Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

NGHIÊM TRỊ CÁC ĐỐI TƯỢNG XÚC PHẠM TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 

Ngày 15-4, Tòa án nhân dân quận Tân Phú (TP Hồ Chí Minh) đã tuyên phạt bị cáo Quách Duy (nguyên công chức Văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh) 4 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Theo cáo trạng, năm 2019, Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh phát hiện trên Facebook Quách Duy đăng tải một số bài viết có nội dung xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của một số đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng và nhà nước, TP Hồ Chí Minh.  

Cũng theo cáo trạng, khi khám xét, cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú thu giữ và chuyển Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra theo thẩm quyền nhiều tài liệu thể hiện nội dung tin nhắn giữa tài khoản Facebook Quách Duy với một số tài khoản facebook khác. Tại tòa, bị cáo Quách Duy khai nhận các hành vi như cáo trạng đã nêu.

Ngày 13-4, Công an tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 7,5 triệu đồng đối với Nguyễn Quang M (SN 1993, trú tại thôn Hùng Lãm 2, xã Hồng Thái, Việt Yên, Bắc Giang), có tài khoản Facebook “N Q M”, vì hành vi cung cấp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức. 

Trước đó, vào hồi 19 giờ 4 phút ngày 6-4, Nguyễn Quang M. đăng tải nội dung liên quan đến sự việc người dân ném chất bẩn diễn ra ở Khu đô thị Đình Trám - Sen Hồ (địa phận xã Hồng Thái) trên Facebook cá nhân với lời lẽ bình luận, thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức. Tại cơ quan công an, Nguyễn Quang M đã thừa nhận hành vi sai trái của mình và tự gỡ các bài viết không đúng sự thật nêu trên.

Công an huyện Anh Sơn (Nghệ An) đang hoàn thiện hồ sơ, xử lý theo quy định đối với Nguyễn Văn Thái (31 tuổi, trú tại xã Long Sơn, huyện Anh Sơn) vì đã có hành vi bình luận trên mạng xã hội với nội dung xúc phạm nghiêm trọng đến lực lượng công an.

Theo đó, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 5-4, đối tượng này đã sử dụng tài khoản facebook “Nguyen Thai” để đăng bình luận dưới bài viết trên nhóm “Anh Sơn Online” với những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến lực lượng Công an huyện Anh Sơn. Tại cơ quan công an, Thái thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật, chủ động xoá bình luận và đăng bài công khai xin lỗi Công an huyện Anh Sơn.

MỘT LỐI SUY DIỄN QUY CHỤP, VÔ LƯƠNG TÂM

 

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Chúng tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

ÂM MƯU LẬP QUỸ ĐỂ HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

 

Chúng ta còn nhớ năm 2016, Nguyễn Thúy Hạnh đã tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội khóa XIV với tuyên bố cương lĩnh tranh cử để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hay quyền giới phụ nữ, người yếu thế. Nhưng kỳ thực trên facebook cá nhân Hạnh thổ lộ với cộng đồng là lợi dụng việc này để “đòi quyền tự do đã mất”, chống lại thể chế chính trị “độc tài”, đấu tranh đòi đa nguyên đa đảng để “Đảng Cộng sản Việt Nam phải trả lại quyền lực cho dân tộc”.

Thế nên, ngay từ quá trình làm hồ sơ ứng cử Hạnh đã tích cực cập nhật tình hình lên facebook cá nhân với nội dung tố cáo chính quyền gây khó dễ cho những người tự ứng cử thông qua việc không làm theo yêu cầu của hồ sơ. Khi cơ quan chức năng hướng dẫn bổ sung hồ sơ thì Hạnh lại xuyên tạc thành gây khó dễ cho người tự ứng cử. Ảo tưởng nữa là, Hạnh tự tổ chức “hội nghị cử tri” ở công ty nước ngoài do Hạnh làm đại diện miền Bắc và thu được 100% ủng hộ của cử tri là nhân viên công ty bằng biểu quyết giơ tay mà không có sự chứng kiến từ Hội đồng bầu cử nơi nộp hồ sơ ứng cử ở Hà Nội. 

Tiếp đó, Nguyễn Thúy Hạnh lập ra quỹ “tù nhân lương tâm” có tên gọi “50K” không đúng quy định của pháp luật hiện hành và duy trì hoạt động nhằm tài trợ, cổ vũ những kẻ bất đồng chính kiến, chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điều đáng lưu ý là Hạnh đã sử dụng tiền để mua các tài liệu, cuốn sách xuất bản chui ở nước ngoài do Phạm Đoan Trang viết rồi tặng cho các con nhang đệ tử của phong trào dân chủ ở trong nước. Nhiều người nghi ngờ và đặt câu hỏi, có dấu hiệu các tổ chức khủng bố ở nước ngoài như Việt Tân lợi dụng, để gửi tiền tài trợ vào quỹ “50K” một cách tinh vi, tài trợ, thúc đẩy các đối tượng chuyên hoạt động dân chủ bất hợp pháp ở trong nước quấy phá. 

Báo Nhân Dân từng có bài vạch trần chân tướng các quỹ nhân danh “dân chủ” trong đó có quỹ của Nguyễn Thúy Hạnh. Hàng loạt thứ quỹ với những cái tên mỹ miều như “bầu bí tương thân”, “lương tâm”, “hiệp hội thiện nguyện vì dân”, “50k”... và Hạnh đã lợi dụng để quyên tiền. Hạnh còn vẽ ra nhiều thứ quỹ khác như: “Quỹ quà tết”, “quỹ sách giáo khoa”, quỹ cho “Lê Anh Hùng”, “Phan Rí”... Chỉ trong tháng 9 và tháng 10-2020, quỹ này đã huy động được số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng. 528 triệu đồng là số tiền mà Nguyễn Thúy Hạnh đã kêu gọi được sau 3 ngày phát động từ các cá nhân trong và ngoài nước nhân lợi dụng sự việc Đồng Tâm. Ngoài một số tài khoản ghi nội dung phúng điếu, có nhiều tài khoản có lời lẽ kích động, ca ngợi số chống đối tại Đồng Tâm...Dư luận cũng đặt câu hỏi có hay không sự liên quan giữa các quỹ này và việc nhiều năm nay, vợ chồng Hạnh không hề có công ăn việc làm cụ thể, nhưng vẫn khoe trên mạng xã hội là đang sở hữu nhiều căn hộ cao cấp cùng tài sản giá trị khác. Hạnh cũng từng bị các đối tượng khác kiện vì thiếu minh bạch trong sử dụng những nguồn quỹ.

Việc tự lập quỹ “50K” của Nguyễn Thúy Hạnh đã vi phạm các quy định của pháp luật, trong đó có Nghị định số 93/2019/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện có nêu rõ người lập quỹ phải có hồ sơ với chương trình cụ thể về việc lập quỹ, huy động nguồn quỹ và sử dụng quỹ rồi trình cơ quan chức năng xem xét, cấp phép. Đặc biệt, tại Điều 9, Nghị định 93 đã đưa ra 6 nội dung các hành vi bị nghiêm cấm trong lập quỹ như: Làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng; gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, khối đại đoàn kết dân tộc; rửa tiền, tài trợ khủng bố và các hoạt động trái pháp luật… Như vậy, việc lập quỹ của Nguyễn Thúy Hạnh cần phải được nghiêm trị./.

NHẬN DIỆN KẺ “HÀNH NGHỀ” DÂN CHỦ

 

Theo thông tin từ cơ quan An ninh điều tra-Công an TP Hà Nội, Nguyễn Thúy Hạnh sinh năm 1963 và có hộ khẩu thường trú tại phường Thượng Đình, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội.

Trên facebook cá nhân, Nguyễn Thúy Hạnh đưa rất nhiều thông tin hoạt động “từ thiện” dành tặng cho “tù nhân lương tâm” và người thân trong gia đình những kẻ bị bắt về tội danh tuyên truyền chống nhà nước đã bị tòa án các cấp xử phạt và đang thụ án.

Từ năm 2011, Hạnh đã tham gia tích cực vào nhiều hoạt động tụ tập đông người trái phép, những cuộc biểu tình dưới danh nghĩa “yêu nước”, “chống Trung Quốc”. Sau vài lần bị xử lý hành chính, Nguyễn Thúy Hạnh nhanh chóng trở thành một biểu tình viên tích cực và “chuyên nghiệp” của cái gọi là “làng” dân chủ ở Việt Nam. Hạnh tham gia vào nhiều hoạt động như cafe nhân quyền, biểu tình đòi thả tự do cho những đối tượng vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng trước cổng các cơ quan nhà nước, biểu tình phản đối chặt cây xanh...

Hạnh còn viết bài trên facebook về các sự việc tiêu cực để quy chụp, vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các địa phương; viết bài biện hộ cho Việt Tân. Đã nhiều lần Hạnh bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhiều lần bị xử phạt hành chính.

Hạnh cũng tham gia vào rất nhiều những hội nhóm mang danh xã hội dân sự để hoạt động chống phá như Hội dân oan, mạng lưới blogger Việt Nam, hội phụ nữ nhân quyền, Hội nhà báo độc lập... Ngoài ra, Hạnh còn tích cực trả lời phỏng vấn các đài báo phản động ở hải ngoại với nhiều nội dung xuyên tạc.Tháng 12-2019, Nguyễn Thúy Hạnh được tổ chức Việt Tân trao giải thưởng Lê Đình Lượng. Hạnh đã 3 lần bị lực lượng chức năng của Việt Nam xử phạt hành chính về hành vi tụ tập trái phép và biểu tình trái phép./.

Nhận diện, đấu tranh với thông tin xấu độc trên không gian mạng



Theo nhận định của cơ quan an ninh, hoạt động của các hội, nhóm trái phép liên quan đến an ninh quốc gia tiếp tục có những diễn biến phức tạp, manh động và cực đoan. Phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khai thác tối đa sự lan truyền nhanh, rộng trên không gian mạng để lôi kéo đối tượng là người đi khiếu kiện, tội phạm nhằm phục vụ các hoạt động biểu tình, phá hoại, bạo loạn, tiến tới thực hiện “Cuộc cách mạng màu” lật đổ chế độ ta…

NHỮNG KẺ XÉT LẠI LỊCH SỬ LỐ BỊCH

 

Hiện nay, mạng xã hội, nhất là facebook, Youtube đang được các đối tượng triệt để sử dụng làm nơi đăng tải, chia sẻ, tuyên truyền những luận điệu, quan điểm, thông tin sai trái. Điển hình là một số trang mạng do các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức phản động điều hành, như: Việt Tân, Chân trời mới media, Bình luận về Đảng cộng sản, Hội anh em dân chủ... Trong suốt quá trình diễn ra Đại hội XIII và cả sau khi đại hội thành công, cả nước ra sức đưa nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống thì tại các trang mạng nêu trên, việc tuyên truyền các thông tin, luận điệu xuyên tạc vẫn diễn ra một cách quyết liệt và trắng trợn. Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các bài viết có nội dung tiêu cực, phản động, các thế lực thù địch, chống đối còn tận dụng triệt để truyền thông đa phương tiện, tiến hành dàn dựng các video clip với các dữ liệu, hình ảnh sai trái, mang tính cắt ghép nhằm bôi nhọ, công kích, đả phá vai trò lãnh đạo của Đảng và một số đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII giới thiệu bầu vào các chức danh chủ chốt trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Nội dung được các đối tượng tập trung là xuyên tạc bản chất của chế độ cộng sản với những luận điệu, quan điểm hết sức trắng trợn, thô bỉ, sai sự thật, như: "Đảng cộng sản dựa vào bạo lực để duy trì chính quyền", "chế độ một đảng lãnh đạo là độc tài, không thể có dân chủ"... Đồng thời, các đối tượng cũng đẩy mạnh hoạt động công kích, chống phá Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Từ đó, chúng cổ xúy quan điểm đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi hỏi Đảng cộng sản phải "tự tách đôi chính mình", đòi bầu cử theo kiểu phương Tây (tự do ứng cử, không cần hiệp thương), hòng khởi đầu cho xã hội đa đảng, thậm chí là đòi Đảng phải "tự rút lui", "trả lại quyền lực" cho một lực lượng khác lên nắm quyền. Những luận điệu xuyên tạc trên thật là lố bịch./.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SAI SỰ THẬT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

 

Đại hội XIII của Đảng đã diễn ra và thành công rất tốt đẹp chính là dịp để chúng ta tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020, 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đồng thời xây dựng, định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại cho giai đoạn tiếp theo. Với mục đích phủ nhận sạch trơn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, những luận điệu công kích, xuyên tạc liên tục được các thế lực thù địch, phản động, chống đối tung ra. Trọng tâm và xuyên suốt nhất là việc đả kích, xuyên tạc bản chất của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ngay trong những ngày diễn ra đại hội, các đối tượng chống phá vẫn không ngừng đưa ra luận điệu cho rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của riêng chế độ tư sản; việc gắn yếu tố định hướng XHCN vào nền kinh tế thị trường tạo ra một sản phẩm "đầu Ngô, mình Sở".

Bất chấp khó khăn chung của toàn cầu, nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn duy trì tăng trưởng ở mức độ khá cao, giai đoạn 2011-2015 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5,9%/năm, giai đoạn 2016-2019 tăng trưởng đạt 6,8%/năm, bình quân giai đoạn 2011-2020 ước đạt tăng trưởng 5,9%/năm. Riêng trong năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch Covid-19 nhưng nền kinh tế của Việt Nam vẫn tăng trưởng 2,91%, trở thành một trong số ít nền kinh tế có tăng trưởng dương trên thế giới. Thế nhưng, các thế lực chống phá vẫn xuyên tạc, cho rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản "không thể tạo ra sự phát triển kinh tế thực chất", họ vu khống cho rằng "nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc, phát triển chỉ nhờ đóng góp của tư bản nước ngoài".

Họ cũng lợi dụng tình trạng một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa hiệu quả, gây thất thoát và những điểm còn hạn chế trong việc cổ phần hóa tại một số doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn vừa qua để làm cái cớ xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách nhằm vu khống bản chất chế độ XHCN, họ luôn cho rằng: Các nước đi theo con đường XHCN đồng nghĩa với đói nghèo. Họ ca ngợi sự giàu có của các nước tư sản, hòng tạo ra sự lầm tưởng trong nhận thức của một bộ phận người dân, từ đó hình thành các lực lượng đối lập ngay trong lòng đất nước chúng ta./.

Những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương phép nước

Những ngày vừa qua, việc hàng loạt cán bộ bị khởi tố, bắt giam (trong đó có cả cán bộ cấp cao) được dư luận hết sức quan tâm. Đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cho rằng đó là những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương, phép nước, tiếp tục chỉnh đốn, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, cho dù, như nhiều cán bộ lão thành phát biểu, đây cũng là nỗi đau xót trong Đảng, không ai có thể vui mừng khi thấy đồng chí của mình bị xử lý như vậy. . Trong khi đó, nhân những sự việc này, nhiều đối tượng cơ hội chính trị, phản động lại “chọc gậy bánh xe”, “đục nước béo cò”, đưa ra những quan điểm lệch lạc... “Chọc gậy bánh xe”, tạo dựng mâu thuẫn Ngay sau khi báo chí, truyền thông trong nước đưa tin về việc khởi tố, bắt tạm giam các ông: Đinh La Thăng, Nguyễn Quốc Khánh, Đinh Mạnh Thắng... hàng loạt tờ báo và trang mạng nước ngoài đã có thêm những bài viết với một số lập luận hết sức cực đoan, theo kiểu “chọc gậy bánh xe”. Đài Á châu Tự do, như thường lệ lại tiếp tục tung ra luận điệu, sự việc “chưa phải hồi kết”. Họ cho rằng không có chống tham nhũng thực sự mà đây chỉ là cuộc đấu đá nội bộ rồi từ đó đồn đoán sẽ có những nhân vật nào tiếp tục bị bắt. Thậm chí, lợi dụng sự việc này, họ dựng lên cái gọi là “cuộc chiến sinh tử” của cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước để “giữ thể diện” mà thôi. Trong nước, có người sau thời gian dài không bàn luận gì nay lại “chém gió” là “không hề ngạc nhiên” vì bản chất là “cuộc đấu đá phe phái”. Từ đó kêu gọi phải "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự". Từ câu chuyện chống tham nhũng, họ lái vấn đề sang chuyện thay đổi chế độ. Họ đồn đoán đây là cuộc chiến không khoan nhượng nhưng không phải là cuộc chiến chống tham nhũng vì gốc rễ của tham nhũng là “thể chế”. Khi thể chế chưa thay đổi thì đánh tham nhũng chỉ là “tranh giành phe phái”. Họ còn đơm đặt rằng, công luận cũng sẽ chỉ một hướng tấn công những người vi phạm pháp luật bị bắt; còn Đảng không có tính nhân văn, sẽ tìm mọi cách quy kết thật nhanh. Từ đó, họ cố tình xuyên tạc cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, rằng có một “bi kịch” tiềm ẩn rủi ro chung cho tất cả mọi người là “đều có thể là nạn nhân của một nền pháp quyền què quặt”... Họ kêu gọi mọi người hãy sớm đến với dân chủ nhân quyền, đừng “đợi tới lúc trở thành nạn nhân mới bắt đầu nghĩ tới quyền của mình”. Đau xót nhưng phải làm nghiêm minh Trên thực tế, trước các sự việc trên, nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân rất quan tâm nhưng cũng coi đó là những bài học đau xót. PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng nêu quan điểm: “Chúng ta cần nhìn nhận việc kỷ luật những cán bộ cấp cao vi phạm pháp luật là điều không lấy gì làm vui vẻ mà quan trọng hơn cần những thiết chế để cán bộ không dám và không thể vi phạm kỷ luật hay tham nhũng, tiêu cực”. Ông Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi cho biết: “Không ai có thể vui được khi đồng chí của mình, đặc biệt lại là một cán bộ cao cấp vi phạm đến mức phải kỷ luật, bị khởi tố và bắt tạm giam. Một cán bộ đã trải qua nhiều vị trí công tác, được tôi luyện, thử thách qua nhiều lĩnh vực quan trọng sao lại mắc phải sai phạm nghiêm trọng đến như vậy? Qua đây cũng rút ra bài học sâu sắc cho nhiều cán bộ, đảng viên... Nếu chúng ta cứ bao che, cứ làm nhẹ tội lỗi của cán bộ, đảng viên vi phạm, thì dân nhìn vào còn biết tin ai. Mất lòng tin của dân là mất tất cả. Làm nghiêm không phải là không đau xót trước sai phạm của đồng chí mình. Đây là bài học cảnh tỉnh tất cả cán bộ, đảng viên để tự răn mình, tự biết dừng lại trước mỗi việc làm sai trái”. Một cựu lãnh đạo của một tờ báo trong bài viết dài đã nêu quan điểm: Chúng ta cũng sẽ có cái nhìn tích cực trước việc Đảng ta rất mạnh mẽ trong xử lý những sai phạm gần đây. Nó sẽ là một điểm son trong mắt mỗi đảng viên chân chính cũng như người dân yêu nước, yêu chế độ. Chính những điều này đã giúp mọi người hồi phục lòng tin với Đảng hơn lúc nào hết. Từ lời dạy của Bác Hồ: Chặt cành để cứu cây Những việc làm trên là cần thiết để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, để không ngừng làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước ta. Điều đó là nhất quán trong quan điểm của Đảng cũng như theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hoàn toàn không có chuyện thanh trừng, đấu đá nội bộ. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến còn đầy gian khổ, thù trong giặc ngoài, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết chống tham ô, tiêu cực với tinh thần, dù đau đớn nhưng vẫn phải chặt cành để cứu cây. Năm 1950, vụ án Trần Dụ Châu được phát hiện từ bức thư của nhà thơ Đoàn Phú Tứ, đại biểu Quốc hội khóa I gửi lên Bác Hồ. Người đã giao bức thư cho Thiếu tướng Trần Tử Bình, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Thanh tra Quân đội yêu cầu điều tra làm rõ và nói: “Bác đã đọc kỹ lá thư và rất đau lòng”. Ít lâu sau, nhận báo cáo điều tra cụ thể, Bác Hồ dứt khoát nói: “Một cái ung nhọt, dẫu có đau cũng phải cắt bỏ, không để nó lây lan, nguy hiểm”. Năm 1964, Bác Hồ tiếp tục nhận được ý kiến xin giảm tội cho một cán bộ tha hoá, biến chất là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng. Sau khi xem xét, cân nhắc, Người quyết định: "Thà chặt một cành sâu để cho cây xanh tốt". Thái độ của một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính” Phải xem xét, xử lý kỷ luật và truy tố trước pháp luật bất kỳ cán bộ, đảng viên nào là điều không ai mong muốn. Càng đau xót và đáng tiếc hơn khi đó là những đồng chí cán bộ cấp cao, từng kinh qua rèn luyện, trưởng thành và có đóng góp nhất định với đất nước. Nhưng Đảng ta là đảng cầm quyền, ngoài phấn đấu, làm việc vì lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Và để xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn. Chúng ta cần ghi nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng: “... Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chân chính”. Đảng ta luôn khẳng định, mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước pháp luật. Hơn thế, đảng viên vi phạm ngoài bị xử lý theo đúng pháp luật còn phải bị xử lý theo đúng kỷ luật Đảng một cách tự giác, nghiêm minh. Thậm chí, ở một khía cạnh nào đó phải được xử lý nghiêm minh hơn, có như vậy, mới xây dựng được xã hội pháp quyền, thượng tôn pháp luật, mới tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và niềm tin trong nhân dân về một Đảng “mạnh dạn, tiến bộ, chân chính”. Nguyên tắc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm được ghi rõ trong Quy định số 102-QĐ/TW của Bộ Chính trị mới ban hành gần đây đã nêu rõ: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Để có triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên quan điểm nhân văn nhưng cũng rất kiên quyết, thể hiện rõ ý chí của Đảng, Nhà nước ta trong cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực: “Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!”. Rồi đây, sự việc những cán bộ vi phạm sẽ tiếp tục được điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Qua mỗi sự việc được làm sáng tỏ, sẽ rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức và cũng là dịp để chúng ta “tự soi, tự sửa”, là dịp để củng cố, không để còn những lỗ hổng pháp lý, lỗ hổng trách nhiệm và cả “lỗ hổng lương tâm”, giúp bộ máy Nhà nước của chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn. Và như vậy, cuộc chiến chống tham nhũng đã và đang đạt được lợi ích kép, vừa tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vừa giáo dục, rèn luyện đảng viên tốt hơn, vừa hoàn thiện hệ thống pháp luật và bộ máy chứ đâu phải “chỉ có thay đổi thể chế mới chống được tham nhũng” như những luận điệu cực đoan đang rêu rao. Chúng ta càng không thể mơ hồ, ảo tưởng vào những luận điệu mị dân như phải tiếp cận dân chủ, nhân quyền phương Tây, “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, thay đổi thể chế mới đẩy lùi được tham nhũng. Trên thực tế, chẳng phải thay đổi thể chế thì chống tham nhũng tốt hơn mà điều quan trọng nhất chính là giáo dục, răn đe, tạo ra sự chuyển biến trong toàn Đảng, toàn dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu quan điểm: “Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ”; để từ đó “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”. Chỉ có bằng việc không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị, giúp bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn để dân thêm giàu, nước thêm mạnh mới là con đường tốt nhất.

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ. . 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu. Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”. Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông

Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ. . 11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch. Ảnh tư liệu. Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện. Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”. Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên. Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

Đảng viên không thể tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đến nay, nhân dân đã được chứng kiến nhiều cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý bị thi hành kỷ luật, thậm chí bị xử lý trước pháp luật. . Thực tế ấy một mặt cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy lãnh đạo, chính quyền các cấp từ Trung ương tới địa phương của Đảng ta. Mặt khác, nó cũng cho thấy vai trò tiên phong, gương mẫu của một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên chủ trì các cơ quan, đơn vị, địa phương đang bị suy giảm. Dù đã được bàn đi bàn lại nhiều nhưng việc phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên vẫn luôn là chủ đề nóng hổi tính thời sự và trở nên cấp bách hiện nay. Một tổ chức, một tập thể muốn mạnh thì các thành viên trong tổ chức ấy phải tốt. Đảng ta cũng vậy, để đủ sức lãnh đạo đất nước vượt qua thác ghềnh, tiến tới vinh quang thì Đảng phải thường xuyên được xây dựng trong sạch, vững mạnh. Sức mạnh của đảng là do các đảng viên - những tế bào của Đảng tạo nên. Muốn Đảng mạnh thì đội ngũ đảng viên phải tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt"(1). Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên có vị trí, vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng và nâng cao sức chiến đấu của Đảng. Đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(2). Trong suốt 87 năm gánh vác sứ mệnh lịch sử lớn lao mà giai cấp và dân tộc giao phó, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn giữ vững và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu. Thực tế chứng minh càng trong gian khó, hiểm nguy, vai trò của người đảng viên càng được khẳng định. Đặc biệt trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng vạn đảng viên đã xả thân hy sinh, chiến đấu kiên cường, dũng cảm để giành lại và giữ gìn nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới, đội ngũ đảng viên của Đảng luôn đi đầu tranh thủ thời cơ, vượt lên thách thức, tích cực, năng động, nhạy bén tiếp thu cái mới; sáng tạo trong lao động sản xuất, học tập và công tác. Hầu hết đảng viên luôn đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Bước vào thời kỳ hội nhập, đội ngũ đảng viên của Đảng thực sự đi tiên phong, gương mẫu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu của đất nước; chịu khó học tập, tiếp thu khoa học công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn. Rất nhiều đảng viên có tư duy sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và đã tạo ra được những giá trị mới, thành tựu mới; từ đó dẫn dắt phong trào, củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN... Hình ảnh những đảng viên tiên phong, gương mẫu đã ăn sâu, bám rễ và còn mãi trong lòng nhân dân. Nhưng thật tiếc, thời gian qua, một bộ phận không nhỏ đảng viên đã không giữ vững, phát huy được tính tiên phong, gương mẫu do suy thoái về tư tưởng, biến chất về đạo đức, lối sống. Đúng như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở... Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa " chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” (3). Một số trường hợp điển hình phải kể đến là: Ông Trịnh Xuân Thanh, Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang (nhiệm kỳ 2011-2016) có nhiều sai phạm nghiêm trọng trong quá trình công tác, đặc biệt là những sai phạm nghiêm trọng khi giữ cương vị Phó bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc rồi Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam; ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương đã bị cách chức Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương giai đoạn 2011-2016, xóa tư cách nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương; ông Nguyễn Minh Quang, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nhiệm kỳ 2011-2016) bị xử lý kỷ luật cảnh cáo do có những vi phạm liên quan đến vụ Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh xả thải gây ô nhiễm môi trường biển tại một số tỉnh miền Trung; bà Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công Thương đã bị kỷ luật cảnh cáo và miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng do có nhiều vi phạm, khuyết điểm trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp; kê khai tài sản, thu nhập thiếu trung thực...; ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ...; ông Nguyễn Phong Quang, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ (giai đoạn 2011-2016) do vi phạm nguyên tắc lãnh đạo đã bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng... Không chỉ vậy ở nhiều bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị số đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý cũng lên tới hàng trăm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế, khuyết điểm làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ ra là “một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu”. Không chỉ Đảng ta mà quần chúng nhân dân cũng cảm thấy rất đau, rất buồn khi có những đảng viên, nhất là những đảng viên giữ vị trí, trọng trách lớn bị xử lý kỷ luật. Nhưng vì sự trong sạch của Đảng, vì sự phát triển của đất nước, vì sự bền vững của chế độ thì không thể buông lỏng kỷ luật, kỷ cương. Có công thì thưởng, có tội thì phạt, Đảng và nhân dân ta rất công tâm. Đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý là lẽ đương nhiên, nhưng vấn đề chính không phải là xử lý bằng hình thức nào mà quan trọng là phải tìm cho được những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu. Nhiệm vụ của cách mạng ở từng giai đoạn có khác nhau và thực tiễn đòi hỏi vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngày một cao hơn, cho nên tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên cũng có những nội dung, yêu cầu mới. Cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Đảng viên không thể phát huy tính tiên phong, gương mẫu nếu suy thoái. Bởi lẽ quần chúng nhân dân rất tinh tường, họ chỉ tin tưởng, yêu mến, nghe và làm theo những cán bộ, đảng viên lời nói đi đôi với việc làm, có trình độ, năng lực; có phương pháp, tác phong công tác khoa học; có phẩm chất, đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, lành mạnh v.v.. Để vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị mai một, có nhiều việc cần làm, nhưng quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Để làm được điều đó có một việc hết sức quan trọng mà chúng ta đã nói rất nhiều nhưng kết quả chưa được bao nhiêu, đó là: Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Những đảng viên vi phạm kỷ luật, pháp luật không phải là bột phát trong chốc lát, trong một việc mà đều có quá trình và có sự móc xích, liên quan đến nhiều người trong bộ máy. Những nguy cơ sai lầm, những dấu hiệu vi phạm tinh vi đến mấy cũng bộc lộ, không chỉ một người thấy mà nhiều người trong tập thể biết. Vậy mà tại sao các vụ việc vi phạm nghiêm trọng vẫn cứ xảy ra? Rõ ràng ở những tổ chức có đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, tính đấu tranh tự phê bình và phê bình là chưa cao, nếu không muốn nói là bị buông lỏng. Thử hỏi nếu thấy đồng chí mình có dấu hiệu vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật mà tập thể cấp ủy, tổ chức đảng và các đảng viên trong tập thể chân tình góp ý, thẳng thắn đấu tranh, có biện pháp ngăn chặn từ sớm thì sự việc có đi quá xa, quá nghiêm trọng đến mức phải xử lý kỷ luật? Rõ ràng để tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên không bị giảm sút, vai trò quản lý, giáo dục của tổ chức đảng là hết sức quan trọng. Nhưng quyết định vẫn là vai trò chủ quan của mỗi đảng viên. Để giữ vững và phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng đảng viên phải tự giác học tập và rèn luyện, nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình. Người đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu bao giờ cũng lấy tiêu chuẩn đảng viên làm định hướng phấn đấu, là chuẩn mực để đối chiếu kiểm tra tư tưởng và hành động, từ đó thường xuyên "tự chỉnh đốn”, chứ không phải chờ đợi tổ chức đảng đề ra cuộc vận động, hay áp dụng biện pháp này, biện pháp kia thì mới tự phê bình. Tự phê bình và phê bình nghiêm túc là "chìa khóa vàng" để từng đảng viên giữ vững, phát huy tính tiên phong, gương mẫu, từng tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ./.

Ngăn chặn việc lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Việt Nam

Thực tế cho thấy, để xuyên tạc, vu cáo, chống phá chế độ,... các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã thực hiện nhiều thủ đoạn tác động tới nhận thức của một bộ phận xã hội, trong đó có thủ đoạn phát tán tài liệu dưới nhiều hình thức khác nhau, từ rải tờ rơi ở chỗ đông người đến rao bán như hàng hóa trên in-tơ-nét... . Vào thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, một trong các thủ đoạn mà thế lực thù địch, thiếu thiện chí với chính quyền ở các quốc gia này đã tiến hành là tìm mọi cách phát tán trong xã hội các tài liệu xuyên tạc, chống đối. Thủ đoạn đó được gọi là “samizdat” và ở thời kỳ đầu, vì chủ yếu liên quan tác phẩm văn học mà “hầu hết bị cấm hoặc có nội dung không phù hợp với các tiêu chí chính trị, xã hội và cả thẩm mỹ mà các cơ quan hữu trách đã đặt ra” cho nên trong tiếng Anh, “samizdat” có nghĩa là “xuất bản lậu những sách bị cấm”. Với Việt Nam, ngay từ đầu, các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đã sử dụng samizdat như một công cụ xâm nhập, tiến công, lung lạc đời sống tinh thần xã hội. Dần dà họ mở rộng phạm vi, không chỉ phát tán một số tác phẩm nghệ thuật có nội dung như Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII chỉ rõ là “Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Ðảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Ðảng” mà còn phát tán tài liệu có tính phản tuyên truyền như: “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai… Hạ thấp, phủ nhận các thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Ðảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Ðảng, Nhà nước”. Và khi sự phát triển của in-tơ-nét đã cung cấp một phương tiện truyền bá mới thì các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí cũng rất nhanh chóng tận dụng để phát tán tài liệu loại này qua một số trang mạng, blog, facebook... Mục đích của họ là khuếch tán tài liệu phản tuyên truyền, từ đó len lỏi, thấm dần vào suy nghĩ, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân. Tuy nhiên, vì không phải người nào cũng có thể đọc tài liệu phát tán qua in-tơ-nét, cho nên các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí vẫn tiếp tục sử dụng samizdat với hình thức nguyên thủy là in ấn tài liệu để phát tán. Khi ở Việt Nam máy in, máy phô-tô-cóp-py được mua bán rộng rãi, thì việc in ấn như vậy khá dễ dàng, kẻ xấu có thể tổ chức in ấn ngay tại nhà. Và việc phát tán cũng đã được thực hiện với nhiều cách thức khác nhau, như: gửi qua đường bưu điện, rải tờ rơi tại một vài địa điểm công cộng, dán lên tường, lên gốc cây nơi có nhiều người qua lại, ngang nhiên tụ tập ở nơi đông người để phân phát... Thậm chí gần đây, có người còn “xuất bản” một cuốn sách được ví như “nồi lẩu thập cẩm” về chính trị vì khai thác, nhặt nhạnh từ một số sách vở, địa chỉ trên in-tơ-nét rồi rao bán trên Amazon, và lập tức một số kẻ đã xúm vào ca ngợi, quảng bá! Có thể nhận diện thủ đoạn truyền bá quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam qua việc họ cắt xén, xuyên tạc Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (Hiến pháp), Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (Tuyên ngôn), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước)... Thí dụ, biện hộ cho hành vi vi phạm pháp luật, họ cho rằng theo Hiến pháp thì “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Thực chất, đó là sự cắt xén nguyên bản, bởi Ðiều 25, Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, tức là Hiến pháp quy định các quyền đó phải thực hiện trên cơ sở pháp luật. Với Tuyên ngôn và Công ước cũng vậy, họ phát tán các tài liệu này để vu khống Việt Nam “vi phạm nhân quyền” nhưng chỉ nhấn mạnh nội dung phù hợp với họ, còn bỏ qua nội dung không phù hợp. Như họ tảng lờ khoản 2, Ðiều 29, Tuyên ngôn xác định: “Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; khoản 3, Ðiều 18, Công ước xác định: “Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác”; hoặc khoản 3, Ðiều 19, Công ước xác định: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (…) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”. Như vậy, các văn bản kể trên của Liên hợp quốc luôn tôn trọng luật pháp của các quốc gia, coi việc thực thi quyền con người phải đặt trong tương quan với an ninh quốc gia, trật tự công cộng, với trách nhiệm, bổn phận, đạo đức, với quyền của người khác... Trong bối cảnh các thế lực thù địch hoặc thiếu thiện chí đang bày ra nhiều âm mưu, tận dụng mọi hình thức chống phá nhằm gia tăng sự tác động của luận điệu xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, cổ vũ hành vi chống phá chế độ,... vào đời sống xã hội, chúng ta cần thực hiện tốt quan điểm được Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII xác định: Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; và để “chống” có hiệu quả, Nghị quyết chỉ rõ phải: “Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị”. Với hiện tượng lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước Việt Nam, cần phải chủ động tuyên truyền rộng rãi, dễ hiểu, dễ nắm được bản chất vấn đề để toàn xã hội thống nhất về mục tiêu, định hướng, bước đi,... phát triển đất nước; kiên quyết xử lý các cán bộ, đảng viên có hành vi làm tổn hại lợi ích của xã hội, lợi ích của nhân dân; khách quan và minh bạch trong hoạt động của chính quyền các cấp để củng cố niềm tin của xã hội; xây dựng sách lược thống nhất, phối hợp chặt chẽ, có khả năng dự báo và lường trước mọi luận điệu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, để vừa làm chủ trận địa truyền thông vừa có đối sách thích hợp, nhanh chóng vạch trần và chứng minh, bác bỏ...; cơ quan chức năng cần chủ động nắm bắt diễn biến tình hình, nghiêm khắc xử lý mọi hành vi lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” để phát tán tài liệu vu cáo, vu khống Ðảng và Nhà nước. Quan trọng hơn, khi chúng ta thực hiện tốt quan điểm “Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Ðảng; đề cao pháp luật của Nhà nước” như Nghị quyết T.Ư 4 đã khẳng định thì không thế lực thù địch, thiếu thiện chí nào có thể cản trở sự nghiệp phát triển đất nước trên con đường đã được Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn.

Bình đẳng giữa các dân tộc - Biểu hiện cụ thể của quyền con người ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia thống nhất với 54 dân tộc cùng chung sống. Với tỷ lệ dân số không đồng đều (trong tổng số hơn 90 triệu dân Việt Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14.3% với hơn 12.3 triệu người, thuộc 53 dân tộc); cư trú phân tán và xen kẽ nhau… cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều đặc điểm riêng so với các dân tộc khác trên thế giới. . Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng chính sách dân tộc, đặc biệt là bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc; quan tâm chăm lo, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào các dân tộc thiểu số gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển về mọi mặt và thụ hưởng các quyền lợi khác đã được pháp luật ghi nhận. Coi trọng bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc Trong các bản hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ đều ghi nhận và khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc. Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp đã nâng tầm chế định về quyền con người, quyền công dân, khi đề cập đến quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đã khẳng định: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5). “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16). Nguyên tắc trên của Hiến pháp đã được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, được thể chế và cụ thể hóa trong các văn bản luật: Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Quốc tịch, Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật Lao động; Luật Giáo dục; Luật Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác. Bên cạnh đó, các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được thể chế hóa bằng chế định về Hội đồng Dân tộc, với nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số. Trong Chính phủ có một cơ quan cấp bộ là Uỷ ban Dân tộc, chuyên trách công tác dân tộc. Với quan điểm mọi công dân đều được bảo đảm quyền tham gia hệ thống chính trị, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, những năm gần đây tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào bộ máy chính trị ngày càng tăng. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số luôn chiếm tỷ lệ cao so với tỷ lệ dân số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27%, cao hơn tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên tổng số dân là 14,35%. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 là 18%, cấp huyện là 20%, cấp xã là 22,5%. Dành nhiều ưu tiên hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội Với đặc điểm cư trú phân tán, xen kẽ, tập trung chủ yếu ở các vùng núi, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, trình độ phát triển còn thấp so với mặt bằng chung cả nước. Để hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền bình đẳng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, những năm qua, Nhà nước đã dành nhiều ưu tiên trong triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều chương trình đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Chương trình hành động 122 của Chính phủ về Công tác Dân tộc; Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Giảm nghèo bền vững; Chương trình 135 (giai đoạn 2) về Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; các chính sách và chương trình ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết đất sản xuất và đất ở (Quyết định 132); hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở và các nhu cầu thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống cho đồng bào nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Quyết định 134); ưu đãi thuế nông nghiệp và thuế lưu thông hàng hoá, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, trợ giá các mặt hàng thiết yếu cho đồng bào dân tộc như muối ăn, thuốc chữa bệnh, phân bón, giấy viết, chính sách phát triển rừng, bảo vệ môi trường sống miền núi (Chương trình 327); chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số… Nhờ những chính sách và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tình hình kinh tế, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện rõ rệt. Từ năm 2007 đến nay đã có 118.530 hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn được vay vốn, 33.969 hộ được hỗ trợ phát triển sản xuất, 80.218 hộ được hỗ trợ mở rộng quy mô chăn nuôi, 4.343 hộ được hỗ trợ mở rộng sang ngành nghề dịch vụ. Tổng số hộ nghèo người dân tộc thiểu số là 1.422.261 hộ, chiếm 5,97% tổng số hộ người dân tộc thiểu số trong cả nước. Chất lượng cuộc sống của người dân tộc thiểu số cũng từng bước được cải thiện. Cơ sở hạn tầng đảm bảo cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của đồng bào được đầu tư xây dựng. Đến nay, 100% xã có trạm y tế và cán bộ y tế, 100% số huyện có trung tâm y tế và bác sỹ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%. Một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi. Bảo đảm quyền và hỗ trợ đồng bào thiểu số gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn là một bộ phận cấu thành quan trọng, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc là chủ trương nhất quán của Nhà nước Việt Nam, coi đó là cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và phát triển bền vững đất nước. Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Trên thực tế, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, mức thụ hưởng văn hóa được nâng cao. Nhiều nét văn hóa các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát triển, được công nhận là di sản văn hóa thế giới như: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”, “Thánh địa Mỹ Sơn”, “Cao nguyên đá Đồng Văn”. Đến nay, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh, truyền hình bằng cả tiếng Việt và 26 thứ tiếng Dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản làng xa xôi. Bên cạnh đó, công tác giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí ở vùng có đông người dân tộc thiểu số sinh sống cũng được quan tâm đẩy mạnh và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề; các loại hình trường nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc tại vùng có đông dân tộc thiểu số đều đều được đầu tư xây dựng. Từ năm 2012, 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở, 95% trẻ em dân tộc thiểu số được đến trường. Bên cạnh việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống, hệ thống tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số cũng là vấn đề được ưu tiên trong chính sách giáo dục của Nhà nước Việt Nam. Từ năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hợp tác với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại 3 tỉnh Lào Cai, Trà Vinh, Gia Lai, góp phần quan trọng giảm tỷ lệ học sinh bỏ học tại những địa phương này. Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị đã được luật pháp quốc tế công nhận. Tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng có nhiều điều kiện thuận lợi để vươn lên phát triển về mọi mặt, đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp chung của đất nước. Những thành tựu đó là những minh chứng cụ thể trong bảo đảm và thúc đẩy quyền của dân tộc thiểu số nói riêng và quyền con người nói chung tại Việt Nam.

Khả năng "tự bảo vệ" - vấn đề hết sức quan trọng

Thực tiễn sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ 20 cho thấy, “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có quan hệ chặt chẽ với nhau. . “Diễn biến hòa bình” từ bên ngoài sẽ thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Tuy nhiên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong có cả nguyên nhân bên ngoài: Từ sự tác động của “diễn biến hòa bình” và có cả nguyên nhân bên trong: Do không thường xuyên tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên nên không có khả năng "tự bảo vệ". “Tự diễn biến” xét từ góc độ là sự suy giảm, suy thoái về mặt chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra từ bên trong mỗi tổ chức, mỗi con người. Nếu quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại diễn ra từ bên trong tổ chức đảng, tổ chức bộ máy nhà nước, từ bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên giữ vai trò chủ chốt của Đảng và Nhà nước thì tính chất lại càng cực kỳ nguy hiểm và sẽ gây nên hậu quả khôn lường đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN. Để góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp cả bên trong và bên ngoài, trong đó vấn đề nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi tổ chức, mỗi con người là một trong những giải pháp hết sức quan trọng. Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh: “Nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị”. Quan điểm về nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị… của Đảng ta, không chỉ hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về “một cuộc cách mạng chỉ thực sự có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mà còn rất phù hợp với thực tiễn của cuộc cách mạng ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đang phải hằng ngày, hằng giờ đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” và quá trình “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” từ bên trong do tác động của “diễn biến hòa bình”, do sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, cộng với những tiêu cực nảy sinh trong quá trình xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị…, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế mới hy vọng đem lại cho chúng ta một sức mạnh mới trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Thực tiễn những năm vừa qua, những sự việc cụ thể diễn ra cho chúng ta thấy rõ một thực tế là, trong điều kiện các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, thì phương thức bảo vệ có hiệu quả nhất lại chính là “tự bảo vệ”. Ở đâu và lúc nào, tổ chức nào, con người nào biết thường xuyên, tích cực, chủ động, biết “tự bảo vệ” tổ chức mình, con người mình trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó đủ sức vượt qua mọi thử thách, đứng vững và phát triển. Ngược lại, ở đâu, lúc nào, tổ chức, con người nào xem nhẹ, sao nhãng việc chăm lo đến vấn đề “tự bảo vệ” trước sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế thì ở đó, lúc đó, tổ chức, con người đó bị sa ngã. Không ít người, thậm chí cả cán bộ cao cấp, đã không bị gục ngã trong chiến tranh vũ trang ác liệt trước đây, mà lại bị gục ngã bởi những “viên đạn bọc đường” trong điều kiện hòa bình, dưới sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của danh vị, tiền tài… Thực tế vừa qua một số tổ chức, cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao cấp bị thi hành kỷ luật là bằng chứng cho thấy sự suy giảm khả năng “tự bảo vệ” của tổ chức đó, con người đó trong công cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, cần phải thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chủ yếu sau đây: Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi người để nâng cao khả năng “tự bảo vệ”. Nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi con người, mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị bao gồm nhiều nội dung, trong đó việc nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật…; nâng cao năng lực toàn diện; nâng cao phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên chỉ có thể đem lại chất lượng, hiệu quả khi chúng ta biết kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của tổ chức với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi con người cán bộ, đảng viên. Trong đó, vấn đề tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của mỗi con người cán bộ, đảng viên có vai trò cực kỳ quan trọng. Mỗi con người cán bộ, đảng viên chỉ có thể có khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay khi con người cán bộ, đảng viên đó dù hoạt động trên bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội đều phải vừa “hồng”, vừa “chuyên” trên lĩnh vực mà mình đang hoạt động. Xét ở góc độ “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay thì chưa bao giờ mối quan hệ giữa đức và tài, giữa “hồng” và “chuyên”, giữa phẩm chất và năng lực trong mỗi con người cán bộ, đảng viên lại gắn bó chặt chẽ, khăng khít như hiện nay. Có thực sự coi trọng kết hợp giữa giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện với tự giáo dục, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện; có thực sự quan tâm đầy đủ đến cả hai mặt cơ bản: Đức và tài, “hồng" và “chuyên”, phẩm chất và năng lực mới đem lại khả năng “tự bảo vệ” cao nhất trong trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Mỗi tổ chức, mỗi con người phải kết hợp trau dồi, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác. Để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, thì vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất chính là khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” của mỗi tổ chức, mỗi con người trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế. Để có được khả năng “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay, thì mỗi tổ chức, mỗi con người phải thường xuyên tích cực học tập, nâng cao nhận thức về đặc điểm tình hình, về yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, phải thường xuyên theo dõi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, tăng cường cảnh giác, không bị động, bất ngờ. Phải đặc biệt chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đặc biệt là vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị, chăm lo rèn luyện đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Trong một thế giới đầy biến động, phức tạp, trong điều kiện thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa, hội nhập quốc tế như hiện nay thì vấn đề bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mỗi tổ chức, mỗi con người để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay. Mặt khác, chỉ có phẩm chất và năng lực thôi thì vẫn chưa đủ, mà một vấn đề không kém phần quan trọng để nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong nội bộ hiện nay chính là phương pháp, tác phong công tác. Theo đó, kết hợp giữa tu dưỡng, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực và phương pháp, tác phong công tác là biện pháp hữu hiệu để tăng cường “sức đề kháng”, tăng cường khả năng “miễn dịch” trước sự tác động của “diễn biến hòa bình”, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” và ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.

Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền con người

Năm 2005, Bộ Ngoại giao đã công bố cuốn sách "Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam", trong đó cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về luật pháp, thể chế, chính sách, nỗ lực và thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quyền con người. Cuốn sách “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam” được công bố lần này gồm 4 chương, trong đó chương I nêu rõ quan điểm, chính sách và luật pháp của Nhà nước Việt Nam về quyền con người; chương II ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người; chương III nêu rõ sự hợp tác quốc tế của Việt Nam trên lĩnh vực bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người; chương IV đề cập tới thách thức và ưu tiên của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Theo Sách Trắng, thời gian qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật về quyền con người trên mọi khía cạnh, trong đó có: Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử; Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể; Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư; Quyền tự do đi lại, cư trú; Quyền tự do hội họp, lập hội; Quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước và xã hội… “Hiến pháp năm 2013 quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”, Sách Trắng nhấn mạnh. Sách Trắng đặc biệt nhấn mạnh tới thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân Việt Nam. Theo ước tính, có khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó có hơn 24 triệu tín đồ của các tôn giáo khác nhau (chiếm khoảng 27% dân số), thuộc 38 tổ chức tôn giáo, tăng gần 7 triệu tín đồ so với năm 2003. Bên cạnh đó, hoạt động quốc tế của các tôn giáo tại Việt Nam ngày càng được mở rộng. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tăng cường giao lưu, kết nối với quốc tế. Theo Sách Trắng, “sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua là minh chứng sinh động về tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam". “Tính đến 31-12-2014, Việt Nam có 838 cơ quan báo chí (trong đó có 199 cơ quan báo in) với 1.111 ấn phẩm; gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ và khoảng 5.000 người hoạt động báo chí nhưng chưa đủ điều kiện được cấp thẻ nhà báo; một hãng thông tấn quốc gia; 67 đài phát thanh, truyền hình với 179 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh; 92 báo và tạp chí điện tử, 1.607 trang thông tin điện tử, 420 mạng xã hội đã đăng ký hoạt động”, số liệu trích từ Sách Trắng cho hay. Bên cạnh đó, Việt Nam duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, không ngừng cải thiện mức sống của người dân, giảm mạnh tỷ lệ nghèo, thúc đẩy bình đẳng xã hội, góp phần bảo đảm quyền thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội cũng như việc thực hiện quyền con người trong nhiều lĩnh vực khác. Sách Trắng nêu rõ, với việc trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tham gia tích cực và thực chất vào các diễn đàn quốc tế về quyền còn người..., Việt Nam không những bảo đảm các quyền và tự do của người dân theo đúng các chuẩn mực quốc tế, mà còn đóng góp thiết thực vào sự nghiệp chung là thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người trên tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.

HRW trong “dòng lạc điệu”

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực để đầu tư cho con người và đạt nhiều thành tựu quan trọng, thực chất trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người. Thế nhưng, bất chấp những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, một số tổ chức, cá nhân vốn có thái độ thù địch, thiếu thiện chí vẫn đưa ra những thông tin sai lệch, thậm chí xuyên tạc tình hình thực hiện quyền con người tại Việt Nam, nhằm làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Chính điều này gián tiếp gây khó khăn cho Việt Nam trong việc bảo đảm các quyền con người. 1. Nằm trong dòng “lạc điệu” đó phải kể đến tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại Hoa Kỳ. Trong bản “Phúc trình toàn cầu 2018”, HRW dựng lên chuyện Việt Nam gia tăng đàn áp nhân quyền năm 2017. Cứ theo cáo buộc của HRW thì hiện có 119 “nhà hoạt động nhân quyền và tự do tôn giáo” nằm trong các nhà giam. Chưa hết, bản phúc trình còn đưa ra dẫn chứng, trong năm 2017, ít nhất 24 blogger bị kết án vì các bài viết vận động cho dân chủ, như: “Mẹ Nấm” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... Cũng vẫn giọng điệu trên, HRW cho rằng, trong 14 tháng qua, công an Việt Nam đã bắt ít nhất 28 người với tội danh “vi phạm an ninh quốc gia”, “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trong đó có nhiều cựu “tù nhân lương tâm” và “tù nhân nhân quyền”. HRW cho rằng, những nhân vật ấy chỉ “bày tỏ chính kiến ôn hòa” chứ không phạm pháp và đòi Việt Nam phải trả tự do cho họ. Ai cũng biết rõ rằng, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là người đã sử dụng trang facebook “Mẹ Nấm” để đăng tải nhiều bài viết, trong đó có nội dung sai sự thật, đả kích, nói xấu Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, qua đó tác động, làm ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, gây bức xúc trong dư luận. Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... cũng có những hành vi tương tự. Điều 16, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Hiến pháp cũng có những quy định về tố tụng công bằng... Bên cạnh đó, trong xây dựng hệ thống pháp luật, Việt Nam luôn coi trọng việc nội luật hóa những quy định của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luôn tôn trọng, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân nhưng Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để có những hành vi vi phạm pháp luật. Bản thân các đối tượng: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Phan Kim Khánh, Nguyễn Văn Hóa... đều là công dân Việt Nam. Hành vi đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm an ninh quốc gia, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam... của các công dân này là rõ ràng. Việc các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam khởi tố, điều tra, truy tố và xử tù họ là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam tham gia. Đây là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới. Chính vì thế, cái gọi là báo cáo “tình trạng nhân quyền Việt Nam” của HRW vừa lỗi thời, vừa chứa đựng những toan tính thù địch đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Sự “quan ngại” của HRW chỉ che đậy cho dã tâm xen vào công việc nội bộ của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm và tạo dựng mầm mống cho bất ổn tại Việt Nam. 2. HRW cho rằng, những người đang bị Việt Nam xử tù về tội “vi phạm an ninh quốc gia” chỉ là “bày tỏ chính kiến ôn hòa” chứ không vi phạm pháp luật và đòi phải trả tự do cho những “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền” mà Việt Nam đang giam giữ. Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định: Ở Việt Nam không ai bị bắt vì lý do “bất đồng chính kiến”, “bày tỏ chính kiến ôn hòa”... Chỉ có những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam mà thôi. Ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là “đàn áp những người bất đồng chính kiến” như cách mà HRW cố tình suy diễn. Thực tế trong những năm qua, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Điều này đã được Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Những thành tựu đó xuất phát trước hết từ truyền thống nhân đạo, tinh thần yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam; từ ý chí, nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam và sự nỗ lực, cố gắng trong thực hiện chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam, hướng tới một xã hội luôn đặt con người ở trung tâm của sự phát triển với một Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Điều này được thể hiện rất rõ qua những thành quả lớn lao, nhất là trong công cuộc Đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đó là sự hoàn thiện hệ thống pháp luật đến bảo đảm thực tế các quyền từ dân sự, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa của nhân dân. Đặc biệt, những tiến bộ về nhân quyền là nhân tố có tính quyết định để năm 2013 với 184 phiếu thuận trên tổng số 192 phiếu, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Thực tế rất rõ ràng, vậy mà HRW vẫn bám giữ quan điểm cổ hủ kỳ thị với chế độ XHCN, với Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mang danh tổ chức “quan sát”, “bảo vệ” nhân quyền nhưng đây không phải là lần đầu tiên với mục đích xấu và cái nhìn thiếu thiện chí, HRW tìm mọi cách bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu nhân quyền của Việt Nam; đưa ra những thông tin sai lệch để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó nêu ra những đòi hỏi, khuyến nghị đòi Việt Nam thực hiện. Những giọng điệu và đòi hỏi vô lý ấy của HRW thực chất là hành động hậu thuẫn, dung túng cho những đối tượng cực đoan gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam. Mặt khác, với hành động đó, HRW đã trắng trợn áp đặt và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án, phản đối những việc làm sai trái, thiếu thiện chí ấy của HRW.

Phê bình thành khẩn, tự giác nhận khuyết điểm

Có thể nói, biểu hiện không thành khẩn nhận khuyết điểm và không tự giác nhận kỷ luật đã tồn tại từ lâu trong quá trình xây dựng, phát triển và lãnh đạo của Đảng ta. Tuy nhiên, những năm gần đây biểu hiện này ngày càng rõ nét và hậu quả mà nó gây ra không chỉ với mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. . Thiếu thành khẩn nhận khuyết điểm, không tự giác nhận kỷ luật, thực chất là sự yếu kém trong tự phê bình. Tự phê bình có thể hiểu khái quát là bản thân mỗi người, mỗi tổ chức đảng tự nhìn lại quá trình học tập, công tác, sinh hoạt của mình xem cái gì mạnh-cái gì yếu, cái gì đúng-cái gì sai, cái gì làm được và cái gì chưa làm được; cái gì là tích cực-cái gì là tiêu cực, mức độ đúng-sai, tốt-xấu cụ thể đến đâu, để từ đó tìm ra biện pháp phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại, khuyết điểm. Như vậy có thể thấy đích đến của tự phê bình rất nhân văn, nhưng nếu mỗi người, mỗi tổ chức thiếu thành khẩn, không tự giác thì công việc này sẽ trở thành hình thức. Để tự phê bình được tốt thì trước tiên các tổ chức đảng và từng đảng viên phải thành khẩn nhận khuyết điểm, tự giác và dũng cảm nhận kỷ luật. Thế nhưng trên thực tế thời gian qua bên cạnh những mặt làm được, việc tự phê bình trong Đảng còn nhiều điều đáng bàn. Đề cập đến vấn đề này, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIIvề tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, đã kiểm điểm và chỉ rõ: Sau nhiều năm thực hiện các nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, bên cạnh những kết quả đạt được, tình trạng suy thoái trong Đảng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, thậm chí có dấu hiệu cho thấy còn phức tạp hơn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó được Đảng ta nhấn mạnh là thực hiện không nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là tình trạng “có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật...”. Đảng ta coi đây là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Trong cuộc sống chúng ta thường nói với nhau “nhân vô thập toàn”, “ngọc còn có vết”. Điều này cũng có nghĩa con người ta không ai là hoàn hảo 100%. Trong mỗi người luôn tồn tại những mặt đối lập. Người tốt không phải hoàn toàn không có những mặt xấu, mặt hạn chế và ngược lại người xấu cũng không phải hoàn toàn xấu, không phải không có điểm gì tốt. Người tốt đừng bao giờ chủ quan tự cho mình là hoàn hảo, là tốt đẹp mà không phấn đấu. Chủ quan, thỏa mãn, không rèn luyện thường xuyên là cơ hội để những cái xấu vốn có trong mỗi con người trỗi dậy, khiến ta sa ngã, vi phạm kỷ luật, thậm chí rơi vào tội lỗi. Như vậy vấn đề là ở chỗ mỗi người chúng ta phải luôn biết chế ngự các mặt xấu, mặt tiêu cực và phát huy những mặt tốt, mặt tích cực để trở thành những người có ích cho tập thể, cho xã hội. Tự kiểm điểm, tự phê bình một cách thành khẩn, nghiêm túc là việc làm rất cần thiết, rất quan trọng để thực hiện điều đó. Nói là vậy nhưng việc thực hiện công việc này không hề đơn giản. Biết là cần thiết, là quan trọng nhưng không phải ai cũng muốn làm và làm cho đến nơi đến chốn. Tâm lý của không ít người hiện nay là "đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại", không "vạch áo cho người xem lưng"... Khi tự kiểm điểm, tự phê bình, cán bộ, đảng viên ta chủ yếu nói về kết quả, thành tích, phần khuyết điểm chỉ là thứ yếu, chung chung với một điệp khúc đã trở thành quen như: "Tính tình đôi khi còn nóng nảy", "tác phong làm việc đôi khi chưa khoa học", "đấu tranh tự phê bình và phê bình còn hạn chế", "chưa chủ động trong công việc"... Và trên thực tế chưa ai thành khẩn, tự giác, dũng cảm kiểm điểm trước tập thể rằng "tôi đã tham nhũng", "tôi đã vi phạm nguyên tắc", "tôi làm trái quy định của Nhà nước"... Chỉ đến khi tổ chức kiểm tra, thanh tra, cơ quan bảo vệ pháp luật vào cuộc, mọi chuyện vỡ lở thì lúc ấy sự việc đã đi quá xa và trở thành chuyện đã rồi. Không ít người mặc dù lỗi lầm đã được chỉ ra nhưng vẫn không trung thực, không thành khẩn báo cáo trước tập thể, mà cố tình ngụy biện che đậy, lấp liếm, khi tổ chức phải áp dụng hình thức xử lý thì không dũng cảm nhận kỷ luật. Thậm chí có người khi ra hầu tòa, mặc dù sai phạm đã rõ ràng, với đầy đủ chứng cớ nhưng vẫn còn quanh co đổi lỗi cho người khác, cho tập thể. Dũng cảm nhận lỗi, nhận kỷ luật là hành động thể hiện sự chịu trách nhiệm về những việc mà mình đã làm. Khi trung thực nhận lỗi, dũng cảm nhận kỷ luật chúng ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhàng, thanh thản hơn bởi mọi chuyện đã rõ ràng, sáng tỏ. Những người thành khẩn nhận lỗi, dũng cảm nhận kỷ luật chắc chắn sẽ rút ra được bài học cho mình để sửa chữa tiến bộ, để không tái phạm những lỗi lầm đã mắc phải. Ngược lại, những người có khuyết điểm mà thiếu thành khẩn, không dũng cảm nhận kỷ luật thì thật khó rút ra bài học để sửa chữa và sớm muộn sẽ tái phạm. Thường xuyên tự phê bình và phê bình nghiêm khắc là biện pháp hữu hiệu để mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao khả năng “tự đề kháng”, phòng chống những biểu hiện thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Để làm tốt công việc này, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người đứng đầu cần nhận thức rõ ràng về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tác dụng và sự cần thiết của việc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Chỉ có trên cơ sở thống nhất về nhận thức chúng ta mới có sự đồng thuận và quyết tâm trong tổ chức thực hiện, duy trì chế độ tự phê bình và phê bình thường xuyên, nghiêm túc. Môi trường sống, môi trường làm việc cũng là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc tự phê bình và phê bình, cụ thể hơn là ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển cái tốt, cái xấu trong mỗi con người. Vì thế nếu không có một môi trường dân chủ, mọi người chân thành, thẳng thắn thì thật khó để mỗi cán bộ, đảng viên thành khẩn tự phê bình, tự giác nhận kỷ luật. Do đó cần phải tạo ra một môi trường thuận lợi, động viên, khích lệ cán bộ, đảng viên nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Một trong những yêu cầu mà Ban Chấp hành Trung ương đặt ra trong thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW là các cấp uỷ đảng, cán bộ chủ chốt, nhất là cấp Trung ương, người đứng đầu làm trước và phải thực sự gương mẫu để cho các cấp học tập, noi theo. Đây vừa là lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, vừa là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng. Các đảng viên và cán bộ cấp dưới sẽ không tự giác, không thành khẩn nếu cấp ủy, nhất là bí thư, ban thường vụ không gương mẫu đi đầu, tự phê bình một cách hình thức qua loa, chiếu lệ. Tự phê bình, tự kiểm điểm một cách thành khẩn, dũng cảm trước tập thể là việc không thể thiếu trong nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Dẫu biết là khó khăn, đau đớn, nhưng nếu từng người không thành khẩn, không tự giác nhận rõ, nói ra những lỗi lầm, khuyết điểm của mình và tiếp thu góp ý của người khác một cách cầu thị mà cố tình lấp liếm, bao biện thì chắc chắn không thể sửa chữa tiến bộ được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví việc thiếu thành khẩn nhận khuyết điểm, thiếu tự giác nhận kỷ luật như "giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng"(1). Và, theo Người, thang thuốc hiệu nghiệm nhất để chữa trị căn bệnh ấy chính là tự phê bình và phê bình. Nhưng muốn phê bình người khác thì trước hết mỗi đảng viên phải phê bình nghiêm túc mình trước đã. Tự phê bình thành khẩn, tự giác nhận khuyết điểm là cơ sở để các đảng viên thẳng thắn, chân tình phê bình chỉ rõ cho nhau những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó có biện pháp phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu, phấn đấu chuyển biến tiến bộ. Tự phê bình và phê bình sẽ mất đi ý nghĩa và mục đích đầy tính nhân văn của nó nếu để xảy ra tình trạng làm qua loa đại khái, thiếu thành khẩn, thiếu tự giác, lợi dụng tự phê bình và phê bình để “bới lông tìm vết”, tranh công đổ lỗi, dùng những lời lẽ thiếu văn hóa để khích bác, miệt thị, nói xấu lẫn nhau, dẫn đến nội bộ mất đoàn kết. Mục đích cao nhất của tự phê bình và phê bình không gì khác đó là vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự vững mạnh của tập thể. Chỉ có thành khẩn nhận khuyết điểm, tự giác nhận kỷ luật mới giúp từng đảng viên và toàn Đảng ta nâng cao được vai trò lãnh đạo, củng cố niềm tin trong nhân dân.