Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

Một sự thật không thể chối cãi

Ngày nay, “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai” đang là phương châm có tính chỉ đạo để Việt Nam và Mỹ xây dựng quan hệ đối tác toàn diện phát triển sâu rộng, hiệu quả. Đáng tiếc là trong bối cảnh đó, vẫn có người “khơi lại quá khứ” để biện hộ cho thất bại, hạ thấp sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam. . Năm 1985, trong cuốn Giải phẫu một chiến tranh: Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm lịch sử hiện đại (Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience, xuất bản tại Mỹ; bản tiếng Việt nhan đề Giải phẫu một cuộc chiến tranh do NXB Quân đội nhân dân phát hành năm 1991), đề cập Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân dân Việt Nam, nhà sử học người Mỹ là G.Kolko (G. Côn-cô) viết: "Cuộc tiến công Tết 1968 là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam… Những chiều cạnh chính trị, quân sự và tâm lý của nó rất to lớn và rộng rãi cho nên bất kỳ giải thích đơn giản nào sẽ không nói lên được tính chất thật sự quan trọng hơn nhiều của tình trạng chiến tranh giữa chủ nghĩa đế quốc và các phong trào cách mạng trong lịch sử hiện đại…". Kết luận của G.Kolko ra đời từ việc ông xem xét Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 không đơn thuần là một trận đánh, mà xem xét với tính cách một sự kiện có vai trò quyết định, từ đó phân tích ý nghĩa nhiều mặt của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vì đã tạo ra bước ngoặt của chiến tranh. Ðó cũng là điều gần đây, các tác giả bộ phim Chiến tranh Việt Nam (Vietnammese War, gồm 10 tập, ra mắt ngày 17-9-2017) đã dành tập 6 có tên là Tan rã (Things Fall Apart) đề cập tới vai trò và ý nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; và dù còn có những nhìn nhận khác biệt, các tác giả làm phim vẫn phải thừa nhận: Năm 1968 trở thành năm bước ngoặt trong lịch sử cuộc chiến Việt Nam và lịch sử nước Mỹ. Vào đầu năm 1968, 485 nghìn lính Mỹ đóng ở Việt Nam và lãnh đạo Mỹ hứa hẹn về triển vọng chiến thắng rằng thật sự đã thấy "ánh sáng cuối đường hầm". Nhưng rồi Bắc Việt Nam đã phát động tiến công tổng lực, họ chịu thất bại, nhưng về lâu dài hóa ra lại là một thắng lợi còn lớn hơn. Không có ý nghĩa nào khác, sự ra đời của phim Vietnammese War là nối dài "hội chứng Việt Nam" - khái niệm do Tổng thống Mỹ R. Reagan (R. Ri-gân) đưa ra lần đầu vào ngày 18-8-1980. Nói cách khác thì sau hơn 40 năm "hội chứng Việt Nam" vẫn đeo bám suy nghĩ của một số người ở Mỹ, họ cố gắng lý giải để rút ra bài học. Ðiều này là bình thường nếu trong các ý kiến đó không nổi lên vài kết luận bất thường, thí dụ: "Mỹ không hề thua một trận chiến nào trước quân Bắc Việt, nhưng thua cả cuộc chiến", "thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh"! Bất thường hơn, có người lại cổ vũ cho các kết luận này, từ đó cho rằng "Việt Nam hy sinh quá nhiều để giành độc lập"! Từ tâm thế của kẻ mạnh, những người kết luận như vậy đã không thể tin một trận đánh mà Mỹ và đồng minh có ưu thế vượt trội lại có thể thua. Như theo Hồ sơ 16.105 Tình hình quân sự năm 1967 của "phủ thủ tướng Việt Nam Cộng hòa" đến cuối năm 1967, quân số của Mỹ và đồng minh ở miền nam Việt Nam gồm 1.333.546 người, hơn 2.000 máy bay, 3.300 trực thăng các loại, 267 tàu chiến cỡ lớn, hơn 1.500 tàu xuồng tuần tra cỡ nhỏ. Trong khi đó, theo Tài liệu số 790 của Trung tâm lưu trữ - Bộ Quốc phòng Việt Nam, thì đầu năm 1968 ở miền nam, lực lượng quân sự của cách mạng tổng cộng 277.000 người, và hoàn toàn không có không quân, hải quân. Các con số cho thấy khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra, Mỹ và đồng minh áp đảo về quân số, vũ khí, phương tiện quân sự. Vì thế, người coi chiến trường là nơi quyết định một cuộc chiến tranh và lại không quan tâm vấn đề có tính nguyên tắc xuyên suốt trong chiến lược của cách mạng Việt Nam là luôn kết hợp hữu cơ, linh hoạt giữa chính trị, quân sự, ngoại giao,… sẽ không thể hiểu tại sao lại thất bại. Về vấn đề này, nhà sử học G. Kolko nhận thức khá rõ. Ông lý giải khi đề cập khái niệm "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" và coi đó là sáng tạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam: "Tổng công kích và tổng khởi nghĩa có thể đồng thời hoặc nối tiếp nhau. Không nhất thiết phải đưa lại thắng lợi cuối cùng nhưng ít nhất sẽ đánh vào "ý chí" của Mỹ, làm tổn hại nghiêm trọng quân đội Việt Nam cộng hòa, chuẩn bị điều kiện cho sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội đó. Ðảng Cộng sản Việt Nam xem khái niệm này là một công thức linh động, được áp dụng một cách sáng tạo tùy theo các hoàn cảnh, mở ra khả năng có thể thúc đẩy những sự kiện tự phát". G. Kolko viết tiếp: "Cách mạng luôn hiểu rõ rằng hoạt động quân sự luôn phụ thuộc vào đấu tranh chính trị, cách mạng luôn đánh giá toàn bộ các vấn đề mà mình phải đương đầu. Với cách như vậy, cách mạng đã đủ khả năng bù lại cho việc còn thua kém về vật chất của mình bằng việc phát huy cao độ các khả năng của con người… Người ta nói rằng Việt cộng sẽ không thể giữ các thành phố, và đó có lẽ là đúng. Nhưng họ đã chứng minh rằng mặc dù tất cả các báo cáo về tiến độ, về sức mạnh của chính phủ, sự yếu kém của kẻ thù, rằng nửa triệu lính Mỹ, với 700.000 đồng minh của Việt Nam, với không quân, hải quân, được hỗ trợ bởi nguồn lực khổng lồ và vũ khí hiện đại nhất mà chúng ta không thể bảo vệ được ngay cả một thành phố duy nhất trước các cuộc tiến công của kẻ thù với sức mạnh của khoảng 250.000 người". Về ý nghĩa của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, G. Kolko cho rằng: "Vào năm 1968, chiến tranh Việt Nam đã trở nên khó phân tích hơn rất nhiều, bởi quá trình diễn biến của cuộc xung đột kéo dài đã làm cho nó không chỉ là một cuộc đấu tranh quân sự mà còn là cuộc đấu tranh trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, hệ tư tưởng và con người trở thành ngày càng trọng yếu. Trong tất cả những nhân tố đó, không nhân tố riêng rẽ nào có tính chất quyết định nhưng tác động qua lại giữa chúng với nhau sẽ hình thành kết quả cuối cùng của chiến tranh. Ðối với Mỹ, Tết là sự đối đầu với thực tế, đã bị trì hoãn quá lâu; trước đó Mỹ bị mê hoặc bởi chính các ảo tưởng, các tham vọng và các nhu cầu của chính mình… Cuộc tiến công càng làm cho tình hình nghiêm trọng thêm và nhìn từ mặt này thì cách mạng Việt Nam đã đạt được lợi thế quyết định trong toàn bộ cuộc đấu tranh của mình… Cách mạng Việt Nam đã đạt các mục tiêu chiến lược chính của cuộc tiến công Tết, buộc Mỹ phải rời bỏ lĩnh vực của sự ao ước để đương đầu với lĩnh vực của sự cần thiết… Tết là ngưỡng cửa trong sự phát triển của chiến tranh, là một điểm ngoặt rất lớn bảo đảm rằng cách mạng không thể bị đánh bại. Tất cả những chiều cạnh tổ chức xã hội, kinh tế và con người diễn biến rất nhanh chóng, ngày càng có ý nghĩa cho kết quả cuối cùng của chiến tranh, và dù ngay lúc đó chúng có vẻ mập mờ và u ám như thế nào, thì rõ ràng cuối năm 1968, chúng đã tỏ ra quyết định". Về điều này, các tác giả của cuốn sách The Lessons of Vietnam War (Những bài học của chiến tranh Việt Nam - xuất bản tại Mỹ năm 1988) cũng viết: "nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ". Ngày 18-11-2017 mới đây, trong bài nhan đề Thiên tài chiến lược của Bắc Việt (The Genius of North Vietnam’s War Strategy, đăng tại thedailybeast.com) đề cập Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tác giả J. Warren (J. Goa-ren) đã viết: "mục tiêu quan trọng của cuộc tiến công Tết không phải để chiếm giữ đất đai. Thay cho điều đó, nó đã giáng một đòn tâm lý nghiêm trọng vào chính phủ và công chúng Mỹ, bằng sự phơi bày sự phá sản chiến lược của Mỹ một cách rất bi đát… Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã buộc Washington phải nghiên cứu lại chính sách, chiến lược của Mỹ". Ý nghĩa, vai trò quyết định của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là không thể phủ nhận, hay nói như G. Kolko, đó là "một điểm ngoặt rất lớn bảo đảm rằng cách mạng không thể bị đánh bại". Nên không phải ngẫu nhiên ngay tháng 3-1968, nghĩa là chưa đầy hai tháng sau khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nổ ra, L. Johnson (L. Giôn-sơn) - Tổng thống Mỹ khi đó, đã có một số quyết định quan trọng như: đồng ý để R. McNamara (R. Mắc-na-ma-ra) thôi giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng; cách chức chỉ huy quân đội Mỹ ở miền nam Việt Nam của W. Westmoreland (W. Oét-mô-len); tuyên bố ngừng mọi hoạt động không quân và hải quân chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ vĩ tuyến 20 trở ra; đồng ý đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa… Vì thế xét đến cùng, các kết luận hạ thấp ý nghĩa Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 chỉ nhằm biện hộ cho thất bại và làm lạc hướng dư luận. Về bản chất, đó chỉ là ý kiến chủ quan của một số người tôn thờ vũ khí luận, lấy đếm xác người trên chiến trường để đánh giá thắng - thua kết hợp với phép thắng lợi tinh thần để tự tưởng tượng, tự an ủi về những trận đánh mà họ tự coi là… "đã thắng"! Để đi tới thắng lợi cuối cùng vào ngày 30-4-1975, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống và chúng ta không bao giờ quên công ơn những người đã hy sinh vì đất nước. Hy sinh đó chỉ trở nên "khó hiểu" với những ai không dám nhìn thẳng vào sự thật, cố tình không chấp nhận sự thật là sức mạnh quân sự không thể khuất phục ý chí một dân tộc đoàn kết, quyết tâm, kiên trì đấu tranh vì độc lập, vì danh dự dân tộc; càng "khó hiểu" hơn với người không đủ khách quan để thừa nhận vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình và sáng tạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến đấu giành lại Tổ quốc. Hy sinh, mất mát của cha anh trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và trong quá trình cách mạng là có thật. Những hy sinh mất mát đó đã đem lại kết quả vĩ đại là đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất. Vì thế, trước khi muốn nhắc đến hy sinh của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh, ai đó hãy nghĩ tới những gì mà hy sinh đó đem lại; và cũng nên nhớ trong 30 năm chiến tranh, người ta đã trút xuống đất nước này 15,35 triệu tấn bom đạn, 80 triệu lít chất độc hóa học (trong đó có 61% là chất độc da cam).

Phạt tù đối tượng Lê Thị Bình do sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ chống phá Đảng, Nhà nước

 

Phạt tù đối tượng Lê Thị Bình do sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ chống phá Đảng, Nhà nước

Lê Thị Bình ở Cần Thơ bị toà án phạt tù vì sử dụng Facebook chống phá Đảng, Nhà nước. Ngày 22/4, TAND quận Bình Thủy (TP Cần Thơ) mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Thị Bình (45 tuổi, ngụ đường Trần Quang Diệu, quận Bình Thuỷ) về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Theo cáo trạng, từ tháng 10/2019 đến tháng 11/2020, đối tượng Lê Thị Bình sử dụng tài khoản Facebook cá nhân để phát trực tiếp, đăng bài và chia sẻ 24 bài có nội dung tuyên truyền tư tưởng, quan điểm xấu, phản động nhằm chống đối, chống phá, nói xấu, xúc phạm, xuyên tạc, phỉ báng đối với tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và cán bộ lãnh đạo Đảng nhà nước.

Đặc biệt là xúc phạm nghiêm trọng đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh, thực hiện kêu gọi đòi đa nguyên đa đảng, xóa bỏ chế độ chính trị…

Theo kết luận, hành vi của đối tượng Bình là vi phạm pháp luật; xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Lê Thị Bình 2 năm tù về tội danh nói trên.

Lê Thị Bình là em ruột của đối tượng Lê Minh Thể - bị toà tuyên án 2 năm tù giam về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Đây là bài học răn đe cho những kẻ cố tình vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam, cố tình đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Nhân dân Việt Nam. 

 

 NGUỒN GỐC LÁ CỜ CHIẾN THẮNG TRÊN DINH ĐỘC LẬP NGÀY 30/4/1975

Vào ngày 15/9/1973 Chủ tịch Cuba, Fidel Castro, người bạn lớn của nhân dân Việt Nam, có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam giữa khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất. Trong chuyến đi này, chủ tịch Fidel Castro đã tới thăm Quảng Trị, lúc này hiệp định Paris vừa được ký kết. Tại đây ông đã phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và hô vang như một lời nhắn đến các chiến sỹ của Sư Đoàn 304: "Các đồng chí hãy mang lá cờ Bách Chiến Bách Thắng này cắm tại Sài Gòn!", "Hẹn gặp lại tại Sài Gòn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!". Và như một sự tình cờ cũng như định mệnh của lịch sử, chưa đầy 2 năm sau đó lá cờ Bách Chiến Bách Thắng này đã theo chân những người lính của Sư Đoàn 304 có mặt tại Sài Gòn vào ngày 30/4/1975
Cảm Ơn Fidel, cảm ơn những người anh em CuBa đã giúp đỡ rất nhiều trong cuộc kháng chiến dành độc lập của dân tộc Việt Nam!
Lê Đức

30/4 – Ngày hội của non sông Việt Nam

 Chiến thắng 30/4/1975 là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Suốt 46 năm qua, ngày 30/4 hằng năm đã trở thành ngày hội non sông, hội tụ hào khí giang sơn, kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc. Đường lối hòa hợp dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước đã được Đảng ta thực hiện ngay sau ngày Nam Bắc liền một dải. Từ đó đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn luôn coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Càng ngày, những chủ trương, chính sách của Đảng và các hình thức hợp tác, kết nối của các cấp, các ngành, các địa phương càng tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để kiều bào gắn kết với quê hương. Hàng triệu kiều bào yêu nước luôn sát cánh bên Đảng và đồng bào, chiến sĩ trong nước, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu trở thành một “phép thử” của thời đại. Càng hoạn nạn, khó khăn, thực tiễn càng chứng minh, Đảng và nhân dân Việt Nam là một khối đoàn kết không thể tách rời. Tính ưu việt của một chế độ xã hội không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, sức mạnh quân sự, tốc độ phát triển của văn minh công nghiệp…, mà phụ thuộc vào chủ trương, vị thế, uy tín của Đảng cầm quyền. Trở thành quốc gia được chọn là hình mẫu của thế giới về hiệu quả phòng, chống đại dịch Covid-19, chúng ta đã chứng minh cho thế giới thấy rõ tính ưu việt, bản chất nhân văn của chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mọi đường lối, chủ trương, sách lược, giải pháp lãnh đạo đều hướng đến chăm lo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và kiều bào ta ở nước ngoài. Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác.

Hướng về kỷ niệm 46 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/42021), dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, song qua truyền thông và mạng xã hội, người dân Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân kiều bào ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã hướng về quê hương bằng những chương trình hành động thiết thực. Bạn bè quốc tế cũng dành sự ngưỡng mộ, tình cảm tốt đẹp nhất cho Đảng, Chính phủ, quân và dân Việt Nam. Đó là những thanh âm, sắc màu thể hiện giá trị nhân văn, tinh thần đoàn kết, góp phần nâng cao niềm tin, vị thế đất nước trên trường quốc tế.

 

HÀNH ĐỘNG QUYẾT LIỆT CHỐNG ĐẠI DỊCH

 Với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng Covid-19 đại trà nhanh hơn nhiều so với dự kiến, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về chiến lược phòng, chống dịch, sớm tạo tấm khiên vững chắc trong cuộc chiến với đại dịch. Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, vừa qua lại xuất hiện những tiếng loa rè lạc lõng xuyên tạc những nỗ lực đầy tính nhân văn của Đảng, Nhà nước ta.

Chiến lược đúng đắn của Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của một Đảng biết lo cho dân mà sinh thời Bác Hồ từng căn dặn: “...Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”.

Khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19 đặt ra chưa từng có trong lịch sử nhân loại cũng như lịch sử Đảng ta. Đại hội XIII của Đảng cũng là lần đầu tiên, danh từ "Covid-19" xuất hiện trong văn kiện đại hội. Cũng chưa bao giờ tại một đại hội của Đảng diễn ra nhiều cuộc họp bên lề ngay tại nơi tổ chức đại hội để bàn giải pháp cấp bách khi làn sóng Covid-19 thứ 3 xuất hiện tại Việt Nam. Trong những quyết sách lớn được quyết định tại đại hội, có một quyết định kịp thời, đúng đắn, công bố ngay ở phiên bế mạc sáng 1-2. Quyết sách ấy đã trở thành một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm (nhiệm vụ thứ 2), được ghi trong Nghị quyết Đại hội XIII: "Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...".
Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm, thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân khi mà trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nhận thức về vaccine Covid-19 còn khác nhau. Với quyết định đó, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân./.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ CHÍ MINH TRÊN MẠNG INTERNET

Những năm gần đây, các phần tử cơ hội chính trị ráo riết đẩy mạnh việc truyền bá các quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh trên mạng Internet. Đặc biệt là từ sau khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh thực hiện việc Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử chống đối cách mạng ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt hơn.

Với những ưu thế vượt trội trong lưu giữ và chuyển tải thông tin, hình thức thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn người xem, mạng Internet được các thế lực thù địch sử dụng như một trong những công cụ chủ yếu, đắc lực nhất phục vụ cho hoạt động chống phá cách mạng nước ta; đặc biệt chúng tìm mọi cách xúc phạm, hạ thấp uy tín để đi đến "hạ bệ" thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng của Người với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

 Thực hiện âm mưu thâm độc này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cả thân thế, sự nghiệp cũng như đạo đức và tư tưởng, phong cách của Hồ Chí Minh. Đây là những phương thức, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm trực tiếp tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của các đối tượng khai thác thông tin trên mạng Internet, làm xuất hiện tâm lý hoài nghi, hoang mang, dao động về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước làm giảm sút niềm tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, một mặt phải không ngừng nghiên cứu phát triển, hoàn thiện và hiện thực hoá tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống. Mặt khác, phải vạch trần âm mưu, bản chất, thủ đoạn của các thế lực thù địch, có như vậy mới tạo được sức đề kháng cao cho các đối tượng tham gia khai thác thông tin trên mạng Internet.

 

 Hồ Chí Minh đến với V.L.Lênin

Khi Nguyễn Ái Quốc sang Nga thì V.I.Lênin đã mất, Người không gặp được V.I.Lênin. Nhưng trong quá trình nghiên cứu để tìm con đường cách mạng, Người phát hiện ra muốn cứu nước thì phải đến với V.I.Lênin.
Người đã nói về V.I.Lênin trong hàng loạt bài viết như: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” (Báo Sự Thật 27.1.1924), “Lênin và các dân tộc phương Đông” (Báo Người cùng khổ 7.1924), “Lênin và phương Đông” (Báo Tiếng Còi 20.1.1926)... Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, Người đã viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Qua nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tiễn, Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo để nắm lấy cái linh hồn, cái bản chất cách mạng và khoa học ở học thuyết của Mác - Lênin, chứ không phải là những câu chữ máy móc, khô cứng. Trong các bài viết, bài nói của mình rất ít khi Hồ Chí Minh trích kinh điển Mác-Lênin, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là cơ sở lý luận để Người vận dụng vào đường lối cách mạng Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, không thấy có một từ nào trích dẫn Mác-Lênin. Trong bản Di chúc lịch sử Người để lại cũng không có một chữ nào nói về chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhưng Người tự coi mình là học trò trung thành của Mác-Lênin, là người kiên trì mục tiêu XHCN “hơn tất cả mọi người”. Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, tài liệu đầu tiên Người viết để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho những người cách mệnh Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài: “Tư cách của một người cách mệnh”, điều ít thấy ở những người khác khi làm công việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho cộng sự của mình.
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập ở V.I.Lênin hoàn toàn không phải thụ động. Người cho rằng nếu không có tinh thần độc lập thì chỉ phụ thuộc vào người khác, nếu không làm chủ được mình thì chỉ theo đuôi người khác, nếu không sáng tạo thì chỉ có giáo điều, rập khuôn máy móc. Cho nên, Người đến với V.I.Lênin bằng cách tiếp cận phương pháp cách mạng và tư duy khoa học của ông, để từ đó rút ra cho mình những vấn đề cụ thể, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Như là vấn đề Đảng, V.I.Lênin cho rằng sự ra đời của Đảng cộng sản là sản phẩm của chủ nghĩa Mác kết hợp với phong trào công nhân. Nhưng ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng cộng sản theo Hồ Chí Minh là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. V.I.Lênin cho rằng, Đảng cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân và xem đó là tính chất cơ bản của Đảng, nhưng Hồ Chí Minh dựa vào thực tiễn Việt Nam, Người cho rằng Đảng là của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Hay như vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, chủ nghĩa Mác-Lênin bao giờ cũng xác định giải phóng giai cấp là trước hết, nhưng ở Việt Nam theo Hồ Chí Minh muốn giải phóng giai cấp thì trước tiên phải giải phóng dân tộc đã; độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân... Rõ ràng đây là vấn đề về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, lý luận và thực tiễn phải gắn liền với nhau để lý luận không phải là lý luận suông, còn thực tiễn không phải là thực tiễn mù quáng. Từ lý luận Mác-Lênin được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam và từ thực tiễn sinh động bổ sung cho lý luận, làm phong phú thêm cho lý luận. Nhờ vậy mới có đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với cách mạng Việt Nam để đánh thắng được thực dân, đế quốc, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới.
Như vậy, đến với V.I.Lênin, theo Hồ Chí Minh là nắm vững những luận điểm cơ bản, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Lênin để phục vụ cho mục tiêu cách mạng của nước ta. Vấn đề là phương pháp tiếp cận phải được tiến hành với tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Chính V.I.Lênin nhờ sự sáng tạo và tự chủ khi vận dụng chủ nghĩa Mác vào nước Nga mà Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công. Cũng nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa chưa hề có tiền lệ, mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Cũng chính chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo từ thực tiễn phong phú của thời đại và của đất nước để đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn như ngày nay.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta”. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan trọng về chiến lược, sách lược cách mạng trong các vấn đề quốc tế, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.

Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong đó, chú trọng những nội dung chủ yếu sau:

Một là, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần "tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững. Bác đã dặn: "Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã"; "Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm"; "Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy". Người cũng đã đúc kết thành chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. 

Hai là, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh". Người nhấn mạnh: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn". Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã nêu rõ: "Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...".

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch Covid - 19, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước. 

Ba là, tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.

Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.

Bốn là, tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật phương châm"... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết". Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ đã chỉ đạo là "biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự", cố gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta. 

Do quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai"; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định rõ các khái niệm "đối tác", "đối tượng" nhằm phân biệt rõ "đối tác" cần hợp tác và "đối tượng" cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ "thêm bạn, bớt thù" trước đây đến "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển". Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.

Năm là, tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực"; đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW (10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" và Nghị quyết số 06-NQ/TW (5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của Đảng về công tác đối ngoại.

Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi "hội nhập kinh tế" sang "hội nhập toàn diện" với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS).

Sáu là, tư tưởng "Ngoại giao là một mặt trận". Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh", và cũng theo quan điểm của Người: "Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập". Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh "ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng" và "có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần".  

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh "tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị thế đất nước".

Bảy là, tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" như một phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt". Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn… 

Trong bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái "bất biến" vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái "vạn biến" là sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của "đối tác", "đối tượng"… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là "thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển", đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về "đối tác" và "đối tượng" trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù hợp và hiệu quả.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam./.

 

 

 PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC TRUNG THÀNH CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN TRONG DI SẢN LÝ LUẬN CỦA V.I. LÊNIN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

Phẩm chất trung thành của những người đảng viên cộng sản, theo V. I. Lênin được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, đó là lòng trung thành tuyệt đối với Đảng. Trong “Thư gửi P. A. Dalutxơki, A. A. Xôntxơ và tất cả các ủy viên Bộ Chính trị về vấn đề thanh đảng và những điều kiện kết nạp đảng” và “Những nhận xét về Dự thảo Nghị quyết của Hội nghị XI Đảng Cộng sản Nga về việc thanh đảng”, khi kết luận về vấn đề thời gian dự bị đối với đảng viên mới, V. I. Lênin cho rằng: “Trong những trường hợp đặc biệt, thời gian dự bị này có thể giảm xuống một nửa, khi mà lòng trung thành với đảng và tinh thần kiên cường cộng sản đã được chứng minh đầy đủ…”.
Thứ 2, đó là lòng trung thành với cách mạng. Lòng trung thành của người cộng sản với sự nghiệp cách mạng của Đảng là một trong những điều kiện cơ bản để thực hành và giữ vững “kỷ luật sắt” của Đảng. Khi lý giải “cái gì làm cho kỷ luật của đảng cách mạng của giai cấp vô sản được vững chắc?” V. I. Lênin nhấn mạnh: “…đó là sự giác ngộ của đội tiên phong của giai cấp vô sản và lòng trung thành của nó đối với cách mạng,…”.
Thứ ba, đó là trung thành với sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động. Đây là một trong những điều kiện bắt buộc kết nạp Đảng. Trong Diễn văn Bế mạc Đại hội IX Đảng Cộng sản Nga, V. I. Lênin yêu cầu: “Chỉ có những người thực sự trung thành với sự nghiệp giải phóng của nhân dân lao động, mới có thể gia nhập đảng được”.
Trân trọng và tự hào!

Đừng làm tiêu tan nhuệ khí, tinh thần xã hội bằng con mắt hẹp hòi

Văn nghệ sĩ xưa nay vẫn được người đời trân trọng, tôn vinh bởi tài năng, trí tuệ của họ thường đầy đặn, sung mãn hơn công chúng. Những giá trị văn hóa, nghệ thuật, tinh thần… mà đội ngũ văn nghệ sĩ mang lại cho đất nước, cho nhân dân luôn được đón nhận nhiệt thành và là một trong những đòn bẩy, động lực thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ, văn minh. Tuy nhiên, cũng có một số ít văn nghệ sĩ hoặc là đang tự ảo tưởng về “tài năng xuất chúng” của mình, hoặc muốn “nổi đình nổi đám” trong thiên hạ bằng những tác phẩm, lời nói, diễn ngôn đi ngược lại sự nghiệp chung và không phù hợp với các giá trị chân-thiện-mỹ. Trước bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, phần đông văn nghệ sĩ nước nhà vẫn nặng lòng với quê hương, Tổ quốc, thủy chung với cuộc sống cần lao của quần chúng lao động, tìm mọi cách để sáng tạo, cống hiến, quảng bá các tác phẩm của mình để phục vụ đông đảo công chúng và góp phần kiến tạo đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú trong xã hội. Một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ dù sinh ra sau chiến tranh, ít trải nghiệm với những ngày tháng gian khổ của đất nước, nhưng với tinh thần trân trọng lịch sử, nặng tình ân nghĩa với thế hệ cha anh, họ đã nỗ lực tìm tòi sáng tạo để cho ra đời những tác phẩm mới với giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật sâu sắc về đề tài chiến tranh cách mạng. Vượt qua cái tôi của cá nhân đơn lẻ, nhiều văn nghệ sĩ đã tự nguyện hòa vào cộng đồng, chung sức đồng lòng với cả dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số văn nghệ sĩ đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của kẻ sĩ chân chính và tự bào mòn những sứ mệnh cao cả của văn học nghệ thuật thông qua những tác phẩm nghèo nàn về cảm xúc và giá trị nội dung, nhưng lại ẩn chứa những thông điệp bất lợi cho sự nghiệp củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tận dụng internet và mạng xã hội, có văn nghệ sĩ mải mê chạy theo những biểu hiện a dua không đúng lúc, đúng chỗ, cổ súy cho một số quan niệm, suy nghĩ cực đoan không mang lại lợi ích gì cho công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc và xây dựng nước nhà. Cùng với việc một số kẻ sĩ cố tình “đánh bóng” tên tuổi của mình bằng những phát ngôn “sốc”, thiếu chuẩn mực làm ồn ào dư luận, thì cũng xuất hiện một vài trang blog của văn nghệ sĩ có những trang viết thể hiện một cái nhìn phiến diện về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước. Những bài viết này có mô típ chung, đó là từ một vài vụ việc tiêu cực lẻ tẻ xảy ra trong xã hội, họ “mổ xẻ, khoét sâu” theo thiên kiến chủ quan khiến vấn đề trở nên phức tạp, trầm trọng hơn. Thậm chí, có người cố tình bóc tách vấn đề theo kiểu “bới bèo ra bọ”, “chẻ sợi tóc làm tư”, mà thực chất là có ít suýt ra nhiều, bé xé ra to. Những bài viết như thế, dù với bất cứ động cơ, lý do gì đều không mang lại hiệu ứng tích cực cho công chúng, mà ngược lại, càng gây thêm rối rắm thông tin, nhiễu nhương dư luận xã hội. Đáng nói hơn, đã xuất hiện những bài viết, công trình, tác phẩm của một số ít văn nghệ sĩ có nội dung phủ nhận thành tựu cách mạng vĩ đại của dân tộc đã phải đổi bằng bao nước mắt, xương máu của các thế hệ cha anh. Cá biệt, có người đã “giải thiêng” lịch sử bằng cách hạ bệ thần tượng, xúc phạm danh nhân, báng bổ cả những giá trị tâm linh thiêng liêng của cộng đồng. Tiếc thay, trong số chủ nhân của những trang viết đó, có người từng một thời nổi danh trên văn đàn và được công chúng ghi nhận. Thế nên, những bài viết của họ xuất hiện thường dễ lôi kéo độc giả, nhất là những người trẻ vốn ưa khám phá, thừa tính tò mò, hiếu kỳ, nhưng lại thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn. Trong tinh thần đổi mới của toàn xã hội hơn 30 năm qua, các văn nghệ sĩ cũng được “tắm mình” trong bầu không khí sáng tạo mà Đảng, Nhà nước đã kiến tạo và khuyến khích những người cầm bút không ngừng nỗ lực tìm tòi, cống hiến cho nhân dân và đất nước bằng những tác phẩm tô đẹp thêm cuộc sống và góp phần làm giàu giá trị văn hóa cho con người. Nhưng mọi sự sáng tạo (trong viết văn, diễn ngôn hay phát ngôn) của văn nghệ sĩ cũng rất cần được thể hiện từ lương tâm, trách nhiệm, bổn phận của người công dân. Vì văn nghệ sĩ trước hết cũng là một công dân, nên phải ứng xử với tư cách, trách nhiệm công dân đối với xã hội và Nhà nước. Cố tình không hiểu hay xa rời điều đó, văn nghệ sĩ rất dễ tự tách mình ra khỏi số đông cộng đồng và đôi khi trở nên lạc lõng, thậm chí đối lập với đồng loại. Trong quá trình xã hội phát triển, những mặt đối lập nhau như tốt-xấu, thiện-ác, văn minh-lạc hậu, cao thượng-đê hèn… luôn tồn tại song hành với nhau, nhưng xu hướng mặt tích cực bao giờ cũng chi phối, lấn át mặt tiêu cực. Là những người nhạy cảm, dễ nắm bắt các vấn đề của xã hội, điều quan trọng là các văn nghệ sĩ khi “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác trong tác phẩm của mình cần phải được thể hiện bằng một tấm lòng trong sáng, cái nhìn nghĩa hiệp, nhân văn, thì không chỉ làm cho “đứa con tinh thần” của mình lành lặn, mà còn góp phần bồi bổ những giá trị tốt đẹp cho công chúng và làm giàu thêm đời sống văn hóa xã hội. Ngược lại, khi văn nghệ sĩ lợi dụng văn chương, nghệ thuật để “cài cắm” vào đó những cái nhìn thiên kiến, suy nghĩ lệch lạc, tâm trạng u ám thì không những làm chùng bầu không khí xã hội, dễ làm lòng dân ly tán, mà khiến cái xấu, cái ác có cơ hội nhởn nhơ, lộng hành! Là một trong những bộ phận tinh hoa của xã hội, văn nghệ sĩ xứng đáng được gọi là “người của công chúng”. Đặc biệt, đối với những văn nghệ sĩ đã nổi tiếng, phàm một câu văn, diễn ngôn, lời nói họ phát ra đều có thể trở thành tâm điểm chú ý của công chúng và thu hút sự bàn tán của dư luận xã hội. Thế nhưng, những người am tường chữ nghĩa, văn chương đừng quên rằng, khi nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng tầm thì đó là “Lời nói gói vàng”. Còn khi gặp đâu nói đấy, nói cho sướng mồm, nói cho bõ tức, hả giận mà cái tức, cái giận đó không có cơ sở thì có thể kéo theo biết bao hệ lụy khôn lường. Dân gian có câu: “Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” với hàm ý khẳng định sức sống trường tồn, vượt thời gian của lời nói, nhưng cũng là lời khuyên răn, cảnh báo về tác hại lâu dài của những “lời nói, đọi máu” đối với cuộc sống, con người và xã hội. Thế nên, trước khi đặt bút viết hay phát ngôn về bất cứ điều gì, nhất là những vấn đề thuộc về lịch sử, chính trị, xã hội liên quan đến số phận của cả cộng đồng, dân tộc, mỗi văn nghệ sĩ rất cần bình tĩnh, công tâm, tỉnh táo phân biệt đúng-sai, phải-trái, thật-giả, hiện tượng-bản chất để không xuyên tạc, xét lại lịch sử, nhạo báng tiền nhân, cũng như không bôi đen hình ảnh, diện mạo quê hương xứ sở-cái nôi đã sinh ra, đùm bọc, nuôi dưỡng và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi cho mình. Lịch sử minh chứng rằng, chỉ có những văn nghệ sĩ biết kết hợp, gắn bó hài hoà giữa tài năng và đức độ, giữa bản lĩnh và phong cách, giữa ý chí và niềm tin, giữa tình cảm, trách nhiệm cá nhân và bổn phận, nghĩa vụ công dân trong cuộc sống và lao động sáng tạo, mới có chỗ đứng vững trong lòng công chúng. Hàng nghìn năm qua, dân tộc ta đã sản sinh ra bao văn nghệ sĩ có tâm, tầm, tài và đã gắn bó, trăn trở, đau đáu với số phận dân tộc; sáng tạo ra những công trình, tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị và có những câu lập ngôn làm lay động lòng người bao thế hệ nên họ sống bất tử cùng thời gian. Và theo dòng chảy tiến bộ của xã hội, lịch sử cũng sẽ nghiêm khắc đào thải những ai đó dù có ít nhiều tài năng văn chương, nghệ thuật, nhưng lòng không thành, tâm không sáng, vô thủy vô chung và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đồng bào mình.

Dễ đánh mất mình từ “cái tôi” nhỏ nhoi, thiên kiến

Trước bao biến đổi thăng trầm của thời cuộc, phần đông văn nghệ sĩ nước nhà vẫn nặng lòng với quê hương, Tổ quốc, thủy chung với cuộc sống cần lao của quần chúng lao động, tìm mọi cách để sáng tạo, cống hiến, quảng bá các tác phẩm của mình để phục vụ đông đảo công chúng và góp phần kiến tạo đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú trong xã hội. Một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ dù sinh ra sau chiến tranh, ít trải nghiệm với những ngày tháng gian khổ của đất nước, nhưng với tinh thần trân trọng lịch sử, nặng tình ân nghĩa với thế hệ cha anh, họ đã nỗ lực tìm tòi sáng tạo để cho ra đời những tác phẩm mới với giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật sâu sắc về đề tài chiến tranh cách mạng. Vượt qua cái tôi của cá nhân đơn lẻ, nhiều văn nghệ sĩ đã tự nguyện hòa vào cộng đồng, chung sức đồng lòng với cả dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số văn nghệ sĩ đang tự đánh mất những phẩm giá thiên lương của kẻ sĩ chân chính và tự bào mòn những sứ mệnh cao cả của văn học nghệ thuật thông qua những tác phẩm nghèo nàn về cảm xúc và giá trị nội dung, nhưng lại ẩn chứa những thông điệp bất lợi cho sự nghiệp củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tận dụng internet và mạng xã hội, có văn nghệ sĩ mải mê chạy theo những biểu hiện a dua không đúng lúc, đúng chỗ, cổ súy cho một số quan niệm, suy nghĩ cực đoan không mang lại lợi ích gì cho công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc và xây dựng nước nhà. Cùng với việc một số kẻ sĩ cố tình “đánh bóng” tên tuổi của mình bằng những phát ngôn “sốc”, thiếu chuẩn mực làm ồn ào dư luận, thì cũng xuất hiện một vài trang blog của văn nghệ sĩ có những trang viết thể hiện một cái nhìn phiến diện về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước. Những bài viết này có mô típ chung, đó là từ một vài vụ việc tiêu cực lẻ tẻ xảy ra trong xã hội, họ “mổ xẻ, khoét sâu” theo thiên kiến chủ quan khiến vấn đề trở nên phức tạp, trầm trọng hơn. Thậm chí, có người cố tình bóc tách vấn đề theo kiểu “bới bèo ra bọ”, “chẻ sợi tóc làm tư”, mà thực chất là có ít suýt ra nhiều, bé xé ra to. Những bài viết như thế, dù với bất cứ động cơ, lý do gì đều không mang lại hiệu ứng tích cực cho công chúng, mà ngược lại, càng gây thêm rối rắm thông tin, nhiễu nhương dư luận xã hội. Đáng nói hơn, đã xuất hiện những bài viết, công trình, tác phẩm của một số ít văn nghệ sĩ có nội dung phủ nhận thành tựu cách mạng vĩ đại của dân tộc đã phải đổi bằng bao nước mắt, xương máu của các thế hệ cha anh. Cá biệt, có người đã “giải thiêng” lịch sử bằng cách hạ bệ thần tượng, xúc phạm danh nhân, báng bổ cả những giá trị tâm linh thiêng liêng của cộng đồng. Tiếc thay, trong số chủ nhân của những trang viết đó, có người từng một thời nổi danh trên văn đàn và được công chúng ghi nhận. Thế nên, những bài viết của họ xuất hiện thường dễ lôi kéo độc giả, nhất là những người trẻ vốn ưa khám phá, thừa tính tò mò, hiếu kỳ, nhưng lại thiếu nhãn quan chính trị đúng đắn.

Hãy “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác bằng cái nhìn trong sáng, nghĩa hiệp

Trong tinh thần đổi mới của toàn xã hội hơn 30 năm qua, các văn nghệ sĩ cũng được “tắm mình” trong bầu không khí sáng tạo mà Đảng, Nhà nước đã kiến tạo và khuyến khích những người cầm bút không ngừng nỗ lực tìm tòi, cống hiến cho nhân dân và đất nước bằng những tác phẩm tô đẹp thêm cuộc sống và góp phần làm giàu giá trị văn hóa cho con người. Nhưng mọi sự sáng tạo (trong viết văn, diễn ngôn hay phát ngôn) của văn nghệ sĩ cũng rất cần được thể hiện từ lương tâm, trách nhiệm, bổn phận của người công dân. Vì văn nghệ sĩ trước hết cũng là một công dân, nên phải ứng xử với tư cách, trách nhiệm công dân đối với xã hội và Nhà nước. Cố tình không hiểu hay xa rời điều đó, văn nghệ sĩ rất dễ tự tách mình ra khỏi số đông cộng đồng và đôi khi trở nên lạc lõng, thậm chí đối lập với đồng loại. Trong quá trình xã hội phát triển, những mặt đối lập nhau như tốt-xấu, thiện-ác, văn minh-lạc hậu, cao thượng-đê hèn… luôn tồn tại song hành với nhau, nhưng xu hướng mặt tích cực bao giờ cũng chi phối, lấn át mặt tiêu cực. Là những người nhạy cảm, dễ nắm bắt các vấn đề của xã hội, điều quan trọng là các văn nghệ sĩ khi “vạch mặt, chỉ tên” cái xấu, cái ác trong tác phẩm của mình cần phải được thể hiện bằng một tấm lòng trong sáng, cái nhìn nghĩa hiệp, nhân văn, thì không chỉ làm cho “đứa con tinh thần” của mình lành lặn, mà còn góp phần bồi bổ những giá trị tốt đẹp cho công chúng và làm giàu thêm đời sống văn hóa xã hội. Ngược lại, khi văn nghệ sĩ lợi dụng văn chương, nghệ thuật để “cài cắm” vào đó những cái nhìn thiên kiến, suy nghĩ lệch lạc, tâm trạng u ám thì không những làm chùng bầu không khí xã hội, dễ làm lòng dân ly tán, mà khiến cái xấu, cái ác có cơ hội nhởn nhơ, lộng hành! Là một trong những bộ phận tinh hoa của xã hội, văn nghệ sĩ xứng đáng được gọi là “người của công chúng”. Đặc biệt, đối với những văn nghệ sĩ đã nổi tiếng, phàm một câu văn, diễn ngôn, lời nói họ phát ra đều có thể trở thành tâm điểm chú ý của công chúng và thu hút sự bàn tán của dư luận xã hội. Thế nhưng, những người am tường chữ nghĩa, văn chương đừng quên rằng, khi nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng tầm thì đó là “Lời nói gói vàng”. Còn khi gặp đâu nói đấy, nói cho sướng mồm, nói cho bõ tức, hả giận mà cái tức, cái giận đó không có cơ sở thì có thể kéo theo biết bao hệ lụy khôn lường. Dân gian có câu: “Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” với hàm ý khẳng định sức sống trường tồn, vượt thời gian của lời nói, nhưng cũng là lời khuyên răn, cảnh báo về tác hại lâu dài của những “lời nói, đọi máu” đối với cuộc sống, con người và xã hội. Thế nên, trước khi đặt bút viết hay phát ngôn về bất cứ điều gì, nhất là những vấn đề thuộc về lịch sử, chính trị, xã hội liên quan đến số phận của cả cộng đồng, dân tộc, mỗi văn nghệ sĩ rất cần bình tĩnh, công tâm, tỉnh táo phân biệt đúng-sai, phải-trái, thật-giả, hiện tượng-bản chất để không xuyên tạc, xét lại lịch sử, nhạo báng tiền nhân, cũng như không bôi đen hình ảnh, diện mạo quê hương xứ sở-cái nôi đã sinh ra, đùm bọc, nuôi dưỡng và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi cho mình. Lịch sử minh chứng rằng, chỉ có những văn nghệ sĩ biết kết hợp, gắn bó hài hoà giữa tài năng và đức độ, giữa bản lĩnh và phong cách, giữa ý chí và niềm tin, giữa tình cảm, trách nhiệm cá nhân và bổn phận, nghĩa vụ công dân trong cuộc sống và lao động sáng tạo, mới có chỗ đứng vững trong lòng công chúng. Hàng nghìn năm qua, dân tộc ta đã sản sinh ra bao văn nghệ sĩ có tâm, tầm, tài và đã gắn bó, trăn trở, đau đáu với số phận dân tộc; sáng tạo ra những công trình, tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị và có những câu lập ngôn làm lay động lòng người bao thế hệ nên họ sống bất tử cùng thời gian. Và theo dòng chảy tiến bộ của xã hội, lịch sử cũng sẽ nghiêm khắc đào thải những ai đó dù có ít nhiều tài năng văn chương, nghệ thuật, nhưng lòng không thành, tâm không sáng, vô thủy vô chung và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và đồng bào mình.

Những bài học lịch sử

Những kỷ niệm sâu sắc, hào hùng trong giai đoạn lịch sử trọng đại của dân tộc được cán bộ, nhân viên ngoại giao từng tham gia phục vụ Hội nghị Paris, tham gia đoàn đàm phán Hiệp định Paris chia sẻ trong buổi gặp mặt ngày 25-1 vừa qua tại Hà Nội đều chỉ rõ, kinh nghiệm quý báu là phải đánh giá được sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường và tình hình quốc tế; tận dụng thời cơ và có sách lược khôn khéo để tối đa hóa lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong ngoại giao… . Tại buổi gặp mặt, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm; ông Nguyễn Khắc Huỳnh và ông Phạm Ngạc đã nhấn mạnh 4 bài học lớn trong quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris. Đó là: Đánh giá được sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường và tình hình quốc tế; tận dụng thời cơ và có sách lược khôn ngoan để tối đa hóa lợi ích quốc gia-dân tộc; giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong ngoại giao; cán bộ các ngành, đặc biệt là ngành ngoại giao cần giữ vững truyền thống đoàn kết, phẩm chất tốt đẹp của ngành và học tập không ngừng. “Cuộc đấu tranh ở Hội nghị đàm phán Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, có giá trị với công tác ngoại giao nước nhà ngày nay và mai sau. Đó là phải có sách lược khôn ngoan, xác định rõ cái gì là chính yếu; phải có chủ trương, chiến lược ngoại giao đúng đắn; đặc biệt đánh giá chính xác sức mạnh, tương quan lực lượng trên chiến trường, tình hình thế giới; biết đánh giá và kết hợp giữa sức mạnh nội lực và tận dụng cơ hội tình hình quốc tế”, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhận định. Nguyên Phó chủ tịch nước cũng cho rằng, đàm phán ngoại giao muốn thắng lợi phải xuất phát từ nội lực của đất nước. Trước đây là sức mạnh về quân sự, nhưng giờ đây phải bao gồm cả sức mạnh kinh tế, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngoại giao. “Đặc điểm ngành ngoại giao của chúng ta có ba mảng: Ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhân dân rất linh hoạt và rộng lớn. Trong tình hình mới hết sức phức tạp, phong trào hòa bình thế giới hiện nay non yếu đi, thậm chí mâu thuẫn nhau, do đó, ngoại giao nhân dân càng cần được quan tâm, nghiên cứu kỹ hơn để áp dụng hiệu quả, góp phần phát huy vai trò kết hợp chặt chẽ, giúp đỡ các mặt trận ngoại giao khác”, bà Nguyễn Thị Bình nêu rõ. Nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định, cuộc đàm phán Hiệp định Paris là thành công lớn về nhiều mặt, không chỉ đối với Việt Nam mà với toàn thế giới, nhờ vào sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên Phó thủ tướng chỉ rõ những lợi điểm mang lại từ việc thường xuyên nghiên cứu, thảo luận tình hình, trên cơ sở đó đề ra chiến lược, chính sách quân sự, ngoại giao phù hợp. Bên cạnh đó, cuộc chiến đấu phải tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, trong đó có dư luận của chính nước đối thủ. "Kinh nghiệm là muốn đánh địch trên bàn đàm phán phải hiểu địch, cần phải biết lúc nào mình có thể đánh, lúc nào có thể nhượng bộ...", nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm nói. Các nhà ngoại giao lão thành chụp ảnh lưu niệm cùng với thế hệ trẻ của Bộ Ngoại giao, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày ký Hiệp định Paris. Nhấn mạnh nguyên tắc độc lập, tự chủ trong quá trình đàm phán, ông Nguyễn Khắc Huỳnh cho rằng: “Hiệp định Geneve là nơi các nước lớn ngồi với nhau, Việt Nam không có được độc lập, tự chủ là bao nhiêu. Nhưng tới Hiệp định Paris, ta rất độc lập, tự chủ, từ chủ trương đến biện pháp, từ nội dung đến từng câu chữ trong hiệp định. Chỉ đạo của Bộ Chính trị về Hiệp định Paris cực kỳ chặt chẽ, đến từng câu, từng chữ. Có những câu chữ chúng tôi phải xin ý kiến từ Hà Nội, rồi mới được đưa vào trong hiệp định. Sau 45 năm, đọc lại văn bản hiệp định, chúng tôi cũng không thể sửa được một câu từ nào vì nó quá chặt chẽ”. Cũng theo nhà ngoại giao lão thành này, dù Hà Nội cách Paris hàng nghìn cây số, nhưng việc trao đổi thông tin giữa Hà Nội và đoàn đàm phán luôn được duy trì hằng ngày. “Cứ từ sáng đến chiều có thông tin, từ chiều đến sáng hôm sau lại có thông tin. Có 4 loại thông tin mà chúng tôi được nhận hằng ngày. Đó là thông tin tình hình đất nước, thông tin tình hình quốc tế liên quan đến quá trình đàm phán, dư luận quốc tế về cuộc đàm phán, những điều đoàn cần chú ý trong dư luận Mỹ và quốc tế. Những thông tin từ trong nước gửi cho đoàn rất kỹ. Chúng tôi ngồi đọc thông tin mà cứ như mình đang ở nhà do thông tin cung cấp rất đầy đủ, dù thời kỳ đó cực kỳ khó khăn”, ông Huỳnh chia sẻ. Như vậy, sau gần 5 năm, cuộc đàm phán Paris đã kết thúc bằng việc ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973. “Khi chúng ta đi, chúng ta không có nhiều kinh nghiệm trong đàm phán đa phương, nhưng chúng ta đã vượt qua và giành được kỳ tích”, nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm khẳng định.

Sự dối trá và lừa bịp

Rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chứng minh, khẳng định sự việc “thảm sát ở Huế năm 1968” là sản phẩm của sự dối trá, bịp bợm. Đáng chú ý, trong cuốn Kinh tế chính trị về nhân quyền Tập I, hai Giáo sư A.N Chomski (A.N Chôm-sky) và E.Herman (E.Héc-man) đã dành phần Thảm sát tại Huế năm 1968 để phân tích, chỉ rõ sự thật về sự kiện ngụy tạo nêu trên đã được cố tình dựng lên như thế nào. Báo Nhân Dân xin trích đăng nội dung này. “Điều cơ bản liên quan chuyện hoang đường về cuộc thảm sát ở Huế là việc cho rằng, sau khi chiếm đóng thành phố trong cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 1968, theo kế hoạch được xác định trước và từ “sổ đen” ghi tên người làm việc cho chính phủ hoặc coi là “kẻ thù giai cấp”, Việt cộng đã bắt giữ và giết hại hàng nghìn người dân. Những tài liệu chủ yếu đẩy tới câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính quyền Sài Gòn đưa ra tháng 4-1968, một tài liệu được phái đoàn Mỹ phổ biến tháng 11-1969, một bản phân tích của D.Pike (D.Pi-cơ - sĩ quan tâm lý chiến làm việc tại Phòng Thông tin Mỹ - USIS) ra đời năm 1970. Hai báo cáo của chính quyền Sài Gòn và D.Pike gây ra nghi ngờ vì dựa trên nguồn tin, vai trò của chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm giảm đến mức thấp nhất ảnh hưởng của vụ thảm sát ở Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn cả là các tài liệu này đã không được điều tra kỹ lưỡng. ... Ngay sau Tết Mậu Thân, Trưởng ty cảnh sát Huế là Đoàn Công Lập ước tính số nạn nhân bị thảm sát do Việt cộng gây ra là khoảng 200 người, các mồ chôn tập thể của thường dân và quan chức địa phương khoảng 300 người. Cuối tháng 4-1968, một báo cáo do cơ quan tuyên truyền của Sài Gòn đưa ra khẳng định khoảng 1.000 người đã bị Việt cộng giết tại Huế, trong đó có gần một nửa bị chôn sống. Do thông tin không được chú ý, cho nên vài tuần sau đó, Đại sứ quán Mỹ tiếp tục đưa ra một báo cáo tương tự và thông tin từ báo cáo này trở thành tin tức hàng đầu trên nhiều tờ báo ở Mỹ. Tuy nhiên, dù không nhà báo phương Tây nào được đưa tới nơi khai quật các mồ chôn tập thể, thông tin đó vẫn không bị chất vấn. Và ngược lại, nhiếp ảnh gia người Pháp M.Riboud (M.Ri-bu) nhiều lần bị từ chối khi muốn đến xem xét một trong số địa điểm mà đại diện chính quyền Huế nói có 300 quan chức chính phủ đã bị Việt cộng giết và chôn. Cuối cùng M.Riboud cũng được máy bay đưa tới địa điểm đó, song viên phi công lại từ chối hạ cánh vì lý do không an toàn. Đại diện của AFSC (Ủy ban phục vụ của những người bạn Mỹ - Tổ chức Quaker) tại Huế cũng không thể khẳng định về các hố chôn tập thể, mặc dù họ báo cáo là có nhiều thường dân đã bị bắn, bị giết suốt cuộc tái chiếm thành phố. ... Mùa thu năm 1969, xuất hiện một “tài liệu lấy được” và đáng chú ý đây là tài liệu vốn đã có trong hồ sơ 19 tháng nhưng không được chú ý; tài liệu cho biết kẻ địch “tự nhận” trong chiến dịch ở Huế họ đã giết 2.748 người. Rồi tài liệu này trở thành nguồn thông tin chủ yếu để dựa vào đó, câu chuyện về thảm sát ở Huế được dựng lên. Nên nói thêm là vào lúc tài liệu được tiết lộ cho báo chí, tháng 11-1969, D.Pike đang có mặt ở Sài Gòn với nhiệm vụ tạo ra vụ thảm sát theo yêu cầu của Đại sứ E.Bunker (E.Băng-cơ). D.Pike nhận ra rằng, các phóng viên Mỹ rất thích tài liệu này cho nên ông đã cung cấp cho họ. Ông cũng biết không có phóng viên nào hiểu được tiếng Việt, vì thế các tài liệu được dịch, xây dựng lại sao cho phù hợp với yêu cầu về một vụ thảm sát. Ngoài ra dù nhiều tài liệu về Việt Nam từng bị cố tình làm sai lạc song không có phóng viên nào thắc mắc về tính xác thực của các tài liệu ông đưa ra, hoặc tìm bằng chứng để đưa ra đánh giá độc lập. D.Pike đã đúng về điều này, khi vụ Mỹ Lai bị phát giác và các hoạt động vì hòa bình một cách có tổ chức gia tăng vào mùa thu năm 1969. Ở đây chỉ cần một vài dấu hiệu nghi ngờ của phóng viên nước ngoài là không được can thiệp vào việc hợp thức hóa thành văn bản chính thức. Ngoài “tài liệu lấy được”, vấn đề có tính thuyết phục về cuộc thảm sát là việc tìm ra những hố chôn tập thể. Tuy nhiên, các bằng chứng này lại không đủ thuyết phục như những tài liệu được sắp xếp nêu trên. Một điều rất hệ trọng nữa là vấn đề số đông thường dân đã bị giết chết bởi các trận pháo kích bừa bãi của quân đội Mỹ và Nam Việt Nam trong khi họ tiến công chiếm lại Huế. Như nhà nhiếp ảnh chiến trường D.D Duncan (D.D Đun-can) đã mô tả thì cuộc tái chiếm này là “nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát”. Nhà nhiếp ảnh P.J Griffiths (P.J Gơ-ri-phít) thì cho biết, hầu hết nạn nhân “đã bị giết bởi bom đạn được bắn một cách kinh hoàng chưa từng thấy của Mỹ” nhưng về sau lại được coi là “nạn nhân từ vụ thảm sát của Việt cộng”. Phóng viên R.Shaplen (R.Sap-len) cũng viết về lúc đó: “Không có gì mô tả về sự tàn phá trong chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam lại có thể làm tôi kinh hoàng bằng những gì tôi đã thấy ở Huế”. Trong số 17.134 ngôi nhà thì đã có 9.776 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại trầm trọng… Đáng lưu ý là các phóng viên độc lập không được phép có mặt ở hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi có các hố chôn, dù đã nhiều lần yêu cầu được đến xem. Một phóng viên nói chuyện với một lính thủy quân lục chiến từng có mặt tại buổi khai quật công khai đầu tiên kể rằng, phóng viên được đến đó là người đáng tin cậy, được lựa chọn cẩn thận, các thi thể không được kiểm tra. Ông còn nhận xét dấu vết tại hiện trường chứng tỏ việc chôn lấp có sử dụng xe ủi đất (phương tiện mà phía Việt cộng không có). Có lẽ chỉ các bác sĩ phương Tây được xem xét các mồ chôn. Bác sĩ người Ca-na-đa, A.Vennema (A.Ven-ne-ma) cho biết, số nạn nhân trong hố chôn tập thể mà ông xem xét là 68 người, hầu hết đã bị thương và mặc quân phục, nhưng được báo cáo lên tới 477 người, tức là đã bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn thổi phồng lên gấp bảy lần. Rất ít người chú ý các nạn nhân ở Huế không phải do Việt cộng hay bom đạn Mỹ mà do quân đội Sài Gòn giết hại khi họ tái chiếm thành phố. Nhiều người thân cộng ở Huế đã lộ diện trong cuộc tổng tiến công khi bày tỏ sự ủng hộ với Việt cộng, hoặc hợp tác với chính quyền lâm thời địa phương do Việt cộng thiết lập. Khi Việt cộng rút đi, nhiều cán bộ và người ủng hộ họ đã không thoát được, phải ở lại trong tình thế rất nguy hiểm, trở thành đối tượng trả thù của chính quyền Sài Gòn. Bằng chứng được đưa ra ánh sáng là sau khi tái chiếm Huế, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành giết hại để trả thù trên quy mô lớn. Trong một bài báo mô tả rất sinh động, nhà báo người I-ta-li-a là O.Fallaci (O.Phan-la-xi) dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế kết luận sau ngày quân đội Sài Gòn vào thành phố: “Tất cả có khoảng 1.100 người bị giết”. Họ hầu hết là sinh viên, giáo viên đại học, tu sĩ, trí thức, tín đồ ở Huế đã công khai bày tỏ cảm tình của họ đối với Việt cộng. Trong mọi trường hợp, tình trạng lộn xộn về các sự kiện và bằng chứng cùng các chứng cứ không thể tin được của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chí ít cũng cho thấy “cuộc tắm máu” do Việt cộng gây ra tại Huế được xây dựng trên những bằng chứng hời hợt... Ở trên, chúng tôi đã đề cập một số việc làm trắng trợn do cơ quan tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành. Cần nhấn mạnh rằng, lẽ ra phải xem xét với nhiều hoài nghi hơn đối với các báo cáo hằng ngày vẫn đề cập tin tức về những vấn đề ở Đông Dương. Bởi trong một số trường hợp, khi tiến hành điều tra nghiêm túc thì thông tin do Mỹ và chính quyền Sài Gòn cung cấp lại không có giá trị. Thí dụ, nhà báo Nhật Bản K.Honda (K.Hon-đa) điều tra một báo cáo hằng tuần có nhan đề Những hoạt động khủng bố của Việt cộng do cơ quan thông tin của quân đội Mỹ tại Sài Gòn cung cấp. Nghiên cứu một vụ quan tâm nhất, ông đã phát hiện khủng bố không chỉ kinh hoàng, xảy ra thường xuyên, mà còn bị che đậy bởi hành động kiểm soát tin tức rất chặt chẽ của chính quyền Sài Gòn... Dường như vô số “sự việc kinh hoàng” đã được che đậy một cách bí mật khi cuộc chiến Việt Nam ngày càng gia tăng. Ông khám phá vụ ám sát năm sinh viên Phật tử trước đó đã được chính thức công bố là nạn nhân của Việt cộng, song rõ ràng lại do quân đội Sài Gòn gây ra. Cùng với đó là việc binh lính Sài Gòn say rượu cãi lộn rồi ném lựu đạn vào thường dân qua đường, làm họ bị chết, cũng được gán cho Việt cộng. Trong nhiều vụ việc khác, sự thật đã bị phơi bày một cách tình cờ. Thí dụ đặc biệt phi lý, khó có thể chấp nhận là việc không quân Việt Nam cộng hòa đã không kích phá hủy nơi hài cốt của nạn nhân vụ Mỹ Lai được chuyển tới. Và như thường lệ, vụ việc cũng được gán cho Việt cộng. Tuy nhiên, những người theo đạo Quaker (Quây-cơ) trong vùng đã phanh phui sự thật này. Các thí dụ nêu trên gợi lên một điều rằng các báo cáo chính thức là sự dối trá và lừa bịp, một vài trường hợp được thay đổi biến thành chuyện chính thức song hoang đường. Một kết luận quan trọng nữa là nguồn tin chính thức nói chung đã hạn chế độ tin cậy một cách tối đa. Chúng đưa ra các câu hỏi, nhưng không đưa ra được câu trả lời đáng tin cậy”. (*) Đầu đề là của Báo Nhân Dân - Lược dịch và trích đăng từ: A.N Chomsky và E.S Herman, The political economy of human rights, Volume I, Black Rose Book, Montréal 1979 - 5.2.3 The Hue Massacre of 1968 (Excerpts) - (A.N Chomsky và E.S Herman, Kinh tế chính trị về nhân quyền Tập I, NXB Black Rose, Montréal 1979, phần 5.2.3 - Thảm sát Huế năm 1968). Giáo sư A.N Chomsky (1928) là nhà triết học, ngôn ngữ học, nhà hoạt động chính trị nổi tiếng tại Mỹ, người “thường được xem là một trong những nhà trí thức quan trọng nhất trong nền chính trị cánh tả tại Mỹ”; Giáo sư E.S Herman (1925 - 2017) là nhà kinh tế học, nhà phân tích truyền thông nổi tiếng ở Mỹ.