Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

Sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, giải quyết kịp thời những bức xúc trong nhân dân

Sâu sát cơ sở, tích cực kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nảy sinh trong nhân dân, đó là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng ta; là phương pháp, tác phong công tác không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Biết là vậy nhưng không phải tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ và thực hiện tốt công việc ý nghĩa này. . Một thực tế trong những năm gần đây là tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp, đơn thư vượt cấp gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ. Nhiều vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là một bộ phận cán bộ, đảng viên xa dân, thiếu sâu sát, nắm không chắc tình hình cơ sở, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng, chưa sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nắm không chắc tình hình nên bị động trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ tình trạng: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” và coi đó là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ tinh thần, thái độ thẳng thắn và kỳ vọng vào sự nghiêm túc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng nhân dân sẽ thất vọng và giảm sút lòng tin nếu tinh thần, thái độ ấy không chuyển thành hành động cụ thể. Để xứng đáng với sự trông đợi và kỳ vọng của nhân dân, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương đã căn cứ vào những biểu hiện mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra tự soi chiếu lại mình để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần từng bước khắc phục tình trạng trên. Nhân dân cả nước sẽ ghi nhớ mãi những hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cùng lãnh đạo các bộ, ngành không quản gian khó, hiểm nguy lặn lội đến với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; bơi thuyền, sắn quần lội nước đến những vùng bị thiệt hại do thiên tai kiểm tra từng bữa ăn, giấc ngủ, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình đoàn kết vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống. Đặc biệt cuối năm 2017 vừa qua, mặc dù rất bận rộn với hàng loạt sự kiện, công việc liên quan đến Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, nhưng Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ vẫn dành thời gian về xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và TP Hội An, tỉnh Quảng Nam để thị sát tình hình và thăm hỏi, động viên người dân vùng lũ. Từ những điều mắt thấy, tai nghe, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính quyền các địa phương phải nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định đời sống người dân, kiên quyết không để người dân bị đói, bị rét... Những việc làm ấy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng nhân dân, đặc biệt là về tinh thần trách nhiệm, tác phong gần dân, sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh. Từ sự nêu gương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cũng đã có những chuyển động rõ rệt. Điển hình là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch UBND thành phố vẫn duy trì nền nếp chế độ đi cơ sở, tiếp công dân, trực tiếp nghe người dân trình bày tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của mình; nghe lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đến các nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân báo cáo tình hình giải quyết từng vụ việc. Tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ các sở, ngành phải tăng cường bám nắm cơ sở, làm tốt công tác tiếp công dân, chủ động đối thoại với dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu lý đạt tình những tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đảng bộ TP Hồ Chí Minh xác định: Lấy sự chuyển động của cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giải quyết bức xúc của người dân… là thước đo năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, của cá nhân các đồng chí cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu. Chính những chuyển động trong phong cách lãnh đạo, gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình cơ sở đã giúp lãnh đạo thành phố phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, vấn đề bức xúc tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...”. Trên thực tế không khó để nhận thấy một số tổ chức Đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, đơn vị, kể cả một số cán bộ cao cấp, mắc bệnh "quan liêu", “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở, đánh giá không đúng tình hình nên hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo không kịp thời, kém hiệu quả. Có những cơ quan công quyền, cơ quan hành chính nhà nước, nơi tác phong cửa quyền, quan liêu, xa dân... không còn ở một người mà đã lan ra trở thành "căn bệnh" của cả tập thể. Đến những nơi này liên hệ làm việc, người dân rơi vào tình cảnh "ba không": Không người hướng dẫn; không chỗ ngồi; không nước uống. Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thế nhưng một số cán bộ có chức, có quyền lại coi mình là “quan cách mạng” thiếu tôn trọng quần chúng, cho mình là người “bề trên”, quần chúng nhân dân muốn được “ban ơn” thì phải phiền lụy. Tại Hội nghị tổng kết công tác dân vận năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ rõ về tình trạng: “Không ít cán bộ không sát dân, xa dân, nhũng nhiễu, tiêu cực, mất uy tín với nhân dân”... Dự Hội nghị sơ kết công tác bảo đảm TTATGT tổ chức vào tháng 9-2017, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng thẳng thắn phê bình cấp ủy, chính quyền 15 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước. Một trong những nguyên nhân được Phó thủ tướng chỉ rõ là tình trạng cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, đơn vị chức năng chưa sâu sát, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở; những vấn đề nảy sinh từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời, khi phát hiện ra thì lại thiếu biện pháp chỉ đạo quyết liệt để xử lý... Cũng do nắm không chắc tình hình nên ở nhiều nơi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân không được xem xét giải quyết thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài, gây ra những bức xúc trong nhân dân... Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm sút lòng tin trong nhân dân. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để tuyên truyền kích động hòng chia rẽ Đảng với nhân dân thì tình hình trên càng trở nên nguy hiểm. Để khắc phục cho được bệnh quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu dân, không sâu sát cơ sở, nắm không chắc tình hình cơ sở, Đảng ta xác định, năm 2018 là “Năm dân vận chính quyền”. Đây cũng là biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra. Có nhiều việc phải làm quyết liệt và đồng bộ để biến quyết tâm chính trị của Đảng thành hiện thực. Nhưng mấu chốt của vấn đề là sửa đổi lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, đảng viên. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại hội nghị công tác dân vận vừa qua: “Trong giai đoạn hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về công tác dân vận, công tác quần chúng và quyền làm chủ của nhân dân cũng không có sức thuyết phục”. Chúng ta có thể ra rất nhiều nghị quyết, ban hành rất nhiều chỉ thị và nói rất hay về việc chống quan liêu, chống căn bệnh “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở... nhưng kết quả sẽ chẳng đi tới đâu nếu không có sự chuyển biến bằng hành động và việc làm cụ thể của từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên. Điều người dân mong mỏi nhất ở các cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải đổi mới phong cách, nêu cao tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân. Cần phải lấy kết quả phục vụ, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tinh thần trách nhiệm với dân, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức. Đến với dân những lúc buồn vui, khó khăn, hoạn nạn là cần thiết nhưng quan trọng là cán bộ, đảng viên đừng bao giờ vô cảm trước nhân dân, phải biết vui niềm vui của dân, biết đau nỗi đau của dân và biết lo nỗi lo của dân. Gần dân nhưng phải hiểu dân, kịp thời nắm bắt và giải quyết thấu lý, đạt tình những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân và những bức xúc nảy sinh từ cơ sở. Cùng với đó là mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của nhân dân nhằm kịp thời phát hiện những biểu hiện quan liêu, xa dân... để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Gần gũi nhân dân, sâu sát nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là “nói ít làm nhiều” để tạo sự tin tưởng cho nhân dân. Khi mà dân tin Đảng, Đảng tin dân thì sự nghiệp cách mạng ắt thành công. . Sâu sát cơ sở, tích cực kiểm tra, đôn đốc, nắm chắc tình hình để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời những nảy sinh trong nhân dân, đó là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng ta; là phương pháp, tác phong công tác không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Biết là vậy nhưng không phải tổ chức đảng nào, cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức rõ và thực hiện tốt công việc ý nghĩa này. . Một thực tế trong những năm gần đây là tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp, đơn thư vượt cấp gia tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ. Nhiều vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội tại nhiều địa phương. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là một bộ phận cán bộ, đảng viên xa dân, thiếu sâu sát, nắm không chắc tình hình cơ sở, nhiều vấn đề bức xúc của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Khi kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII cũng đã chỉ rõ những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, xa rời quần chúng, chưa sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nắm không chắc tình hình nên bị động trong việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ tình trạng: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân” và coi đó là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Nhân dân hoan nghênh, ủng hộ tinh thần, thái độ thẳng thắn và kỳ vọng vào sự nghiêm túc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng nhân dân sẽ thất vọng và giảm sút lòng tin nếu tinh thần, thái độ ấy không chuyển thành hành động cụ thể. Để xứng đáng với sự trông đợi và kỳ vọng của nhân dân, nhiều tổ chức Đảng, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương đã căn cứ vào những biểu hiện mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ ra tự soi chiếu lại mình để rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu góp phần từng bước khắc phục tình trạng trên. Nhân dân cả nước sẽ ghi nhớ mãi những hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cùng lãnh đạo các bộ, ngành không quản gian khó, hiểm nguy lặn lội đến với đồng bào nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; bơi thuyền, sắn quần lội nước đến những vùng bị thiệt hại do thiên tai kiểm tra từng bữa ăn, giấc ngủ, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả; thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình đoàn kết vượt qua khó khăn, mất mát, ổn định cuộc sống. Đặc biệt cuối năm 2017 vừa qua, mặc dù rất bận rộn với hàng loạt sự kiện, công việc liên quan đến Tuần lễ Cấp cao APEC 2017, nhưng Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ vẫn dành thời gian về xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng và TP Hội An, tỉnh Quảng Nam để thị sát tình hình và thăm hỏi, động viên người dân vùng lũ. Từ những điều mắt thấy, tai nghe, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chính quyền các địa phương phải nhanh chóng triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả lũ lụt, ổn định đời sống người dân, kiên quyết không để người dân bị đói, bị rét... Những việc làm ấy đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu đậm trong lòng nhân dân, đặc biệt là về tinh thần trách nhiệm, tác phong gần dân, sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tình hình, đôn đốc, chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh. Từ sự nêu gương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương cũng đã có những chuyển động rõ rệt. Điển hình là Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Ở Hà Nội, mặc dù bận rất nhiều công việc nhưng đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch UBND thành phố vẫn duy trì nền nếp chế độ đi cơ sở, tiếp công dân, trực tiếp nghe người dân trình bày tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của mình; nghe lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan đến các nội dung khiếu nại, tố cáo của công dân báo cáo tình hình giải quyết từng vụ việc. Tương tự tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, Thành ủy, UBND Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ các sở, ngành phải tăng cường bám nắm cơ sở, làm tốt công tác tiếp công dân, chủ động đối thoại với dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu lý đạt tình những tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đảng bộ TP Hồ Chí Minh xác định: Lấy sự chuyển động của cơ sở trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, giải quyết bức xúc của người dân… là thước đo năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, của cá nhân các đồng chí cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu. Chính những chuyển động trong phong cách lãnh đạo, gần dân, sát dân, nắm chắc tình hình cơ sở đã giúp lãnh đạo thành phố phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, vấn đề bức xúc tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở...”. Trên thực tế không khó để nhận thấy một số tổ chức Đảng và một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý đứng đầu cơ quan, đơn vị, kể cả một số cán bộ cao cấp, mắc bệnh "quan liêu", “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở, đánh giá không đúng tình hình nên hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo không kịp thời, kém hiệu quả. Có những cơ quan công quyền, cơ quan hành chính nhà nước, nơi tác phong cửa quyền, quan liêu, xa dân... không còn ở một người mà đã lan ra trở thành "căn bệnh" của cả tập thể. Đến những nơi này liên hệ làm việc, người dân rơi vào tình cảnh "ba không": Không người hướng dẫn; không chỗ ngồi; không nước uống. Cán bộ, đảng viên là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thế nhưng một số cán bộ có chức, có quyền lại coi mình là “quan cách mạng” thiếu tôn trọng quần chúng, cho mình là người “bề trên”, quần chúng nhân dân muốn được “ban ơn” thì phải phiền lụy. Tại Hội nghị tổng kết công tác dân vận năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ rõ về tình trạng: “Không ít cán bộ không sát dân, xa dân, nhũng nhiễu, tiêu cực, mất uy tín với nhân dân”... Dự Hội nghị sơ kết công tác bảo đảm TTATGT tổ chức vào tháng 9-2017, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cũng thẳng thắn phê bình cấp ủy, chính quyền 15 địa phương có số người chết vì tai nạn giao thông tăng so với cùng kỳ năm trước. Một trong những nguyên nhân được Phó thủ tướng chỉ rõ là tình trạng cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, đơn vị chức năng chưa sâu sát, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở; những vấn đề nảy sinh từ cơ sở chưa được phát hiện kịp thời, khi phát hiện ra thì lại thiếu biện pháp chỉ đạo quyết liệt để xử lý... Cũng do nắm không chắc tình hình nên ở nhiều nơi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân không được xem xét giải quyết thỏa đáng dẫn đến đơn thư khiếu nại kéo dài, gây ra những bức xúc trong nhân dân... Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước, làm giảm sút lòng tin trong nhân dân. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ thông tin ngày càng phát triển, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những ưu thế của internet để tuyên truyền kích động hòng chia rẽ Đảng với nhân dân thì tình hình trên càng trở nên nguy hiểm. Để khắc phục cho được bệnh quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu dân, không sâu sát cơ sở, nắm không chắc tình hình cơ sở, Đảng ta xác định, năm 2018 là “Năm dân vận chính quyền”. Đây cũng là biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ ra. Có nhiều việc phải làm quyết liệt và đồng bộ để biến quyết tâm chính trị của Đảng thành hiện thực. Nhưng mấu chốt của vấn đề là sửa đổi lề lối, tác phong làm việc của cán bộ, đảng viên. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tại hội nghị công tác dân vận vừa qua: “Trong giai đoạn hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về công tác dân vận, công tác quần chúng và quyền làm chủ của nhân dân cũng không có sức thuyết phục”. Chúng ta có thể ra rất nhiều nghị quyết, ban hành rất nhiều chỉ thị và nói rất hay về việc chống quan liêu, chống căn bệnh “xa dân”, thiếu sâu sát cơ sở... nhưng kết quả sẽ chẳng đi tới đâu nếu không có sự chuyển biến bằng hành động và việc làm cụ thể của từng tổ chức Đảng, từng cán bộ, đảng viên. Điều người dân mong mỏi nhất ở các cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải đổi mới phong cách, nêu cao tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân. Cần phải lấy kết quả phục vụ, sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo tinh thần trách nhiệm với dân, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức. Đến với dân những lúc buồn vui, khó khăn, hoạn nạn là cần thiết nhưng quan trọng là cán bộ, đảng viên đừng bao giờ vô cảm trước nhân dân, phải biết vui niềm vui của dân, biết đau nỗi đau của dân và biết lo nỗi lo của dân. Gần dân nhưng phải hiểu dân, kịp thời nắm bắt và giải quyết thấu lý, đạt tình những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân và những bức xúc nảy sinh từ cơ sở. Cùng với đó là mở rộng dân chủ, phát huy tai mắt của nhân dân nhằm kịp thời phát hiện những biểu hiện quan liêu, xa dân... để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Gần gũi nhân dân, sâu sát nhân dân mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là “nói ít làm nhiều” để tạo sự tin tưởng cho nhân dân. Khi mà dân tin Đảng, Đảng tin dân thì sự nghiệp cách mạng ắt thành công.

Giữ vững niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng

Trong đó, vụ việc thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận là ông Đinh La Thăng bị đình chỉ sinh hoạt Đảng, cho thôi chức đại biểu Quốc hội và bị đề nghị truy tố, bắt tạm giam. Dư luận quan tâm bởi lẽ, đây là lần đầu tiên, một cá nhân từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị - một vị trí lãnh đạo cấp cao của Đảng, đã sa vào vòng lao lý. Việc ông Thăng bị tạm giam không chỉ là hệ quả tất yếu của hàng loạt sai phạm trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng trong thời gian ông này giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), mà còn là minh chứng khẳng định ý chí, quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và người đứng đầu Đảng ta trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước. Trong khi đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ quyết định công minh của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, khẳng định niềm tin vào công lý của chế độ ta, thì các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn, cơ hội chính trị lại tung tin hoài nghi, phủ nhận công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Họ rêu rao rằng, sự “bắt bớ này là cuộc thanh trừng nội bộ”, là “đấu đá giữa các phe nhóm lợi ích trong Đảng Cộng sản”, là “sự triệt hạ các đối thủ chính trị trước thềm Đại hội Đảng sắp tới”, thậm chí có kẻ còn xuyên tạc, bịa đặt: “Có người chống tham nhũng dù bản thân họ không dính vào tham nhũng kinh tế, nhưng lại sa vào tham nhũng quyền lực chính trị”. Thô thiển hơn, có kẻ suy luận là cuộc chiến chống tham nhũng gần đây của Việt Nam cũng chẳng qua chỉ là “học mót” chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” từ một nước láng giềng(!)… Từ những ý kiến, bình luận ác ý đó, họ lái sang ý đồ chính trị thông qua những lập luận “sặc mùi” chống phá, kiểu như: “Muốn xóa bỏ tận gốc căn nguyên của tham nhũng ở Việt Nam, phải thay đổi thể chế chính trị bằng cách xây dựng một chế độ đa đảng, xã hội dân sự, vì còn chế độ “độc đảng” là còn nguồn cơn xảy ra những đại án tham nhũng, quyền lợi chỉ thuộc về một bộ phận tinh hoa, còn đại bộ phận người dân vẫn đói nghèo, xã hội không thể phát triển được”(!). Không phải bây giờ, mà trước bất cứ sự kiện, vấn đề lớn nào diễn ra trong nước, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam cũng đều a dua, hùa theo những kẻ tự xưng là “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà báo tự do” ở trong nước. Sau khi “nghe hơi nồi chõ” thông tin, họ đồng loạt “kẻ tung người hứng”, “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để cùng chĩa “mũi dùi” vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chiêu trò này tuy không có gì mới, nhưng nó được lặp đi lặp lại càng chứng tỏ họ đã “vạch áo cho người xem lưng”, tự bộc lộ rõ động cơ, mưu đồ chính trị nham hiểm. Vì vậy, bên cạnh việc đặt niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta để tung ra những ý kiến bình luận sai trái, lệch lạc, cố tình bôi nhọ, bóp méo sự thật, lái dư luận vào những ý đồ đen tối. Đã từ lâu, Đảng ta xác định công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách. Cách đây 11 năm, ngày 21-8-2006, Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Quốc hội cũng đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng từ năm 2005. Việc Đảng ta tái lập Ban Nội chính Trung ương, thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cũng không ngoài mục đích nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, không để cho “quốc nạn” này cản trở công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Không có “vùng cấm”, “vùng nể”, “vùng né”; không có trường hợp ngoại lệ; không bị bất cứ sức ép và sự can thiệp nào là những dấu ấn nổi bật trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng những năm gần đây. Điều đó được thể hiện rõ nét, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng XII (1-2016) đến nay, Đảng ta đã kỷ luật hơn 20 cán bộ cao cấp từ mức khiển trách trở lên. Đó là những cán bộ lãnh đạo đương chức ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Đồng Nai, Hậu Giang và cán bộ lãnh đạo các bộ: Công Thương, Nội vụ; lãnh đạo Liên minh hợp tác xã Việt Nam và lãnh đạo Quân khu 1. Không những vậy, một số cán bộ cấp cao nghỉ hưu cũng bị xử lý kỷ luật do những sai phạm trong thời gian đương chức như nguyên lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Hậu Giang, Bình Định, Gia Lai, Vĩnh Phúc, Đắc Nông, Hải Phòng và nguyên lãnh đạo: Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ. Ngoài ra, hàng loạt cán bộ đương chức hay từng giữ chức vụ chủ tịch hội đồng thành viên, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng bị xử lý kỷ luật; có người đã bị khởi tố hình sự, bắt tạm giam. Đấy là chưa kể trong năm 2016, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã xử lý kỷ luật hơn 18.800 đảng viên, trong đó có gần 1.700 đảng viên bị khai trừ ra khỏi Đảng. Nguyên nhân chủ yếu của những đảng viên bị loại khỏi đội ngũ là do tham nhũng hoặc suy thoái nghiêm trọng về tư cách đảng viên. Năm 2017 cũng là năm có nhiều tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật; trong đó, có hai tập thể ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh bị Trung ương thi hành bằng hình thức cảnh cáo, đó là Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020 và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015. Cách đây 23 năm, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), Đảng ta đã nhận định, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Với quyết tâm làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân, ngoài ban hành Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về “Những điều đảng viên không được làm”, trong hai nhiệm kỳ liên tiếp, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (năm 2011) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (năm 2016). Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu ra 27 biểu hiện suy thoái cụ thể về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nhận diện, tìm ra nguyên nhân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là góp phần cắt bỏ những “ung nhọt” trong bộ máy Đảng, Nhà nước, từ đó làm cho “cơ thể” của Đảng, Nhà nước trở nên khỏe khoắn, lành mạnh hơn. Với mục đích củng cố, tăng cường sức mạnh nội lực của Đảng, mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Khoản đầu tiên của Điều 2 về nguyên tắc xử lý kỷ luật nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật này không chỉ là lời cảnh tỉnh, cảnh báo đối với những đảng viên có biểu hiện “nhúng chàm” phải sớm tự giác gột rửa, “cải tà quy chính” để tránh rơi vào vòng lao lý; mà còn khẳng định Đảng ta tiếp tục đề cao kỷ luật, siết chặt đội ngũ và sẽ không dung tha cho bất cứ cán bộ, đảng viên nào cố tình sai phạm, nhất là sa ngã vào con đường thoái hóa, biến chất, tham nhũng, lãng phí, gây tác động tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật bất vị thân. Bằng việc kiên quyết “nói không” với tham nhũng; xử lý kịp thời, thích đáng đối với tất cả các trường hợp cán bộ các cấp sai phạm, Đảng ta đã và đang thể hiện tinh thần của “một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” như Bác Hồ mong muốn. Điều có ý nghĩa hơn là, mỗi bước chuyển biến trong phòng, chống “quốc nạn” tham nhũng là một lần nhân lên niềm tin trong nhân dân đối với Đảng ta và chế độ ta. Đó là cơ sở để chúng ta tin vào sức mạnh kỷ luật của Đảng. Bởi vì, với tư cách là đại biểu cho lợi ích trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, trong lịch sử gần 90 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, mỗi quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng đều có tác động tích cực đến niềm tin của nhân dân. Từ niềm tin đó, sức mạnh của nhân dân được nhân lên, sẽ đủ sức “dời non lấp biển”, sát cánh, đồng lòng với Đảng trên con đường hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tin tưởng vào Đảng là niềm tin chính nghĩa, là tin vào những giá trị cao đẹp mà Đảng đã và đang mang lại cho toàn dân ta. Cũng cần nhắc lại rằng, tuy công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước đã đi đúng hướng và đang có những chuyển biến rất quan trọng; nhưng chúng ta cũng không được phép chủ quan, sớm thỏa mãn, hài lòng với những kết quả đã đạt được. Vì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng liên quan đến con người, tổ chức bộ máy, nhất là đụng chạm đến những cán bộ có chức, có quyền, do đó, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ cả về giáo dục, chính trị, hành chính, kinh tế, cơ chế, chính sách, pháp luật… Mọi biểu hiện nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn, cũng như thái độ cầm chừng, chậm trễ, lơ là trong “cuộc chiến” đầy cam go, phức tạp, nhạy cảm này đều không đúng với tinh thần, phương châm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Điều quan trọng nhất lúc này đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngoài việc chung tay, góp sức với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng, thì bản thân mỗi người phải thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bởi rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, sẽ có hại đến nhân dân”.

NHỮNG TIẾNG NÓI LẠC LÕNG CẦN PHẢI PHÊ PHÁN, BÁC BỎ

Trong khi đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ quyết định công minh của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, khẳng định niềm tin vào công lý của chế độ ta, thì các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn, cơ hội chính trị lại tung tin hoài nghi, phủ nhận công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Họ rêu rao rằng, sự “bắt bớ này là cuộc thanh trừng nội bộ”, là “đấu đá giữa các phe nhóm lợi ích trong Đảng Cộng sản”, là “sự triệt hạ các đối thủ chính trị trước thềm Đại hội Đảng sắp tới”, thậm chí có kẻ còn xuyên tạc, bịa đặt: “Có người chống tham nhũng dù bản thân họ không dính vào tham nhũng kinh tế, nhưng lại sa vào tham nhũng quyền lực chính trị”. Thô thiển hơn, có kẻ suy luận là cuộc chiến chống tham nhũng gần đây của Việt Nam cũng chẳng qua chỉ là “học mót” chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” từ một nước láng giềng(!)… Từ những ý kiến, bình luận ác ý đó, họ lái sang ý đồ chính trị thông qua những lập luận “sặc mùi” chống phá, kiểu như: “Muốn xóa bỏ tận gốc căn nguyên của tham nhũng ở Việt Nam, phải thay đổi thể chế chính trị bằng cách xây dựng một chế độ đa đảng, xã hội dân sự, vì còn chế độ “độc đảng” là còn nguồn cơn xảy ra những đại án tham nhũng, quyền lợi chỉ thuộc về một bộ phận tinh hoa, còn đại bộ phận người dân vẫn đói nghèo, xã hội không thể phát triển được”(!). Không phải bây giờ, mà trước bất cứ sự kiện, vấn đề lớn nào diễn ra trong nước, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, một số cơ quan truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam cũng đều a dua, hùa theo những kẻ tự xưng là “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà báo tự do” ở trong nước. Sau khi “nghe hơi nồi chõ” thông tin, họ đồng loạt “kẻ tung người hứng”, “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để cùng chĩa “mũi dùi” vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chiêu trò này tuy không có gì mới, nhưng nó được lặp đi lặp lại càng chứng tỏ họ đã “vạch áo cho người xem lưng”, tự bộc lộ rõ động cơ, mưu đồ chính trị nham hiểm. Vì vậy, bên cạnh việc đặt niềm tin vào kỷ luật công minh của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta để tung ra những ý kiến bình luận sai trái, lệch lạc, cố tình bôi nhọ, bóp méo sự thật, lái dư luận vào những ý đồ đen tối.

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc nhân ngày 30-4

                                                    

Cứ mỗi dịp đất nước ta tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trên một số diễn đàn, đài báo, mạng internet lại rộ lên những thông tin ngược dòng lịch sử, phủ nhận chiến thắng vĩ đại của ngày 30-4, xuyên tạc thành tựu của đất nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới. Chúng lặp lại những câu từ sáo rỗng như “30-4 là ngày quốc hận”, đánh tráo bản chất của cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”. Chúng còn xuyên tạc khi gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là “cuộc chiến tranh mang tính chất ủy nhiệm, chiến tranh mang tính ý thức hệ”...

Khi nhìn về các sự kiện lịch sử nói chung, về chiến thắng 30-4-1975 nói riêng, cần có cái nhìn khách quan, toàn diện, không được thiên kiến hoặc lồng động cơ chính trị để tô hồng hay bôi đen sự thật lịch sử. Những luận điệu xuyên tạc như đã nói ở phần trên, dù có núp dưới danh nghĩa hoặc chiêu trò nào cũng không thể phủ nhận được bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc đối đầu giữa nhân dân Việt Nam chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Đó hoàn toàn không phải là cuộc “nội chiến” hai miền hay “chiến tranh mang tính ý thức hệ” như luận điệu xuyên tạc lịch sử.

Để có được ngày toàn thắng 30-4-1975, nhân dân Việt Nam đã trải qua mấy chục năm chiến đấu gian khổ, hy sinh to lớn với hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống; hàng vạn làng mạc, thành phố bị san phẳng; nhiều di chứng của cuộc chiến đến nay vẫn còn phải tiếp tục khắc phục. Nhưng qua cuộc chiến, Việt Nam một lần nữa lại chứng tỏ trước lịch sử và thế giới về một đất nước kiên cường, bất khuất với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” (Hồ Chí Minh). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) của Đảng khẳng định: Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng còn xuất phát và thể hiện ở khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước, như Bác Hồ đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Ngay như nhiều chính khách, tướng lĩnh của đối phương cũng thừa nhận sai lầm trong cuộc chiến của họ tại Việt Nam. Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong cuốn hồi ký mang tựa đề “Hồi tưởng” xuất bản năm 1995 đã thẳng thắn thừa nhận 11 sai lầm mà Hoa Kỳ đã phạm phải trong cuộc chiến tranh này. Đáng chú ý, ông thừa nhận có những sai lầm sau: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ”. Và: “... Chúng ta không chịu nhận thức về cái gì là lợi ích tốt nhất của đất nước và dân tộc khác”, “Chúng ta không được Thượng đế ban phát quyền nhào nặn một dân tộc khác theo hình ảnh của chúng ta…”. Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ, viết: “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.

Chiến thắng 30-4-1975 là thắng lợi của chính nghĩa và tinh thần dân tộc quật cường, một mốc son chói lọi trong trang sử oanh liệt chống xâm lược, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước và là niềm tự hào to lớn của những người Việt Nam yêu nước, của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới. Thắng lợi ấy, không chỉ chúng ta mà ngay cả nhiều người từ phía bên kia cũng đã thừa nhận. Cho nên những tiếng nói cho rằng 30-4 là ngày “quốc hận”, “đen tối”, ngày “chúng ta rơi vào những âm mưu chính trị và là nạn nhân của các thế lực ngoại bang” trở nên lạc lõng, với thái độ hằn học và ý đồ cố tình xuyên tạc lịch sử, thực tiễn.

Lịch sử đã sang một trang mới kể từ ngày 30-4-1975. Nhà báo người Đức Borries Gallasch là phóng viên nước ngoài có mặt ở Dinh Độc Lập trong buổi trưa lịch sử đó đã thuật lại sự kiện này trong cuốn Ho-Chi-Minh Stadt: Die Stunde Null (Thành phố Hồ Chí Minh, giờ khắc số không). Khi Gallasch tiến vào đến giữa sảnh của dinh thì cửa thang máy bật mở, bước ra là tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một vài người đi từ dưới hầm lên. Dương Văn Minh nói với Gallasch: “Thật tốt cho anh khi có mặt ở đây. Anh sẽ chứng kiến sự chuyển đổi vận mệnh của đất nước tôi vào tay những người xứng đáng hơn”...

Hai mươi năm sau, khi quay trở lại Việt Nam, ông Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, đã phát biểu trước báo chí: “Thời gian quả là dài nhưng nó giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề nhận thấy sự hận thù nào trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không thể tranh cãi”…

Một sự kiện lịch sử, một đất nước với tiền đồ xán lạn được chính đối phương thừa nhận. Và, sự thật ấy đang hiển hiện từng ngày về những đổi thay, ngay cả khi đại dịch Covid-19 hoành hành khắp thế giới những tháng qua thì sự ưu việt của chế độ, tinh thần đại đoàn kết, tương thân tương ái của người Việt Nam tiếp tục được chứng minh và lan tỏa.

Những kẻ nhân danh “dân chủ”, tiếng nói của “giới trẻ”, núp dưới các chiêu trò “khảo sát”, “phỏng vấn” và tự cho cái quyền đưa ra “khuyến nghị”, thực chất là xuyên tạc, phủ nhận lịch sử, kích động hận thù, phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta. Đó là luận điệu thể hiện sự vong ân, xúc phạm xương máu của cha ông, chắc chắn bị lên án và thất bại trước ánh sáng thông tin chính nghĩa của sự thật và lịch sử.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đấu tranh lên án các thế lực thù địch xuyên tạc lịch sử về ngày 30/4/1975

                                                                     Thượng tá Phan Phi Hùng

                                                                     Lớp Cao học 28

Chiến thắng ngày 30/4/1975 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước bước vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội để nhân dân ngày càng có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc… Về ý ngĩa của chiến thắng 30/4/1975, Đại hội IV (1976) của Đảng khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. 

Những ngày này khi mà người dân Việt Nam ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài đang có nhiều hoạt động ý nghĩa để kỷ niệm 46 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018), thì trên mạng xã hội Internet xuất hiện một số bài viết xuyên tạc, nói xấu sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975 …Các bài viết đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, kích động lòng hận thù, phủ nhận sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ người Việt cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Nên ta cần đấu tranh, lên án mạnh mẽ với những thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các đối tượng.

Theo giọng điệu xuyên tạc của họ thì những người theo chân Đế quốc Mỹ phản bội Tổ quốc, tàn sát đồng bào mình lại được họ coi là một sự lựa chọn đúng, là một lý tưởng cao đẹp. Còn cố tình đặt điều, lấp liếm cho hành động đê hèn. Chắc hẳn tác giả của những bài viết đã cố tình quên sự tàn bạo, phi nhân, tội ác mà thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai của chúng đã gây ra cho hàng triệu đồng bào người Việt Nam. Bởi sự thật những gì diễn ra ở miền Nam suốt 20 năm đã tự nó nói lên tất cả về cái tồn tại trong quá khứ của chính thể Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bù nhìn, phản động, tàn ác. Cần nhắc lại nếu cố tình quên rằng: đế quốc Mỹ đã rắp tâm phá hoại cuộc Tổng tuyển cử tháng 7 năm 1956 theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (ngày 21-7-1954) về lập lại hòa bình ở Đông Dương; ở miền Nam Việt Nam, Mỹ lập ra chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm với “Luật 10-59” tàn ác, lê máy chém khắp miền Nam; đó còn là sự tạo cớ của Hải quân Mỹ ở Vịnh Bắc bộ năm 1964 để leo thang đánh phá miền Bắc,…

Do đó, giải phóng miền Nam, xóa bỏ một trật tự lỗi thời, lạc hậu, phản động, một chế độ tay sai, bù nhìn là một tất yếu khách quan. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là một thắng lợi của chính nghĩa, đem lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Để giành lại nền hòa bình, tự do như ngày nay, dân tộc ta đã phải đổi bằng mồ hôi, nước mắt, xương máu và cả tính mạng con người nên dân tộc ta càng thấm thía bài học này. Đúng như Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương, Ông Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30/4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù,…để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt. Gần như gia đình người Việt Nam nào cũng có đóng góp và mất mát cho cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại này”. Đi ngược lại, có những kẻ chóng đối vì động cơ đê hèn để gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Gieo rắc ý thức “quốc hận”, xuyên tạc ngày giải phóng 30/4/1975, chia rẽ mối quan hệ của nhân dân ta. Tư tưởng, quan điểm đó là sự nuôi dưỡng, kích động sự thù địch, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích, cố xuyên tạc sai sự thật lịch sử, lôi kéo những người dân thiếu hiểu biết để tiếp tay cho kẻ thù, có hại cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, cần phải phản bác và đấu tranh.

Chúng ta phải giữ vững lập trường tư tưởng, luôn tỉnh táo, sàng lọc thông tin để không nghe những luận điệu tuyên truyền sai trái và sự xúi giục, kích động của các thế lực thù địch, phần tử xấu; cần nâng cao cảnh giác cũng như cần tuyên truyền rộng rãi âm mưu, ý đồ của chúng cũng như vạch trần mọi thủ đoạn xấu xa ra trước ánh sáng của sự thật.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KIÊN QUYẾT XỬ LÝ NGHIÊM NHỮNG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THOÁI HÓA, BIẾN CHẤT

Đã từ lâu, Đảng ta xác định công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách. Cách đây 11 năm, ngày 21-8-2006, Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Quốc hội cũng đã thông qua Luật phòng, chống tham nhũng từ năm 2005. Việc Đảng ta tái lập Ban Nội chính Trung ương, thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cũng không ngoài mục đích nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, không để cho “quốc nạn” này cản trở công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Không có “vùng cấm”, “vùng nể”, “vùng né”; không có trường hợp ngoại lệ; không bị bất cứ sức ép và sự can thiệp nào là những dấu ấn nổi bật trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng những năm gần đây. Điều đó được thể hiện rõ nét, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng XII (1-2016) đến nay, Đảng ta đã kỷ luật hơn 20 cán bộ cao cấp từ mức khiển trách trở lên. Đó là những cán bộ lãnh đạo đương chức ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Đồng Nai, Hậu Giang và cán bộ lãnh đạo các bộ: Công Thương, Nội vụ; lãnh đạo Liên minh hợp tác xã Việt Nam và lãnh đạo Quân khu 1. Không những vậy, một số cán bộ cấp cao nghỉ hưu cũng bị xử lý kỷ luật do những sai phạm trong thời gian đương chức như nguyên lãnh đạo các tỉnh, thành phố: Hậu Giang, Bình Định, Gia Lai, Vĩnh Phúc, Đắc Nông, Hải Phòng và nguyên lãnh đạo: Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ. Ngoài ra, hàng loạt cán bộ đương chức hay từng giữ chức vụ chủ tịch hội đồng thành viên, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng bị xử lý kỷ luật; có người đã bị khởi tố hình sự, bắt tạm giam. Đấy là chưa kể trong năm 2016, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã xử lý kỷ luật hơn 18.800 đảng viên, trong đó có gần 1.700 đảng viên bị khai trừ ra khỏi Đảng. Nguyên nhân chủ yếu của những đảng viên bị loại khỏi đội ngũ là do tham nhũng hoặc suy thoái nghiêm trọng về tư cách đảng viên. Năm 2017 cũng là năm có nhiều tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật; trong đó, có hai tập thể ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh bị Trung ương thi hành bằng hình thức cảnh cáo, đó là Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020 và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2010-2015. Cách đây 23 năm, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), Đảng ta đã nhận định, tham nhũng là một trong bốn nguy cơ liên quan đến sự tồn vong của Đảng và chế độ. Với quyết tâm làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin trong nhân dân, ngoài ban hành Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về “Những điều đảng viên không được làm”, trong hai nhiệm kỳ liên tiếp, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (năm 2011) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (năm 2016). Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu ra 27 biểu hiện suy thoái cụ thể về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nhận diện, tìm ra nguyên nhân cũng như đề xuất các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ 27 biểu hiện suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là góp phần cắt bỏ những “ung nhọt” trong bộ máy Đảng, Nhà nước, từ đó làm cho “cơ thể” của Đảng, Nhà nước trở nên khỏe khoắn, lành mạnh hơn.

NIỀM TIN VÀO KỶ LUẬT CÔNG MINH CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

Với mục đích củng cố, tăng cường sức mạnh nội lực của Đảng, mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Khoản đầu tiên của Điều 2 về nguyên tắc xử lý kỷ luật nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật này không chỉ là lời cảnh tỉnh, cảnh báo đối với những đảng viên có biểu hiện “nhúng chàm” phải sớm tự giác gột rửa, “cải tà quy chính” để tránh rơi vào vòng lao lý; mà còn khẳng định Đảng ta tiếp tục đề cao kỷ luật, siết chặt đội ngũ và sẽ không dung tha cho bất cứ cán bộ, đảng viên nào cố tình sai phạm, nhất là sa ngã vào con đường thoái hóa, biến chất, tham nhũng, lãng phí, gây tác động tiêu cực đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Pháp luật bất vị thân. Bằng việc kiên quyết “nói không” với tham nhũng; xử lý kịp thời, thích đáng đối với tất cả các trường hợp cán bộ các cấp sai phạm, Đảng ta đã và đang thể hiện tinh thần của “một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” như Bác Hồ mong muốn. Điều có ý nghĩa hơn là, mỗi bước chuyển biến trong phòng, chống “quốc nạn” tham nhũng là một lần nhân lên niềm tin trong nhân dân đối với Đảng ta và chế độ ta. Đó là cơ sở để chúng ta tin vào sức mạnh kỷ luật của Đảng. Bởi vì, với tư cách là đại biểu cho lợi ích trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, trong lịch sử gần 90 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, mỗi quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng đều có tác động tích cực đến niềm tin của nhân dân. Từ niềm tin đó, sức mạnh của nhân dân được nhân lên, sẽ đủ sức “dời non lấp biển”, sát cánh, đồng lòng với Đảng trên con đường hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tin tưởng vào Đảng là niềm tin chính nghĩa, là tin vào những giá trị cao đẹp mà Đảng đã và đang mang lại cho toàn dân ta. Cũng cần nhắc lại rằng, tuy công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước đã đi đúng hướng và đang có những chuyển biến rất quan trọng; nhưng chúng ta cũng không được phép chủ quan, sớm thỏa mãn, hài lòng với những kết quả đã đạt được. Vì cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng liên quan đến con người, tổ chức bộ máy, nhất là đụng chạm đến những cán bộ có chức, có quyền, do đó, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp đồng bộ cả về giáo dục, chính trị, hành chính, kinh tế, cơ chế, chính sách, pháp luật… Mọi biểu hiện nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn, cũng như thái độ cầm chừng, chậm trễ, lơ là trong “cuộc chiến” đầy cam go, phức tạp, nhạy cảm này đều không đúng với tinh thần, phương châm phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Điều quan trọng nhất lúc này đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngoài việc chung tay, góp sức với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kiên quyết đẩy lùi “quốc nạn” tham nhũng, thì bản thân mỗi người phải thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bởi rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, sẽ có hại đến nhân dân”(1).

 

                                             TƯỚNG BẠI TRẬN!


      Lên thay Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống chính quyền Sài Gòn; vị Tổng thống ít ngày Trần Văn Hương đã vinh thăng cho chuẩn tướng Lê Minh Đảo Tư lệnh Sư đoàn 18 Quân đội Sài Gòn lên Thiếu tướng.

      Đảm trách phòng thủ Xuân Lộc tuyến phòng thủ yết hầu cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, Tướng Lê Minh Đảo đã gào thét: “Đánh một trận cho thế giới biết, đánh một trận cho Mỹ thêm viện trợ”. Với tuyên bố này Tướng Lê Minh Đảo đã tự ghi dày thêm vào hồ sơ tội ác của ông ta và gây ra tổn thất to lớn cho cả hai phía. Kết cục Mỹ chẳng thêm viện trợ, còn phòng tuyến Xuân Lộc bị đập tan.

      Là Tướng lục quân chỉ huy Binh chủng hợp thành, Tướng Lê Minh Đảo còn rất giỏi lái Máy bay Trực thăng, ông ta còn có tới 1800 giờ lái Trực thăng an toàn, ông ta có thể lái Máy bay Trực thăng đào tẩu nhưng Tướng Lê Minh Đảo đã không lựa chọn đào tẩu. Sài Gòn thất thủ sau khi không thấy có cảnh tắm máu như tuyên truyền trước đó sáng ngày 02/5/1975 Thiếu tướng Lê Minh Đảo đã đến ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định trình diện chính quyền cách mạng sau đó được chuyển ra miền Bắc học tập cải tạo tại Vĩnh Phúc.

      Sau này Tướng Lê Minh Đảo được phép sang định cư tại Hoa Kỳ theo chế độ di trú hợp pháp, khi được hỏi: “Sau khi Xuân Lộc, rồi Sài Gòn thất thủ sao ông không đào tẩu?”. Lê Minh Đảo trả lời: “Đã là Tướng bại trận thì ở Việt Nam hay ở đâu cũng thế, nên tôi chọn ở lại quê hương”.

      Chiến tranh Việt Nam đã lùi xa, người Việt Nam dù ở đâu, làm gì hãy xóa bỏ mọi thù hằn nghi kỵ, hãy bắt tay nhau thân thiện, cùng xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh.

Cần đánh giá khách quan, công bằng và chính xác

Gần đây, xuất hiện tình trạng đại diện của một số chính phủ, quốc hội, tổ chức quốc tế lên tiếng bênh vực một số cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam, khoác cho những cá nhân này nhãn hiệu là “tù nhân lương tâm, nhà hoạt động môi trường, đấu tranh nhân quyền”. Sự bất thường này can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cho thấy, nếu không tiếp cận vấn đề một cách khách quan, chính xác, tất yếu sẽ dẫn đến những đánh giá sai lầm, thiếu đúng đắn, công bằng. . Từ ngày cái gọi là "phong trào dân chủ" xuất hiện, dư luận ở Việt Nam đã phân tích, chỉ rõ bản chất của nó, và ngay cả nhiều nhân vật chống cộng là người Việt ở nước ngoài cũng đã đề cập, phản đối. Như ngày 5-2-2018, một trang mạng nổi tiếng chống cộng đăng bài của Nguyễn Gia Kiểng - một người Pháp gốc Việt khét tiếng chống cộng, trong đó bên cạnh luận điệu vu cáo, xuyên tạc về Việt Nam, Nguyễn Gia Kiểng cũng phải thẳng thừng vạch rõ bản chất của "phong trào" này, thí dụ: "nhiều "ngôi sao" xuất hiện trên facebook và youtube mờ nhạt dần, có khi trở thành lố lăng, vì không còn gì mới; những người này không đóng góp gì cho cuộc vận động dân chủ. Các nhóm chính trị và các tổ chức xã hội dân sự hình thành hàng loạt trong những năm 2012 - 2015 nhờ sự phát triển của mạng xã hội phần lớn đã rã hàng hoặc mất gần hết thực lực vì chia rẽ nội bộ ngay khi chưa bị đe dọa… Một bạn trong nước mới đây khẳng định tất cả các nhóm và tổ chức - dù là chính trị hay xã hội dân sự - được coi là thành phần của phong trào dân chủ đều đã tan rã. Nguyễn Gia Kiểng chỉ rõ người tham gia "phong trào dân chủ" là "hằn học, thô lỗ", coi "đấu tranh cho dân chủ đồng nghĩa với chống cộng và ủng hộ cánh hữu, những đức tính đáng tôn vinh nơi một lãnh tụ chính trị là giầu sang và tự mãn", "coi danh vọng là tất cả... không thiếu những người coi sự tranh giành địa vị là quan trọng nhất và sẵn sàng liên kết với những người không có cả khả năng lẫn đạo đức nhưng ủng hộ mình... rất nhiều cố gắng trên mạng xã hội để tự đánh bóng mình và bôi nhọ người khác". Nguyễn Gia Kiểng cho rằng, trong khi một số kẻ "mong đợi hoặc cầu cạnh một thế lực ngoại bang giúp đỡ để giành thắng lợi cho dân chủ" lại có "nhiều người hô hào đấu tranh cho dân chủ nhưng lại tôn vinh hai ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu, hai người từng thiết lập một chế độ độc tài gia đình trị, bách hại thẳng tay những người đối lập". Tương tự Nguyễn Gia Kiểng, facebook của Lê Diễn Ðức - nhân vật chống cộng có thâm niên, khi đánh giá về cái gọi là "phong trào dân chủ" cũng cho rằng: "Số người chống đối chế độ thực chất rất ít ỏi, rời rạc, tủn mủn, không thể nào phát triển được", "nhắm mắt trước các tội ác, bất chấp đạo đức và lương tri, thì muôn đời muôn kiếp chống là chỉ chống cho có "phong trào", để kinh doanh "chống cộng" mà thôi!... đừng phong họ là những "anh hùng", những "nhà tranh đấu dân chủ"! Ðừng tưởng có thể lợi dụng họ vào cuộc "cách mạng lật đổ" chính quyền! Càng ảo tưởng bao nhiêu sẽ càng thất vọng bấy nhiêu"… Chống cộng đến "thâm căn cố đế", theo lô-gích thông thường, lẽ ra Nguyễn Gia Kiểng, Lê Diễn Ðức phải ủng hộ mấy người gọi là "tù nhân lương tâm, nhà đấu tranh nhân quyền, nhà hoạt động môi trường", nhưng có lẽ vì quá hiểu, quá thất vọng cho nên Nguyễn Gia Kiểng, Lê Diễn Ðức đã vạch rõ bản chất của mấy người đó, nhận xét họ lợi dụng dân chủ, nhân quyền để "kinh doanh chống cộng" và khẳng định không thể đặt niềm tin vào họ. Ý kiến này không thể khác bởi từ những gì đã diễn ra trên thực tế, chỉ cần điểm qua một số người có hành vi vi phạm pháp luật, đã hoặc đang nhận bản án thích đáng của pháp luật như Nguyễn Văn Lý, Bùi Kim Thành, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Ðặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Hóa, Trần Anh Kim, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Hoàng Ðức Bình, Nguyễn Văn Oai,… có thể dễ dàng thấy rõ họ chỉ lợi dụng dân chủ, nhân quyền, môi trường để tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, lật đổ chính quyền nhân dân, xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… Sau khi được ra nước ngoài định cư, một số người nhanh chóng từ bỏ "đấu tranh", mà điển hình là trường hợp Bùi Kim Thành đến Mỹ mới ít ngày đã được cộng đồng gốc Việt ở đây coi là "tâm thần, diễn viên hài", và nhận xét Nguyễn Chính Kết: "cái dũng và tinh thần của Nguyễn Chính Kết đã chết, dù thân xác của ông lang thang đó đây nơi xứ người, qua sự sai khiến của một nhóm muốn lợi dụng cái xác cò vơ cò vất như ma đói của ông". Điều đáng tiếc, những con người như vậy do thiếu thông tin, tìm hiểu cũng như cách tiếp cận công bằng, chính xác lại trở thành đối tượng được đại diện chính phủ, quốc hội ở một số quốc gia và một số tổ chức nhân danh nhân quyền đứng ra bảo vệ, lấy đó làm cơ sở phê phán Nhà nước Việt Nam, đưa ra các đòi hỏi hết sức phi lý. Dường như đến nay, việc bảo vệ, cưu mang Bùi Kim Thành vẫn chưa đưa tới cho họ bài học về sự tỉnh táo, vì thế một số người vi phạm pháp luật Việt Nam vẫn được họ ca ngợi, đỡ đầu? Thái độ của họ được coi như "phao cứu sinh", để sau khi vi phạm pháp luật và bị tòa án nhân dân xét xử là một số người lại kêu gọi "quốc tế can thiệp". Thậm chí, một số người có việc làm rất kỳ quặc là ký "thư ngỏ" đưa lên internet (in-tơ-nét) để gửi tới Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga - hai người đang chịu án tù, vận động… "hãy ra đi". Thời gian gần đây, xu hướng thiếu tỉnh táo đó như không được kiểm soát, điển hình là các sự kiện: Ngày 2-2, Ðại sứ quán Mỹ tại Hà Nội ra thông cáo bày tỏ sự quan ngại về bản án với Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Ðiển, Trần Hoàng Phúc, Hồ Văn Hải; ngày 7-2, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ "quan ngại về bản án với hai nhà hoạt động Hoàng Ðức Bình, Nguyễn Nam Phong, kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm ngay lập tức"; ngày 7-2, đặc trách nhân quyền của Chính phủ Ðức ra tuyên bố "chỉ trích việc Hà Nội kết án nhà hoạt động nhân quyền Hoàng Ðức Bình"; ngày 13-2, RFA cho biết Ðại sứ quán Australia (Ô-xtrây-li-a) tại Hà Nội cùng Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Văn Oai, Trần Thị Nga; ngày 15-2, Ủy ban Tom Lantos của Quốc hội Mỹ tổ chức cái gọi là "điều trần về chương trình kết nghĩa với tù nhân lương tâm, trong đó đề cập 169 tù nhân lương tâm Việt Nam"; ngày 28-1, HRW (Theo dõi nhân quyền) đòi "hủy bỏ các cáo buộc, trả tự do ngay lập tức" cho Hoàng Ðức Bình; ngày 23-2, RFA đưa tin chuyên gia nhân quyền của Liên hợp quốc kêu gọi Việt Nam trả tự do "những người bị kết án tù vì các hoạt động phản đối Formosa xả chất thải độc hại ra môi trường"... Trên thực tế, có thể thấy nhiều đánh giá, đòi hỏi thiếu khách quan, bất chấp sự thật được đưa ra và khó có thể chấp nhận khi đó là quan điểm của đại diện chính phủ, quốc hội ở một số nước. Như với Hoàng Ðức Bình, tài liệu cho thấy Hoàng Ðức Bình từng thực hiện một chuỗi hành vi phạm pháp, cấu kết với một số người lợi dụng sự cố môi trường biển ở miền trung Việt Nam để tổ chức hoạt động gây rối. Nếu có thái độ khách quan, đại diện một số chính phủ, quốc hội nên đặt câu hỏi: Hoàng Ðức Bình có thật sự là "nhà hoạt động vì môi trường" hay không khi trước đó anh ta tham gia một số tổ chức, hội nhóm chống đối chính quyền, bị bắt tạm giữ 24 giờ, bị xử phạt vì tàng trữ, phát hành xuất bản phẩm, sản phẩm in không phải là xuất bản phẩm, song anh ta lại không nộp phạt mà trốn về Nghệ An tiếp tục đăng tải trên facebook cá nhân các thông tin, tài liệu sai trái, tích cực cùng kẻ xấu tổ chức hoạt động gây rối trật tự, an toàn xã hội? Về hoạt động gây rối, không cần tới tài liệu do Việt Nam cung cấp, chỉ cần tìm trên in-tơ-nét sẽ thấy rất nhiều video-clip mô tả các hoạt động Hoàng Ðức Bình tham gia đập phá ô-tô của công an, chặn quốc lộ, gây ách tắc giao thông. Các hành vi đó nếu xảy ra ở Mỹ, CHLB Ðức, Australia,… chắc chắn cũng sẽ không thoát khỏi việc bị kết tội, xử phạt rất nghiêm khắc. Ở một góc độ khác, dù có thái độ chống đối Nhà nước Việt Nam nhưng trong status (dòng trạng thái) đăng trên facebook ngày 7-1 mới đây, Lê Diễn Ðức vẫn phải thừa nhận: "chế độ cũng đã làm được khá nhiều việc để thay đổi đất nước, làm thỏa mãn được đa số quần chúng về vật chất và giải trí. Tăng trưởng kinh tế ở mức cao, Việt Nam vẫn là mảnh đất hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài. Họ có quan hệ hợp tác quốc tế rất tốt, với tất cả các nước, trong đó có Mỹ và phương Tây, những quốc gia thừa nhận hệ thống chính trị của họ. Các quyền tự do cho công dân được nới lỏng nhiều so với hơn 20 năm trước đây. Dân được tự do làm giàu, mua sắm nhà cửa, sang nhượng đất đai, đi học và du lịch nước ngoài… Hàng hóa tràn ngập thị trường, chiều theo túi tiền của mọi khách hàng từ giàu đến nghèo… hàng trăm nghìn người Việt ở nước ngoài - những người từng chống chế độ, mỗi năm vẫn về thăm quê hương, vẫn gửi tiền về Việt Nam, vẫn tìm cơ hội làm ăn kiếm tiền, mua nhà cửa…". Mô tả của Lê Diễn Ðức đã cho thấy một sự thực không thể chối cãi, cũng như việc không thể không thừa nhận một phần thành tựu của Việt Nam, đó là thành tựu nhân quyền. Và từ thực tế này, tất nhiên không thể coi người xuyên tạc, cản trở, phá hoại quá trình Việt Nam đạt tới thành tựu đó là "tù nhân lương tâm, nhà đấu tranh nhân quyền, nhà hoạt động môi trường". Và đáng tiếc, trong khi người chống đối Việt Nam thừa nhận như vậy, trong khi các nguyên thủ quốc gia khẳng định "Việt Nam thật sự trở thành một trong những điều kỳ diệu của thế giới, và rất ấn tượng", "coi trọng vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế", quan hệ với Việt Nam thể hiện "các lợi ích chung, tôn trọng lẫn nhau",… thì đại diện chính phủ, quốc hội ở các quốc gia đó lại có hành xử ngược chiều. Còn ý kiến của HRW, RFS (Phóng viên không biên giới), CPJ (Bảo vệ nhà báo), FH (Nhà tự do),… thì thiết nghĩ không cần bàn luận nhiều, bởi các tổ chức này sinh ra không phải vì nhân quyền, mà nhân quyền là chiêu bài để phục vụ mưu đồ của các thế lực đã tạo dựng, dung dưỡng họ.

 

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỀU XUYÊN TẠC VỀ DỊCH BỆNH COVID-19 TẠI VIỆT NAM


 Những ngày qua, kể từ khi những ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam, chúng ta đã liên tục đưa công khai thông tin về tình hình dịch bệnh, về những chỉ đạo của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành… Tuy nhiên, bất chấp sự thật đó, một bộ phận kẻ xấu ở trong và ngoài nước vẫn lu loa rằng, Việt Nam không phán ánh đúng sự thật về dịch bệnh và các biện pháp của Chính phủ là “mị dân”. Vậy mục đích của họ là gì?

Phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch Covid-19 là vấn đề hết sức nhạy cảm, có liên quan trực tiếp đến sức khỏe của mọi người nên đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của quần chúng nhân dân trong thời gian qua. Lợi dụng điều này, những kẻ xấu, những phần tử cơ hội chính trị đã tìm cách tuyên truyền, chống phá, gây bất ổn về trật tự xã hội, gây hoang mang dư luận, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân. Các quyết sách mà Đảng và Chính phủ đưa ra đều rất nhân văn, hướng đến mục đích cao nhất là đảm bảo tính mạng con người và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đã cố tình bóp méo và cho rằng, đó là “mị dân”. Những nội dung thông tin do các cơ quan chính thống cung cấp bị chúng xuyên tạc là “không phản ánh đúng sự thật”. Từ đó chúng tìm cách thổi phồng tình hình dịch bệnh, thổi phồng những thiếu sót khuyết điểm để bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Nghiêm trọng hơn, các thế lực thù địch lợi dụng việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 để chia rẽ chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới. Từ câu chuyện “đóng cửa biên giới hay không đóng cửa biên giới”, đến việc các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện dịch bệnh phức tạp đều bị chúng lợi dụng xuyên tạc, bóp méo để chống phá. Hệ lụy từ các hành vi xuyên tạc, bịa đặt và thông tin sai sự thật của các thế lực thù địch là hết sức nghiêm trọng đối với xã hội. Những thông tin như thế này đã gây ra những bất ổn về an ninh, trật tự xã hội thể hiện rất rõ trong thời gian qua khiến người dân hoang mang, đổ xô đi vào cửa hàng, siêu thị tích trữ hàng hóa, lương thực thực phẩm để “phòng chống dịch bệnh lâu dài” dẫn đến hệ lụy về việc thổi giá, tăng giá, đầu cơ hàng hóa.

Để phòng chống nạn tin tức giả mạo, xấu độc trong đợt dịch Covid-19 này, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền hiện nay là rất quan trọng, làm sao cho người dân hiểu đúng, có kiến thức về dịch bệnh và có thái độ ứng xử phù hợp để không tin vào những luận điệu sai trái, những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vững vàng, không hoang mang xao động trước những thông tin bịa đặt.

Bên cạnh sự tích cực vào cuộc của các cơ quan truyền thông thì chính mỗi người dân cũng phải tỉnh táo nhận diện nguồn thông tin chính thống để tiếp nhận đồng thời loại bỏ thông tin ngoài luồng, xuyên tạc. Người dân có hiểu biết, có kiến thức, khi tham gia vào không gian mạng sẽ luôn là một “người tiêu dùng thông thái” biết lựa chọn “những sản phẩm tốt nhất” cho mình”. Cùng với đó muốn chống lại tin tức giả, xấu độc, các nhà báo cũng phải liên tục sàng lọc, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đồng thời cung cấp thông tin chính thống có độ chính xác, tin cậy cao để phản bác lại những thông tin xấu độc, sai sự thật.

Trên thực tế, cộng đồng quốc tế, trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đều đánh giá cao sự công khai minh bạch thông tin của Việt Nam. Thậm chí, ngay khi có bất kỳ ca nhiễm bệnh mới nào, chúng ta cũng đều công khai chi tiết thông tin. Tôi cho rằng, tất cả những gì chúng ta đang làm đã là câu trả lời thuyết phục. Chúng ta không cần giải thích với những người luôn có định kiến rằng, những thông tin đến từ các cơ quan truyền thông chính thống là giả mạo”./.

 

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy giảm vai trò quản lý của Nhà nước

Có nhiều bạn đọc thắc mắc hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có ảnh hưởng thế nào tới vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội, thậm chí có người còn ngây thơ cho rằng: “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không ảnh hưởng gì đến vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước”. . Nhưng thực tế thì nó có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước, làm suy giảm dẫn đến mất vai trò quản lý của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là vì: “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong bộ máy Nhà nước sẽ diễn ra trong các tổ chức của bộ máy Nhà nước, chính quyền các cấp từ Trung ương tới cơ sở và diễn ra trong mỗi cán bộ, công chức, viên chức. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ tác động đến việc hoạch định chủ trương, chính sách của Nhà nước và cả trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách này. Tức là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trên cả phương diện lập pháp, tư pháp và hành pháp. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra ở bộ máy Nhà nước sẽ làm cho bản chất Nhà nước kiểu mới - Nhà nước của dân, do dân, vì dân bị suy giảm và có thể dẫn tới sự biến chất của bộ máy Nhà nước. Nhà nước sẽ không còn thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý, điều hành xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay nước ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập quốc tế. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sẽ làm cho đội ngũ này không còn là “công bộc” của dân, sống xa dân, quan liêu, hách dịch, ức hiếp nhân dân, không còn vì lợi ích của dân. Quan hệ giữa nhân dân với chính quyền Nhà nước, nhất là quan hệ giữa nhân dân với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức ngày càng trở nên lỏng lẻo, thậm chí sẽ dẫn đến sự đối lập giữa nhân dân và chính quyền. Điều đó dẫn tới sự suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, công chức, viên chức, khiến cho mọi lời nói, việc làm của đội ngũ này không còn sức thuyết phục, động viên, cổ vũ nhân dân noi theo, làm cho mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước không được thực hiện nghiêm túc. Càng ngày, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” càng làm mất vai trò quản lý điều hành của Nhà nước đối với xã hội. Quần chúng nhân dân sẽ không còn đồng tình, ủng hộ các chính sách của Nhà nước, thậm chí là phản đối, chống đối lại các chính sách. Như vậy ta có thể thấy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hết sức nguy hiểm đối với bộ máy Nhà nước và mọi cán bộ, công chức, viên chức, do đó việc phòng, chống hiện tượng này là hết sức cấp thiết và là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong bộ máy Nhà nước.

“Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc” - một luận điểm xuyên tạc trắng trợn, lố bịch của những kẻ thù địch, cơ hội

Cả nước bước vào năm 2018 với tâm thế tự tin và phấn khởi trước những thành tựu đạt được trong năm 2017 và đón chào ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, như thường lệ, cứ vào dịp này, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại gióng lên hồi chuông hùa nhau chống phá Đảng ta một cách trơ trẽn, lố bịch. Một trong những luận điệu cũ rích mà họ đưa ra là: “Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc”. . Họ xuyên tạc rằng, ngay từ khi thành lập, Đảng đã coi lợi ích giai cấp trên lợi ích dân tộc và thậm chí, đặt lợi ích của mình cao hơn lợi ích dân tộc; chỉ chú ý củng cố quyền lực của giai cấp, thao túng, bao che cho “các nhóm lợi ích” làm giàu, bất chấp nhân dân nghèo đói, đất nước tụt hậu(!) Với lập luận đó, mưu đồ của họ là làm mất uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, với dân tộc! Sự xuyên tạc của luận điệu này bị chính thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng bác bỏ. Bởi, ngay từ đầu và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lợi ích của dân tộc gắn liền với lợi ích giai cấp. Điều đó xuất phát từ quan điểm: cách mạng Việt Nam gắn liền và là một bộ phận của cách mạng thế giới. Thực tế lịch sử cho thấy, vấn đề lớn nhất của nhân dân ta trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là làm sao giải phóng được dân tộc khỏi áp bức, thống trị của thực dân, phong kiến, để đất nước độc lập, nhân dân được tự do. Để trả lời câu hỏi ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra, nhiều chí sĩ cách mạng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, với ý thức dân tộc mạnh mẽ đã làm tất cả để tìm ra câu trả lời cho dân tộc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1. Khát vọng cao cả, ước mơ cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc: dân tộc được giải phóng, được làm chủ; Tổ quốc được độc lập, thống nhất, giàu mạnh; nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Và đó cũng là động lực, là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Để đi đến mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, từ buổi đầu tìm đường cứu nước và trong mỗi giai đoạn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta đều nhìn nhận đúng vấn đề dân tộc và giải quyết hài hòa quan hệ giai cấp - dân tộc. Trong khi Quốc tế Cộng sản (do yêu cầu của châu Âu lúc đó) chỉ nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi, “nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”2. Chính vì vậy, trong “Chánh cương vắn tắt”, Người chủ trương:“Tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh, để đi tới xã hội cộng sản”3. Tư tưởng đúng đắn, phù hợp đó được cụ thể hóa thành đường lối của Đảng, lập tức thu hút và tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời, khắc phục triệt để xu hướng dân tộc cải lương tư sản cũng như chủ nghĩa phiêu lưu tiểu tư sản (đang là trào lưu chính lúc đó), bảo đảm cho cách mạng phát triển và vượt qua những thách thức thời kỳ Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), vận động dân chủ (1936 -1939), cao trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930), trên thế giới đã có các cuộc cách mạng của giai cấp công nhân giành được chính quyền, trong đó điển hình là Cách mạng Tháng Mười Nga (07-11-1917) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là V.I. Lê-nin. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là cuộc vùng dậy giành chính quyền với sức mạnh to lớn của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là thành quả vĩ đại của sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; thành quả của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần: “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Thắng lợi đó, trước hết là nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta có đường lối đúng, nắm bắt và triệt để tận dụng thời cơ chín muồi; đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết, nên đã động viên, tập hợp được lực lượng cho cách mạng. Sức mạnh của đoàn kết dân tộc cũng là nhân tố bảo đảm cho chính quyền cách mạng non trẻ đứng vững trước “thù trong, giặc ngoài”, trong bối cảnh tình thế đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là cuộc đụng đầu lịch sử, lâu dài, khó khăn và vĩ đại nhất của dân tộc ta với những tên đế quốc sừng sỏ nhất. Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”4, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”5, nhân dân cả nước và kiều bào nước ngoài, “không phân biệt tôn giáo, đảng phái”, đã đoàn kết muôn người như một, phát huy cao độ truyền thống của dân tộc, chiến đấu, hy sinh, chiến thắng vẻ vang quân xâm lược, thu giang sơn về một mối. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước gặp những khó khăn mới, bị bao vây cấm vận từ mọi phía. Cả dân tộc lại cùng với Đảng gồng mình vượt qua “thiếu thốn trăm bề”, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Kết quả đó là nhờ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, luôn đặt “độc lập, tự do” của dân tộc lên trên hết, quy tụ và lãnh đạo toàn dân chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhận thức rõ trách nhiệm trước dân tộc, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới và coi đó là “vấn đề sống còn” của đất nước, dân tộc. Để đổi mới thực sự vì lợi ích của nhân dân, phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, Đảng đã “nhận thức lại” một số vấn đề về lý luận, nhất là những nội dung giáo điều, xơ cứng. Trên cơ sở giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương đẩy mạnh thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập quốc tế, coi trọng phát triển kinh tế tư nhân,…; đồng thời, phê phán những tư duy rập khuôn, máy móc, cản trở sức sáng tạo của nhân dân. “Ý Đảng hợp lòng dân”, Đảng ta vững tay chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, đưa đất nước ngày càng phát triển. Sự nghiệp đổi mới xét về bản chất mang tính nhân dân sâu sắc, vì nó bắt nguồn từ lợi ích dân tộc, quyền lợi của quần chúng và do nhân dân thực hiện. Chính những sáng kiến từ cơ sở, từ cuộc sống được tổng kết thành đường lối đổi mới của Đảng nên phù hợp với nhu cầu thực tiễn, được toàn dân ủng hộ và thực hiện một cách sáng tạo. Nhờ đó, công cuộc đổi mới đã giải phóng mạnh mẽ mọi tiềm năng của đất nước, khơi dậy được nhân tài, vật lực cho công cuộc phát triển. Những năm qua, trong bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nhưng kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng ổn định. Đặc biệt, năm 2017, trong điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, thiên tai khắc nghiệt, nhưng nước ta đều đạt và vượt 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra; trong đó, tăng trưởng GDP đạt 6,81%, là mức cao so với khu vực và thế giới. Việt Nam được đánh giá kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu đạt cao; là điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế và thu hút đầu tư. Việt Nam được nhìn nhận là quốc gia khởi nghiệp mạnh mẽ; có trên 50% dân số (50 triệu người) dùng in-tơ-nét, luôn bắt kịp với sự phát triển của công nghệ thông tin thế giới. Cùng với kinh tế - xã hội, lĩnh vực quốc phòng - an ninh và đối ngoại cũng đạt được nhiều thành tựu. Sức mạnh quốc phòng được tăng cường đáng kể, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ý thức rõ vai trò của một đảng cầm quyền và trọng trách trước dân tộc, nhân dân, nên luôn coi trọng “tự chỉnh đốn”, “tự soi, tự sửa”. Trước tình hình một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất, tham nhũng, hối lộ, vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng trong công tác cán bộ và quản lý kinh tế,... Đảng ta đã nhấn mạnh: bất cứ ai, ở cương vị nào mà vi phạm kỷ luật đều phải xử lý nghiêm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Quán triệt quyết tâm của Đảng, thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả cụ thể, tích cực. Các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý rất kiên quyết, nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu. Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Thanh tra Chính phủ tập trung kiểm tra, thanh tra, kết luận các sai phạm và quyết định kỷ luật hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét kỷ luật nghiêm đối với nhiều tổ chức, cá nhân để xảy ra sai phạm. Riêng ngành Thanh tra đã triển khai hơn 6.800 cuộc thanh tra hành chính, gần 260.000 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 219 vụ, 481 bị can; Tòa án Nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 205 vụ, 433 bị cáo về các tội tham nhũng, v.v. Kết quả nêu trên đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Gần chín thập kỷ đồng hành cùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn phấn đấu vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, đưa đất nước không ngừng phát triển. Thực tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất phản bác luận điệu “Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc”. Luận điệu đó của những kẻ “gắp lửa bỏ tay người” là sự xuyên tạc trắng trợn, trơ trẽn và lố bịch.

 

            

VIỆT NAM CHUẨN BỊ PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT VACCINE


Ngày 14/4/2021, Ban chỉ đạo phòng chống COVID-19 thống nhất tìm kiếm các nguồn vắc-xin, chuẩn bị phương án đầu tư sản xuất nếu thử nghiệm thành công vắc-xin nội.

Đại diện Bộ Y tế cho biết, đến nay đã tiêm vắc-xin COVID-19 của hãng AstraZeneca cho hơn 60.100 người tại 19 tỉnh, thành phố; và việc tiêm vắc-xin ở trong nước vẫn đảm bảo an toàn. Trên thế giới, nguồn cung vắc-xin đang khan hiếm, các nước đua tranh khốc liệt để có được vắc-xin. Do đó, Việt Nam cố gắng sớm có vắc-xin sản xuất trong nước. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương trình phương án cụ thể, rõ ràng về việc đàm phán mua các loại vắc-xin nước ngoài, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, nghị quyết của Chính phủ. Trên cơ sở đó, Bộ KH&ĐT khẩn trương thẩm định, trình Chính phủ.

Tại cuộc họp, đại diện Bộ Y tế, Chương trình Quốc gia nghiên cứu phát triển vắc-xin báo cáo tiến độ nghiên cứu, kết quả thử nghiệm các loại vắc-xin trong nước. Trong đó, vắc-xin thứ 3 của Việt Nam, Covivac của VABIOTECH, sẽ được thẩm định và thông qua đề cương nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1-2 trong tháng 7. Thường trực Ban chỉ đạo đề nghị các lực lượng tiếp tục đẩy nhanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thử nghiệm lâm sàng vắc-xin, chuẩn bị phương án đầu tư, sản xuất khi thử nghiệm thành công.

Về vắc-xin Nano Covax, Giám đốc Học viện Quân y cho biết: Ngày 15/4 kết thúc việc lấy mẫu máu của người được tiêm vắc-xin thử nghiệm tại 2 điểm nghiên cứu ở Hà Nội và Long An. Dự kiến đầu tháng 5, Học viện Quân y sẽ báo cáo Bộ Y tế và Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học quốc gia xem xét, đánh giá các cơ sở khoa học của giai đoạn 2 vắc-xin Nano Covax, cho phép xây dựng một liều tiêm tối ưu. Tiếp đó, vừa hoàn thiện giai đoạn 2 vừa tiêm giai đoạn 3.

Với 554 người tiêm thử nghiệm, sau khi tiêm mũi 2, các tình nguyện viên có triệu chứng sốt nhẹ, đau chỗ tiêm, đau cơ, đau khớp, mệt mỏi… nhưng hết nhanh, không cần can thiệp y tế. Không có trường hợp nào sốt cao hay phản ứng phụ nặng nề. Hiện tại, sức khỏe sau tiêm của các tình nguyện viên đều ổn định. Những dữ liệu ban đầu cho thấy, Nano Covax an toàn với người được tiêm, kháng thể tăng cao, khả năng trung hòa virus tốt./.