Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

An ninh mạng: "Chìa khóa" từ mỗi người dân

An ninh mạng thực sự đã trở thành một cuộc chiến bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Cuộc chiến này đòi hỏi mỗi công dân sử dụng internet phải trở thành người lính chuyên nghiệp để phòng, chống hữu hiệu các cuộc tấn công. Nói một cách hình ảnh, khi internet đã trở nên thông dụng với mọi người, mọi nhà thì mỗi công dân đều giữ trong tay một "chìa khóa" an ninh quốc gia. Vì vậy, cần phải phổ cập những phương thức cơ bản về bảo đảm an ninh mạng đến mọi công dân... Báo động đỏ Việt Nam vừa kỷ niệm tròn 20 năm internet vào Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đứng vào hàng "cường quốc" sử dụng internet, với 50,1 triệu người dùng, chiếm 53% dân số cả nước, một trong số ít quốc gia mà số người dùng internet nhiều hơn số người không dùng. Internet đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, trở thành nền tảng kết nối mọi vấn đề. Sự phát triển của công nghệ thông tin, của internet góp phần rất quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước, nhưng nhìn một cách khách quan, công tác bảo đảm an ninh mạng của chúng ta còn ở tình thế tương đối bị động. Trước hết là các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp chưa có quy trình thao tác chuẩn để đối phó với các cuộc tấn công mạng. Cuộc tấn công mạng nhằm vào Vietnam Airline ngày 29-7-2016 là một ví dụ. Hàng loạt màn hình hiển thị thông tin chuyến bay tại sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất cùng hệ thống phát thanh của sân bay bất ngờ bị chèn nội dung kích động, xuyên tạc về Biển Đông. Tại website của Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam, người dùng khi truy cập vào nhận được thông báo website đã bị hack, nội dung trang chủ được thay đổi hoàn toàn... Theo Hiệp hội An toàn Thông tin Việt Nam (VNISA) thì năm 2016, dù có sự nỗ lực rất lớn từ các cơ quan chức năng nhưng tình hình an toàn thông tin của Việt Nam vẫn có nhiều diễn biến phức tạp, vẫn xảy ra nhiều vụ tấn công có chủ đích vào hệ thống thông tin của tổ chức, doanh nghiệp lớn, lượng mã độc phát tán vẫn còn nhiều. Cũng theo VNISA, chỉ trong khoảng 3 tháng (từ tháng 8 đến tháng 11-2014), có đến 2.500 website của các cơ quan Nhà nước bị tấn công, trung bình 20 vụ/ngày. Đây là con số công khai và rõ ràng, đến nay thì tính chất, mức độ phức tạp của vấn đề còn tăng hơn nữa. Theo TS Vũ Quốc Khánh, chuyên gia về an ninh mạng, thì qua các con số phản ánh, có thể đánh giá tình hình an toàn thông tin tại Việt Nam đã được cải thiện nhiều, thể hiện qua Chỉ số an toàn thông tin của Việt Nam tăng lên và có xu hướng tăng bền vững. Tuy nhiên, các chuyên gia trong hội thảo Ngày An toàn thông tin Việt Nam năm 2016 về “Kỷ nguyên mới của chiến tranh mạng” nhận định Việt Nam vẫn là một điểm nóng về tấn công mạng. Để môi trường an toàn thông tin tại Việt Nam được phát triển bền vững, lành mạnh hơn nữa, các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và mỗi công dân cần phải nâng cao nhận thức chung và thống nhất hợp tác trong xử lý các tình huống về an toàn thông tin. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, tổ chức và có sự điều phối chung của Nhà nước, trong đó, lấy con người làm nguồn lực chính, phát triển công nghệ an toàn thông tin phù hợp với đặc thù Việt Nam, đẩy mạnh các hoạt động khuyến khích cộng đồng tham gia vào lĩnh vực hoạt động này. Người dùng internet ở Việt Nam nhìn chung ý thức tự bảo vệ chưa cao. Một ví dụ đơn giản là mọi người thường thoải mái cài đặt phần mềm từ internet mà không quan tâm đến nguồn gốc của phần mềm đó. Trong khi một khảo sát của BKAV cho thấy, có tới 70% kết quả tìm kiếm những phần mềm phổ biến khi tìm kiếm trên internet là chứa mã độc. Coi trọng quản lý tên miền tại Việt Nam Internet là "con dao hai lưỡi". Nhận thức chung trên toàn thế giới đều khẳng định điều này. Không thể phủ nhận lợi ích to lớn của internet nhưng mặt trái của internet tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người, chủ quyền và lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc. Các thế lực thù địch với Việt Nam xác định internet là "công cụ số 1" để tung tin độc hại, xuyên tạc, hạ thấp uy tín cá nhân và tổ chức, gây nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ, khoét sâu vào những yếu kém, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Những chiêu trò trên internet nhiều khi rất đơn giản, như việc xây dựng các website có máy chủ đặt ở nước ngoài, lấy tên miền định danh trùng với tên các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam... nhưng vì thiếu kỹ năng an toàn thông tin, khá nhiều người dùng internet ở Việt Nam tưởng đó là website của các đồng chí lãnh đạo, dẫn tới bị những thông tin trên đó "dắt mũi", "ám thị". Những thông tin nêu trên cho thấy, việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người sử dụng internet và của cộng đồng phải là giải pháp cơ bản, thường xuyên, liên tục, lâu dài và đóng vai trò chủ đạo; để người dùng internet Việt Nam từng bước thích ứng tích cực với môi trường mạng, biết sàng lọc thông tin xấu, tiếp nhận thông tin hữu ích, biến internet thực sự là công cụ kỳ diệu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận diện tên miền là một kỹ năng đơn giản nhưng lại rất quan trọng, rất cần thiết để người dùng internet ở Việt Nam có thể phân biệt đâu là website đáng tin cậy, đâu là website giả mạo, không đáng tin. Tên miền là đường dẫn tới các địa chỉ trên internet, được xem như "số nhà", "định danh" trên internet. Thông qua tên miền, có thể nhận dạng được về thông tin trên mạng. Đăng ký, sử dụng tên miền đã và đang trở thành yếu tố quyết định trong việc giúp người sử dụng internet nhận thức, xác định nguồn thông tin tốt, tránh tiếp cận nguồn thông tin xấu. Ví dụ, các thế lực chống phá Việt Nam không dám đăng ký, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam có đuôi ".vn". Những trang mạng giả mạo tên các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam đều sử dụng tên miền quốc tế như: ".com", ".net", ".org"... Trong trường hợp này, nếu nắm rõ tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" chính là tên cấp cao nhất (ccTLD), đã được tổ chức quản lý tên và số cấp cao nhất toàn cầu (ICANN) chuyển giao cho Việt Nam quản lý, thì người sử dụng internet sẽ biết ngay những website giả mạo do các trang mạng này sử dụng tên miền quốc tế với các thông tin định danh không xác thực. Trong quy định về quản lý, sử dụng tài nguyên internet tại Việt Nam nêu rõ: "Báo điện tử, trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng ít nhất 01 tên miền ".vn" và lưu giữ thông tin tại hệ thống máy chủ có địa chỉ IP ở Việt Nam (khoản 3, Điều 7, Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT, ngày 18-8-2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông). Các nguồn tin chính thức, đặc biệt là tin tức chính trị, pháp luật của Việt Nam do các cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, Nhà nước cung cấp sẽ sử dụng tên miền ".vn" với các thông tin định danh xác thực. Xác định tên miền ".vn" là thông số rất quan trọng đối với hoạt động internet. Việc quản lý tên miền ".vn" vừa là công cụ phục vụ cho quản lý, vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển internet tại Việt Nam. Đối với người sử dụng internet ở Việt Nam, khi đọc những thông tin chính trị, pháp luật nhạy cảm, cần tỉnh táo lựa chọn, truy cập những website có tên miền ".vn" để được tiếp cận nguồn thông tin chính thức, đáng tin cậy. Trả lời chất vấn trên diễn đàn Quốc hội ngày 17-11 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn cho biết thời gian qua, cơ quan chức năng của bộ phối hợp với mạng YouTube đã gỡ bỏ hơn 5.000 clip có nội dung xấu độc, một con số thể hiện nỗ lực lớn trong công tác quản lý Nhà nước trên internet. Tuy nhiên, các website, trang mạng xã hội, blog phản động có rất nhiều mưu mô để "vượt tường lửa" hay vượt qua các phương thức kiểm duyệt thông qua nhà mạng. Một website, blog hay clip này bị chặn thì chúng lập tức lập ra những website, blog khác. Thực tế này càng cho thấy, giải pháp tuyên truyền, giáo dục nhận thức và kỹ năng, để mỗi công dân trở thành một người dùng internet thông minh, có "sức đề kháng" và khả năng phân biệt thông tin chính thống với thông tin giả mạo, xuyên tạc là giải pháp cơ bản, quan trọng. Mỗi công dân hiện đang giữ một "chìa khóa" an ninh mạng của quốc gia, vì chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc, nhất định chúng ta phải kiên trì xây dựng mỗi công dân trở thành một chiến sĩ trên mặt trận bảo đảm an ninh mạng. Để thoát khỏi sự phụ thuộc mạng xã hội nước ngoài Cũng trong phiên trả lời chất vấn trên diễn đàn Quốc hội ngày 17-11, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn đề cập một thực tế là người dân Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào mạng xã hội nước ngoài. Đây là vấn đề toàn cầu mà nhiều nước quan tâm, không chỉ riêng Việt Nam. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam có tham vọng xây dựng mạng xã hội cạnh tranh với Facebook hay công cụ tìm kiếm cạnh tranh Google, nhưng do tiềm lực tài chính có hạn nên gặp nhiều trở ngại. Thiết kế và xây dựng mạng xã hội riêng là một chính sách mà các nước lớn như Nga, Trung Quốc đang tiến hành. Theo đó, Chính phủ Nga, Trung Quốc đã dùng một số biện pháp ngăn chặn và hạn chế việc sử dụng mạng xã hội từ nước ngoài, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện tối đa để công dân sử dụng mạng xã hội do doanh nghiệp trong nước cung cấp. Mạng Vkontakte ở Nga hoặc WeChat, Sina Weibo của Trung Quốc khá phổ biến với người dùng mỗi nước. Chính sách này mang lại nhiều lợi ích, không chỉ giúp bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dễ dàng kiểm soát các luồng thông tin mà còn tạo điều kiện cho ngành dịch vụ và công nghệ thông tin trong nước phát triển. Việt Nam là một quốc gia hiện có 50,1 triệu người sử dụng internet và con số này tiếp tục tăng. Những hạn chế khi người dân phụ thuộc vào mạng xã hội của nước ngoài, tình trạng lộ lọt bí mật quốc gia, hoạt động phá hoại của các phần tử, thế lực thù địch cũng như mức độ trốn thuế và thiếu hợp tác của các tập đoàn công nghệ toàn cầu thúc đẩy chúng ta nên xây dựng mạng xã hội của Việt Nam. Để doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạng xã hội cạnh tranh toàn cầu thì chính sách phải đồng bộ, ưu tiên giảm thuế, phí, phát triển nội dung số để hình thành hệ sinh thái số lớn mạnh. Công việc này, như Bộ trưởng Trương Minh Tuấn khẳng định, cần có sự chung tay của 4 nhà: Nhà cung cấp hạ tầng viễn thông-nhà mạng xã hội-nhà quảng cáo và nhà phát triển nội dung trong nước thì mới hy vọng xây dựng hệ thống sinh thái số Việt Nam. Theo báo điện tử VTV.vn, mạng xã hội Zalo của Việt Nam vừa kỷ niệm 10 năm ra đời và hiện nay đã có hơn 80 triệu người dùng trên toàn thế giới. Nếu so với "đế chế" Facebook có hơn 1,5 tỷ người dùng trên toàn thế giới thì rõ ràng Zalo còn là một mạng xã hội nhỏ bé. Nhưng thành công bước đầu của Zalo, cũng như thành công của Viettel khi đầu tư ra nước ngoài là những tín hiệu cho thấy, các doanh nghiệp công nghệ thông tin của chúng ta hoàn toàn có thể bước ra biển lớn thành công. Đó cũng là tín hiệu để mỗi công dân Việt Nam tự tin xây dựng một "thế trận chiến tranh nhân dân trên mạng" - một vấn đề có ý nghĩa sống còn để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

. Chống phá Quân đội - âm mưu cũ, thủ đoạn mới

Chống phá Quân đội là âm mưu xuyên suốt trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Gần đây, mưu đồ này được chúng thực hiện một cách ráo riết và trực diện hơn, với những thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt. Chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác và chủ động đấu tranh. .Cùng với thủ đoạn đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, gần đây, các thế lực thù địch sử dụng một số thủ đoạn mới để chống phá Quân đội, hòng làm mất chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước ta. Đồng thời gây hoang mang dư luận, hạ thấp uy tín, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Nổi lên, một số thủ đoạn chống phá mới như sau: 1. Mượn danh, mạo danh cán bộ cấp cao của Quân đội đã nghỉ hưu để nói xấu lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Trò “gắp lửa bỏ tay người” này trước đây họ đã sử dụng, gần đây càng ráo riết hơn. Qua thẩm tra của các cơ quan chức năng trong Quân đội thấy rằng, một số đồng chí cán bộ cao cấp của Quân đội đã nghỉ hưu, trong đó có cả cán bộ cấp tướng hoàn toàn bất ngờ trước việc mạo danh, mượn danh mình để nói xấu, gây hại Quân đội và các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng. Có đồng chí cán bộ quân đội khi bị mạo danh đã rất phẫn nộ, đòi nghiêm trị kẻ phi nhân tính, lừa đảo. Mặc dù vậy, cũng phải nói rằng, trong xã hội không phải ai cũng có thông tin chính xác và đầy đủ để nhận biết rõ sự thật, “trắng đen”. Vì thế, thủ đoạn này của họ tuy không thật mới nhưng ở mức độ nào đó cũng gây những hiệu ứng tiêu cực, đòi hỏi chúng ta phải nêu cao cảnh giác để phòng ngừa, chủ động đấu tranh. 2. Họ tuyên truyền Quân đội chỉ có chức năng chiến đấu, không có và không nên lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Đây là một thủ đoạn mới, chống phá trực diện Quân đội ta. Vừa qua, lợi dụng một số vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, như: sân golf, quản lý và sử dụng đất quốc phòng; sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội; họ tuyên truyền trên in-tơ-nét và một số trang mạng xã hội nhiều tin, bài, comment, video clip,... xuyên tạc, trong đó tập trung phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” của Quân đội, bản chất, truyền thống tốt đẹp và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là những ý kiến phiến diện, một chiều, không có cơ sở. Xét về bản chất, Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Ngay từ ngày đầu thành lập (22-12-1944) đến nay, Quân đội ta luôn thể hiện rõ bản chất cách mạng, phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng đáng với truyền thống đáng tự hào của Quân đội anh hùng: trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Xét về chức năng, Quân đội có ba chức năng cơ bản, trong đó có chức năng “đội quân lao động sản xuất”. Hiến pháp năm 2013, Điều 65 đã ghi: “Lực lượng vũ trang nhân dân... cùng với toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”. Như vậy, về mặt pháp lý, cùng với chức năng, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Quân đội còn tham gia sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội xây dựng đất nước và đó là truyền thống, bản chất của Quân đội ta - “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, phát triển 73 năm qua, Quân đội đã thực hiện và hoàn thành tốt chức năng cơ bản này. Trong kháng chiến, bộ đội vừa trực tiếp huấn luyện, chiến đấu trên các chiến trường, vừa tích cực tăng gia sản xuất, tạo nguồn hậu cần tại chỗ, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo sức khỏe cho bộ đội chiến đấu thắng lợi. Trong thời bình, với bản chất, truyền thống của Quân đội ta, việc tiếp tục tăng gia sản xuất là rất cần thiết. Vẫn biết rằng, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhưng không có nghĩa là không tham gia xây dựng đất nước. Thông qua thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, Quân đội đã và đang góp phần vào việc tăng cường tiềm lực quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cải thiện đời sống bộ đội. Đi đến đâu, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” hăng say trên mặt trận lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng cũng để lại những dấu ấn đẹp trong lòng nhân dân. Hiến pháp năm 2013, Điều 68 quy định: “... xây dựng công nghiệp quốc phòng, an ninh; bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”. Theo đó, các doanh nghiệp quân đội được trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang trong hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người và cơ sở vật chất, trang thiết bị của các doanh nghiệp quân đội là việc làm cần thiết để Quân đội tham gia cùng với toàn dân xây dựng đất nước và làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quân đội không tận dụng được nguồn lực này, trước hết là lãng phí, tiếp đó là không thực hiện tốt chức năng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Vì thế, hà cớ gì mà các doanh nghiệp quân đội lại không được tham gia sản xuất, phát triển kinh tế đất nước? Hiện nay, trong Quân đội không có loại hình doanh nghiệp kinh tế thuần túy, ngay cả các doanh nghiệp kinh tế, thương mại cũng góp phần nhất định vào việc xây dựng Quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, thực hiện các chính sách xã hội, hậu phương Quân đội. Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp này phải chấp hành nghiêm quy định của pháp luật, nhất là Luật Doanh nghiệp, bình đẳng như các doanh nghiệp dân sinh khác. Đối với loại hình doanh nghiệp quốc phòng, trước hết phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị là sản xuất hàng quốc phòng theo chỉ tiêu được giao, tiếp đó mới tận dung công năng dôi dư để sản xuất các mặt hàng phục vụ dân sinh. Nhưng cần thấy, dây chuyền, công nghệ sản xuất các sản phẩm này có tính lưỡng dụng để có thể sẵn sàng chuyển sang sản xuất quốc phòng khi đất nước có chiến tranh. Như vậy, có thể thấy, các doanh nghiệp quốc phòng cũng đóng góp tích cực vào sự nghiệp hiện đại hóa Quân đội. Các doanh nghiệp quân đội có mặt trên mọi miền Tổ quốc, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo và đây cũng là những lĩnh vực, địa bàn mà các doanh nghiệp khác khó hoặc không làm được. Cho nên, các doanh nghiệp Quân đội đã và đang tham gia tích cực, hiệu quả vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. Trong đó, các doanh nghiệp quân đội đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27-12-2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Theo Nghị quyết thì nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng là “chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Y tế và các địa phương liên quan tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho y, bác sĩ, cán bộ y tế cơ sở cho các xã thuộc huyện nghèo, xây dựng trạm xá quân dân y kết hợp; phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vận động thanh niên, trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các xã thuộc huyện nghèo, các khu kinh tế - quốc phòng, để tạo nguồn cán bộ cho địa phương; chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng, các đoàn kinh tế - quốc phòng, các lực lượng an ninh tham gia xây dựng các công trình hạ tầng; xây dựng trường nghề để đào tạo nghề đối với bộ đội xuất ngũ và lao động của địa phương; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giúp dân xây dựng nếp sống mới, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn”. Với nhiệm vụ được giao như vậy, đã tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp quân đội khẳng định vị thế của mình trong tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đất nước, chứ không như những ý kiến lạc lõng, thiếu căn cứ của một số người chuyên đi “thọc gậy bánh xe” để chống phá Quân đội. Với việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng1 trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng - an ninh, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, điều kiện cần thiết cho các hộ dân định cư lâu dài, hình thành các điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược. Với tinh thần đó, từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận trên 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp trong các khu kinh tế - quốc phòng; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với trên 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động nền nếp có hiệu quả, v.v. Điều đó tạo ra nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân, người lao động các binh đoàn 15, 16 làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng trên biên giới Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ đã sát cánh cùng cấp ủy, chính quyền địa phương, phát huy tiềm năng, thế mạnh trên từng địa bàn, vừa sản xuất, phát triển kinh tế, vừa tham gia tích cực vào sự nghiệp tăng cường quốc phòng, ổn định dân cư, tạo việc làm cho đồng bào, khắc phục được tình trạng di dịch cư tự do, chống buôn lậu, buôn bán người, ma túy, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đó là một minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. 3. Họ cho rằng, Quân đội sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích. Lợi dụng một số công trình, dự án liên quan đến đất quốc phòng, như: sân bay Tây Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh và sân bay Miếu Môn thuộc xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội, họ lớn tiếng cho rằng, Quân đội sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích, phục vụ “lợi ích nhóm” và để hoang hóa, không hiệu quả. Đó là cách nhìn thiển cận chỉ thấy hiện tượng mà không hiểu bản chất của sự việc. Quân đội được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao quản lý đất quốc phòng, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng luôn được các cấp trong Quân đội quán triệt, thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy định. Tuyệt nhiên không có việc sử dụng vào “lợi ích nhóm” như ai đó xuyên tạc hoặc cố tình “hiểu nhầm”. Trong quá trình quản lý, sử dụng đất quốc phòng có thể có nơi này, nơi khác chưa có nhu cầu sử dụng cho nhiệm vụ quốc phòng nhưng luôn phải sẵn sàng đáp ứng yêu cầu đó, chứ không phải đất hoang hóa. Thừa nhận rằng, trong quá trình quản lý, sử dụng đất quốc phòng có trường hợp cá nhân, đơn vị cơ sở thực hiện chưa tốt, thậm chí chưa đúng mục đích. Những cá nhân, tập thể đó được cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật và kỷ luật Quân đội đảm bảo đúng người, đúng sai phạm, tuyệt nhiên không có vùng cấm. Nếu chỉ vì một vài trường hợp cụ thể để suy diễn, kết luận Quân đội quản lý, sử dụng đất quốc phòng không đúng mục đích là cách xem xét thiếu khách quan, không loại trừ nhằm dụng ý xấu. Trước những hành động chống phá chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và việc quản lý, sử dụng đất quốc phòng nói trên, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ đó.

Lợi dụng quyền tự do biểu đạt sẽ dẫn tới phản văn hóa

Thời gian qua, hiện tượng một số cá nhân với danh nghĩa tự do sáng tạo, tự do biểu đạt mà có biểu hiện xúc phạm tôn giáo, tín ngưỡng hay phân biệt vùng miền, sắc tộc,… có biểu hiện ngày một nhiều hơn. Trên thực tế, hiện tượng này không chỉ gây bức xúc trong dư luận, mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. . Ngày 8-10 vừa qua, những hình ảnh phản cảm từ chương trình biểu diễn thời trang tại quán bar Fame Club ở Hà Nội đã nhanh chóng được chia sẻ trên mạng xã hội, cùng với đó là thái độ bức xúc của một bộ phận công dân theo Công giáo. Nguyên nhân xuất phát từ việc người mẫu và vũ công của cơ sở này không chỉ hở hang mà còn khoác trang phục mô phỏng trang phục của các nữ tu Công giáo rồi thực hiện nhiều động tác phản cảm. Hiện cơ quan chức năng đề xuất xử phạt quán bar Fame Club số tiền 64 triệu đồng. Ðây không phải lần đầu, việc trình diễn tùy tiện, thiếu kiểm soát tại một số quán bar phải nhận phản hồi tiêu cực từ phía dư luận. Tháng 5-2017, Ðoàn kiểm tra liên ngành do Phòng Văn hóa - Thông tin quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) chủ trì đã kiểm tra, lập biên bản đối với Công ty cổ phần thương mại Ðại Cát Việt Nam - đơn vị quản lý và khai thác quán bar Hey Club trên phố Cửa Nam, vì trước đó, quán tổ chức chương trình nghệ thuật có sử dụng vũ công mặc các trang phục xúc phạm cờ Tổ quốc và hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân. UBND quận Hoàn Kiếm đã đề nghị Sở Văn hóa - Thể thao TP Hà Nội xử phạt Hey Club số tiền lên đến 160 triệu đồng. Tuy nhiên, mức phạt này dường như chưa cảnh tỉnh được hoạt động biểu diễn phản văn hóa tại một số quán bar khác, mà sai phạm mới đây tại Fame Club là một minh chứng. Trên thực tế, không chỉ dừng lại ở các hiện tượng tự phát ở vài cơ sở, tụ điểm công cộng, hành vi xúc phạm tôn giáo, tín ngưỡng có biểu hiện ngày một nhiều trong các hoạt động sáng tác, biểu diễn. Ngày 19-9 vừa qua, Ban Tổ chức chương trình Tuyệt đỉnh song ca đã phải xin lỗi công chúng và lùi chương trình phát sóng có phần dự thi của hai thí sinh "nhà sư triệu view" vì có biểu hiện xúc phạm Phật giáo. Trước đó, năm 2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã lập biên bản và xác minh vụ việc liên quan đến bộ ảnh tai tiếng "nude để thiền". Nhân vật thiền sư trong những tấm hình thiếu vải được xác nhận là Phạm Ðình Phong, người từng bị lập biên bản hành chính xử phạt 50 triệu đồng vì hành vi lập website "đen". Tiếp đó, tháng 10-2014, ban nhạc F-Band đã không tôn trọng văn hóa của đồng bào dân tộc Thái khi sử dụng khăn piêu làm khố trong đêm bán kết chương trình Nhân tố bí ẩn. Bên cạnh đó, phải kể đến sự tồn tại nhan nhản các tiểu phẩm hài, trong đó có một số tiểu phẩm được đưa lên YouTube, có nội dung phân biệt vùng miền, làm sai lệch, méo mó hình ảnh, phong tục, tập quán của một số dân tộc ít người và người nước ngoài. Công thức chung của các tiểu phẩm này rất đơn giản: nhân vật chính được quy ước là thuộc dân tộc ít người, có tật nói ngọng, chọc cười khán giả bằng các câu thoại và hành xử ngây ngô, kệch cỡm. Cá biệt, có nhóm diễn còn xuyên tạc hình tượng nhân vật, cốt truyện tác phẩm văn học nổi tiếng về người dân tộc thiểu số trong sách giáo khoa trung học phổ thông, như Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu... Có thể thấy nguyên nhân của hầu hết hành vi có màu sắc nhạo báng tôn giáo, tín ngưỡng qua các hoạt động sáng tác, biểu diễn phần lớn đều bắt đầu từ sự cẩu thả, thiếu hiểu biết, vô ý thức: Khi hành động như vậy, đạo diễn, nhà thiết kế, tác giả, nghệ sĩ đã không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của việc mình làm. Tuy nhiên, cũng có một số người muốn lợi dụng việc này để gây ra scandal nhằm tạo sự nổi tiếng, như trường hợp người mẫu TNV với bộ ảnh phản cảm, mà đỉnh điểm là "nude để thiền"; hoặc việc giả danh nhà sư để hoạt động tôn giáo trái phép, hoặc sự kiện thi hát bolero của ba "thầy chùa rởm" Tâm Ðức, Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên,…? Có thể thấy hành vi phản cảm, phản văn hóa của một số người không chỉ ảnh hưởng xấu đến văn hóa dân tộc, mà còn tạo cớ cho một số phần tử có thái độ thù địch lợi dụng kích động tâm lý và hành vi, tạo ra mâu thuẫn tiềm ẩn trong xã hội. Cụ thể là ngay sau khi chuỗi hình ảnh của quán bar Fame Club xuất hiện trên mạng xã hội, hàng loạt video, bài viết của nhiều cá nhân, tổ chức, tờ báo chống cộng có nội dung kích động xung đột tôn giáo, tín ngưỡng đã được đăng tải. Trên thế giới, một số quốc gia, dân tộc đã phải nếm trải những bài học đau lòng xuất phát từ những hành vi nhân danh tự do ngôn luận, sáng tác và biểu đạt để xúc phạm, miệt thị tôn giáo. Lý do chính là ở chỗ các quốc gia này chỉ nghiêm cấm hành vi trực tiếp báng bổ tôn giáo, nhưng lại không cấm các hành vi qua hoạt động nghệ thuật mà sử dụng ngôn từ, hành động xúc phạm tín ngưỡng. Năm 1988, nhà văn S.Rushdie (S.Ru-sờ-đi) bị tuyên án tử hình vắng mặt sau khi cuốn sách Những vần thơ của quỷ Satan có nội dung báng bổ nhà tiên tri Muhammad (Mô-ha-mét) được xuất bản tại Anh. Năm 2015, sau vụ khủng bố đẫm máu của các phần tử Hồi giáo cực đoan với tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo, Tổng Thư ký Tổ chức Hồi giáo lớn nhất thế giới (OIS) I.A.Madani (I.A.Ma-đa-ni) phải lên tiếng: "Thế giới Hồi giáo lên án vụ tiến công tòa soạn báo Charlie Hebdo tại Paris. Một số lượng lớn người Hồi giáo tại Pháp cũng như lãnh đạo thế giới Hồi giáo đã tham gia cuộc diễu hành để lên án những hành động như vậy. Mọi người ủng hộ tự do ngôn luận. Tuy nhiên, tự do ngôn luận không nên xúc phạm đến tín ngưỡng của người khác". Tại Việt Nam, tự do tín ngưỡng và tôn giáo luôn luôn được tôn trọng, được quy định trong Hiến pháp và cụ thể hóa qua nhiều văn bản pháp luật, mà mới đây nhất là Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (có hiệu lực từ ngày 1-1-2018). Nói cách khác, Ðảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện để các tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động tự do trong khuôn khổ pháp luật. Từ cảm hứng, đức tin về tôn giáo, tín ngưỡng mà nhiều công trình, tác phẩm hay đã ra đời, phản ánh các giá trị nhân văn mà một số tôn giáo, tín ngưỡng hướng tới, phê phán những kẻ lạm dụng tôn giáo để trục lợi, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Cuối những năm 70 của thế kỷ trước, tiểu thuyết Cha và con, và… của nhà văn Nguyễn Khải đã sớm đi vào lòng người. Bối cảnh của tiểu thuyết chỉ bó gọn trong xứ đạo Nhất nhưng đã kịp thời phản ánh, lý giải sự hài hòa giữa chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước Việt Nam không hề mâu thuẫn với đời sống tôn giáo của người Công giáo. Lần lượt ra mắt vào năm 2006 và 2011, hai cuốn tiểu thuyết lịch sử về đề tài tín ngưỡng của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là Mẫu thượng ngàn và Ðội gạo lên chùa không chỉ dừng lại trong địa hạt văn học, mà còn là đối tượng nghiên cứu, trích dẫn trong nhiều công trình khoa học nghiên cứu tôn giáo, văn hóa quan trọng khác. Kể từ khi ra mắt năm 2010, tiểu thuyết Ðức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ Anh Thái đã được tái bản nhiều lần. Trong mỹ thuật, có thể kể đến bức tranh khắc gỗ A di đà phật của họa sĩ Nguyễn Khắc Hân được trao Huy chương vàng triển lãm Mỹ thuật Việt Nam 2015. Ðó là chưa kể hàng nghìn sáng tác trong các loại hình nghệ thuật từ sân khấu truyền thống đến điện ảnh, múa, âm nhạc, kịch đương đại… Không thể phủ nhận nhiều tác phẩm, văn hóa phẩm lớn về đề tài tôn giáo, tín ngưỡng mang giá trị nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng và còn là sợi dây gắn kết chặt chẽ giữa đời sống tôn giáo và thế tục, giữa tín đồ theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào. Chính vì vậy, hiện tượng cẩu thả, thiếu hiểu biết, vô ý thức và lợi dụng quyền tự do biểu đạt, tư duy sáng tạo trong văn học, nghệ thuật để xúc phạm, báng bổ tín ngưỡng tôn giáo,… cần phải bị xử lý nghiêm minh; đồng thời qua đó quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm với ý nghĩa tích cực, phù hợp quy định của pháp luật.

Đừng đánh mất phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản

Giản dị trong lối sống không chỉ là một đặc trưng làm nên nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà còn là một giá trị đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, những năm gần đây, do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, một bộ phận cán bộ, đảng viên đang tự mình đánh mất tính giản dị vốn là phẩm chất tốt đẹp của người cộng sản. . Một trong những nét đặc trưng làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng chỉ ra: “Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”. Tính giản dị trong lối sống của con người Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của một dân tộc sinh ra, lớn lên và gắn bó với nền văn minh lúa nước, gắn kết với cộng đồng làng xã. Thời xa xưa, do nghề trồng lúa nước phải phụ thuộc phần lớn vào thiên nhiên, nên người Việt luôn có ý thức tích cốc phòng cơ, chi tiêu tiết kiệm, sinh sống đạm bạc, giản dị, phòng khi mùa màng thất bát hay thời kỳ giáp hạt khó khăn vẫn có của ăn của để nhằm tránh rơi vào tình cảnh đói khát. Theo quan niệm của ông cha ta, tính giản dị trong lối sống không phải là “gò” mình vào cuộc sống kham khổ, cũng không phải là thói keo kiệt bủn xỉn đến mức giống anh chàng “đến chết vẫn hà tiện” như một câu chuyện ngụ ngôn, mà đó chính là một phương châm sống lành mạnh, một nếp sống thanh cao, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân, gia đình và không rời xa những chuẩn mực đạo đức chung của cộng đồng. Từ xưa đến nay, những bậc chí sĩ, túc nho, văn nhân, anh hào đều lấy sự thanh tao trong cuộc sống làm niềm vui, coi tính giản dị trong lễ tiết, tác phong và nếp sống làm trọng. Nhiều vị quan thanh liêm còn sống mãi với nhân dân, trường tồn trong lòng dân tộc bởi họ có một điểm chung: Đó là lòng yêu nước thương dân, tự nguyện hòa mình vào cuộc sống cần lao của người dân, không bao giờ sống hưởng thụ, xa hoa trong khi đời sống đồng bào còn nhiều gian khó. Thời nay, khi kinh tế-xã hội đất nước phát triển, của cải vật chất dồi dào hơn, nhân dân nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng không nhất thiết phải sống tằn tiện như thời bao cấp. Tuy vậy, cán bộ, đảng viên cũng không nên và không được phép sống xa hoa, cách biệt với nhân dân, bởi sống như vậy không chỉ là xa rời những giá trị truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, mà còn trái với đạo đức cách mạng của người cộng sản. Điều cảnh báo mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ ra: Một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc của người dân” có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất. Việc Đảng ta nhận định một bộ phận cán bộ, đảng viên sống “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn của người dân” là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là có cơ sở. Bởi sự thờ ơ, vô cảm, thái độ bàng quan, lạnh lùng, thiếu đồng cảm và tình thương yêu đồng loại là hoàn toàn xa lạ, trái ngược với giá trị đạo đức của con người. Đối với cán bộ, đảng viên mà thờ ơ, vô cảm lại càng đáng phê phán, vì đây là “triệu chứng” làm cho căn bệnh ích kỷ cá nhân có cơ hội lên ngôi và cũng là mầm mống của sự sa ngã, tha hóa về phẩm chất đạo đức cách mạng. Thời gian qua, không khó để nhận diện được những biểu hiện sống thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nếu thấu hiểu đời sống còn nhiều khó khăn của người dân, thì không có tình trạng cán bộ ở nhiều địa phương sa đà vào ăn uống, nhậu nhẹt, tiếp khách lãng phí, thậm chí có xã nghèo ghi nợ chủ quán hàng chục triệu đồng. Nếu hiểu lòng dân, cũng khó diễn ra cái cảnh đám cưới rình rang, đình đám, phô trương của con “ông bí thư nọ, bà chủ tịch kia” giữa thanh thiên bạch nhật. Nếu thực tâm sẻ chia với đời sống lam lũ của bao người dân quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng đồng và quý trọng từng thước đất trồng lúa, trồng cây của bà con nông dân, thì cũng không có chuyện mấy ông cán bộ sở, ngành, doanh nghiệp ở một số địa phương (Yên Bái, Đắc Lắc, Đồng Nai, Sóc Trăng…) xây dựng những công trình tư gia hoành tráng trên đất lâm, nông nghiệp. Hay gần đây, câu chuyện ồn ào về con gái một cán bộ nguyên lãnh đạo cao cấp ngành ngân hàng sở hữu một biệt phủ rộng hơn hai nghìn mét vuông ở huyện Bình Chánh (TP Hồ Chí Minh) khiến dư luận không khỏi hoài nghi về nguồn gốc xuất xứ khối tài sản “khủng” của một người phụ nữ mới 22 tuổi; đồng thời dư luận cũng đặt dấu hỏi về phẩm chất liêm chính, đức tính giản dị của một cán bộ từng công tác lâu năm trong một ngành quan trọng của đất nước. Có lẽ không ngẫu nhiên mà trong Hội nghị xúc tiến đầu tư tại tỉnh Sơn La tổ chức tháng 7-2017, sau khi kêu gọi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp hướng về miền núi đầu tư, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển cho các tỉnh vùng cao, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã bày tỏ trăn trở khi nghe các thông tin về lối sống phô trương, lãng phí, gây nhiều phản cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một vài tỉnh miền núi. Cũng từ diễn đàn này, Thủ tướng đã “đánh động lương tâm” những cán bộ, đảng viên đang có biểu hiện trượt dài vào lối sống xa hoa cần phải nhớ đến những câu chuyện cảm động về tinh thần hy sinh, nghĩa tình cao cả mà các thầy cô giáo ở những vùng lũ lụt đã hết lòng vì học sinh thân yêu, hết lòng vì thế hệ tương lai của đất nước; nhớ đến hàng vạn hộ dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa vẫn đang phải lo toan vất vả để kiếm kế sinh nhai, chắt chiu từng đồng tiền để nuôi con ăn học. Vẫn biết, cán bộ, công chức, đảng viên cũng là con người, do vậy ai cũng có nhu cầu thiết thân như bao người dân trong xã hội. Nhưng cán bộ, công chức, đảng viên có sứ mệnh cao cả là cùng các cấp ủy, chính quyền chăm lo cuộc sống, công ăn việc làm, học hành, sức khỏe… của người dân, nên phải có trách nhiệm với từng “đồng tiền bát gạo” mà người dân đã đóng góp, nuôi dưỡng bản thân mình. Mặt khác, cán bộ, công chức là hình ảnh thu nhỏ của bộ máy công quyền, do đó phải có trách nhiệm là tấm gương soi chiếu, dẫn dắt toàn dân hướng về và thực hiện những điều tốt đẹp, văn minh để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên tự mình thực hiện “cần, kiệm, liêm, chính” như lời Bác Hồ đã dạy; đồng thời luôn biết tiết chế, kiểm soát bản thân để không bị sa ngã, quyến rũ bởi những cám dỗ vật chất tầm thường. Rèn luyện nếp sống thanh cao, giản dị; hòa chung với nhịp sống cần lao của người dân; cùng thấu hiểu, sẻ chia với những khó khăn của đồng bào; lắng nghe nỗi niềm lo lắng của bà con và tìm cách tháo gỡ, giải quyết những vướng mắc từ cơ sở… không chỉ góp phần tôn lên vẻ đẹp nhân cách của người cán bộ, đảng viên, mà đó còn là việc làm thiết thực để góp phần củng cố, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân và xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh về đạo đức.

Không thể xuyên tạc, bóp méo sự thật về nhân quyền Việt Nam

Bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thời gian qua, các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc không ngừng bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vậy mà đây đó vẫn có những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo, phản ảnh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng dù bằng chiêu trò gì chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của người dân. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là quyền con người được bảo đảm và thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đặt nhiệm vụ bảo đảm quyền con người vào vị trí trung tâm. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Sau đó, các nội dung liên quan đến quyền con người được thể chế hóa thành những quyền hiến định trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946). Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, rồi Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và năm 2013, quyền con người ở Việt Nam đã thực sự trở thành quyền hiến định. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử xuyên suốt tiến trình đấu tranh cách mạng, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới mục tiêu cao nhất là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người. Đảng ta chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với bản chất là "Nhà nước của dân, do dân và vì dân". Trong hệ thống các quan điểm cơ bản, chính sách nhất quán và khuôn khổ pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đều hướng đến mục tiêu cao nhất là vì con người, cho con người. Để thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế, coi đây là yếu tố then chốt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến đổi mới công tác xây dựng pháp luật và đẩy mạnh cải cách tư pháp. Công việc này được đặt trong mối quan hệ với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới và bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó bảo vệ quyền của nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương được đặc biệt quan tâm. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Hệ thống pháp luật của Việt Nam đều phù hợp với thực tế đất nước và tương thích với các chuẩn mực quốc tế được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia. Hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện là tiền đề và điều kiện để Việt Nam từng bước thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về quyền con người, tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Những thành tựu về bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân Việt Nam được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... Đặc biệt ở Việt Nam, các quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của người dân luôn được bảo đảm. Nhà nước Việt Nam chủ trương mở rộng dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; nhân dân là người quyết định mọi công việc của Nhà nước. Công dân Việt Nam có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình tin tưởng bầu ra. Nhà nước Việt Nam không ngừng phấn đấu để bảo đảm và tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, coi đây là một trong những nhóm quyền quan trọng nhất của công dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin của người dân theo Hiến pháp và pháp luật. Những năm gần đây, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân. Báo chí còn là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa ra ánh sáng nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh. Các quyền của người dân về tự do hội họp và lập hội được bảo đảm và quy định cụ thể trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Việt Nam còn có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 5 đoàn thể bao gồm: Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hàng trăm tổ chức nhân dân bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp với hàng chục triệu hội viên. Cùng với các tổ chức công đoàn cấp quốc gia, ở Việt Nam còn có hơn 6.000 tổ chức công đoàn cơ sở. Ngoài ra ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ... hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật... Sự tăng nhanh của các tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ, chứng tỏ quyền tự do hội họp và lập hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Nhà nước Việt Nam nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần chính đáng của con người. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền của các tín đồ được tự do thờ cúng và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách này đã được thể chế hóa bằng pháp luật. Số chức sắc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng qua từng năm nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tâm linh của nhân dân. Các chức sắc tôn giáo cũng có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, có quyền ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân như mọi công dân khác. Các tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội... Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách và biện pháp cụ thể để bảo đảm người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo được Quốc hội thông qua vào tháng 11-2016 (có hiệu lực vào tháng 1-2018). Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính sách này được thể hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thể hiện trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau... Trong khi kinh tế thế giới có lúc lâm vào khủng hoảng và suy thoái, nhưng bằng những giải pháp hữu hiệu, nền kinh tế Việt Nam vẫn giữ được ổn định và tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức khá. Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam tăng từ 1.024 USD (năm 2008) lên 2.200 USD (năm 2016). Tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những tiền đề quan trọng để Việt Nam giải quyết những vấn đề bức thiết về xã hội, thực hiện tốt hơn các mục tiêu công bằng xã hội, bảo đảm tốt hơn những giá trị quyền con người, quyền công dân. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm và đạt nhiều kết quả được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam nằm trong số các quốc gia được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc vinh danh là nước có nhiều thành tích trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ như: Xóa đói, giảm nghèo cùng cực; đạt phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bình đẳng giới và đạt nhiều tiến bộ trong các chỉ tiêu về y tế như giảm tỷ số tử vong mẹ và tỷ suất tử vong trẻ em; đạt mục tiêu về kiểm soát sốt rét và bệnh lao cũng như đẩy lùi tỷ lệ lây lan HIV/AIDS… Tổng thư ký Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2007-2016) Ban Ki-moon đánh giá: Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ.... Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được nêu trong các công ước mà mình đã tham gia, tuân thủ nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người. Tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế, Việt Nam luôn được đánh giá cao về cách tiếp cận, ủng hộ đối thoại và hợp tác trong vấn đề quyền con người. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu quan trọng trong bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà Việt Nam đạt được và đã dành cho Việt Nam số phiếu ủng hộ cao nhất trong cuộc bầu chọn thành viên tham gia Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Những thành tựu cơ bản trong bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam nêu trên là kết quả từ chính sách nhất quán luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế. Những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo phản ánh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội là nhằm dụng ý xấu hòng phá hoại sự ổn định và kìm hãm sự phát triển của đất nước Việt Nam. Khi thấy vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới ngày càng được nâng cao, họ tỏ ra tức tối và tìm cách xuyên tạc, nói xấu nhằm làm giảm uy tín, vai trò của Việt Nam. Thế nhưng "vải thưa không che nổi mắt thánh", những ghi nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế và thực tiễn sinh động trên đất nước Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đối với Việt Nam.

Không để một bộ phận giới trẻ lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi lệch lạc

Cùng với sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của đất nước, thế hệ trẻ Việt Nam không ngừng lớn mạnh, trưởng thành về nhiều mặt. Tuy nhiên, trước sự biến động phức tạp của thời cuộc cũng như ảnh hưởng mặt trái của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, một bộ phận giới trẻ đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc, dễ bị “mất gốc” và từ đó sa đà, lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi sai trái, lệch lạc. . So với thế hệ cha anh trước đây, thế hệ trẻ ngày nay đã tự tin, năng động hơn, tiếp thu những cái mới nhạy bén hơn; chủ động lựa chọn, tìm kiếm nghề nghiệp để có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, góp phần làm giàu cho bản thân, gia đình và quê hương, đất nước. Nhận thức về lý tưởng, giá trị xã hội cũng cởi mở, thiết thực, phù hợp hơn với xu thế phát triển của đất nước và thời đại. Đó là động lực tích cực giúp thế hệ trẻ tự tin tiến về phía trước, biến những ước mơ, hoài bão, khát vọng của mình thành những hành động, việc làm cụ thể để thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do những biến động phức tạp của thời cuộc và ảnh hưởng mặt trái của thời đại công nghệ số, một bộ phận giới trẻ Việt Nam đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc, không làm chủ được bản thân trước sự lôi cuốn, huyễn hoặc của lối sống sùng ngoại, lai căng. Trong 27 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu ra tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng, có một số biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” liên quan đến giới trẻ khá rõ nét, như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng; Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của một bộ phận người trẻ không chỉ dừng lại ở biểu hiện thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến những sự kiện, hoạt động của Đảng và Nhà nước, mà còn thể hiện ở thái độ lạnh nhạt với phong trào của Đoàn Thanh niên và không thiết tha tham gia các hoạt động liên quan đến giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc, không mặn mà với các chương trình, nội dung giáo dục chính trị. Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao), trong vòng 5 năm (từ năm 2009 đến tháng 6-2014) đã phát hiện mới 35.654 đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật, chiếm hơn 16% so với tổng số bị can phạm tội hình sự. Qua khảo sát cho thấy, có 70% vị thành niên phạm tội cho biết không bao giờ tham gia các hoạt động Đoàn. Ngoài xa rời lý tưởng, một bộ phận giới trẻ còn có lối sống thực dụng, ích kỷ, biểu hiện rõ nét nhất là họ để “cái tôi” bản thân quá lớn, bao trùm lên “cái ta” cộng đồng; sống nhanh, sống gấp, sống chỉ vì mình mà không vì mọi người. Theo thông tin gần đây từ một báo cáo khoa học đề tài cấp Nhà nước, qua khảo sát về lối sống của thanh, thiếu niên có tới hơn 20% ý kiến được hỏi cho rằng người trẻ chưa thể hiện được lối sống lành mạnh; hơn 48% vị thành niên thừa nhận lối sống của họ kém hơn thế hệ cha anh. Đáng chú ý là những năm gần đây, sự bùng nổ của mạng xã hội đã lôi cuốn một bộ phận thanh, thiếu niên rơi vào tình trạng “nghiện phây” (facebook). Tháng 10-2016, theo công bố của PGS, TS Huỳnh Văn Sơn, Phó chủ tịch Hội Tâm lý xã hội Việt Nam, qua khảo sát 424 trẻ vị thành niên là học sinh ở độ tuổi 15-18 tại TP Hồ Chí Minh, trong số 414 học sinh đang sử dụng facebook (chiếm 97,6%), có 56,3% em có xu hướng nghiện mạng xã hội này. Thực tế cho thấy, hội chứng “nghiện phây” đã biến một số người trẻ vốn có đầu óc minh mẫn thành những kẻ “sống ảo” mụ mị, ngày đêm “ăn phây, ngủ phây”, đi đâu cũng “phây” và “seo-phi” (selfie) rồi "câu like”, thách thức nhau lên mạng làm những trò quái đản, kỳ quặc như châm lửa đốt trường, nhảy xuống sông... tự vẫn! Phong trào tự phát “nói là làm” từng lây lan trên mạng xã hội thời gian qua như là hậu quả tất yếu của suy nghĩ ngông cuồng, thái độ buông xuôi, bất chấp hậu quả của một bộ phận giới trẻ do sống xa rời thực tế, thiếu tu dưỡng rèn luyện và tự mình... hại mình! Trong khi phần đông giới trẻ vẫn đặt niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, nỗ lực góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì vẫn có một số người trẻ có tiếng nói sai trái, lệch lạc, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Lợi dụng internet, mạng xã hội, blog, một số trí thức trẻ đã có những bài viết, bình luận, thông tin theo kiểu chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, chỉ thấy hiện tượng rồi nhận định, đánh giá thành bản chất, mà thực chất là thổi phồng khuyết điểm, khoét sâu những mặt trái, tiêu cực xã hội, gây bất lợi cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Chung tay xây dựng môi trường sống lành mạnh cho tuổi trẻ Tuổi trẻ là sinh khí của dân tộc, là tương lai của đất nước, là sức mạnh quan trọng của quốc gia. Có một thế hệ trẻ hùng hậu với chí hướng, hoài bão lớn, khát vọng cao cả và giàu tinh thần cống hiến, hy sinh, đó là hồng phúc của dân tộc. Vì vậy, bên cạnh việc quan tâm chăm lo thế hệ trẻ không ngừng lớn mạnh, tiến bộ về mọi mặt, cần phải có những giải pháp phù hợp để giới trẻ không bị lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi sai trái, lệch lạc. Có một câu danh ngôn, đại ý: Người ta chỉ có thể phát triển khỏe mạnh, lành lặn khi được hít thở và sống trong bầu khí quyển trong trẻo. Suy rộng ra, có thể nói rằng, muốn trở thành công dân tốt, người ta phải được sống trong những môi trường lành mạnh. Môi trường ở đây được hiểu rộng ra là môi trường gia đình, nhà trường, tập thể, cộng đồng, xã hội. Hay nói cách khác, muốn thế hệ trẻ được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tâm hồn thì chúng ta phải quan tâm xây dựng những môi trường liên quan thiết thân đến cuộc sống, sinh hoạt, học tập, lao động, công tác của tuổi trẻ. Gia đình là tế bào của xã hội. Chăm lo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc chính là nền tảng để nuôi dưỡng, giáo dục thanh, thiếu niên thành những công dân tốt. Nhưng môi trường gia đình tốt thôi chưa đủ, mà chúng ta cần chú trọng quan tâm xây dựng nhà trường là nơi ươm mầm tài năng, bồi đắp nhân cách cho thanh, thiếu niên; xây dựng tập thể nơi người trẻ lao động, công tác thực sự trở thành nơi nâng đỡ, hoàn thiện phẩm chất đạo đức, năng lực cho họ; xây dựng cộng đồng nơi người trẻ sinh sống có không khí an cư thân thiện, văn minh; xây dựng xã hội có môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú để tuổi trẻ có thể “tắm mình” trong đó. Để tạo dựng được những môi trường như vậy, đòi hỏi phải có sự quan tâm thường xuyên của cha mẹ, thầy, cô giáo, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương; các cấp, các ngành và toàn xã hội. Cần nhận thức sâu sắc rằng, ở đâu có hoạt động của thanh, thiếu niên, ở đâu có mặt người trẻ thì ở đó phải có trách nhiệm nâng đỡ, dìu dắt, chỉ bảo ân cần, sát sao của những người đi trước. Người trẻ sẽ đi đúng hướng, sẽ có niềm tin lành mạnh, lý tưởng đúng đắn khi cấp ủy, chính quyền, tổ chức đoàn, cán bộ lãnh đạo và người đứng đầu các cấp luôn coi trọng, tạo điều kiện cho thanh, thiếu niên có môi trường sinh hoạt, học tập, lao động, công tác thật sự thuận lợi, phù hợp với lứa tuổi, sở thích, tâm lý của các em. Người trẻ sẽ bớt đi tính cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, thực dụng khi các bậc sinh thành, giáo dưỡng và những người có trọng trách “cầm cân nảy mực” trong xã hội luôn có lối sống chuẩn mực, gương mẫu về đạo đức, nhân cách, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người trẻ cũng sẽ giảm dần lối "sống ảo”, "nghiện phây” khi gia đình, bố mẹ, thầy cô, cán bộ đoàn chủ động gần gũi sẻ chia, động viên, giúp đỡ, định hướng cho các em tự giác, nhiệt tình tham gia vào những hoạt động, sinh hoạt, vui chơi, giải trí bổ ích. Người trẻ cũng sẽ bớt đi những suy nghĩ chưa đúng về đất nước và chế độ xã hội chủ nghĩa khi những người có trách nhiệm sẵn sàng đối thoại, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng thực tế của họ; đồng thời khéo léo tìm cách tháo gỡ những vướng mắc trong tư tưởng, thái độ của họ để cùng tìm ra tiếng nói chung, tạo sự đồng thuận nhằm hướng tới những mục tiêu cao cả của đất nước, xã hội. Thanh, thiếu niên là những người đang ở độ tuổi hoàn thiện về thể chất, tâm lý và nhân cách. Do vậy, để phòng, chống những nguy cơ, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lực lượng này, bên cạnh những giải pháp chính trị, hành chính thì cần coi trọng giáo dục, tuyên truyền, vận động và nhất là có cách ứng xử, đối xử sao cho khéo léo, phù hợp với từng đối tượng thanh niên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Dưới góc độ văn hóa, đây là cách làm hiệu quả vì nó biết chạm đến trái tim của tuổi trẻ một cách tinh tế, sâu sắc mà vẫn đạt được mục đích, mong muốn của nhà quản lý.

Những "căn bệnh" mới phát sinh

So với thế hệ cha anh trước đây, thế hệ trẻ ngày nay đã tự tin, năng động hơn, tiếp thu những cái mới nhạy bén hơn; chủ động lựa chọn, tìm kiếm nghề nghiệp để có công ăn việc làm và thu nhập ổn định, góp phần làm giàu cho bản thân, gia đình và quê hương, đất nước. Nhận thức về lý tưởng, giá trị xã hội cũng cởi mở, thiết thực, phù hợp hơn với xu thế phát triển của đất nước và thời đại. Đó là động lực tích cực giúp thế hệ trẻ tự tin tiến về phía trước, biến những ước mơ, hoài bão, khát vọng của mình thành những hành động, việc làm cụ thể để thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do những biến động phức tạp của thời cuộc và ảnh hưởng mặt trái của thời đại công nghệ số, một bộ phận giới trẻ Việt Nam đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc, không làm chủ được bản thân trước sự lôi cuốn, huyễn hoặc của lối sống sùng ngoại, lai căng. Trong 27 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu ra tại Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng, có một số biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” liên quan đến giới trẻ khá rõ nét, như: Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng; Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của một bộ phận người trẻ không chỉ dừng lại ở biểu hiện thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến những sự kiện, hoạt động của Đảng và Nhà nước, mà còn thể hiện ở thái độ lạnh nhạt với phong trào của Đoàn Thanh niên và không thiết tha tham gia các hoạt động liên quan đến giáo dục lịch sử, truyền thống dân tộc, không mặn mà với các chương trình, nội dung giáo dục chính trị. Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao), trong vòng 5 năm (từ năm 2009 đến tháng 6-2014) đã phát hiện mới 35.654 đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật, chiếm hơn 16% so với tổng số bị can phạm tội hình sự. Qua khảo sát cho thấy, có 70% vị thành niên phạm tội cho biết không bao giờ tham gia các hoạt động Đoàn. Ngoài xa rời lý tưởng, một bộ phận giới trẻ còn có lối sống thực dụng, ích kỷ, biểu hiện rõ nét nhất là họ để “cái tôi” bản thân quá lớn, bao trùm lên “cái ta” cộng đồng; sống nhanh, sống gấp, sống chỉ vì mình mà không vì mọi người. Theo thông tin gần đây từ một báo cáo khoa học đề tài cấp Nhà nước, qua khảo sát về lối sống của thanh, thiếu niên có tới hơn 20% ý kiến được hỏi cho rằng người trẻ chưa thể hiện được lối sống lành mạnh; hơn 48% vị thành niên thừa nhận lối sống của họ kém hơn thế hệ cha anh. Đáng chú ý là những năm gần đây, sự bùng nổ của mạng xã hội đã lôi cuốn một bộ phận thanh, thiếu niên rơi vào tình trạng “nghiện phây” (facebook). Tháng 10-2016, theo công bố của PGS, TS Huỳnh Văn Sơn, Phó chủ tịch Hội Tâm lý xã hội Việt Nam, qua khảo sát 424 trẻ vị thành niên là học sinh ở độ tuổi 15-18 tại TP Hồ Chí Minh, trong số 414 học sinh đang sử dụng facebook (chiếm 97,6%), có 56,3% em có xu hướng nghiện mạng xã hội này. Thực tế cho thấy, hội chứng “nghiện phây” đã biến một số người trẻ vốn có đầu óc minh mẫn thành những kẻ “sống ảo” mụ mị, ngày đêm “ăn phây, ngủ phây”, đi đâu cũng “phây” và “seo-phi” (selfie) rồi "câu like”, thách thức nhau lên mạng làm những trò quái đản, kỳ quặc như châm lửa đốt trường, nhảy xuống sông... tự vẫn! Phong trào tự phát “nói là làm” từng lây lan trên mạng xã hội thời gian qua như là hậu quả tất yếu của suy nghĩ ngông cuồng, thái độ buông xuôi, bất chấp hậu quả của một bộ phận giới trẻ do sống xa rời thực tế, thiếu tu dưỡng rèn luyện và tự mình... hại mình! Trong khi phần đông giới trẻ vẫn đặt niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, nỗ lực góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thì vẫn có một số người trẻ có tiếng nói sai trái, lệch lạc, phủ nhận con đường phát triển của đất nước. Lợi dụng internet, mạng xã hội, blog, một số trí thức trẻ đã có những bài viết, bình luận, thông tin theo kiểu chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, chỉ thấy hiện tượng rồi nhận định, đánh giá thành bản chất, mà

DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NGÀY CÀNG ĐƯỢC PHÁT HUY Ở VIỆT NAM

 

Những đổi mới trong từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị và mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đã góp phần quan trọng vào việc phát huy dân chủ xã hội. Đã chế định ngày càng đầy đủ hơn thiết chế và cơ chế thực thi dân chủ. Thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp có những chuyển biến tích cực. Dân chủ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hoạt động khoa học có những kết quả nổi bật đã góp phần làm cho dân chủ trong xã hội có bước phát triển toàn diện.

Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đã tạo những điều kiện và cơ hội quan trọng để người dân tham gia vào quá trình chính trị, các công việc nhà nước, thể hiện cả quyền, năng lực, trách nhiệm của mình trong xây dựng và thực thi dân chủ. Các cấp ủy đảng, chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với nhân dân, tôn trọng các ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng. Tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước được coi trọng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước ngày càng có hiệu quả hơn.  

Hệ thống pháp luật được bổ sung, sửa đổi; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường công tác tiếp dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; ban hành các quy định về chế độ công chức nhà nước trong hoạt động công vụ; chú trọng công tác thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân; ban hành và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở … đã góp phần tích cực vào quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

THỂ CHẾ, HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN VÀ CÓ BƯỚC PHÁT TRIỂN

 


1. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Xác định rõ hơn bản chất của Đảng: Ngay từ khi mới thành lập, Đảng luôn khẳng định là Đảng của giai cấp công nhân. Bảy mươi lăm năm qua, Đảng ta đã xác định rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của Đảng, đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và nhiều văn kiện Đảng sau đó khẳng định Đảng ta “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Xác định đầy đủ hơn nền tảng tư tưởng của Đảng: Ngay từ khi thành lập, Đảng luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho việc xây dựng tổ chức và hoạt động của mình. Điều này được khẳng định đầy đủ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng có bước chuyển biến mạnh mẽ: Các quy định, nguyên tắc, cơ chế vận hành tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện. Các văn bản về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng liên tục được bổ sung, được cụ thể, toàn diện, đồng bộ hơn. Bộ máy của Đảng được đẩy mạnh sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên bước đầu có kết quả.

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị tiếp tục được đổi mới: Vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng trong lãnh đạo hệ thống chính trị được xác định rõ hơn. Dân chủ trong Đảng ngày càng được phát huy. Đảng ngày càng khẳng định năng lực hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo, tư duy chiến lược và năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương đó trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

2. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Quốc hội đã có những bước đổi mới quan trọng, từ khâu bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; tăng cường bộ phận chuyên trách. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội đã đổi mới theo yêu cầu dân chủ và pháp quyền. Nhiều chế định mới, cách làm mới như có ứng cử viên tự do, tăng thêm số lượng đại biểu chuyên trách, chú ý tiêu chuẩn đại biểu để nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội có nhiều cải tiến nội dung, phương pháp công tác; đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội. Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và cơ chế hoạt động của các thiết chế trong bộ máy nhà nước có những đổi mới và từng bước được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, ngày càng dân chủ hơn. Hoạt động giám sát và thảo luận, quyết định các vấn đề lớn của quốc gia có chất lượng và thực chất hơn. Quốc hội đã làm tốt hơn chức năng lập pháp, ban hành Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi Hiến pháp vào năm 2001, ban hành Hiến pháp 2013. Chỉ tính số lượng các đạo luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành từ 1986 - 2016 đã gấp gần 8 lần số lượng luật, pháp lệnh ban hành trong 41 năm về trước (483/63); trong 4 năm 2016 - 2020, Quốc hội đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đồng thời có một số đạo luật mới, lần đầu tiên được Quốc hội ban hành như Luật An ninh mạng, Luật Quản lý ngoại thương, Luật phòng chống tác hại của rượu, bia …

Chính phủ có những thay đổi rõ rệt từ cơ cấu tổ chức đến phương thức hoạt động. Nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước được tuân thủ tốt hơn. Hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước được nâng lên. Nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước từng bước được thực hiện. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước đã có những bước tiến nhất định. Giai đoạn 2011 - 2020, cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, điều chỉnh, giảm đầu mối theo hướng tổ chức các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Đã giảm 3 đầu mối trực thuộc Trung ương, 61 đầu mối trực thuộc cấp tỉnh, 485 đầu mối trực thuộc cấp huyện; giảm hơn 4.100 đơn vị sự nghiệp công lập, gần 15.200 cấp trưởng, phó, tinh giản 97.900 biên chế. Cơ chế hoạt động của Chính phủ cũng có sự đổi mới quan trọng, chủ yếu quản lý ở tầm vĩ mô thông qua chính sách, kế hoạch, pháp luật. Đã tiến hành một bước cải cách hành chính, loại bỏ nhiều thủ tục, văn bản nhũng nhiễu, gây phiền hà. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả; trong đó đã tập trung chỉ đạo, xử lý nghiêm và công khai kết quả xử lý nhiều vụ việc tham nhũng, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập.

Hệ thống các cơ quan tư pháp đã có những bước cải tiến theo yêu cầu dân chủ và pháp quyền. Chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các cơ quan tư pháp ngày càng được phân định rõ ràng hơn. Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tối cao và cấp tỉnh có một số điều chỉnh; lập mới các tòa án chuyên trách (như tòa kinh tế, tòa lao động, tòa hành chính). Tổ chức bộ máy của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có điều chỉnh theo hướng tập trung thực hiện chức năng công tố, chức năng giám sát, giải quyết các vụ án hành chính, kinh tế, lao động và phá sản doanh nghiệp. Trong xét xử đã có quy trình khoa học hơn, nâng cao hiệu quả tranh tụng, coi trọng vai trò của luật sư. Việc tăng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, đề cao vai trò của luật sư trong tố tụng được thực hiện bước đầu có hiệu quả. Việc thực hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng điều tra, truy tố, xét xử oan, sai hay bỏ lọt tội phạm. Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên.

Chính quyền địa phương có bước chuyển rõ nét theo yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền. Đã sửa đổi Luật về Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; đã thực hiện một bước phân cấp theo hướng mở rộng và tăng quyền hạn cho chính quyền địa phương. Hoạt động của chính quyền địa phương cũng đã đổi mới, giảm bớt hình thức và đi vào thực chất, thiết thực và dân chủ hơn. Hội đồng nhân dân có vai trò lớn trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Ủy ban nhân dân các cấp thích nghi dần với những yêu cầu quản lý mới trong điều kiện kinh tế thị trường.

3. Đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội

Hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội được đổi mới; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ chức nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực, cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần tích cực vào những thành tựu của đất nước.

NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM NGÀY CÀNG SÁNG TỎ


Ngay từ khi ra đời (tháng 2/1930), Đảng ta đã xác định rõ con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là con đường xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, “để đi tới xã hội cộng sản”. Luận cương chính trị tháng 10/1930 nhấn mạnh con đường phát triển của cách mạng Việt Nam “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản và Lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo đã xóa bỏ chế độ thuộc địa, chấm dứt chế độ phong kiến, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam - Thời đại độc lập dân tộc, nhân dân được làm chủ xã hội và cuộc sống. Luận cương cách mạng Việt Nam được Đại hội II của Đảng (tháng 2/1951) thông qua đã xác định phương hướng và những điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội VI của Đảng (Tháng 12/1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện dựa trên điều kiện, hoàn cảnh đất nước và nhận thức rõ hơn những vấn đề của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những luận điểm của V.I.Lênin và Hồ Chí Minh; tổng kết những bài học lớn có giá trị lý luận và chỉ đạo thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đề ra (Tháng 6/1991) và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là quá trình không ngừng phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới của Việt Nam

Từ tám đặc trưng của mô hình xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng đã nhận thức sâu sắc hơn nội hàm của từng đặc trưng và mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các đặc trưng, nổi bật là nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò và quyền làm chủ của nhân dân; về vị trí trung tâm của kinh tế - xã hội, về phát triển kinh tế nhanh và bền vững, chú trọng hiệu quả, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế; về vai trò nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của văn hóa, vai trò chủ thể, động lực phát triển của con người; về vai trò, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; về sự gắn bó dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế. Đảng ta cũng nhận thức sâu sắc hơn thời cơ, thách thức đối với đất nước để xác định các bước đi, thiết kế các hình thức tổ chức kinh tế, xã hội quá độ phù hợp với yêu cầu, điều kiện của từng giai đoạn..

Bám sát tám phương hướng trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, Đảng ta đã cụ thể hóa, bổ sung, làm sáng tỏ hơn phương hướng phát triển đất nước. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được tiếp cận theo tư duy mới gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; chú trọng chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh; phát triển nhanh, bền vững. Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được đầy đủ hơn theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập, bảo đảm độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Phương hướng xây dựng văn hóa, con người; phát triển xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; tăng cường đối ngoại, hội nhập quốc tế; thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng và chỉnh đốn Đảng… được cụ thể hóa, bổ sung nhận thức, ngày càng hoàn thiện và phong phú hơn.

            Đảng ta luôn nắm vững và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011: Đổi mới, ổn định và phát triển; đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII cụ thể hóa quan hệ “giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” thành quan hệ “giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa”, bổ sung mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII phát triển mối quan hệ “giữa Nhà nước và thị trường” thành mối quan hệ “giữa Nhà nước, thị trường và xã hội”. Đây là sự khái quát ở tầm lý luận những vấn đề cốt lõi phản ánh quy luật vận động của cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới.

VIỆT NAM - MỘT QUỐC GIA CÓ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ ĐỘC LẬP, CÓ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VÀ TỰ QUYẾT ĐỊNH CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA MÌNH

 


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam, kết thúc hơn 80 năm ách đô hộ của thực dân, phátxít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Ngày 06/01/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trên cả nước. Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, bầu ra được 333 đại biểu. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử mở ra một thời kỳ mới, đất nước ta có Quốc hội, Chính phủ, bản Hiến pháp tiến bộ và hệ thống chính quyền đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về cả đối nội và đối ngoại.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 9/1975 đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trên toàn quốc với hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đi bầu. Quốc hội quyết định lấy tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ ngày 02/7/1976). Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy là “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Hà Nội là Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất. Thành phố Sài Gòn đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh. Việc hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy toàn diện sức mạnh phát triển đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, có những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới.

THAM GIA BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ THỰC HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 -  2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra.

Bầu cử là việc đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, thông qua bầu cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền  "làm chủ" của mình, nhất là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình.

Tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân với đất nước, là quyền lợi chính trị, thực hiện quyền làm chủ của công dân./.

VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII LÀ CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã được tiến hành 35 năm và đạt “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, đất nước ta chưa bao giờ có “cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế” như hiện nay. Vì vậy, Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045. Các văn kiện Đại hội, theo đó, phải vừa đề ra quan điểm chỉ đạo mang tính tổng kết thực tiễn, khái quát, hệ thống hóa lý luận; vừa cụ thể hóa thành các chủ trương, giải pháp phát triển đất nước trong từng giai đoạn, trên từng vấn đề...

Tuy nhiên, sau khi Đại hội diễn ra thành công rất tốt đẹp, các văn kiện Đại hội được thông qua và công bố, thì những thế lực thù địch và thành phần bất mãn, ấu trĩ lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, rằng các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII đưa ra “dày như gai mít”, chồng chéo, cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được. Vậy, bản chất của luận điệu này là gì?

Xét về logic hình thức, luận điểm phản động trên chỉ nhìn nhận một vài lát cắt của vấn đề, đi vào từng ý tiểu tiết, cố tình cô lập với chỉnh thể, vi phạm phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử.

Xét về nội dung, luận điệu “các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được” đang giải thích sai hoặc cố tình đánh tráo luận đề về một số vấn đề cơ bản trong các văn kiện của Đại hội. Điển hình là việc họ cho rằng đã “kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn”(1), tức là con đường độc lập dân tộc gắn với CNXH thì không thể áp dụng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bởi đó là sản phẩm đặc thù, là “con đẻ” của chủ nghĩa tư bản. Họ cho rằng, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một mô hình “không giống ai” khi kết hợp khiên cưỡng, bằng cách áp đặt chủ quan ý chí của Nhà nước Việt Nam vào quá trình hình thành, vận động và phát triển của kinh tế thị trường - vốn phải hoàn toàn tuân thủ các quy luật kinh tế…

Những luận điệu nêu trên, để bác bỏ nó, chúng ta cần làm rõ các căn cứ cơ bản sau:

Thứ nhất, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, đường lối của Đại hội XIII nói riêng được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đặc biệt là thực tiễn của sự nghiệp đổi mới 35 năm qua.

Thứ hai, các quan điểm, chủ trương, giải pháp được Đại hội XIII đưa ra không phải trên “mảnh đất trống” về nhận thức mà dựa trên sự kế thừa, phát triển những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đã có từ nhiều kỳ đại hội trước đó.

Về thực tiễn, những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong sự nghiệp đổi mới, cụ thể là trong nhiệm kỳ khóa XII chứng tỏ hệ thống quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng qua nhiều kỳ đại hội đã có tính khả thi rất cao, phát huy được giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn của mình.

Thứ ba, các quan điểm, chủ trương, giải pháp mà Đại hội XIII đưa ra đã được thể hiện trong Dự thảo Văn kiện Đại hội, được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; được góp ý, chỉnh sửa nhiều lần; được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà lý luận nghiên cứu, biên soạn một cách nghiêm túc, tính toán từng từ, từng câu. 

Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch thực chất là sự cố tình xuyên tạc, hòng gây mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mưu đồ của chúng mà thôi 

TUNG TIN BỊA ĐẶT VỀ NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM BẦU CỬ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊNH

      Thời gian qua Bộ Chính trị đã xem xét cẩn trọng cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước ngay sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, thống nhất cao là cần sớm kiện toàn, sắp xếp lại các chức danh lãnh đạo đáp ứng yêu cầu kịp thời triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Sau đó, Bộ Chính trị đề nghị Trung ương cho thực hiện kiện toàn các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIV theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Tại Hội nghị lần thứ hai diễn ra hồi đầu tháng 3 sau khi dân chủ thảo luận, xem xét kỹ lưỡng, Ban Chấp hành Trung ương đã nhất trí rất cao. Có thể thấy, công tác nhân sự đã được chuẩn bị rất bài bản, quy trình chặt chẽ, nhưng vẫn có những tổ chức, cá nhân luôn cố tình  xuyên tạc vấn đề này. Những kẻ sống ở nước ngoài tung ra nhiều về bài viết sai sự thật về các quy trình nhân sự về một số đồng chí lãnh đạo trong quá trình kiện toàn cán bộ.

Có những kênh Youtube ở nước ngoài mỗi tháng sản xuất, đăng tải hàng trăm video clip trắng trợn xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tung tin và bình luận một số sự kiện liên quan đến Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh đất nước. Chúng đã vẽ ra đủ mọi thuyết âm mưu với những câu từ giật gân để kích thích sự tò mò của người xem, chúng cắt ghép hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước rồi chèn thêm những dòng chữ rất kích động. Có tờ báo tiếng Việt tại Mỹ trong những ngày qua, liên tục đưa tin thiếu khách quan, sai sự thật về đợt kiện toàn nhân sự tại Quốc hội với những luận điệu để công kích bôi nhọ. Một số kênh Youtube khác thì tiếp tục công khai nhận xét bịa ra chuyện đấu tranh phe nhóm trong nội bộ Đảng …

Căn cứ kết quả biểu quyết và giới thiệu của Ban chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ hai vừa qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tổng hợp các ý kiến của Trung ương, hoàn chỉnh phương án giới thiệu nhân sự ứng cử các chức danh lãnh đạo các cơ quan nhà nước để trình Quốc hội tại kỳ họp 11, đảm bảo được nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ trong hệ thống chính trị, vừa đúng với các quy định của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức các cơ quan nhà nước. Có thể nói đây là một bước rất quan trọng trong việc bố trí sắp xếp kiện toàn đội ngũ cán bộ đất nước trong 5 năm tới. Điều đó khẳng định, công tác cán bộ của Đảng được chuẩn bị và tiến hành nghiêm túc, làm chắc chắn từng bước một và những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chỉ là những tiếng nói lạc lõng mà thôi.