên vững vàng về bản lĩnh chính trị phải luôn nêu cao tính chiến đấu, kiên quyết đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thời gian qua, đúng như nhận định của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa". Đồng thời, chúng còn “cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”. Đặc biệt, chúng tìm mọi phương kế tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng những giọng điệu xuyên tạc nguy hiểm, chúng muốn gieo rắc vào cán bộ, đảng viên tư tưởng hoài nghi về mục tiêu, con đường đi lên xây dựng CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Trước sự chống phá ấy, cơ bản toàn Đảng, toàn dân ta có khả năng "miễn dịch" và "sức đề kháng" tốt, luôn vững vàng bản lĩnh chính trị; nhận thức đúng về bản chất cách mạng và khoa học; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tích cực, chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch... Tuy nhiên, những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình hội nhập, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức ta hoang mang, dao động, giảm sút ý chí, niềm tin. Nghị quyết hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”. Một số cán bộ, đảng viên không chủ động tự giác, tích cực kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc mà còn cổ xúy, phụ họa “té nước theo mưa”. Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thiết tha với việc học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không muốn tham gia các buổi học tập, quán triệt chủ trương, đường lối nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Do "sức đề kháng", khả năng "miễn dịch" trước các tác động tiêu cực từ những thông tin xấu độc, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động mà trong xã hội đã có sự xuất hiện của những quan điểm phủ định mục tiêu và con đường đi lên xây dựng CNXH của nước ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó biểu hiện đầu tiên được đề cập là: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống những biểu hiện ấy là mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở tăng cường "sức đề kháng", khả năng "miễn dịch" trước những tác động tiêu cực từ những hành động sai trái, thông tin xấu độc, sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Có thể nói, bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta. Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà có. Bản lĩnh chính trị là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn phong trào hành động cách mạng. Bên cạnh vai trò, ý nghĩa quan trọng hàng đầu của việc đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Đảng, để xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, từng cán bộ, đảng viên vừa phải tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, vừa phải đắm mình vào phong trào hành động cách mạng để rèn luyện, tu dưỡng, bồi đắp. Để ngăn chặn những tác động xấu từ các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng, đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý Nhà nước,... đến ý thức tham gia xây dựng môi trường thông tin, một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người. Trong đó, phát huy vai trò của báo chí trong tuyên truyền, giáo dục nhằm tạo cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có "sức đề kháng", đủ “miễn dịch” trước những quan điểm sai trái, thông tin xấu độc... góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh; trước hết, chúng ta phải tuyên truyền, giáo dục để mọi người hiểu rõ bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Qua tuyên truyền phải định hướng, cung cấp thông tin để người dân hiểu đúng, hiểu sâu về lịch sử truyền thống dân tộc, về thành tựu của cách mạng, nhất là sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời chủ động thông tin kịp thời, phong phú và có định hướng cho công chúng về các sự kiện, vấn đề nảy sinh trong nước cũng như trong khu vực và trên thế giới, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu nhận thức, thị hiếu chính đáng của nhân dân, thông qua đó để định hướng tư tưởng, hướng dẫn nhận thức, xây dựng, củng cố niềm tin. Cùng với đó là đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương thức, thủ đoạn truyền bá những quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch sử dụng ngày càng tinh vi, khó nhận biết. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, theo dõi, các cơ quan chức năng cần thông báo, phổ biến kịp thời để nhân dân nhận biết được những chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động áp dụng, từ đó đề cao tinh thần cảnh giác, không mắc mưu, tăng cường "sức đề kháng", đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác. Đề cao tinh thần cảnh giác là tốt và rất cần thiết, nhưng trong điều kiện hội nhập trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại thì cần tránh tư tưởng cảnh giác cực đoan, nhìn đâu cũng thấy “thù địch”. Quá trình hội nhập đồng thời mở ra cả thời cơ và thách thức, đưa tới cả thuận lợi lẫn khó khăn, đó là lẽ đương nhiên. Chúng ta không nên cảnh giác một cách cực đoan, cứng nhắc mà bỏ lỡ thời cơ đón những làn gió trong lành, những thời cơ, vận hội, những nhân tố tích cực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Không dung túng cho hành vi phạm pháp

Vi phạm pháp luật phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật là vấn đề có tính nguyên tắc trong tổ chức, quản lý xã hội của mọi quốc gia văn minh, có chủ quyền. Tuy nhiên các năm gần đây, mỗi khi Nhà nước Việt Nam xét xử một số cá nhân phạm tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” thì một số chính phủ và tổ chức quốc tế lập tức lên tiếng bênh vực, đồng thời phê phán, đưa ra những đòi hỏi rất phi lý. Vậy thực chất vấn đề là gì? . Sau khi có thông tin về việc ngày 5-4-2018 Tòa án Nhân dân TP Hà Nội mở phiên tòa sơ thẩm xét xử sáu bị cáo bị truy tố về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại Ðiều 79 - Bộ luật Hình sự năm 1999, không chỉ tổ chức khủng bố “Việt tân” và cái gọi là “phong trào dân chủ” phản đối, mà một số tổ chức, cá nhân khác cũng vội lên tiếng. Như ngày 4-4, HRW (Theo dõi nhân quyền) “yêu cầu Việt Nam hủy bỏ mọi cáo buộc, phóng thích ngay lập tức” sáu người; đồng thời P. Robertson (P. Rô-béc-xơn), Phó Giám đốc khu vực châu Á của HRW, phát biểu trên BBC với nội dung xuyên tạc, sai sự thật về nhân quyền ở Việt Nam và về phiên tòa. Cũng ngày 4-4, còn có một số sự kiện khác, như: AI (Ân xá quốc tế) bịa đặt ra số liệu về cái gọi là “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam, lo ngại sáu người nọ “phải đối mặt với sự xét xử không công bằng”; 50 tổ chức ký “bản lên tiếng” với yêu cầu vô lý là “Tòa án Hà Nội xem xét đình chỉ vụ án, trả tự do cho các nhà hoạt động”. Từ Australia (Ô-xtrây-li-a), dân biểu C. Hayes (C. Hay-ơ) cũng ra thông cáo để đòi “trả tự do” (!)… Người phát ngôn Đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh của Liên hiệp châu Âu (EU), Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, Đặc ủy nhân quyền CHLB Đức cũng có phản ứng về phiên tòa… RSF (Phóng viên không biên giới) còn “kêu gọi các nước thành viên EU hãy bỏ phiếu phủ quyết việc triển khai thỏa thuận tự do trao đổi thương mại giữa Việt Nam và châu Âu”. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức ngày 5-4-2018, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kiên quyết bác bỏ thông tin sai sự thật, thiếu khách quan về phiên tòa nêu trên; khẳng định ở Việt Nam không có cái gọi là tù nhân lương tâm, không có việc những người tự do bày tỏ chính kiến mà bị bắt giữ và nhấn mạnh: “như tại các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo đúng các quy định của pháp luật”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định việc bảo đảm, thúc đẩy các quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam, được thực hiện phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng như với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm, thúc đẩy quyền con người đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận… Ngày 6-4, trả lời phỏng vấn của BBC, một vị luật sư bào chữa cho hai trong số sáu bị cáo nêu trên cho biết, các quan sát viên quốc tế đã tham dự phiên tòa, và nhận xét, phiên tòa diễn ra “công khai, dân chủ, trên tinh thần cải cách tư pháp… Việc tiếp cận thân chủ không có gì khó khăn… gặp các bị cáo tại trại giam thì thuận lợi, không vấn đề gì. Tại phiên tòa các luật sư hoàn toàn được tự do làm việc, không có bất cứ một hành vi gây cản trở nào”. Việc các thế lực thù địch với Việt Nam mở chiến dịch phản đối phiên tòa vốn là chuyện không mới, không lạ, cũng không khó nhận ra mục đích của việc vu cáo, vu khống đó là nhằm hạ uy tín của Việt Nam, phá hoại quan hệ của Việt Nam với các nước khác, cản trở Việt Nam trên con đường phát triển. Còn việc vì sao đại diện một số chính phủ cùng một số tổ chức quốc tế lại quan tâm đến phiên tòa này, và họ lên tiếng nhằm mục đích gì, có lẽ chỉ các chính phủ và các tổ chức đó mới có thể trả lời. Tuy nhiên, có một sự thật chung là khi phản đối, họ đều không quan tâm xem xét bản chất người được họ bảo vệ. Nếu quan tâm, họ sẽ để ý tới ngay việc sau khi bản án vừa được công bố, facebook của một thành viên của cái gọi là “hội anh em dân chủ” đăng dòng trạng thái khẳng định một trong sáu người bị xét xử tại phiên tòa là “hèn nhát, cơ hội, lưu manh, luồn lách, chụp giật, bất tài nhưng háo danh, tham lam”, đặt ra câu hỏi: “Việc thâm hụt tiền bạc như thế nào, việc làm cách mạng bằng cách bán máu anh em ra sao?”, cầu mong Nguyễn Văn Đài và mấy người khác “được nước ngoài cho đi tị nạn”, còn nhân vật lưu manh kia “ở lại với nhà tù”! Dù dòng trạng thái đã bị xóa bỏ, song bản chụp được lưu truyền trên mạng cũng đã đủ giúp nhận diện họ là ai. Cũng phải nhắc tới sự kiện xảy ra gần đây đã cung cấp thêm bằng chứng về bản chất của số người được gọi là “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”. Đó là ngày 4-3-2018, trang mạng một tờ báo của người Mỹ gốc Việt đã đăng bài “Còn mong nỗi gì?” của Huy Phương, sau đó nhanh chóng bị xóa bỏ. Nhưng bản lưu bài này còn trên mạng hoặc đăng ở một số trang khác với nhan đề gốc, hoặc đổi tên thành “Còn mong nỗi gì Tạ Phong Tần và Điếu cày?”. Bài của Huy Phương bị xóa vì liên quan “cuộc chiến” giữa Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần. Huy Phương nhận xét sau khi định cư ở Mỹ, hai kẻ này quay ra “chửi nhau một cách thâm độc”, và bày tỏ bị bất ngờ vì “biết quý vị coi nhau như kẻ thù, trong khi ngoài miệng vẫn nói kẻ thù chính của chúng ta là cộng sản, để bôi nhọ, lôi đời tư của nhau ra, “vạch áo cho người xem lưng”, không xứng đáng là một kẻ sĩ đã dấn thân tranh đấu cho đất nước”. Lập tức Tạ Phong Tần phản pháo bằng bài “Tôi còn mong nỗi gì ở sự công bằng và lòng chính trực ở người đời?”, trong đó coi Huy Phương là “bậc thầy “dùng chữ nghĩa để chửi nhau một cách thâm độc”…”! Về lai lịch, Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần vốn là hai nhân vật nổi trội của cái gọi là “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”. Trong một thời gian dài, họ liên tiếp có tên trong đủ loại đơn từ, lời kêu gọi, tuyên bố, điều trần, phúc trình phản đối Việt Nam, thậm chí có tên trong phát biểu của một vài lãnh đạo sứ quán một số nước ở Việt Nam. Từ hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam mà Nguyễn Văn Hải đã phải nhận mức án 12 năm tù giam, Tạ Phong Tần nhận mức án 10 năm tù giam. Cũng từ hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam mà hai người này được nhận nhiều loại giải thưởng, như: Nguyễn Văn Hải nhận giải Hellman-Hammett của HRW, giải “Tự do báo chí quốc tế” của CPJ (Ủy ban bảo vệ nhà báo), giải One Humanity của PEN Canada, rồi danh hiệu “người bảo vệ quyền công dân” của CRD (Người bảo vệ quyền công dân); Tạ Phong Tần được trao giải Hellman-Hammett của HRW, giải “anh hùng nhân quyền” của PTV (Tranh đấu cho nạn nhân bị tra tấn), giải “phụ nữ can đảm của thế giới” của Bộ Ngoại giao Mỹ… Và “phần thưởng” lớn nhất mà hai người này đã nhận là năm 2014, Nguyễn Văn Hải được định cư tại Mỹ, năm 2015 Tạ Phong Tần cũng nối gót tới định cư tại nước này. Khi mới sang Mỹ, hai người được tổ chức đón tiếp rùm beng, và họ hùng hồn tuyên bố sẽ “tiếp tục đấu tranh vì nhân quyền ở Việt Nam”. Dần dà sự hùng hồn nhanh chóng xuống cấp, để thay thế bằng việc họ “đấu tranh” với nhau. Tuy nhiên, “đấu tranh” của họ lại hoàn toàn không liên quan “dân chủ, nhân quyền” mà là bóc mẽ, lôi chuyện thâm cung bí sử của “làng dân chủ”, của mấy người gọi là “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm” ra để thóa mạ, chửi bới. Xem ra, sau khi “đấu tranh” để được ra nước ngoài sinh sống, mấy người được gắn mác “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm” mới có cơ hội để giải quyết ân oán tích tụ đã lâu ngày. Như Tạ Phong Tần coi Nguyễn Văn Hải là kẻ “độc tài, độc đoán, tiền bạc thu chi không minh bạch, tự thu tiền ủng hộ, tự chi, tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, coi anh em khác như công cụ để phục vụ cho quyền lợi cá nhân và phe đảng đứng sau, bè cánh bầy đàn, bất nghĩa bất nhân, bất chấp thủ đoạn để gom USD cho cá nhân, ngoa ngôn xảo ngữ dối trá để đổi trắng thay đen, từ ngày qua Mỹ không viết nổi một bài báo nào”… Sau khi kể công với Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần đặt ra câu hỏi: “Tôi có nên đòi ông tiền công sức xương máu của tôi khi tư vấn pháp luật, viết đơn, đăng lên mạng internet (in-tơ-nét) để kêu gào cho ông không?”, và khuyên bảo: “già rồi nên giữ tư cách một chút”. Về phần mình, Nguyễn Văn Hải cho rằng Tạ Phong Tần “tấn công bôi nhọ một cách có tổ chức, vu khống, cố tình bôi bẩn, lấy oán trả ơn, nói sai sự thật…”, và cũng kể công với Tạ Phong Tần. “Cuộc chiến” giữa Tạ Phong Tần với Nguyễn Văn Hải sau khi đến Mỹ đã bổ sung bằng chứng về bản chất đích thực của mấy người được một số chính phủ, tổ chức quốc tế tâng bốc là “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm”. Để ý hơn sẽ thấy rõ có điều gì đó bất thường khi hiện tượng hễ được định cư ở nước ngoài là “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm” lộ nguyên hình kẻ bất lương đã liên tục lặp lại mà không được một số chính phủ, tổ chức quốc tế quan tâm, họ vẫn dựa vào mấy người này để vu cáo, vu khống, và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Trước sau thì “nhà bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm” vẫn chỉ là các mỹ từ mà họ cố tình gán cho người vi phạm pháp luật và đã bị xử lý theo pháp luật. Và khi đứng ra bênh vực những người như thế, họ quên rằng cũng như mọi quốc gia có chủ quyền khác, luật pháp Việt Nam không dung thứ mọi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, gây rối loạn và cản trở sự phát triển của xã hội. Không căn cứ trên thực tế, chỉ dựa theo tin tức do kẻ xấu loan truyền trên internet thì thiết nghĩ, họ nên tham khảo điều tác giả Đào Văn Bình mới viết trên một trang mạng của người Việt Nam ở Mỹ: “người có lương tâm và trí tuệ, trước các tin tức động trời do báo chí, truyền thông Tây phương loan tải, cũng phải dè dặt và phải nghe, xem nguồn tin trái ngược nói gì. Hối hả tin theo, hùa theo, lan truyền rộng rãi một tin tức sai lạc, giả tạo, chưa được kiểm chứng… cũng là một hình thức đồng lõa với tội lỗi”.

Giữ vững bản lĩnh và niềm tin

Sự quyết liệt đấu tranh, không có ngoại lệ, không có vùng cấm đối với những trường hợp vi phạm như thời gian vừa qua, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư đã giúp cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng hiệu quả. . Những ngày gần đây, việc Đảng, Nhà nước ta kiên quyết đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý theo kỷ luật và pháp luật một số cán bộ sai phạm, trong đó có cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao được dư luận xã hội đồng tình. Tuy nhiên, cũng xuất hiện những băn khoăn, lo lắng và cả những quan điểm kích động, xuyên tạc, cho rằng, phải chăng những sai phạm đã trở thành “lỗi hệ thống” và đến mức trầm kha, thậm chí bi quan, suy giảm niềm tin. Trước hiện tượng này, chúng ta cần phải có cái nhìn bình tĩnh với bản lĩnh và niềm tin cách mạng đúng đắn... Còn đó bài học “chặt cành để cứu cây” Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng, kỷ luật của Đảng ta là tự giác, nghiêm minh và đặc trưng của pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) là mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Việc xử lý những cán bộ vi phạm như trên không có gì là bất thường, đột biến từ trước tới nay nếu xét về nguyên tắc kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đã từ lâu, trong xã hội ta, có công thì thưởng, có tội thì phạt. Và khi mà công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh thì những nguyên tắc ấy càng được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên. Đó là việc làm bình thường để xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; thật sự là người lãnh đạo thật trung thành, người đầy tớ của nhân dân. Đó là đòi hỏi tất yếu để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, “muôn điều phải có thần linh pháp quyền” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tâm niệm và căn dặn từ những năm đầu thế kỷ trước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”. Soi rọi thực tiễn vào những lời căn dặn của Người, chúng ta càng thêm tin tưởng những việc làm gần đây của Đảng, Nhà nước ta chính là theo tinh thần một Đảng “có gan thừa nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm”. Việc xử lý một số cán bộ cấp cao gần đây cũng không phải có gì “ghê gớm”, chưa có tiền lệ mà trong lịch sử, Đảng ta cũng đã nhiều lần xử lý với tinh thần “tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”. Không chỉ lấy đức trị để giáo dục, răn đe, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chú trọng xây dựng pháp luật để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và khi có luật rồi thì phải thi hành thật nghiêm. Một tháng sau ngày lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, nêu rõ 6 căn bệnh cần đề phòng là: Trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Tháng 11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ và năm 1946, Người ký Quốc lệnh khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình. Trong trả lời chất vấn của Quốc hội vào năm 1946, Người nói: “Chính phủ hết sức làm gương, nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ hối lộ, đã trừng trị, đang trừng trị và sẽ trừng trị cho kỳ hết”. Nói đi đôi với làm, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng y án tử hình đại tá quân nhu Trần Dụ Châu vì tội tham ô, lợi dụng xương máu của anh em chiến sĩ để lo việc cá nhân. Đến năm 1964, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng vì có bồ bịch mà đầu độc vợ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định y án tử hình. Nói về sự việc đau xót này, Người đã để lại lời căn dặn đầy thấm thía: “Thà chặt một cành sâu cho cây xanh tốt”. Đau xót nhưng đồng thuận, tin tưởng Không phải ngẫu nhiên mà có những cán bộ lão thành cách mạng, giáo sư, nhà nghiên cứu khi trả lời phỏng vấn báo chí đã đặt câu hỏi: “Việc nhiều cán bộ cao cấp bị xử lý hình sự là đáng lo hay đáng mừng?”. Câu trả lời đều có một điểm chung: Không ai có thể vui mừng trước việc đồng chí, đồng đội của mình, nhất là những đồng chí đã trưởng thành, phát triển lên cương vị cấp cao bị vi phạm, “nhúng chàm” và “ngã ngựa”. Đó là nỗi đau xót, là những bài học đắt giá. Nhưng cũng không vì thế mà bi quan, tuyệt vọng, đến mức cho rằng: “Đảng ta như thế là hỏng rồi”, “sai phạm nhiều thế thì bộ máy này đâu còn trong sạch”(?). Ngược lại, nhìn vào những việc làm kiên quyết của Đảng, Nhà nước ta, chúng ta càng thêm tin tưởng công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng thành công, bộ máy Nhà nước ngày càng trong sạch. Là một nhà nghiên cứu lý luận chuyên sâu về tấm gương đạo đức của Bác Hồ, GS Hoàng Chí Bảo cho rằng: Khi nói đến vấn đề chống tham ô, tham nhũng, Người đã nói, phải thẳng tay trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể là ai. Chính điều đó là điều hợp với lòng dân nhất. Bởi dân chỉ muốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo cầm quyền để dân đi theo, dân noi theo và dân thực hiện sự nghiệp đổi mới này đến đích thành công. Những sự việc vừa qua tuy nhức nhối, đau đớn nhưng chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và không lảng tránh sự thật. Trong đó có sự thật nhìn thẳng vào chính đội ngũ cán bộ, mà cán bộ đã mắc vi phạm khuyết điểm thì phải kỷ luật. Chính điều đó làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, làm cho sức chiến đấu của Đảng được mạnh hơn”.

Niềm tin cách mạng

Sự quyết liệt đấu tranh, không có ngoại lệ, không có vùng cấm đối với những trường hợp vi phạm như thời gian vừa qua, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư đã giúp cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng hiệu quả. Ý Đảng, lòng dân, vận nước hài hòa. Có thể thấy rất rõ xung quanh những sự việc ấy, tuy vẫn có không ít âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, kích động, chia rẽ, nhưng không thể làm nguội tắt ngọn lửa phòng, chống tham nhũng, không thể làm suy giảm niềm tin cách mạng chân chính. Những ngày gần đây, lợi dụng thông tin về các trường hợp cán bộ cao cấp, trong đó có cả một số tướng lĩnh, sĩ quan công an bị khởi tố, kẻ xấu đã kích động gây hoang mang, suy giảm niềm tin vào quân đội, công an với luận điệu “những thanh bảo kiếm và lá chắn bảo vệ chế độ đã bị vấy bẩn, suy yếu”. Nhưng với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta luôn kiên định niềm tin, không lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất. Tuy có một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao bị xử lý hình sự nhưng một rừng cây được chặt một vài cành sâu bệnh thì rừng cây ấy thêm xanh tốt. Lực lượng vũ trang nhân dân vẫn là lực lượng tuyệt đối trung thành, vững mạnh và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tinh thần quyết liệt xử lý cán bộ vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, kể cả cán bộ đó là Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị hay tướng lĩnh cao cấp cho thấy Đảng ta đã và đang bước vào một thời kỳ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mạnh mẽ, nghiêm túc và toàn diện nhất trước đòi hỏi ngày càng nặng nề của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó bắt nguồn từ ý chí của Đảng, bắt nguồn từ lòng dân và cũng bắt nguồn từ mệnh lệnh của cuộc sống, đòi hỏi của sự phát triển và hội nhập. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng phát biểu: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!”. Với niềm tin cách mạng, nhìn vào công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, chúng ta thắp lên sự hy vọng và đồng thuận để đấu tranh, đẩy lùi những thói hư tật xấu, giúp Đảng ta ngày càng vững mạnh, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, để đất nước ngày càng tiến bộ và phát triển.

“Phi chính trị hóa” Quân đội - một thủ đoạn không mới, nhưng phải luôn cảnh giác

“Phi chính trị hóa” Quân đội là một thủ đoạn nguy hiểm mà các thế lực thù địch thực hiện, nhằm vô hiệu hóa công cụ bạo lực để bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Tuy không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, cần cảnh giác và chủ động có giải pháp phòng, chống hiệu quả. . Từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (những năm 90, thế kỷ XX), cho thấy, một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đến sự kiện đó là các thế lực thù địch đã thành công trong việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội - tức “phi chính trị hóa” quân đội. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục. Thực tế cho thấy, từ những năm 90, thế kỷ XX, mưu đồ chống phá Quân đội của chúng đã hiện hữu; mục đích sâu xa là làm cho Quân đội xa rời sự lãnh đạo của Đảng, phân rã về tư tưởng, lỏng lẻo về tổ chức, mơ hồ về đối tượng, đối tác. Cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, “chán Đảng, khô đoàn, xa rời chính trị”. Chúng đưa ra mô hình quân đội một số nước và viện dẫn “lý luận” để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị. Chúng lập luận rằng: Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; vì thế, Quân đội chỉ cần trung thành, bảo vệ lợi ích của nhân dân, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định, thông qua diễn đàn Quốc hội. Lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu lại các doanh nghiệp quân đội, chúng ra sức xuyên tạc, chia rẽ, kích động, quy chụp,... cho đó là biểu hiện tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ trong Quân đội. Đồng thời, lợi dụng những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội để kích động, gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội. Nguy hiểm hơn, chúng còn sử dụng in-tơ-net để tán phát những bài viết, clip, thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn,... nhằm kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; kêu gọi Quân đội ta từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề” như quân đội các nước tư bản, v.v. Về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của chúng là nhằm chuyển hướng chính trị của Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu: “Mùa xuân A-rập”, “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới. Bởi vậy, đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của chúng vẫn là nhiệm vụ mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả. Thứ nhất, bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là nguyên tắc bất biến, được rút ra từ thực tiễn lịch sử nhân loại và quá trình tổ chức, xây dựng Quân đội từ khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đến nay. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”1. Chính trị của Quân đội ta là chính trị của Đảng; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng; hệ tư tưởng chính trị của Quân đội ta là hệ tư tưởng chính trị của Đảng, với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bản chất của Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân; trong đó, tính nhân dân, tính dân tộc được biểu hiện hết sức sâu sắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã cùng nhân dân đánh thắng những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới, lập nên những kỳ tích vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại. Điều đó chứng tỏ: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”2. Trong tình hình mới, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta nói chung, Quân đội nói riêng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, quyết liệt,... đòi hỏi toàn quân phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ vững ổn định chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Trong đó, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội là nhân tố quyết định giữ vững định hướng chính trị, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; quyết định phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; chủ động xử trí kịp thời, hiệu quả mọi tình huống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thứ hai, tăng cường xây dựng vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đây là nội dung xuyên suốt từ khi ra đời, xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta đến nay. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội ta) tháng 12-1944, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”3. Trước diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới hiện nay và sự chống phá của các thế lực thù địch, yêu cầu đặt ra đối với xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức là phải luôn nắm vững, vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”4. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân cần đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị; thực hiện tốt Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc; truyền thống lịch sử của Quân đội, đơn vị; nâng cao ý chí quyết tâm bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân trong tình hình mới. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phong trào Thi đua Quyết thắng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Thường xuyên nắm chắc diễn biến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm chất lượng công tác phát triển đảng viên, đoàn viên; xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng vững mạnh, nhạy bén về chính trị, kịp thời ngăn chặn sự thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội. Thứ ba, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”. Cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã và đang triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh, linh hoạt”, phù hợp xu hướng phát triển quân sự trên thế giới và sự tác động của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư hiện nay. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, không những giỏi đấu tranh vũ trang, mà còn giỏi trong đấu tranh phi vũ trang và tác chiến trên không gian mạng,... đáp ứng yêu cầu “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; “ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, quyết liệt quan điểm của Đảng và Quân ủy Trung ương về xây dựng Quân đội trong tình hình mới; bảo đảm quân số hợp lý, chất lượng cao, đồng bộ về tổ chức, biên chế, thành phần lực lượng. Kết hợp giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; quản lý chặt chẽ tình hình nội bộ, nhất là các tiêu chí: phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực,... khi tuyển dụng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ vào các cơ quan, đơn vị. Thứ tư, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng môi trường văn hoá quân sự lành mạnh. Thực tiễn cho thấy, nếu điều kiện đời sống vật chất, tinh thần và môi trường văn hóa quân sự đáp ứng tốt nhu cầu chính đáng của cán bộ, chiến sĩ sẽ thường xuyên tác động đến mọi mặt hoạt động, giúp bộ đội yên tâm công tác, lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Qua đó, tạo sự “miễn dịch”, tăng sức “đề kháng” phòng ngừa sự tác động, xâm nhập của mặt trái xã hội vào môi trường Quân đội, góp phần phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan đơn vị cần thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tổ chức tốt việc bảo đảm đúng, đủ, kịp thời mọi chế độ, tiêu chuẩn theo quy định về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường tập thể quân nhân lành mạnh, đảm bảo mỗi cơ quan, đơn vị thực sự là một điểm sáng văn hoá, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ thành con người mới, cùng chung lý tưởng cách mạng, mục tiêu phấn đấu và hiệu quả công tác. Mọi hoạt động liên quan đến quyền lợi của cán bộ, chiến sĩ phải được công khai và thực hiện nghiêm túc. Động viên bộ đội tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống; tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, giao lưu, kết nghĩa, làm công tác dân vận, quan tâm đúng mức đến gia đình quân nhân và giải quyết tốt chính sách hậu phương Quân đội. Thường xuyên nêu cao cảnh giác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội là vấn đề trọng yếu hiện nay, quyết định đến việc giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống của Quân đội ta, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đó là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ, trước hết thuộc về cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân.

Nhận diện những phương thức mới trong thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội

“Phi chính trị hoá” quân đội là âm mưu cơ bản, xuyên suốt của các thế lực thù địch trong quá trình chống phá QĐND Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các thế lực thù địch thực hiện những phương thức khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. . Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một trong những mũi tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; làm cho quân đội không phải là “phi chính trị”, mà là từ “phi chính trị” cách mạng-chính trị vô sản chuyển sang một thứ chính trị khác-chính trị tư sản! 'Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình toàn cầu hóa không chỉ tiếp tục được khẳng định như một xu hướng tất yếu mà còn có xu hướng phát triển ngày càng nhanh cả về quy mô, tốc độ, tính chất và phạm vi ảnh hưởng. Những khái niệm như “biên giới mềm”, “thế giới phẳng” đang được người ta sử dụng để biện hộ cho một quan niệm phi lý rằng, thế giới ngày nay không còn có các chế độ chính trị-xã hội khác nhau, đối lập nhau, để đi tới một thế giới “phi chính trị”, mà thực chất là đem hệ tư tưởng chính trị tư­ sản áp đặt lên tất cả các quốc gia dân tộc! Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trước sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, bên cạnh những mặt tác động tích cực, thì quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế không thể không chịu sự tác động từ mặt tiêu cực, không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hóa, xã hội, thậm chí cả về chính trị tư tưởng. Đối với Quân đội ta, quá trình thực hiện phương hướng xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhất là quá trình từng bước hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong mọi tình huống, chúng ta không thể không thực hiện quá trình mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Dưới tác động của những đặc điểm mới trên đây, trong thực hiện phương thức “phi chính trị hóa” Quân đội ta hiện nay, đi đôi với những phương thức quen thuộc, các thế lực thù địch đang và sẽ triệt để tận dụng những đặc điểm của bối cảnh tình hình mới đó để tấn công phá hoại trận địa tư tưởng trong Quân đội ta. Thông qua việc triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, nhất là thông qua mạng internet toàn cầu, thông qua các trang mạng xã hội; thông qua những “đoàn ra”, “đoàn vào” của Việt Nam và của các nước, các tổ chức có quan hệ với Việt Nam; thông qua việc gửi cán bộ, nhân viên đi nghiên cứu, tham quan, học tập ở nước ngoài và việc người nước ngoài đến Việt Nam ngày càng nhiều với nhiều mục đích khác nhau, các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục tấn công toàn diện vào nền tảng tư tưởng của Quân đội ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội dần dần phai nhạt niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng XHCN, dần dần xa rời hệ tư tưởng cách mạng, khoa học, từng bước tạo ra một “khoảng trống” về ý thức hệ, pha loãng, làm nhạt dần ý thức hệ vô sản để trượt dần sang ý thức hệ tư­ sản! Công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta trong những năm qua, đặc biệt là qua hơn 30 năm đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH), dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự phấn đấu phi thường của toàn dân, toàn quân ta, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chúng ta vẫn còn những hạn chế, bất cập. Hiện nay, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi mới tạo điều kiện cho chúng ta xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, thì chúng ta vẫn đang và sẽ phải tiếp tục đối mặt với những nguy cơ, khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục lợi dụng những đặc điểm mới của tình hình để chống phá Quân đội ta, đẩy mạnh thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những phương thức mới ngày càng tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, khó nhận biết hơn. Đáng chú ý là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, bên cạnh mặt tác động tích cực đến quá trình cách mạng nước ta, thì mặt tiêu cực của nó cũng ngày càng tác động mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến việc xây dựng quân đội cách mạng, cả về chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật. Những tiêu cực của xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… đang có chiều hướng gia tăng; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; những yếu kém, bất cập trong quản lý đất nước, quản lý xã hội của một bộ phận cán bộ, công chức Nhà nước; những rạn nứt, những mâu thuẫn xã hội trong các tầng lớp nhân dân… đang và sẽ từng ngày, từng giờ tác động đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, đối với tính ưu việt của CNXH… Quá trình mở cửa, giao lưu, hợp tác quốc tế, bên cạnh mặt tích cực thúc đẩy quá trình phát triển thì mặt tiêu cực cũng tác động không nhỏ đến nước ta, nhất là sự du nhập của các giá trị phản văn hoá, sự du nhập của đạo đức, lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, coi trọng đồng tiền, đang từng ngày tác động làm băng hoại những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp trong mỗi người dân Việt Nam yêu nước, yêu CNXH. Trong những điều kiện đó, để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch đang và sẽ tiếp tục thực hiện phương thức tấn công mới. Nhận thấy việc tấn công trực tiếp vào chính trị, làm cho Quân đội ta suy yếu về chính trị khó có thể thực hiện được đối với một quân đội đã có bề dày truyền thống đấu tranh cách mạng, được tôi luyện trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, các thế lực thù địch đang và sẽ chuyển sang triển khai mạnh mẽ mũi tấn công vào đạo đức, lối sống. Đây là mũi tấn công cực kỳ thâm độc và nguy hiểm. Tính chất nguy hiểm của mũi tấn công này là ở chỗ: Chúng sẽ làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ thiếu bản lĩnh, không tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng… sẽ dần dần bị sa đọa về đạo đức, lối sống, quen dần với cuộc sống hưởng thụ, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích vật chất, sao nhãng, xem nhẹ việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; từ chỗ loãng dần, nhạt dần về chính trị cách mạng, chính trị vô sản để trượt dần sang chính trị tư­ sản! Để thực hiện mũi tấn công thâm độc, nguy hiểm này, các thế lực thù địch đang và sẽ triệt để lợi dụng, khai thác những mặt tiêu cực, yếu kém trong tổ chức và con người, nhất là lợi dụng những tổ chức yếu kém; những người có quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái, những phần tử bất mãn, thoái hóa, biến chất; những sai lầm, khuyết điểm trong xử lý các “điểm nóng”, các vụ việc tiêu cực xã hội… để tuyên truyền, kích động, lôi kéo, mua chuộc… làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội mơ hồ, suy giảm niềm tin, lung lay tư tưởng, hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên… dẫn đến suy giảm về chính trị vô sản, tr­ượt dần sang chính trị tư­ sản, bắt đầu từ sự sa đọa về đạo đức, lối sống! Những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội ta với những phương thức mới, nhưng chúng đã không thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Sức mạnh chiến đấu tổng hợp của QĐND Việt Nam nói chung, nhất là sức mạnh chính trị-tinh thần của QĐND Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc và từng bước được nâng cao. Quân đội ta vẫn rất xứng đáng là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với Tổ quốc và chế độ XHCN thông qua việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Quân đội ta đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Quân đội ta không hề bị các thế lực thù địch làm suy giảm chính trị vô sản, mà ngược lại, trận địa chính trị tư tưởng vô sản trong Quân đội ta ngày càng được củng cố, giữ vững và phát triển vững chắc. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, trước sự tác động của những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, trước yêu cầu ngày càng có sự phát triển mới của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp của QĐND, trước hết là sức mạnh chính trị-tinh thần, trong điều kiện các thế lực thù địch đang và sẽ tích cực triển khai những phương thức mới trong thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần quân tâm làm tốt những vấn đề sau đây: Tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, đặc biệt phải chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, chiến sĩ để tích cực, chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, mà các thế lực thù địch đang và sẽ lợi dụng để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những phương thức mới để chủ động ngăn chặn, phòng ngừa. Nhận thức rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá mới của các thế lực thù địch, nhất là đấu tranh vạch trần tính chất phản khoa học của luận điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, thực chất của quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đấu tranh, phòng, chống có hiệu quả.