Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

NGƯỜI HÀN QUỐC CÒN NỢ VIỆT NAM MÓN NỢ MÁU XƯƠNG! ĐỪNG KÍCH ĐỘNG THÙ HẬN VÀ GỢI LẠI NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI VIỆT!


    Một kênh Youtube của Hàn Quốc vừa đang tải video ca ngợi binh sĩ Hàn Quốc khi họ đánh thuê cho người Mỹ, xâm lược Việt Nam thời kỳ 1963-1973. Video thu hút 491 ngàn lượt xem, đáng chú ý trong video này, họ xúc phạm Quân đội ta với những luận điệu kiểu "chỉ cần 13 lính Hàn Quốc là có thể chiến đấu với một Trung đoàn quân đội Bắc Việt", kèm theo nhiều hình ảnh của Quân Đại Hàn khi gây tội ác ở miền Nam Việt Nam. Xin gửi đôi lời: 

Quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc ngày càng trở nên nồng ấm hơn, sâu rộng hơn trên nhiều lĩnh vực. Thế nhưng đó không có nghĩa là người Việt Nam quên đi quá khứ đau thương của dân tộc, quên đi tội ác mà Quân đội Hàn Quốc đã gây ra cho nhân dân Việt Nam. Vì đại cục, vì hoà bình và phát triển nên người Việt Nam khép lại quá khứ với các cựu thù, giao hảo vì mục đích xây dựng đất nước gấm hoa và phồn thịnh. Thế nhưng không ai được phép xúc phạm những giá trị của lịch sử. Đừng kích động hận thù, động vào vết thương của người Việt!

Lực lượng quân sự Hàn Quốc dưới chế độ độc tài Park Chung Hee đã tham gia và gây nhiều tội ác trong cuộc chiến xâm lược do Mỹ tiến hành tại Việt Nam. Theo giáo sư người Hàn Quốc Heonik Kwon, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam, đã có trên 43 vụ thảm sát đẫm máu do binh lính Hàn Quốc thực hiện tại Việt Nam được ghi nhận, trong đó có ít nhất 13 vụ giết trên 100 người. Hàng chục ngàn người ở các tỉnh Nam Trung Bộ là nạn nhân của các cuộc thảm sát tàn bạo, phi nhân tính của lính Đại Hàn. Thù này muôn kiếp không quên! 

Người Hàn Quốc mang hơn 300.000 quân theo gót ông chủ Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tàn sát người vô tội và chính họ bị người Việt Nam tiêu diệt khi Quân đội nhân dân Việt Nam ra quân để xé xác RỒNG XANH, phanh thây MÃNH HỔ. Trận Quang Thạnh, Quân đội Đại Hàn đã bị khai tử 500 tên. Trong 10 năm tham gia gây tội ác, có hơn 5.000 lính Đại Hàn bị tiêu diệt, gần 15.000 tên bị tàn phế suốt đời, hàng ngàn người từng gây tội ác bị điên loạn, trầm cảm...

Park Chung Hee là tên Tổng thống khát máu, vì mục đích phát triển kinh tế mà hắn ta sẵn sàng lấy máu xương của người Việt Nam làm vật đổi chác. Lấy cả mạng của thanh niên Hàn Quốc để phục vụ mục đích này. Hàn Quốc phát triển như hôm nay là có một phần máu xương của người Việt. Cánh chóp bu Hàn Quốc chưa bao giờ xin lỗi Việt Nam dù cho 77,9% người Hàn Quốc được hỏi đồng ý yêu cầu Chính phủ họ xin lỗi Việt Nam. Người Hàn Quốc đang nợ chúng tôi rất nhiều, không bao giờ trả được.

Nếu Quân đội Hàn Quốc thật sự hùng mạnh như các bạn nói. Vậy tại sao đất nước các bạn không tự bảo vệ được chính mình mà phải thuê người Mỹ bảo vệ. Chấp nhận trả 5 tỷ USD mỗi năm và để 28.500 quân thường trực Hoa Kỳ trên lãnh thổ của mình? Tại sao lại chấp nhận lấy phẩm giá của phụ nữ Hàn Quốc mua vui cho lính Mỹ để đổi lấy bình yên? Hùng mạnh thế sao ngày càng có nhiều con lai, là kết quả của sự đánh đổi mà người Hàn Quốc phải làm chấp nhận trước Hoa Kỳ? Dòng máu thuần Triều Tiên còn lại bao nhiêu phần trăm sau vài chục năm nữa ở xứ Kim Chi? Hay giấc mơ của các bạn là xây dựng một  quốc gia thuần máu Tây giữa trời Á Đông?

Không làm chủ được vận mệnh của mình, phải dựa sức người khác thì khoe khoang làm gì, chỉ rước tủi nhục vào thân. Bắc Triều Tiên sẽ duyệt binh ở Seoul sau vài tuần khai chiến nếu Hàn Quốc tự lực và không nhờ Mỹ. Người Việt Nam có niềm vui thống nhất nhưng các bạn thì không. Đừng kích động thù hận, động vào vết thương lòng của người Việt Nam. Càng rêu rao, các bạn lại thêm phần dằn vặt, nhục nhã./.

Yêu nước ST.

Nêu cao cảnh giác trước phong trào tự phát “không biết không bầu” phá hoại cuộc bầu cử Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. So với những lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp trước đây thì mức độ chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội. Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu. Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”. Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất. Thực tiễn cho thấy, việc tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri. phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường... Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

Thứ Tư, 21 tháng 4, 2021

"Không thể xuyên tạc thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh Thực tiễn cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, hơn 90 năm qua đã khẳng định, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự kết tinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản vô giá của Đảng và Nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập, noi theo. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và Nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới đang tích cực tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2021) và tôn vinh những đóng góp to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và phong trào Cộng sản công nhân quốc tế, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại cố tình bịa đặt, xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chúng triệt để sử dụng internet, mạng xã hội, như facebook, yotube, zalo,… để chống phá; ngang nhiên lập các trang mạng, thành lập “nhóm”, “hội đoàn”, “cộng đồng” với nhiều tên gọi khác nhau, như: Dân làm báo, Quan làm báo, fanpage của Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Dân luận… Mặt khác, chúng cấu kết với các đài truyền hình, phát thanh tiếng Việt có tư tưởng chống cộng cực đoan ở nước ngoài như RFA, BBC, VOA để đăng tải các bài viết, bình luận xuyên tạc, kích động, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể thấy, nội dung xuyên suốt các bài viết của những kẻ cơ hội chính trị, bán nước, là nhằm phê phán, phủ nhận tính nhân văn cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận, hạ bệ uy tín, thanh danh và cuộc đời cách mạng hết mình vì nước, vì dân của Hồ Chí Minh. Đồng thời, chúng kích động, dụ dỗ, kêu gọi người dân Việt Nam hãy tẩy chay việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động; phủ nhận con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sáng suốt lựa chọn. Trước hết, cần khẳng định, những luận điệu của các phần tử phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể bôi nhọ được phẩm giá Hồ Chí Minh. Lịch sử đã chứng minh một sự thật hiển nhiên, là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và công lao to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam không chỉ được các thế hệ người Việt Nam đời đời ghi nhớ mà cả thế giới thừa nhận vinh danh. Trọn cuộc đời, Hồ Chí Minh đã cống hiến cho Nhân dân, cho đất nước, cho sự nghiệp cách mạng. Người chỉ có một ham muốn: “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Với mỗi người Việt Nam yêu nước, Hồ Chí Minh vừa là lãnh tụ, nhưng cũng gần gũi, thân thương như người trong gia đình. Chúng ta vô cùng tự hào vì mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông, đất nước ta. Không chỉ người dân Việt Nam tin yêu, kính trọng mà Nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới vô cùng kính phục, ngưỡng mộ và dành cho Người tình cảm sâu đậm. Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) thông qua Nghị quyết về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Nghị quyết ghi rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam”… Để việc học tập và làm theo Bác trở thành việc làm thường xuyên, ý thức tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân, ngày 15/5/2016, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tích cực hưởng ứng, tự nguyện tham gia và đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng đảng. Ở các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, thiết thực, hiệu quả trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, qua đó góp phần xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải tiếp tục làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu, trở thành nền tảng chính trị- tinh thần trong đời sống của Nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tự trang bị kiến thức để “miễn dịch” trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa, vai trò quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, lấy việc nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp thông qua những hành động, việc làm cụ thể hằng ngày để quần chúng noi theo; đồng thời phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt; đề cao cảnh giác, nhận thức rõ đối tác, đối tượng; củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò của các lực lượng trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 NG CƯỜNG SỨC MẠNH BẢO VỆ TỔ QUỐC XHCN THEO TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN

V.I.Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của Karl Marx và Friedrich Engels về vũ trang toàn dân để xây dựng học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền, góp phần rất quan trọng vào bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân Xô viết.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, 14 nước đế quốc câu kết với các thế lực tư sản, phản động trong nước hòng xóa bỏ Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần kíp đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết non trẻ phải chủ động tăng cường sức mạnh mọi mặt của đất nước để bảo vệ thành quả cách mạng. V.I.Lênin đã nêu lên một luận điểm nổi tiếng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ”(1).
Thời kỳ nội chiến Nga trong giai đoạn 1918-1920, V.I.Lênin đã trực tiếp chủ trì gần 100 cuộc họp của Hội đồng Quốc phòng để thảo luận và quyết nghị những vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc; gửi gần 600 thư và điện cho các đơn vị quân đội để chỉ đạo các tình huống chiến dịch, chiến lược... Người đặc biệt coi trọng tăng cường sức mạnh về quân sự, quốc phòng và xây dựng quân đội làm lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc và chế độ XHCN. V.I.Lênin chỉ rõ: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”(2). Ngày 15-1-1918, Hội đồng Dân ủy do V.I.Lênin đứng đầu đã thông qua Sắc lệnh thành lập Hồng quân và Hải quân công nông-một quân đội chính quy kiểu mới đầu tiên của giai cấp vô sản trên thế giới.
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền Xô viết tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN, V.I.Lênin luôn chú trọng xây dựng và tăng cường sức mạnh chính trị-tinh thần của các lực lượng vũ trang. Dưới sự chủ trì của V.I.Lênin, Đại hội các Xô viết toàn Nga (6-1918) đã thông qua nghị quyết quan trọng về xây dựng Hồng quân công nông, trong đó có vấn đề thiết lập chế độ chính ủy trong Hồng quân làm người đại diện cho Đảng Bolshevik và Nhà nước Xô viết, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản ở các đơn vị; tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. Thực tiễn đã chứng minh, chế độ chính ủy, chính trị viên có vị trí, vai trò rất quan trọng để không ngừng củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong quân đội Xô viết.
V.I.Lênin rất chú trọng phát huy vai trò to lớn của Nhà nước đối với việc ưu tiên nghiên cứu khoa học quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đầu tư vũ khí, trang bị, phương tiện ngày càng hiện đại để nâng cao sức mạnh chiến đấu cho các lực lượng vũ trang Xô viết. Người khẳng định: “Không có khoa học thì không thể xây dựng được một quân đội hiện đại”(3). Theo V.I.Lênin, một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ. Thực hiện quan điểm chiến lược về bảo vệ Tổ quốc XHCN trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền của V.I.Lênin, Hồng quân Xô viết đã phát triển mạnh mẽ về lực lượng. Hệ thống các nhà trường quân sự Xô viết cũng được xây dựng đồng bộ. Đó là những cơ sở nền tảng tạo nên sức mạnh quân sự, quốc phòng của đất nước Xô viết, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của quân đội và nhân dân Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Đối với nước ta sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới có thể khẳng định, chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Đó là nền tảng cơ bản, điều kiện rất thuận lợi cho công cuộc tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hòng làm sụp đổ chế độ XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Bên cạnh đó, tình hình Biển Đông, các hoạt động xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới, biển, đảo của nước ta vẫn diễn biến khá phức tạp.
Trước tình hình đó, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải thường xuyên quan tâm chăm lo tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược “từ sớm, từ xa”, trong mọi tình huống, đủ sức đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhằm “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”, như Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng đã đề ra.
Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng, quan điểm của V.I.Lênin về tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII của Ðảng khẳng định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”, nhằm gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh, tạo thành sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.
Trong phát triển tư duy về lực lượng để tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Văn kiện Đại hội XIII của Ðảng nêu rõ: "Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng... phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống..."4.
_____
(1) V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Moscow, 1977, tập 37, tr.145.
(2) V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Moscow, 1979, tập 39, tr.175-176.
(3) V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Moscow, 1978, tập 40, tr.210.
(4) Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG-ST, H.2021, tập 1, tr.277.

Cảnh giác với luận điệu “Nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội” của các thế lực thù địch Những năm qua, các tổ chức phản động, cơ hội chính trị như “Việt Tân”, “Hội những người anh em dân chủ”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, … tập trung rêu rao luận điểm “Quân đội phải độc lập với chính trị”, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội trung lập với chính trị. Đây là luận điểm hết sức nguy hiểm, phản ánh dã tâm làm suy yếu chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và vô hiệu hóa Quân đội ta của các thế lực thù địch. Điều này, đòi hỏi chúng ta cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh phê phán, loại bỏ. Luận điểm “Quân đội phải độc lập với chính trị” của các thế lực thù địch hoàn toàn không phù hợp với lý luận và thực tiễn ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta trong 76 năm qua. Về mặt lý luận, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Quân đội ta do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện, là công cụ bạo lực vũ trang của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, để đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính quyền; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thống nhất, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và thành quả cách mạng. Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội, Hồ Chí Minh đã khẳng định trong mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, thì yếu tố chính trị là “gốc”, là cơ sở, nền tảng, quyết định yếu tố quân sự; quân sự phải phục tùng chính trị. Do đó, ngay từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội ta), Người đã viết: “Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”. Đến bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp Quân đội, ngày 25 tháng 10 năm 1951, Người tiếp tục nhấn mạnh: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Bên cạnh đó, Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc nên Quân đội ta chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của giai cấp, vì nhân dân, vì dân tộc. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng bắt nguồn từ đường lối chính trị của Đảng. Điều này, được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Thực tiễn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng rèn luyện, phấn đấu vươn lên, luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng trong đấu tranh cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Quân đội ta cùng với toàn dân tộc kinh qua các cuộc trường chinh kháng chiến, luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo, với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc. Tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân đã được lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ kế thừa, phát huy, làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của Quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và của thế trận quốc phòng toàn dân. Mặt khác, xây dựng Quân đội về chính trị vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa là nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và Nhân dân. Trên cơ sở đường lối chính trị, Quân đội ta đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ, qua đó góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, luận điểm “Quân đội phải độc lập với chính trị” ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động hoàn toàn trái với lý luận và thực tiễn tổ chức xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội các nước. Cho nên âm mưu nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội mất phương hướng chiến đấu, bị vô hiệu hóa của họ sẽ bị chính thực tiễn lịch sử phủ nhận.

SỰ THẤT BẠI CỦA PHÁP TẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ

Sau thất bại tại Điện Biên Phủ, chính quyền Pháp phải thành lập một Ủy ban điều tra vào ngày 31/3/1955 tìm hiểu nguyên nhân thất bại. Ủy ban này đã mở đến 22 cuộc điều trần.

Tướng Pháp De Castries khi bị tra hỏi:

-Việt Minh đã xây dựng được những con đường tiếp tế à?

- Vâng, họ có những con đường và có xe tải Molotova để vận chuyển đạn dược và tiếp tế. Những con đường đó chúng tôi chỉ nhìn thấy khi chúng tôi bị bắt làm tù binh.

- Tại sao máy bay lại không nhìn thấy?

- Vì những con đường đã được bộ đội Việt Nam ngụy trang rất giỏi…

- Những đợt tấn công mà các ông tiến hành đã có thể cho phép thâm nhập vào trận địa của quân đội Việt Minh hay các ông chỉ luôn bị khóa ở vòng ngoài?

- Chúng tôi chỉ luôn ở vòng ngoài.

- Các ông chỉ luôn ở vòng ngoài ư?

- Đúng thế, chỉ một vài lần chúng tôi vào được phía Bắc, còn phía Đông thì gần như chưa bao giờ.

Sau này, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Marcel Bigeard, nguyên là Trung tá phó Chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sang thăm Việt Nam năm 1993, nhìn lại chiến trường cũ, đã có một câu với một nhà quay phim nước ngoài: "Nếu tôi là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh".

Còn tướng De Castries trong buổi điều trần trước Ủy ban điều trần Pháp đã nói: "Người ta có thể đánh thắng một quân đội chứ không thể đánh thắng được một dân tộc".

Tướng Pháp De Castries khi bị tra hỏi:
-Việt Minh đã xây dựng được những con đường tiếp tế à?
- Vâng, họ có những con đường và có xe tải Molotova để vận chuyển đạn dược và tiếp tế. Những con đường đó chúng tôi chỉ nhìn thấy khi chúng tôi bị bắt làm tù binh.
- Tại sao máy bay lại không nhìn thấy?
- Vì những con đường đã được bộ đội Việt Nam ngụy trang rất giỏi…
- Những đợt tấn công mà các ông tiến hành đã có thể cho phép thâm nhập vào trận địa của quân đội Việt Minh hay các ông chỉ luôn bị khóa ở vòng ngoài?
- Chúng tôi chỉ luôn ở vòng ngoài.
- Các ông chỉ luôn ở vòng ngoài ư?
- Đúng thế, chỉ một vài lần chúng tôi vào được phía Bắc, còn phía Đông thì gần như chưa bao giờ.
Sau này, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Marcel Bigeard, nguyên là Trung tá phó Chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sang thăm Việt Nam năm 1993, nhìn lại chiến trường cũ, đã có một câu với một nhà quay phim nước ngoài: "Nếu tôi là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh".
Còn tướng De Castries trong buổi điều trần trước Ủy ban điều trần Pháp đã nói: "Người ta có thể đánh thắng một quân đội chứ không thể đánh thắng được một dân tộc".
Lật tẩy thủ đoạn "tự do, dân chủ trong bầu cử" để phá rối bầu cử Lợi dụng quyền tự do, dân chủ trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, một số người nhân danh “nhà dân chủ”, “đấu tranh cho dân chủ” đã tuyên bố tự ứng cử, hô hào phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online. Họ tung hô, ủng hộ cho các đối tượng lợi dụng tự do dân chủ, chống phá Nhà nước, đăng ký tự ứng cử nhằm gây nhiễu loạn, phá hoại an ninh, trật tự kỳ bầu cử. Thời gian qua, việc một số người tự xưng là các “nhà đấu tranh cho dân chủ” hô hào, phát động phong trào tự ứng cử, nộp hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thực chất chỉ là chiêu trò phá rối, vì động cơ xấu. Trong đó, họ thành lập “tổ chuyên gia tư vấn” với số đối tượng cầm đầu, cốt cán nhằm xây dựng phương hướng, thẩm định chương trình hành động của các ứng viên; tư vấn, hỗ trợ ứng cử viên các hoạt động liên quan tự ứng cử; bàn bạc thành lập “ban hỗ trợ bầu cử” có nhiệm vụ hỗ trợ những người tự ứng cử về hồ sơ, quay phim, chụp ảnh, đưa tin, vận động xin kinh phí, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các ứng viên; thống nhất kế hoạch hành động như sẽ bố trí người đến ủng hộ, cổ vũ, động viên, gây sức ép đòi vào tham dự hội nghị cử tri, quay phim, chụp ảnh đưa lên mạng Internet. Sau khi nộp hồ sơ tự ứng cử, các đối tượng trực tiếp đi vận động quần chúng nhân dân nơi cư trú ủng hộ khi tổ chức hội nghị cử tri, tìm cách gặp gỡ nhân viên ngoại giao các nước để tìm kiếm sự ủng hộ, hậu thuẫn. Để phát động các chiến dịch truyền thông, họ triệt để khai thác các trang mạng sẵn có, đồng thời thông qua các trang mạng của các đài phát thanh nước ngoài phỏng vấn, tung hô số đối tượng tự ứng cử, vu cáo Nhà nước ta tổ chức bầu cử không dân chủ, thiếu minh bạch… Đặc biệt, các đối tượng còn lập ra các kênh truyền thông trên nền tảng của mạng xã hội, nhất là kênh You Tube, hoạt động như một kênh truyền hình để tuyên truyền ca ngợi, cổ vũ, kêu gọi ký tên ảo, bỏ phiếu online cho các “nhà dân chủ” tự ứng cử. Đưa tin, bài viết phê phán, xuyên tạc, vu cáo chính quyền, cho rằng Đảng phân biệt đối xử với những người tự ứng cử; những người “đấu tranh dân chủ” bị đưa ra “đấu tố”, “chỉ trích”, “hội nghị cử tri mất dân chủ, vi phạm pháp luật”… khi các đối tượng tự ứng cử mà không nhận được tín nhiệm của nhân dân tại hội nghị cử tri nơi cư trú. Chúng ta cần hiểu đúng về quyền tự ứng cử. Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật. Điều 27, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Thực tế cho thấy, trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV năm 2016 đã có 162 hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, trong đó đã có những người tự ứng cử trúng cử đại biểu Quốc hội như trường hợp đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội), đại biểu Phạm Quang Dũng (Nam Định). Trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XV năm 2021, theo báo cáo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cả nước có 77 người tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại 24 tỉnh, thành phố. Trong đó Hà Nội có 30 người, TP Hồ Chí Minh có 16 người. Những con số trên cho thấy, Nhà nước ta luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự ứng cử trong bầu cử, không có phân biệt giữa người được đề cử và tự ứng cử. Vấn đề là người tự ứng cử phải đảm bảo tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, về năng lực, trình độ và uy tín trong quần chúng. Dù là đề cử hay tự ứng cử thì yêu cầu hiển nhiên khi tham gia Quốc hội, HĐND là để phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự thực, các kỳ bầu cử vừa qua là minh chứng bác bỏ những nhận định cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam là “mất dân chủ”, “không công bằng”, là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có “cửa” cho những người tự ứng cử. lịch sử các cuộc bầu cử cho thấy, có những người tự nộp hồ sơ ứng cử với động cơ rất trong sáng, muốn đóng góp sức mình vào cơ quan của Quốc hội và HĐND các cấp. Và thực tế đã có những người tự ứng cử có đủ phẩm chất, năng lực, được cử tri tín nhiệm bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp. Tuy nhiên, ở đây cần phân biệt việc tự ứng cử với mục đích, động cơ trong sáng, tinh thần xây dựng với việc lợi dụng quyền tự ứng cử để phá rối, gây hại. Thời gian qua, việc một số người tự xưng là các “nhà đấu tranh cho dân chủ” hô hào, phát động phong trào tự ứng cử, nộp hồ sơ tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp thực chất chỉ là chiêu trò phá rối, vì động cơ xấu. Những người này biết rằng, cơ hội trúng cử đối với họ là không có bởi với bản “lý lịch đen” chống phá Đảng, Nhà nước, hồ sơ đó đương nhiên không nhận được sự ủng hộ của người dân ngay tại nơi họ sinh sống chứ chưa nói tới được cử tri bỏ phiếu. Thế nhưng, họ vẫn đăng ký tự ứng cử, vẫn hô hào ký tên ảo, bỏ phiếu online bởi mục đích thực là để đánh bóng tên tuổi với mong muốn sẽ trở thành “ngọn cờ” của “phong trào đấu tranh dân chủ” trong nước, qua đó khuếch trương hình ảnh, để được nhiều người biết đến. Khi những người này không được đưa vào danh sách bầu cử hoặc khi được đưa vào danh sách bầu cử nhưng không trúng cử, họ sẽ xem đó là cơ hội để xuyên tạc, vu cáo chính quyền, vu cáo Đảng, Nhà nước với luận điệu kiểu như: “Người tự ứng cử gần như không có cơ hội trở thành đại biểu Quốc hội”, “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, giả hiệu trong việc tổ chức bầu cử”… Mặt khác, họ sẽ xem đây là “bằng chứng” về sự vi phạm dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế, Liên hợp quốc lên tiếng can thiệp, giám sát quá trình bầu cử tại Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện và đấu tranh kịp thời.

  30/4 NHỮNG THÁNG NĂM LỊCH SỬ

Chúng tôi sinh ra trong hòa bình – độc lập. Thế hệ của chúng tôi không có những ngày khoác áo rơm đi học dưới hầm, trú bom trong ống cống, không phải ăn bo bo hay cơm độn ngô, độn sắn. Chúng tôi lớn lên khi đất nước không còn chia Bắc – Nam, không còn cảnh “một nhà chia đôi”. Chúng tôi biết đến chiến tranh qua những câu chuyện của ông, qua chiếc chân giả của chú, qua cảm xúc vỡ òa của ngày bác tôi lặng lẽ trở về sau 10 “đám giỗ”. Chúng tôi biết đến hòa bình qua những tấm bia mộ khắc dòng chữ “Chưa biết tên anh nhưng chiến công anh bất diệt”, qua những nghĩa trang Trường Sơn nằm tựa mình bên núi, qua những ngôi mộ của gia đình hàng xóm trúng bom nằm sau vườn…. Chỉ vậy thôi cũng đủ để mỗi khi đứng dưới bóng cờ là con tim ngân lên tiếng ca “Đoàn quân Việt Nam đi…”
Chúng tôi nhớ câu chuyện về cây cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải làm gianh giới tạm thời chia cắt hai miền Nam – Bắc. Lính Việt Nam Cộng hòa (Ngụy quyền Sài Gòn) muốn sơn cây cầu thành hai màu khác nhau để phân biệt. Cứ mỗi khi “lính cộng hòa” đổi màu sơn cho nửa bên kia cây cầu thì ngay đêm hôm ấy, “lính cộng sản” lại lặng lẽ sơn nửa bên này cầu theo đúng màu sơn của bên ấy bởi “Nam – Bắc một nhà, không một thế lực nào có thể chia cắt được”.
Chúng tôi nhớ cuốn sách viết về những chuyến tàu không số, những người tù Côn Đảo kiên trung. Nhớ những con người anh dũng đã nằm lại dưới biển xanh để đất nước tôi ngày hôm nay độc lập.
Chúng tôi nhớ hình ảnh những người chàng trai, cô gái tuổi mười tám đôi mươi đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Vừa cởi áo học trò khoác áo lính, họ bước vào trận chiến một mất một còn với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Chúng tôi nhớ các bà, các mẹ vai khoác súng tay cầm liềm, vừa chiến đấu vừa sản xuất, làm việc bằng hai để “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.
Chúng tôi nhớ những người đã nằm lại ngay trước ngày giải phóng, ngay trước cửa ngõ tiến vào Sài Gòn, tôi nhớ người lính anh hùng trước lúc bị hành quyết vẫn hô to “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”.
Chúng tôi nhớ hình ảnh đường phố Sài Gòn ngập tràn cờ và hoa chào đón đoàn quân giải phóng. Nhớ những chuyến tàu Bắc – Nam mang tên Thống Nhất.
Lịch sử thì không bao giờ có “nếu như, giá mà, giả sử….”. Lịch sử chỉ có một kết quả duy nhất. Nó là thành quả của những năm trường kỳ kháng chiến, nó được xây nên từ xương máu của biết bao nhiêu thế hệ con dân Việt. Không bao giờ có chuyện không cần đánh đuổi thì Pháp, Mỹ cũng sẽ tự rút. Không có thằng ăn cướp nào đến cướp đất chỉ để xây nhà cho bạn rồi nó tự đi. Hòa bình – độc lập hôm nay là quyết tâm hy sinh xương máu của hàng triệu người con đất Việt đổ xuống cho Tổ quốc hồi sinh. Nên chúng ta phải hết sức trân trọng và gìn giữ./.

RÚT KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 1 SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC

  Sáng 20-4, tại Quân đoàn 1, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) đã tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm đào tạo giai đoạn 1 sĩ quan cấp phân đội trình độ đại học năm học 2020-2021.

Dự hội nghị có Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Ngô Minh Tiến, Phó tổng Tham mưu trưởng chủ trì hội nghị, cùng đại biểu lãnh đạo chỉ huy các cơ quan, đơn vị, học viện, trường quân đội...
Trình bày báo cáo tại hội nghị, Thiếu tướng Nguyễn Đăng Bảo, Phó Cục trưởng Cục Nhà trường cho biết, năm học 2020-2021, thực hiện Quyết định số 3130/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (BQP), nhiệm vụ đào tạo giai đoạn 1 sĩ quan phân đội trình độ đại học được chuyển từ Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2 về các học viện, trường và đơn vị, toàn quân có 2 học viện và 10 trường sĩ quan tự đào tạo giai đoạn 1, 5 học viện liên kết đào tạo với 3 quân đoàn.
Theo đó, công tác xây dựng, quản lý, điều hành chương trình đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, BQP về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong quân đội, nhất là đổi mới quy trình, chương trình, nội dung theo hướng “Cơ bản, chuyên sâu”, “Tinh giản, hiện đại, thiết thực”. Trên cơ sở chương trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội giai đoạn 1, các nhà trường đã triển khai xây dựng chương trình đào tạo đúng, đủ nội dung theo quy định bảo đảm tính hệ thống, sát thực tế đơn vị, giảm lý thuyết, tăng thực hành, tự học, tự nghiên cứu. Các quân đoàn chỉ đạo các đơn vị phối hợp chặt chẽ với trường quân sự tổ chức xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch huấn luyện cụ thể đến các đại đội, trung đội và phê duyệt đúng quy định.
Các đơn vị tổ chức điều hành huấn luyện chặt chẽ, kết hợp giữa huấn luyện chính khóa với huấn luyện ngoại khóa; tăng thời gian huấn luyện thể lực, điều lệnh đội ngũ, bơi, bắn súng; tích cực đổi mới phương pháp huấn luyện, xoay vòng, chia nhỏ, tập nhiều gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với đơn vị. Cấp ủy, chỉ huy các nhà trường đã quan tâm kiện toàn, xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý theo hướng chuẩn hóa, đủ về số lượng, chất lượng. Học viên nắm được cơ bản những nội dung đào tạo huấn luyện. Kết quả các lần thi, kiểm tra cho thấy 100% đơn vị đạt yêu cầu trở lên, trong đó có 80% đơn vị đạt khá, giỏi. BTTM đã kiểm tra tháng thứ nhất và phúc tra kết quả khi kết thúc đào tạo giai đoạn 1. Kết quả phúc tra cơ bản thống nhất với kết quả đánh giá của các nhà trường.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương khẳng định, việc chuyển đào tạo giai đoạn 1 về các học viện, trường và một số đơn vị là chủ trương đúng đắn của Quân ủy Trung ương và BQP. Tuy thời gian qua thực hiện còn gặp một số khó khăn nhưng với sự cố gắng, quyết tâm của các đơn vị đã đạt những kết quả bước đầu tích cực cần được biểu dương. Thượng tướng Nguyễn Tân Cương đề nghị thời gian tới, các học viện, trường, đơn vị huấn luyện tiếp tục quán triệt Quyết định số 3130/QĐ-BQP của Bộ trưởng BQP; chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng năm 2021 của Tổng Tham mưu trưởng theo phương châm: “Chất lượng huấn luyện của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”. Làm tốt công tác phối hợp, hiệp đồng giữa các cơ quan chức năng của BQP, nhà trường và đơn vị, tập trung khắc phục những điểm còn hạn chế; làm tốt mọi mặt để chuyển tiếp sang đào tạo giai đoạn 2 theo chương trình đã được Bộ trưởng BQP ban hành.
Các đơn vị liên kết đào tạo, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tổ chức bàn giao chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho học viên. Các nhà trường sau khi tiếp nhận, tổ chức đào tạo giai đoạn 2 tiếp tục tổ chức học tập ngoại khóa, kết hợp học mới ôn cũ để nâng cao trình độ cho học viên. Tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ huấn luyện; tăng cường củng cố thao trường, bãi tập, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo giai đoạn 1, nhất là đối với các đơn vị liên kết; ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, học thực chất, thi thực chất góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong những năm tiếp theo.
Kết luận hội nghị, Trung tướng Ngô Minh Tiến biểu dương Cục Nhà trường, Quân đoàn 1 đã phối hợp chặt chẽ, chủ động làm tốt mọi công tác chuẩn bị cho các cơ quan, đơn vị, học viện, trường thăm quan và tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm công tác đào tạo giai đoạn 1 diễn ra đúng kế hoạch, đạt kết quả tốt. Đồng thời, Trung tướng Ngô Minh Tiến cũng đề nghị cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường cần quán triệt nghiêm ý kiến chỉ đạo của đồng chí Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, đề ra nhiều chủ trương, biện pháp đồng bộ để khắc phục những mặt hạn chế để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo giai đoạn 1.
Trước đó, chiều ngày 19-4, các đại biểu đã tham quan thực hành huấn luyện tại Sư đoàn 390, Quân đoàn 1./.

NỮ BIỆT ĐỘNG "THÉP" 8 LẦN GẶP BÁC HỒ

 Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt - Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!
Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.
Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung.
Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.
Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.
Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.
Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội. Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”.

 BÁC HỒ VỚI QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ CỘI NGUỒN DÂN TỘC

“Con người có tổ có tông/Như cây có cội, như sông có nguồn”. Một quốc gia, một dân tộc cũng vậy, trong dòng chảy 4.000 năm lịch sử, cội nguồn dựng nước của dân tộc Việt Nam từ các vua Hùng. Nhân giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10/3 Âm lịch năm nay, chúng ta hãy cùng tìm hiểu: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với Quốc tổ Hùng Vương và cội nguồn dân tộc:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 2 lần về thăm đền Hùng - nơi thờ tự các vua Hùng, tổ tiên chung của dân tộc ta tại thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, Tp.Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Lần thứ nhất về Đền Hùng, Người đi từ Đại Từ (Thái Nguyên) vào ngày 18/9/1954. Bác đã ngủ đêm tại Đền Giếng ở chân núi Hùng. Sáng hôm sau (ngày 19/9/1954), sau khi đi thăm các Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, hành lễ kính cáo tổ tiên, người trở lại Đền Giếng nói chuyện với bộ đội Đại đoàn quân Tiên Phong - Sư đoàn 308 về nhiệm vụ tiếp quản thủ đô. Tại nơi đây, Bác đã nói câu nói bất hủ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết trong một câu nói như là một sự tổng kết quy luật tồn tại và phát triển: Dựng nước gắn liền với giữ nước. Câu nói của Người vừa thể hiện lòng biết ơn với các vua Hùng “đã có công dựng nước”, đồng thời đề ra nhiệm vụ kế tục, tiếp nối sứ mệnh lịch sử cao cả của lớp cháu con “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và tinh thần đại đoàn kết, mà còn là sự tôn vinh tổ tiên, tôn vinh Quốc tổ Hùng Vương. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, Người đã đặt cội nguồn dân tộc lên một tầm cao mới. Nhắc đến công lao của các vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức và trong đời thường là Đền Hùng, Bác đã khơi gợi lên ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Nhất là trong lúc sự nghiệp cách mạng còn nhiều khó khăn, đòi hỏi những hy sinh to lớn. Niềm tự hào vững chắc về Tổ tiên dựng nước chắc chắn sẽ là nguồn động lực lớn lao cổ vũ tinh thần đoàn kết đối với nhân dân cả nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Lần thứ hai, Bác về thăm Đền Hùng, dâng hương Đền Thượng, thăm mộ Tổ vào ngày 19/8/1962, khi đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc, cả nước biến thành chiến trường chống Mỹ. Khoảng 9h sáng, Bác đến Đền Hạ, các đồng chí bảo vệ sợ Bác mệt, xin Bác nghỉ lại, mời xuống núi. Bác nói “Leo núi phải leo đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Đã đi phải tới đích”. Đến Đền Trung, lên Đền Thượng khoảng 11h trưa, Bác cùng đoàn nghỉ trưa, ăn cơm nắm với dưa cà ở ngách cửa đông nam Đền Thượng. Trước khi ra về, Bác dặn các đồng chí lãnh đạo tỉnh Phú Thọ: “Phải chú ý bảo vệ, trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm, đẹp đẽ thành công viên cho con cháu sau này đến tham quan”. Lời dạy của Bác có tính định hướng phát triển, tôn tạo đền Hùng trong tương lai, đã trở thành kim chỉ nam cho tư duy, tình cảm và hành động của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau, biết trân trọng quá khứ, giữ gìn đạo lý truyền thống dân tộc.
Cả 2 lần Người về Đền Hùng thì cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao - nơi mà ngày xưa Tổ tiên ta từng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Lịch sử đã chứng minh, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt đã đương đầu và đánh bại rất nhiều kẻ xâm lược hùng mạnh bằng sức mạnh đại đoàn kết tuôn chảy từ cội nguồn. Đất nước ta lúc thịnh lúc suy, nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ chịu cúi đầu làm nô lệ. Con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, không xâm lược nước nào, nhưng cũng không kẻ thù nào khuất phục được. Lòng biết ơn, thờ cúng Tổ tiên là nền tảng đạo đức và tín ngưỡng tâm linh cơ bản của người Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì lo sợ trước những khó khăn của lịch sử phải mượn tới vong linh Tổ tiên, mà vì, nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, có tình cảm thiết tha với cội nguồn. Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng đã gợi lên sức mạnh cội nguồn, khơi dậy tình cảm thiêng liêng cổ vũ toàn dân quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược cho đến ngày non sông liền một dải.
Tháng 3 âm lịch đã đến, “dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3”. Câu ca đó như một lời nhắc nhở con dân nước Việt luôn luôn nhớ rằng: chúng ta cùng chung một Tổ tiên, cùng chung một cội nguồn; nhắc ta nhớ đến lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” .
Biết ơn các bậc tiền nhân, chúng ta hãy cùng nhau biến lòng biết ơn thành hành động cách mạng, phát huy sức mạnh từ cội nguồn, sức mạnh của lòng yêu nước, đoàn kết ra sức thi đua xây dựng quê hương, đất nước ta giàu mạnh../.
Nhận diện mưu đồ đòi: “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”- vấn đề nhìn từ Myanmar Sáng 1/2/2021, truyền thông trong nước và quốc tế đồng loạt đưa tin. Việc chính phủ cầm quyền ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ sau một cuộc đảo chính của quân đội. Quân đội Myanmar tuyên bố quyền lực được giao lại cho Tổng tư lệnh Min Aung Hlaing. Tổng thống Myanmar Win Myint, Cố vấn nhà nước Aung San Suu Kyi và một loạt nhân vật cấp cao khác của đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD) cầm quyền bị Quân đội bắt. Người phát ngôn của NLD Myo Nyunt sau đó xác nhận thông tin và nói rằng với những gì đang diễn ra thực sự là một cuộc đảo chính. Việc chính phủ cầm quyền ở Myanmar nhanh chóng bị lật đổ sau một cuộc đảo chính của quân đội có lẽ sẽ là bài học đắt giá với rất nhiều chính đảng cầm quyền trên thế giới. Một trong những bài học đó là “phi chính trị hóa Công an, Quân đội”. Việc quân đội Myanmar tiến hành đảo chính được xem là hệ quả tất yếu của những mâu thuẫn kéo dài giữa quân đội với chính phủ dân sự cầm quyền ở quốc gia này, kể từ sau cuộc tổng tuyển cử vào tháng 11/2020, với kết quả NLD giành thắng lợi áp đảo. Cụ thể, NLD thắng gần 400 ghế trong Quốc hội (hơn 60%), quân đội có 25% số ghế đương nhiên. Riêng Đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP) được quân đội ủng hộ, chỉ giành được 30 ghế. USDP không công nhận kết quả, cáo buộc có gian lận trong cuộc bầu cử và yêu cầu Ủy ban Bầu cử phải điều tra và giải quyết. Đảng này cho rằng có đến 10 triệu phiếu gian lận. Ngày 26/1, quân đội Myanmar ra tối hậu thư cho Ủy ban Bầu cử, tuyên bố sẽ hành động nếu ủy ban này không giải quyết cáo buộc gian lận về danh sách cử tri. Ủy ban Bầu cử ngay lập tức phủ nhận có gian lận trên diện rộng, khẳng định bầu cử đã diễn ra một cách tự do, công bằng, đáng tin cậy và “phản ánh ý nguyện của người dân”. Tuy vậy, hơn 280 cáo buộc đang được điều tra và Tòa tối cao Myanmar bắt đầu xử lý khiếu nại về bầu cử từ ngày 29/1. Cuối cùng, chính biến đã xảy ra vào rạng sáng 1/2, chỉ ít giờ trước khi Quốc hội khóa mới họp phiên đầu tiên. Cuộc chính biến ở Myanmar có thể sẽ để lại nhiều hệ lụy to lớn. Nó có thể đẩy nền dân chủ non trẻ ở Myanmar rơi vào khủng hoảng. Trong khi đó, việc đóng cửa các ngân hàng và những bất ổn chính trị sẽ gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Myanmar vốn bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19. Mặt khác, đảo chính có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ các thỏa thuận giữa chính quyền với các nhóm nổi dậy. Điều này có thể một lần nữa đẩy Myanmar vào vòng xoáy của bạo lực. Một điều dễ nhận thấy rằng, tương tự như ở Thái Lan, quân đội ở Myanmar có vị thế đặc biệt và rất hay chấp chính. Điểm chung giữa quân đội Thái Lan và quân đội Myanmar là không nằm dưới sự lãnh đạo của bất kỳ một chính đảng nào. Họ có quyền lực rất to lớn và được phép nắm quyền trong trường hợp khẩn cấp. Ở Việt Nam, thời gian qua, lợi dụng quá trình đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện Đại hội XIII của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều cá nhân, tổ chức, đối tượng thù địch trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu đòi đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi tam quyền phân lập; đòi “phi chính trị hóa” các lực lượng vũ trang nhân dân,… Trong đó, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an được chúng xác định là một nội dung trọng tâm. Những người này cho rằng, Công an, Quân đội phải “trung lập”, “đứng giữa”, không thuộc một đảng phái nào, “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”… Họ còn cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “hoàn thành sứ mệnh cao cả” là giải phóng dân tộc, nay nên trao lại quyền lãnh đạo đất nước cho “lực lượng dân chủ cấp tiến”. Có thể thấy rằng, đây là những luận điệu sai trái, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc là tách Quân đội và Công an ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Công an, Quân đội; làm cho lực Công an, Quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, dẫn đến suy yếu về chính trị, tiến tới làm cho lực lượng vũ trang bị vô hiệu hóa. Với thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động không có gì khác là muốn làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta dần dần biến chất, từ lực lượng vũ trang của nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trở thành một đội quân phản bội lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, bảo vệ cho lợi ích của các tầng lớp, giai cấp tư sản. Thực tiễn khẳng định, không có một lực lượng vũ trang nào là "đứng ngoài chính trị", là "trung lập". Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển quân đội các nước tư bản đều cho thấy, giai cấp tư sản không hề coi nhẹ quân đội, trái lại, rất coi trọng xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần cho lực lượng vũ trang của họ. Trong khi đó, thực tiễn cũng đã cho chúng ta những bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô tuyên bố xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô), chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào cuối năm 1991. Cuộc chính biến ở Myanmar có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng sự kiện này có liên quan trực tiếp tới vấn đề “phi chính trị hóa” Quân đội, Công an. Từ cuộc chính biến ở Myanmar, một bài học sâu sắc được rút ra với chúng ta, đó là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong các lực lượng vũ trang. Tuyệt đối không bao giờ được sa vào bẫy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch, phản động. Để thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, CAND nói riêng; không ngừng chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

CHỚ 'GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI'

Có bài ca dao ngụ ngôn được nhiều người biết đến: “Cái Cò, cái Vạc, cái Nông/ Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi Cò/ Không, không! Tôi đứng trên bờ/ Mẹ con nhà Vạc đổ ngờ cho tôi/ Chẳng tin ông đứng ông coi/ Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia”. . Chỉ với 42 chữ, bài ca dao đã “vẽ” lên bộ mặt mẹ con nhà Vạc ăn ở ác tâm, cố tình giẫm lúa nhà người ta mà lại đổ lỗi cho Cò. Những kẻ ăn không nói có như mẹ con nhà Vạc trong bài ca dao được người đời gọi là “Gắp lửa bỏ tay người”! Còn những kẻ muốn gieo tai họa, hãm hại người lương thiện nhưng vẫn muốn bảo toàn được danh tính của mình thì gọi là “Ném đá giấu tay”! Liên tưởng bài ca dao ngụ ngôn và những câu thành ngữ trên đến việc ai đó mạo danh rồi dựng chuyện, tung tin trên mạng xã hội một cán bộ lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa có “bồ nhí”, mới thấy sự đơm đặt thời nay còn ác ý gấp bội lần. Không chỉ là hành vi phạm pháp về tội vu khống, bịa đặt, mà đây còn là việc làm vô liêm sỉ rất đáng lên án. Bởi lẽ, không chỉ những người trong cuộc bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm, mà vợ, chồng, con, anh em, bố mẹ của họ cũng bị tổn thương về tinh thần. Thậm chí, nội bộ cơ quan những người trong cuộc cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi cái tin giả như vậy. Đấy là chưa kể người đời vốn có tính tò mò, hay bàn ra tán vào theo kiểu “tam sao thất bản” khiến cho câu chuyện đi quá xa và trở nên phức tạp hơn! CHỚ 'GẮP LỬA BỎ TAY NGƯỜI' Mạng xã hội được ví như cái “chợ trời” xuyên không gian. Ảnh minh họa. Nguồn: Tạp chí Tuyên giáo. Rồi đây, theo quy luật nhân quả “ác giả ác báo”, những người đơm đặt dựng chuyện trước sau sẽ bị lật tẩy và chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật. Nhưng nhìn từ phương diện văn hóa, mới thấy trong xã hội vẫn còn một bộ phận người không những “hổng” kiến thức luật pháp, mà “hổng” cả về tư cách, đạo lý làm người. Cái sự “hổng” này, tiếc thay lại do mạng xã hội “dắt mũi”! Vì sau khi cái tin nhắn giả kia xuất hiện, nó được nhân bản với tốc độ “chóng mặt” bởi những dòng “like” vô cảm, những lời “share” vô tâm và cả những câu “comment” thiếu trách nhiệm. Đã từ lâu, mạng xã hội được ví như cái “chợ trời” xuyên không gian, xuyên biên giới với vô vàn điều “thượng vàng hạ cám”. Những người dùng thông thái, có văn hóa thì tận dụng ưu thế, mặt tích cực của mạng xã hội để góp phần nhân lên những điều hay lẽ phải, người tốt, việc hay ở đời. Nhưng cũng có không ít người vừa thiếu hiểu biết, vừa muốn được nhiều người biết đến, thậm chí thích nổi tiếng theo kiểu “đốt đền” nên tung tin giả mạo, ghép hình lệch lạc nhằm câu view, câu like, làm vẩn đục môi trường văn hóa giao tiếp trên mạng xã hội. Cách nay một thế kỷ, một nhà văn châu Âu từng viết câu chuyện đại ý, trong một ngày tuyết rơi, mấy đứa trẻ chạy ra ngoài trời cùng nhau vui đùa. Nhưng một đứa trẻ có suy nghĩ oái ăm là đào một cái hố trong tuyết rồi đặt lên miệng hố một lớp tuyết mỏng ngụy trang nhằm “bẫy” những đứa trẻ khác. Rồi sau đó nó lại chạy ra chơi cùng các bạn và thầm nghĩ sẽ có đứa bị rơi xuống hố. Nhưng lúc mải vui đùa, chính nó đã sa chân vào cái hố do mình đào. Nó đau đớn lắm mà không dám nói ra. Viết câu chuyện này, nhà văn đã dựa trên một câu nói theo tinh thần của Kinh Thánh: “Người nào đào hố bẫy ai thì chính họ sẽ rơi xuống hố trước”. Qua đó, nhà văn muốn gửi tới mọi người một thông điệp: Hãy sống và ứng xử với nhau sao cho thân thiện, nhân văn; chớ có “đánh bẫy” ai vào chỗ hiểm nguy vì biết đâu “cái bẫy” đó lại trở thành tai họa cho chính mình! Ươm mầm phúc thì hái lộc lành, còn “gieo gió” ắt có ngày “gặt bão”. Chuyện đời là vậy. Chuyện ứng xử trên mạng xã hội cũng vậy. Thế nên, bài học về trường hợp trang mạng xã hội “Thánh cô cô bóc” chuyên bịa đặt, nói xấu người khác đã bị cơ quan chức năng “bóc mẽ” chân tướng và đưa ra ánh sáng pháp luật năm 2015, sẽ là điều cảnh tỉnh, cảnh báo nghiêm khắc đối với những ai chưa từ bỏ ý đồ “ném đá giấu tay”, “gắp lửa bỏ tay người” trên mạng xã hội!

Đốt đuốc, soi chân mình!

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện những giọng điệu lạc lõng của một số người tự gắn mác là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả” cho rằng, chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tới Ấn Độ đầu tháng 3 vừa qua diễn ra cùng thời điểm tàu sân bay Mỹ thăm Đà Nẵng thực chất là củng cố mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia có tiềm lực quân sự để đối phó với nước thứ ba ở Biển Đông... Mục đích của những giọng điệu trên không gì khác là nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, việc làm lỗi thời nhằm mưu đồ xấu dù khéo che đậy đến đâu cũng bị "lòi đuôi"... Đây không phải là lần đầu tiên những giọng điệu xuyên tạc, suy diễn vô lối kiểu như vậy xuất hiện trên mạng xã hội. Trong lập luận của những người tự xưng là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả”, chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ đến Đà Nẵng nhằm mục đích “tạo dựng liên minh” để chống lại nước thứ ba(!). Họ cho rằng, việc tàu sân bay USS Carl Vinson của Hải quân Mỹ đến Việt Nam, cũng như các chuyến thăm tiếp theo tới Malaysia và Philippines có mục đích khẳng định sự thống trị của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương. Trong ngôn từ của họ ẩn ý một thông điệp rằng “muốn bảo vệ chủ quyền của mình, Việt Nam nên liên kết với Mỹ”. Thế nhưng, người dân Việt Nam đâu mấy quan tâm tới những giọng điệu xuyên tạc trên. Đơn giản là vì đây không phải là lần đầu tiên tàu sân bay của Mỹ đi qua Biển Đông. Và đây cũng không phải là lần đầu tiên Hải quân Mỹ thực hiện những chuyến tuần tra trong khu vực này. Tàu sân bay Mỹ vẫn có mặt trên tất cả đại dương (trừ Bắc Băng Dương) và các vùng biển lớn trên thế giới, trong đó có Biển Đông, nên việc tàu sân bay Carl Winson ghé cảng Đà Nẵng không phải là điều gì đặc biệt. Thế nên, chiêu trò cũ rích trên không khác gì “vở diễn tồi” trên sân khấu vắng khán giả. Lợi dụng sự tự do internet, tự do ngôn luận ở Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, trong đó có hoạt động đối ngoại. Họ cho rằng hoạt động đối ngoại của Việt Nam bị lệ thuộc, chi phối bởi nước ngoài... Mục đích của chúng nhằm cổ xúy cho chủ nghĩa vô chính phủ, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kích động bạo lực, kích động chiến tranh và hận thù dân tộc, từ đó hòng hạ thấp vị thế của Việt Nam, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, chúng đã nhầm! Sau hai cuộc kháng chiến giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã rút ra bài học về “độc lập, tự chủ”, coi đây là kim chỉ nam trong đường lối đối ngoại của đất nước. Kế thừa, bổ sung và phát triển những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại đã đề ra từ các kỳ đại hội trước, Đại hội XII, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ mục tiêu: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(1). Trong bối cảnh thế giới đang diễn biến phức tạp, trước yêu cầu mới của cách mạng, Đảng ta còn yêu cầu phải “nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu”. Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ thương mại-đầu tư với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ. Chúng ta đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, quan hệ Đối tác toàn diện với 11 nước, trong đó có 5 nước lớn Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện nhằm mở rộng và duy trì quan hệ quốc tế, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, tiếp tục nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Mới đây, trong chuyến thăm Australia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hai bên đã ký Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam-Australia. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng, với việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Australia, “Việt Nam đã dần hoàn thiện khuôn khổ hợp tác với các đối tác quan trọng ở tất cả châu lục, góp phần khẳng định vai trò, vị thế của ta ở khu vực và trên thế giới”. Bên cạnh đó, Việt Nam chủ động, tích cực tham gia những công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế của đất nước. Việt Nam cũng tham gia tích cực, có trách nhiệm vào các định chế đa phương quốc tế như IMF, WB, WTO, Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên, các diễn đàn đa phương như: Tổ chức các nước không liên kết, Nhóm các nước G77... để nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Song song với hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đối ngoại quốc phòng thời gian qua cũng diễn ra sôi động không kém. Không chỉ là hoạt động trao đổi đoàn các cấp, các hoạt động giao lưu giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước diễn ra với tần suất ngày một nhiều. Cảng Hải Phòng, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Cam Ranh (Khánh Hòa), cảng quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi thường xuyên đón các tàu quân sự nước ngoài tới thăm, giao lưu, góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước cũng như giúp các bạn nước ngoài hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam, về chủ trương hội nhập của Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam… Nhờ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; nhờ không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba nên Việt Nam không những không bị lệ thuộc, không bị cô lập mà còn có điều kiện để chủ động, tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế; có điều kiện để giữ vững được độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đổi mới, phát triển và đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại quốc phòng “3 không” của Việt Nam (không liên minh, liên kết; không đi với nước này chống nước kia; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam) là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với thực tế. Nói như vậy để thấy, “vở diễn” mà các thế lực thù địch dựng lên có một kịch bản tồi như thế nào. Những lời “gan ruột”, nhận xét, góp ý “chân thành”, “tâm huyết” của chúng chỉ là cách nhìn phiến diện, lệch lạc, nhằm xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Tuy nhiên, những giọng điệu ấy dù có xảo quyệt, tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc được sự thật lịch sử, không thể phủ nhận được thực tế sinh động đang diễn ra, không thể đánh lừa được dư luận. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”… Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy, dựa vào nước khác không những không bảo vệ được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết của dân tộc. Sự phụ thuộc của một số quốc gia trên thế giới hiện nay càng khẳng định rõ thêm tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thế mới hay, dù diễn ra ở đâu, dưới hình thức nào và được che đậy đến đâu, mọi việc làm lỗi thời nhằm mưu đồ xấu cũng sớm bị "lòi đuôi". Tục ngữ Việt Nam có câu: Chân mình thì lấm bề bề Lại cầm bó đuốc đi rê chân người. Vậy nên, những ai tự xưng là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “trí thức”, “học giả” trên hãy tự đốt đuốc soi chân mình trước khi đưa ra những quan điểm lỗi thời chống lại chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 

Nâng cao cảnh giác, kiên quyết, chủ động đấu tranh với các thủ đoạn

chống phá của các thế lực thù địch trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026

 

Trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 các thế lực thù địch đang thực hiện hàng loạt thủ đoạn ra sức phá hoại bằng những chiêu trò bình cũ, rượu cũ. Thực tế này đòi hỏi chúng ta cần nâng cao cảnh giác, kiên quyết, chủ động đấu tranh làm thất bại thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Với âm mưu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cuộc bầu cử, liên tục những ngày qua, nhiều website, một số trang báo nước ngoài, trang mạng xã hội, trang blog cá nhân do các tổ chức phản động, cá nhân chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã đăng tải nhiều nội dung, bài viết thể hiện cái nhìn phiến diện, sai lệch về công tác bầu cử ĐBQH và HĐND các cấp ở Việt Nam. Điển hình là những luận điệu sai trái như: “Đảng Cộng sản lãnh đạo bầu cử là không dân chủ”; “Bầu cử Quốc hội ở Việt Nam là hình thức”; “Cần xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử”...

Chúng ta dễ nhận thấy ẩn phía sau những luận điệu này là động cơ chính trị đen tối. Bởi ngay sau các luận điệu này, những thế lực phản động đã lớn tiếng yêu cầu Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được lãnh đạo công tác bầu cử; Đảng phải chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự “cạnh tranh sòng phẳng” với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ...

Ngoài ra, một thủ đoạn khác mà các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện đó là lợi dụng dân chủ, núp bóng cái gọi là “tự ứng cử", kêu gọi ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, chống phá cuộc bầu cử.

Để cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là ngày hội của toàn dân, các cơ quan chức năng cần tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn xã hội; tạo sự đồng thuận cao trong dư luận, đồng thuận giữa các lực lượng về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Cần tăng cường sự hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành, các lực lượng trong định hướng thông tin; chia sẻ các thông tin cần thiết có liên quan đến hoạt động tuyên truyền chống phá bầu cử của các đối tượng phản động, chống đối chính trị để kịp thời đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm; tăng cường đấu tranh trên không gian mạng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, phản động...Kịp thời cung cấp các thông tin thường xuyên, liên tục về công tác chuẩn bị và quá trình bầu cử, qua đó giúp người dân có điều kiện tiếp cận các thông tin chính thống; hạn chế ảnh hưởng của những thông tin sai trái, xấu độc.

Mặt khác, mọi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân cần thường xuyên nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, kịp thời phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực phản động. Mỗi người cần nâng cao khả năng “tự đề kháng”, tự bảo vệ chính mình trước các thông tin, xấu độc; có thái độ, trách nhiệm rõ ràng trước các luồng thông tin xấu lan truyền trên mạng xã hội trước, trong và sau thời điểm diễn ra cuộc bầu cử./.