Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐI ĐẾN MÙA XUÂN TOÀN THẮNG

Cách đây 46 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa xuân 1975 là tiếp nối sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt và mưu lược của Đảng ta, bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau khi Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, trước ý đồ thay thế Pháp, xâm lược miền Nam nước ta của đế quốc Mỹ, tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Đảng ta đã sớm xác định: Kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương là đế quốc Mỹ. Tiếp theo đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (tháng 12-1957), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trong đó, nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) có tính chất quyết định thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới; lực lượng cách mạng miền Nam cần tiếp tục duy trì và phát triển. Đảng ta coi đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chủ trương kịp thời và hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta lúc đó là: Ra sức ổn định tình hình, củng cố miền Bắc thật vững chắc; bảo vệ và xây dựng lực lượng, căn cứ địa cách mạng, tìm con đường, biện pháp thích hợp để cách mạng Việt Nam tiến lên. Nhờ đó, nhân dân miền Bắc đã giành thắng lợi to lớn về cải tạo và xây dựng CNXH, làm cho miền Bắc từng bước trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Ở miền Nam, từng bước, Đảng ta đã tìm ra phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp nên đã đối phó có hiệu quả với địch, đưa cách mạng tiếp tục phát triển. Bước chuyển biến mới, rõ rệt nhất của cách mạng ở miền Nam là sau khi có nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng (tháng 1-1959), lực lượng ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước hình thành. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Các căn cứ địa cách mạng tại chỗ được khôi phục và mở rộng; đường bộ 559, đường biển 759 được hình thành và phát huy tác dụng… Sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của miền Bắc đã thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển; đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và giữ gìn lực lượng đã chuyển sang thế tiến công. Đến đầu năm 1960, miền Nam trên thực tế đã ở trong quá trình khởi nghĩa từng phần.
Tiếp theo đó, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam; thể hiện rõ tư duy lý luận chiến lược về lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng ta. Những điểm nổi bật là: Đảng đã sớm xác định và chỉ rõ kẻ thù mới của dân tộc ta là đế quốc Mỹ và tay sai, sớm vạch ra một cách đúng đắn hai chiến lược cách mạng; khẩn trương ổn định tình hình, củng cố miền Bắc làm hậu phương vững chắc, là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng cả nước; vạch ra đường lối, phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, có lợi nhất, đưa đến cuộc đồng khởi vĩ đại, đánh thắng chiến lược đầu tiên của đế quốc Mỹ; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giải phóng miền Nam và xây dựng CNXH ở miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng quốc tế.
Để đối phó với cách mạng miền Nam, sau cuộc Đồng khởi của ta, từ cuối năm 1960, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và nhiều kế hoạch, chiến dịch bình định miền Nam, dồn dân vào các ấp chiến lược. Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, Đảng ta đã kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng; kết hợp nhuần nhuyễn giữa khởi nghĩa vũ trang với chiến tranh cách mạng; đưa cuộc chiến tranh của nhân dân ở miền Nam phát triển phù hợp với tình hình mới; đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công; trên cả ba vùng chiến lược. Kịp thời nâng vị trí đấu tranh vũ trang lên theo yêu cầu của chiến tranh, hướng mũi nhọn vào đấu tranh phá “ấp chiến lược”, làm thất bại các cuộc càn quét của quân chủ lực ngụy, từng bước làm phá sản mục tiêu chủ yếu của địch. Qua thực tế lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, tư duy lý luận và mưu lược chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta từng bước phát triển, có nhiều thành công: Đảng ta đã dự kiến đúng diễn biến tình hình, tư duy sắc bén, linh hoạt, chuẩn bị tốt, chuyển hướng nhanh, kịp thời, chủ động và sáng tạo. Nhờ đó đã kìm chế và làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ-ngụy, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ và chư hầu trực tiếp xâm lược, tham chiến ở miền Nam, đồng thời dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc hòng ngăn cản sự chi viện từ Bắc vào Nam.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích toàn diện, sâu sắc tình hình và chiến lược mới của Mỹ, dự kiến sớm và đúng xu thế diễn biến của chiến tranh nên đã đề ra các chủ trương đối phó đúng đắn, chủ động và sáng tạo. Khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đi đến thất bại, Đảng ta đã dự kiến địch có thể leo thang lên nấc cao hơn và có thể đánh ra miền Bắc. Lúc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, Đảng ta đã đánh giá đúng so sánh lực lượng địch-ta; kiên định quyết tâm đánh Mỹ; đã chủ động kết hợp tốt phản công với tấn công. Tại các hội nghị của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng năm 1967, đầu năm 1968, Đảng ta vạch rõ: Cần phải tạo ra một chuyển biến lớn về tình hình có lợi cho ta giữa lúc Mỹ đang ở thế ngập ngừng về chiến lược, giới cầm quyền Mỹ đang hoang mang, dao động, phải tạo được một bước ngoặt lớn của chiến tranh, dùng cách đánh mới, hiểm, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đảng ta đã lựa chọn hướng tiến công không phải là rừng núi và nông thôn mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, nơi địch đang sơ hở… Đồng thời dự kiến các khả năng và quyết định Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Điều này thể hiện rõ tư duy quyết đoán, sáng tạo và cách đánh mới rất bất ngờ, đầy hiệu lực của Đảng ta. Nhờ đó đã buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngày 1-11-1968, đế quốc Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và đánh phá (lần thứ nhất) trên toàn bộ miền Bắc, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ”.
Trước thất bại nặng nề của Mỹ, Nixon sau khi lên cầm quyền đã thay đổi chiến lược chiến tranh. Một mặt thi hành chiến lược mới-“Việt Nam hóa chiến tranh”; mặt khác xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước nhưng kéo dài và mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào; ráo riết thực hiện “học thuyết Nixon”: Dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương bằng tiền của và vũ khí của Mỹ. Trước tình hình đó, Đảng ta đã dự kiến trước khả năng Mỹ có thể đánh bom, bắn phá trở lại miền Bắc, mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia để gây sức ép với ta. Đồng thời thấy rõ những điểm yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Đảng ta đã tìm ra phương hướng chiến lược "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Với những phán đoán đúng và dự kiến sớm, ta đã chuẩn bị tốt và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai trên miền Bắc, nổi bật là đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ trên bầu trời Thủ đô Hà Nội (tháng 12-1972), buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến, Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ra sức phá hoại Hiệp định Paris, đẩy mạnh các cuộc hành quân càn quét, mở các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng miền Nam. Hỗ trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn, Mỹ ồ ạt viện trợ một khối lượng lớn vật chất, trang bị kỹ thuật nhằm tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của địch, Đảng ta đã lãnh đạo quân và dân miền Bắc khôi phục, phát triển kinh tế, tiếp tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam; đồng thời dự kiến tình hình có thể diễn ra theo hai khả năng: Hoặc hòa bình được duy trì, hoặc chiến tranh sẽ tiếp tục; ta cần tranh thủ khả năng thứ nhất nhưng cũng phải vừa chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai.
Tháng 5-1973 và sau đó, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp đợt 1 từ ngày 19-6 đến 6-7; đợt hai từ ngày 1-10 đến 4-10-1973) đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới có liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam; chỉ rõ âm mưu, hành động chống phá Hiệp định Paris ngày càng trắng trợn của Mỹ-ngụy. Từ đó, Đảng ta khẳng định dứt khoát con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng, bất kỳ trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, chỉ đạo linh hoạt, mềm dẻo để đưa cách mạng miền Nam tiến lên.
Từ giữa năm 1974, nguồn viện trợ kinh tế, quân sự từ Mỹ ngày càng bị cắt giảm, làm cho chính quyền và quân đội ngụy Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Nắm bắt thời cơ, Đảng ta đã chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực lượng, chuẩn bị chiến trường. Các binh đoàn chiến lược được thành lập, hệ thống đường ống dẫn dầu được mở rộng; một khối lượng lớn vật chất, phương tiện chiến tranh được chuyển nhanh ra tiền tuyến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tháng 7-1974, Bộ Tổng Tham mưu khởi thảo kế hoạch giải phóng miền Nam. Tháng 10 và tháng 12-1974, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng Bộ tư lệnh miền Nam họp bàn về quyết tâm và kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 và dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Sau khi Đảng ta quyết định thành lập 3 quân đoàn: 1, 2, 4; toàn Đảng, toàn dân và toàn quân khẩn trương chuẩn bị, cả về thế và lực, tinh thần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ngày càng dâng cao.
Trước tình thế cách mạng và thời cơ đã đến, Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên với trận đột phá chiến lược Buôn Ma Thuột (10-3-1975). Với chiến thắng này, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975. Sau khi Huế được giải phóng (26-3) và Đà Nẵng được giải phóng (29-3), đến ngày 3-4, ta giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh từ ngày 26-4 và đến 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau ngày đó, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo còn lại như: Thổ Chu, Côn Đảo, Phú Quốc đã được giải phóng.
Đại thắng mùa xuân 1975 là thiên anh hùng ca vĩ đại nhất trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ta, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước hẳn vào kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH.
Nhân tố quyết định làm nên Đại thắng mùa xuân 1975 là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình với mưu lược và tư duy chính trị, quân sự độc đáo, sắc sảo của Đảng ta. Đảng đã biết khơi dậy và khai thác tối ưu mọi tiềm năng thế mạnh của nhân tố con người, kết hợp chặt chẽ các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa với nhau, tạo thành một tổng hợp lực nhằm cùng một hướng để tăng sức mạnh của quân và dân ta lên gấp bội. Đó là sức mạnh của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, sức mạnh của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo, sức mạnh của độc lập dân tộc và CNXH, của việc kết hợp chặt chẽ lợi ích cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu của thời đại. Đó là sự kết hợp cả đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp, kể cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần từ nông thôn đến thành thị và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao. Đó là kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn, đồng bằng thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đồng thời biết tạo thời cơ và triệt để lợi dụng thời cơ, đã mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, kết thúc trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta sau 21 năm, thực hiện thống nhất Tổ quốc, Nam-Bắc sum họp một nhà, cả nước đi lên CNXH./.

1
Thích
Bình luận
Chia sẻ

0 bình luận

Giá trị cốt lõi trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Thứ nhất, Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng

 Di chúc là Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.

 Thứ hai, Di chúc là công trình lý luận về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền

 - Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, đó là: Giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

 - Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

 - Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”.

Thứ ba, Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam, là phác thảo lý luận sự nghiệp đổi mới ở nước ta

 - Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá trong xây dựng xã hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

- Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội...

- Giá trị văn hoá của Di chúc chỉ dẫn con đường, mục tiêu phát triển của nền văn hoá Việt Nam; trù tính, dự liệu về những cuộc vận động lớn giáo dục văn hoá trong toàn dân, toàn xã hội, lấy văn hoá chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền và văn hoá trong thể chế nhà nước - một nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân làm sức mạnh tiêu biểu nêu gương thuyết phục nhân dân. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí; mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, môi trường sinh thái.

 - Di chúc phác thảo những vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đổi mới là một tất yếu để phát triển; đổi mới là một cuộc đấu tranh bền bỉ, một quá trình xây dựng gian khổ, “là một công việc cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp”, là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 - Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện nước ta phải đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”./. 

MAI NĂM MỚI (ST)

Phong Cách Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

 

Hồ Chí Minh suốt đời kiên tâm thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng chính là hình ảnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Theo Bác, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, thì toàn Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên cần có phong cách lãnh đạo: “Kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân”. Họ phải là: “Những người mà:

- Giàu sang không thể quyến rũ,

- Nghèo khó không thể chuyển lay,

- Uy lực không thể khuất phục”.

Người khẳng định, Đảng ta với phong cách vì dân, vì nước nên: “không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề, nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân” để đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.

Bằng cách nào để toàn Đảng đoàn kết, nhất trí? Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp cơ bản là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Đối với cán bộ lãnh đạo, đảng viên, cần học và làm theo phong cách làm việc quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tập hợp, đoàn kết toàn dân. Chú ý tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của quần chúng, chăm lo đời sống của nhân dân. Tin vào dân, tôn trọng dân, chú ý lắng nghe và giải quyết những kiến nghị chính đáng của nhân dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phê bình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót. Giáo dục, lãnh đạo nhân dân, đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nhân dân. Biết biến quyết tâm của Đảng, Nhà nước thành quyết tâm của nhân dân. “Phải làm đúng những điều đó mới xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Đối với toàn thể nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta ai cũng cần có phong cách thân ái, khoan hồng độ lượng, thương yêu lẫn nhau, mới đoàn kết được toàn dân tộc. “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay”. Tinh thần yêu nước, đoàn kết của các tầng lớp nhân dân cần được thể hiện trong các phong trào thi đua ái quốc. Mỗi giới lại cần có phong cách làm việc thiết thực của chính mình:

“Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,

Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,

Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,

Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,

Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng”. Như vậy thì kháng chiến, kiến quốc nhất định thành công.

Với đồng bào các tôn giáo, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào ta không phân biệt lương, giáo, hãy làm theo gương của các bậc sáng lập Đạo mà đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do. Bác cũng khẳng định đạo đức tôn giáo có giá trị nhân văn, phù hợp với đạo đức của xã hội.

 “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái.

 Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi

 Khổng Tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”.

Theo Người: “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”.

Đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em”. Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân chủ. Đồng bào tất cả các dân tộc đều cần có phong cách làm việc của người chủ nước nhà.

MAI NĂM MỚI (ST)

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

CHIÊU TRÒ XÚI GIỤC PHÁ HOẠI

 

Chuẩn bị đến bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước thời gian gần đây có diễn biến mới, trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội.

Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện "dân chủ phương tây", mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không cầm máu.

Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do. 

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. 

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri. 

Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước. 

Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường... 

Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.