Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021
An ninh mạng: "Chìa khóa" từ mỗi người dân
. Chống phá Quân đội - âm mưu cũ, thủ đoạn mới
Lợi dụng quyền tự do biểu đạt sẽ dẫn tới phản văn hóa
Đừng đánh mất phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản
Không thể xuyên tạc, bóp méo sự thật về nhân quyền Việt Nam
Không để một bộ phận giới trẻ lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi lệch lạc
Những "căn bệnh" mới phát sinh
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NGÀY CÀNG ĐƯỢC PHÁT HUY Ở VIỆT NAM
Những đổi mới trong từng bộ
phận cấu thành hệ thống chính trị và mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đã
góp phần quan trọng vào việc phát huy dân chủ xã hội. Đã chế định ngày càng đầy
đủ hơn thiết chế và cơ chế thực thi dân chủ. Thực hiện dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp có những chuyển biến tích cực. Dân chủ trong các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hoạt động khoa học có những kết quả nổi bật đã
góp phần làm cho dân chủ trong xã hội có bước phát triển toàn diện.
Việc xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã tạo những điều kiện và cơ hội
quan trọng để người dân tham gia vào quá trình chính trị, các công việc nhà
nước, thể hiện cả quyền, năng lực, trách nhiệm của mình trong xây dựng và thực
thi dân chủ. Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với
nhân dân, tôn trọng các ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức
và xã hội được mở rộng. Tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước được coi trọng. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện vai trò giám sát, phản
biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước ngày càng có hiệu
quả hơn.
Hệ thống pháp luật được bổ
sung, sửa đổi; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường công tác tiếp dân; giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; ban hành các quy định về chế độ công chức
nhà nước trong hoạt động công vụ; chú trọng công tác thanh tra nhà nước và
thanh tra nhân dân; ban hành và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở … đã góp phần
tích cực vào quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
THỂ CHẾ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN VÀ CÓ BƯỚC PHÁT TRIỂN
1. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững
mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Xác định rõ hơn bản chất của
Đảng: Ngay từ khi mới thành lập, Đảng luôn khẳng định là Đảng của giai cấp công
nhân. Bảy mươi lăm năm qua, Đảng ta đã xác định rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của
Đảng, đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội năm 1991 và nhiều văn kiện Đảng sau đó khẳng định Đảng ta “là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.
Xác định đầy đủ hơn nền tảng tư
tưởng của Đảng: Ngay từ khi thành lập, Đảng luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc xây dựng tổ chức và hoạt động của
mình. Điều này được khẳng định đầy đủ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc
tổ chức cơ bản.
Xây dựng tổ chức bộ máy của
Đảng có bước chuyển biến mạnh mẽ: Các quy định, nguyên tắc, cơ chế vận hành tổ
chức bộ máy ngày càng hoàn thiện. Các văn bản về công tác cán bộ và xây dựng
đội ngũ cán bộ của Đảng liên tục được bổ sung, được cụ thể, toàn diện, đồng bộ
hơn. Bộ máy của Đảng được đẩy mạnh sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu
quả. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên bước đầu có kết quả.
Phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới: Vai trò, thẩm quyền và trách
nhiệm của Đảng trong lãnh đạo hệ thống chính trị được xác định rõ hơn. Dân chủ
trong Đảng ngày càng được phát huy. Đảng ngày càng khẳng định năng lực hoạch
định đường lối, chủ trương lãnh đạo, tư duy chiến lược và năng lực tổ chức thực
hiện đường lối, chủ trương đó trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Nhân
dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
2. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa
Quốc
hội đã có những bước đổi mới quan trọng, từ khâu
bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt
động; tăng cường bộ phận chuyên trách. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội đã đổi
mới theo yêu cầu dân chủ và pháp quyền. Nhiều chế định mới, cách làm mới như có
ứng cử viên tự do, tăng thêm số lượng đại biểu chuyên trách, chú ý tiêu chuẩn
đại biểu để nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội có nhiều cải tiến nội dung, phương pháp công
tác; đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và
cơ chế hoạt động của các thiết chế trong bộ máy nhà nước có những đổi mới và
từng bước được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Quốc hội hoạt động
thường xuyên hơn, ngày càng dân chủ hơn. Hoạt động giám sát và thảo luận, quyết
định các vấn đề lớn của quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Quốc hội đã
làm tốt hơn chức năng lập pháp, ban hành Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi Hiến
pháp vào năm 2001, ban hành Hiến pháp 2013. Chỉ tính số lượng các đạo luật,
pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành từ 1986 - 2016 đã
gấp gần 8 lần số lượng luật, pháp lệnh ban hành trong 41 năm về trước (483/63);
trong 4 năm 2016 - 2020, Quốc hội đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong
đó có nhiều đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức
bộ máy nhà nước theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đồng thời
có một số đạo luật mới, lần đầu tiên được Quốc hội ban hành như Luật An ninh
mạng, Luật Quản lý ngoại thương, Luật phòng chống tác hại của rượu, bia …
Chính
phủ có những thay đổi rõ rệt từ cơ cấu tổ chức đến
phương thức hoạt động. Nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của các cơ quan
nhà nước được tuân thủ tốt hơn. Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được
nâng lên. Nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước từng
bước được thực hiện. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của
các cơ quan nhà nước đã có những bước tiến nhất định. Giai đoạn 2011 - 2020, cơ
cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh, giảm đầu mối theo
hướng tổ chức các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đã giảm 3 đầu mối trực
thuộc Trung ương, 61 đầu mối trực thuộc cấp tỉnh, 485 đầu mối trực thuộc cấp
huyện; giảm hơn 4.100 đơn vị sự nghiệp công lập, gần 15.200 cấp trưởng, phó,
tinh giản 97.900 biên chế. Cơ chế hoạt động của Chính phủ cũng có sự đổi mới
quan trọng, chủ yếu quản lý ở tầm vĩ mô thông qua chính sách, kế hoạch, pháp
luật. Đã tiến hành một bước cải cách hành chính, loại bỏ nhiều thủ tục, văn bản
nhũng nhiễu, gây phiền hà. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả;
trong đó đã tập trung chỉ đạo, xử lý nghiêm và công khai kết quả xử lý nhiều vụ
việc tham nhũng, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân. Thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướng hiện đại,
đồng bộ và hội nhập.
Hệ
thống các cơ quan tư pháp đã có những bước cải tiến theo yêu
cầu dân chủ và pháp quyền. Chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các
cơ quan tư pháp ngày càng được phân định rõ ràng hơn. Tổ chức bộ máy Tòa án
nhân dân tối cao và cấp tỉnh có một số điều chỉnh; lập mới các tòa án chuyên
trách (như tòa kinh tế, tòa lao động, tòa hành chính). Tổ chức bộ máy của Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao có điều chỉnh theo hướng tập trung thực hiện chức
năng công tố, chức năng giám sát, giải quyết các vụ án hành chính, kinh tế, lao
động và phá sản doanh nghiệp. Trong xét xử đã có quy trình khoa học hơn, nâng
cao hiệu quả tranh tụng, coi trọng vai trò của luật sư. Việc tăng thẩm quyền
cho tòa án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đề cao vai
trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện bước đầu có hiệu quả. Việc thực
hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra,
truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm. Chất lượng hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án được nâng lên.
Chính
quyền địa phương có bước chuyển rõ nét theo yêu cầu của xây
dựng Nhà nước pháp quyền. Đã sửa đổi Luật về Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân; đã thực hiện một bước phân cấp theo hướng mở rộng và tăng quyền hạn cho
chính quyền địa phương. Hoạt động của chính quyền địa phương cũng đã đổi mới,
giảm bớt hình thức và đi vào thực chất, thiết thực và dân chủ hơn. Hội đồng
nhân dân có vai trò lớn trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Ủy ban
nhân dân các cấp thích nghi dần với những yêu cầu quản lý mới trong điều kiện
kinh tế thị trường.
3. Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương
thức hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội
Hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội được đổi mới; chức
năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều
chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập
hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát
triển đoàn viên, hội viên, tổ chức nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận
động có hiệu quả thiết thực, cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp
phần tích cực vào những thành tựu của đất nước.
NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM NGÀY CÀNG SÁNG TỎ
Ngay từ khi ra đời (tháng 2/1930), Đảng ta đã xác định rõ con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là con đường xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “để đi tới xã hội cộng sản”. Luận cương chính trị tháng 10/1930 nhấn mạnh con đường phát triển của cách mạng Việt Nam “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản và Lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã xóa bỏ chế độ thuộc địa, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam - Thời đại độc lập dân tộc, nhân dân được làm chủ xã hội và cuộc sống. Luận cương cách mạng Việt Nam được Đại hội II của Đảng (tháng 2/1951) thông qua đã xác định phương hướng và những điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội VI của Đảng (Tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện dựa trên điều kiện, hoàn cảnh đất nước và nhận thức rõ hơn những vấn đề của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những luận điểm của V.I.Lênin và Hồ Chí Minh; tổng kết những bài học lớn có giá trị lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đề ra (Tháng 6/1991) và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là quá trình không ngừng phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới của Việt Nam
Từ
tám đặc trưng của mô hình xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011), Đảng đã nhận thức sâu sắc hơn nội hàm của từng đặc trưng và mối quan
hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng, nổi bật là nhận thức về dân chủ xã
hội chủ nghĩa, vai trò và quyền làm chủ của nhân dân; về vị trí trung tâm của
kinh tế - xã hội, về phát triển kinh tế nhanh và bền vững, chú trọng hiệu quả,
chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế; về vai trò nền tảng tinh thần,
nguồn lực nội sinh của văn hóa, vai trò chủ thể, động lực phát triển của con
người; về vai trò, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; về sự gắn bó dân tộc và
nhân loại, quốc gia và quốc tế. Đảng ta cũng nhận thức sâu sắc hơn thời cơ,
thách thức đối với đất nước để xác định các bước đi, thiết kế các hình thức tổ
chức kinh tế, xã hội quá độ phù hợp với yêu cầu, điều kiện của từng giai đoạn..
Bám
sát tám phương hướng trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta đã
cụ thể hóa, bổ sung, làm sáng tỏ hơn phương hướng phát triển đất nước. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được tiếp cận theo tư duy mới gắn với đổi mới
mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; chú trọng chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh; phát triển nhanh, bền vững. Nhận thức về kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được đầy đủ hơn theo hướng xây
dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập, bảo đảm độc lập, tự
chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Phương hướng xây dựng văn
hóa, con người; phát triển xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tăng cường đối
ngoại, hội nhập quốc tế; thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; dân chủ xã hội
chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng và chỉnh đốn
Đảng… được cụ thể hóa, bổ sung nhận thức, ngày càng hoàn thiện và phong phú hơn.
VIỆT NAM - MỘT QUỐC GIA CÓ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ ĐỘC LẬP, CÓ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VÀ TỰ QUYẾT ĐỊNH CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA MÌNH
Cách mạng Tháng Tám năm 1945
thành công mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày
2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một chính thể dân
chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam,
kết thúc hơn 80 năm ách đô hộ của thực dân, phátxít. Nhân dân Việt Nam từ thân
phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình.
Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập,
tự do và dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, đất
nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước. Cuộc Tổng tuyển cử được
tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, bầu ra được 333 đại
biểu. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Thắng lợi
của cuộc Tổng tuyển cử mở ra một thời kỳ mới, đất nước ta có Quốc hội, Chính
phủ, bản Hiến pháp tiến bộ và hệ thống chính quyền đầy đủ danh nghĩa về mặt
pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về cả đối nội và đối ngoại.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Hội
nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 9/1975 đề ra nhiệm vụ
hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển
cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trên toàn quốc với hơn 23 triệu cử tri
(98,8% tổng số cử tri) đi bầu. Quốc hội quyết định lấy tên nước là Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (từ ngày 02/7/1976). Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc
ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy là “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hà
Nội là Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất. Thành phố Sài Gòn đổi tên thành
Thành phố Hồ Chí Minh. Việc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã
tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy toàn diện sức mạnh phát
triển đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, có
những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ với các nước trên
thế giới.
THAM GIA BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước
ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực
nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng
nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến
phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh
thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt,
tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam.
Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của
Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn
dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi
thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị đã đặt ra.
Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành
viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền,
thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến
được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi
khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở
pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên
cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền
"làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện
cho tiếng nói, cho lợi ích của mình.
Tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
là thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân với đất nước, là quyền lợi
chính trị, thực hiện quyền làm chủ của công dân./.
VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII LÀ CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra
trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã được tiến hành 35 năm và đạt
“những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, đất nước ta chưa bao giờ có “cơ đồ,
tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế” như hiện nay. Vì vậy, Đại hội có nhiệm vụ
kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến
hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ
sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020;
đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, xác định
mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm
2045. Các văn kiện Đại hội, theo đó, phải vừa đề ra quan điểm chỉ đạo mang tính
tổng kết thực tiễn, khái quát, hệ thống hóa lý luận; vừa cụ thể hóa thành các
chủ trương, giải pháp phát triển đất nước trong từng giai đoạn, trên từng vấn đề...
Tuy nhiên, sau khi Đại hội diễn ra thành công rất tốt đẹp,
các văn kiện Đại hội được thông qua và công bố, thì những thế lực thù địch và
thành phần bất mãn, ấu trĩ lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, rằng các quan
điểm và giải pháp của Đại hội XIII đưa ra “dày như gai mít”, chồng chéo, cái nọ
cản trở cái kia nên không thể thực hiện được. Vậy, bản chất của luận điệu này
là gì?
Xét về logic hình thức, luận điểm phản động trên chỉ nhìn nhận
một vài lát cắt của vấn đề, đi vào từng ý tiểu tiết, cố tình cô lập với chỉnh
thể, vi phạm phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử.
Xét về nội dung, luận điệu “các quan điểm và giải pháp của Đại
hội XIII cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được” đang giải thích
sai hoặc cố tình đánh tráo luận đề về một số vấn đề cơ bản trong các văn kiện của
Đại hội. Điển hình là việc họ cho rằng đã “kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn”(1),
tức là con đường độc lập dân tộc gắn với CNXH thì không thể áp dụng “kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bởi đó là sản phẩm đặc thù, là “con đẻ” của
chủ nghĩa tư bản. Họ cho rằng, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
là một mô hình “không giống ai” khi kết hợp khiên cưỡng, bằng cách áp đặt chủ
quan ý chí của Nhà nước Việt Nam vào quá trình hình thành, vận động và phát triển
của kinh tế thị trường - vốn phải hoàn toàn tuân thủ các quy luật kinh tế…
Những luận điệu nêu trên, để bác bỏ nó, chúng ta cần làm rõ
các căn cứ cơ bản sau:
Thứ nhất, đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, đường lối của Đại hội XIII nói riêng
được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đặc biệt là thực tiễn
của sự nghiệp đổi mới 35 năm qua.
Thứ hai, các
quan điểm, chủ trương, giải pháp được Đại hội XIII đưa ra không phải trên “mảnh
đất trống” về nhận thức mà dựa trên sự kế thừa, phát triển những quan điểm chỉ
đạo, giải pháp đã có từ nhiều kỳ đại hội trước đó.
Về thực tiễn, những
thành tựu mà Việt Nam đạt được trong sự nghiệp đổi mới, cụ thể là trong nhiệm kỳ
khóa XII chứng tỏ hệ thống quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng qua nhiều
kỳ đại hội đã có tính khả thi rất cao, phát huy được giá trị khoa học cũng như
giá trị thực tiễn của mình.
Thứ ba, các
quan điểm, chủ trương, giải pháp mà Đại hội XIII đưa ra đã được thể hiện trong
Dự thảo Văn kiện Đại hội, được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và
các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh
sửa nhiều lần; được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên
soạn một cách nghiêm túc, tính toán từng từ, từng câu.
Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch thực chất là sự cố tình xuyên tạc, hòng gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mưu đồ của chúng mà thôi
TUNG TIN BỊA ĐẶT VỀ NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM BẦU CỬ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊNH
Thời gian qua Bộ Chính trị đã xem xét cẩn trọng cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, thống nhất cao là cần sớm kiện toàn, sắp xếp lại các chức danh lãnh đạo đáp ứng yêu cầu kịp thời triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Sau đó, Bộ Chính trị đề nghị Trung ương cho thực hiện kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Tại Hội nghị lần thứ hai diễn ra hồi đầu tháng 3 sau khi dân chủ thảo luận, xem xét kỹ lưỡng, Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí rất cao. Có thể thấy, công tác nhân sự đã được chuẩn bị rất bài bản, quy trình chặt chẽ, nhưng vẫn có những tổ chức, cá nhân luôn cố tình xuyên tạc vấn đề này. Những kẻ sống ở nước ngoài tung ra nhiều về bài viết sai sự thật về các quy trình nhân sự về một số đồng chí lãnh đạo trong quá trình kiện toàn cán bộ.
Có
những kênh Youtube ở nước ngoài mỗi tháng sản xuất, đăng tải hàng trăm video
clip trắng trợn xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tung tin và
bình luận một số sự kiện liên quan đến Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh
đất nước. Chúng đã vẽ ra đủ mọi thuyết âm mưu với những câu từ giật gân để kích
thích sự tò mò của người xem, chúng cắt ghép hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng
và Nhà nước rồi chèn thêm những dòng chữ rất kích động. Có tờ báo tiếng Việt tại
Mỹ trong những ngày qua, liên tục đưa tin thiếu khách quan, sai sự thật về đợt
kiện toàn nhân sự tại Quốc hội với những luận điệu để công kích bôi nhọ. Một số
kênh Youtube khác thì tiếp tục công khai nhận xét bịa ra chuyện đấu tranh phe
nhóm trong nội bộ Đảng …
Căn
cứ kết quả biểu quyết và giới thiệu của Ban chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần
thứ hai vừa qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tổng hợp các ý
kiến của Trung ương, hoàn chỉnh phương án giới thiệu nhân sự ứng cử các chức
danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước để trình Quốc hội tại kỳ họp 11, đảm bảo được
nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ trong hệ
thống chính trị, vừa đúng với các quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức
các cơ quan nhà nước. Có thể nói đây là một bước rất quan trọng trong việc bố
trí sắp xếp kiện toàn đội ngũ cán bộ đất nước trong 5 năm tới. Điều đó khẳng định,
công tác cán bộ của Đảng được chuẩn bị và tiến hành nghiêm túc, làm chắc chắn từng
bước một và những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chỉ là những tiếng
nói lạc lõng mà thôi.