Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

Cảnh giác với hành vi đánh tráo khái niệm tội phạm

Mỗi quốc gia đều có một hệ thống pháp luật của riêng mình, được soạn thảo, ban hành dựa vào thực tiễn của đất nước đó, đồng thời có sự thống nhất và tuân thủ các quy chuẩn của luật pháp quốc tế. Cho nên không thể lấy tiêu chí luật pháp, tiêu chí tự do dân chủ của nước này để quy chiếu và áp dụng đối với nước khác. .Thời gian qua, một số đối tượng như: Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà (đều trú tại quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội), Nguyễn Bắc Truyển, Trương Minh Đức (đều trú tại TP Hồ Chí Minh); Phạm Văn Trội (trú tại Thường Tín, Hà Nội); Nguyễn Trung Tôn (trú tại Quảng Xương, Thanh Hóa) đã bị cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố và bắt tạm giam để điều tra về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam” quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự; đối tượng Hoàng Đức Bình (trú tại Nghệ An) bị khởi tố, bắt tạm giam phục vụ điều tra về các tội: “Chống người thi hành công vụ", "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tổ chức, công dân” quy định tại Điều 257, 258, Bộ luật Hình sự; đối tượng Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (trú tại Nha Trang, Khánh Hòa) bị kết án về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”... Sau khi các đối tượng trên bị bắt thì một số trang báo mạng và một số tổ chức có trụ sở tại nước ngoài vốn thiếu thiện cảm với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lại xuất hiện những bài viết, thể hiện hành vi bênh vực ra mặt các đối tượng này. Họ cho rằng, việc cơ quan điều tra bắt giữ các đối tượng nói trên là xâm phạm vào quyền tự do cá nhân, là "đàn áp" những người “bất đồng chính kiến” và cho rằng những đối tượng nêu trên là những người “không có tội”, đồng thời gọi họ bằng danh từ mỹ miều là “tù nhân lương tâm”. Sự thật rõ ràng không phải như những gì họ nói. Cách đây hơn 10 năm, vào tháng 3/2007, Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố, bắt tạm giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Thời điểm đó, khi lực lượng chức năng khám xét nơi ở và văn phòng luật sư của Đài phát hiện hàng chục tài liệu, bài viết có nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Lần ấy, Nguyễn Văn Đài đã bị Tòa án Nhân dân TP Hà Nội xét xử công khai và tuyên phạt 5 năm tù (phiên phúc thẩm hạ xuống còn 4 năm tù). Sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Văn Đài được trở về địa phương. Những tưởng Đài sẽ ăn năn hối cải, nhưng rồi y vẫn “chứng nào tật nấy”, tiếp tục lún sâu vào con đường sai lầm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tuyên truyền gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phục vụ mưu đồ chính trị. Việc làm của Đài lại được một số cá nhân, tổ chức cả trong và ngoài nước hà hơi tiếp sức, tung hô, khiến cho sự ảo tưởng của y ngày càng lớn, hành động ngày càng ngông cuồng, bất chấp pháp luật. Cùng với một số đối tượng khác, Đài lập và tham gia vào các hội, nhóm, hòng gây dựng lực lượng, tổ chức các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc Hiến pháp và pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Mục đích của Đài và các đồng phạm là muốn tạo sự ảnh hưởng trong dư luận, gây ra làn sóng đấu tranh, nhằm tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân. Hành vi của Đài và đồng phạm đã phạm vào các Điều 88 và 79 của Bộ luật Hình sự. Còn đối với đối tượng Hoàng Đức Bình, năm 2016, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường tại các tỉnh ven biển Bắc miền Trung, Bình tự xưng là “Phó chủ tịch phong trào lao động Việt”, cấu kết với một số đối tượng, lập ra cái gọi là “Hiệp hội ngư dân miền Trung” với ý đồ tổ chức, tập hợp lực lượng, lôi kéo giáo dân, ngư dân một số địa phương miền Trung tham gia vào các tổ chức, tìm chọn “hạt nhân” kích động biểu tình, phá rối an ninh trật tự trên địa bàn. Theo thông tin từ cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Nghệ An, ngày 2-4-2017, Hoàng Đức Bình và Bạch Hồng Quyền đã tổ chức kích động quần chúng giáo xứ Trung Nghĩa (xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh) bao vây, tấn công tổ tuần tra của Công an huyện Lộc Hà và Công an xã Thạch Bằng. Hành động của Bình và một số giáo dân nơi đây đã làm bị thương một cán bộ công an. Họ cũng đã bao vây, đập phá tài sản nhà Trưởng công an xã Thạch Bằng, rồi sau đó kéo lên trụ sở Công an huyện, UBND huyện Lộc Hà gây rối an ninh trật tự... Đối với Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, cơ quan điều tra xác định: Từ năm 2012 đến 2016, Quỳnh đã sử dụng mạng xã hội tạo blog, lập tài khoản facebook với các nick name: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Mẹ Nấm, Mẹ Nấm Gấu, Nguyen Nhu Quynh để đăng nhiều bài viết, clip có nội dung xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Quỳnh cũng đăng tải nhiều bài viết có tính chất hướng lái sự việc, hiện tượng, khiến người đọc hiểu sai bản chất sự việc, bôi nhọ hình ảnh Công an nhân dân, hòng gây mất đoàn kết giữa người dân với chính quyền, làm giảm uy tín của lực lượng vũ trang với nhân dân… Như vậy, hành vi phạm tội của các đối tượng trên là rất rõ ràng. Vì vậy, việc cơ quan chức năng khởi tố, bắt giữ Nguyễn Văn Đài cùng đồng phạm; bắt giữ Hoàng Đức Bình, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để xử lý theo quy định của pháp luật chính là thể hiện sự tôn nghiêm và công bằng của pháp luật Việt Nam. Đây cũng là phương pháp tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo vệ thành quả của cách mạng mà bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu để gây dựng, gìn giữ. Cần phải khẳng định rằng, việc một số trang báo mạng, một số tổ chức nhân quyền ở nước ngoài, một số tổ chức gọi là “xã hội dân sự” cùng một số cá nhân lên tiếng bênh vực cho Đài và đồng phạm thực chất là hành vi cơ hội chính trị, cố tình xuyên tạc hệ thống pháp luật và cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam. Xem lại nội dung những bài viết đăng tải trên các trang báo mạng của các tổ chức nói trên thì thấy, hầu hết những bài viết đều mang tính chất xoi mói và phủ nhận những thành quả của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo của nhân dân. Họ dựa vào những sự việc đơn lẻ xảy ra trong các lĩnh vực như quản lý kinh tế, xã hội, duy trì trật tự, an ninh... để cố tình viết bài thổi phồng, rồi chụp mũ cho rằng những sự việc đó “xuất phát từ bản chất xã hội”, hoặc xuất phát từ “sai lầm trong đường lối lãnh đạo” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Gần như bài viết nào họ cũng cố đưa thêm các bình luận của những người vốn không có thiện cảm với Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Vì vậy, các bài viết đều bộc lộ rõ tính chất thiên lệch, chỉ nêu lên cái hạn chế mà cố ý lờ đi sự tiến bộ, phát triển của đất nước Việt Nam, sự cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam. Điều đó đủ thấy, mục đích của các trang mạng, các tổ chức, cá nhân nói trên chính là muốn làm giảm uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý xã hội của Nhà nước Việt Nam trước nhân dân, thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” phát triển, hòng tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân. Trên thực tế, kể từ năm 1945 đến nay, quyền công dân, quyền tự do dân chủ của mỗi cá nhân luôn được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) tôn trọng và bảo vệ. Các quyền đó đã được hiến định rõ ràng trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013. Chẳng hạn các quyền như: Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); Quyền sống (Điều 19); Quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Điều 28); Không bị tra tấn, truy bức, nhục hình (Điều 20, khoản 1)...; Quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); Các quyền về hưởng thụ văn hóa (Điều 41); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền tố tụng xét xử công bằng (Điều 31)... Các quyền này đã bảo đảm mở rộng phạm vi bảo vệ của Hiến pháp đối với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực chính trị và dân sự. Bên cạnh các quyền, Hiến pháp cũng quy định các nghĩa vụ mà công dân phải thực hiện như: Nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác (Điều 15); Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44); Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46)... Như vậy, chiểu theo các quy định của Hiến pháp thì các đối tượng như Đài, Bình, Quỳnh... đã vi phạm các nghĩa vụ của công dân và có hành vi xâm phạm vào quyền của các tổ chức, cá nhân khác. Những hành vi như thế tất yếu phải được xử lý trước pháp luật. Mỗi quốc gia đều có một hệ thống pháp luật của riêng mình, được soạn thảo, ban hành dựa vào thực tiễn của đất nước đó, đồng thời có sự thống nhất và tuân thủ các quy chuẩn của luật pháp quốc tế. Cho nên không thể lấy tiêu chí luật pháp, tiêu chí tự do dân chủ của nước này để quy chiếu và áp dụng đối với nước khác. Việc Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam duy trì hệ thống luật pháp của mình, xử lý công dân của mình khi họ phạm tội theo quy định của pháp luật là điều hoàn toàn đúng đắn. Do đó, mưu đồ đánh tráo khái niệm tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam bằng khái niệm “tù nhân lương tâm” như một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài đã sử dụng vừa qua là điều mà Nhà nước và nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận./.

Bản chất, truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể xuyên tạc .

Thời gian gần đây, lợi dụng việc một vài cá nhân tự nguyện viết đơn xin ra khỏi Đảng, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị lại được dịp “đục nước béo cò”, thông qua một số trang điện tử và mạng xã hội để xuyên tạc bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với những giọng điệu hết sức hằn học theo kiểu “bới lông tìm vết”, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị ra sức cổ súy, cho rằng việc xin ra khỏi Đảng của một vài cá nhân là “hết sức đúng đắn”, “là sự tỉnh táo”, “là những người có danh dự”… Trước hết cần nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về việc một số cá nhân xin ra khỏi Đảng thời gian qua và âm mưu lợi dụng xuyên tạc nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị. Điểm qua tên tuổi những người xin ra khỏi Đảng được những kẻ rắp tâm hại Đảng, hại dân liệt kê trong các bài viết đăng trên một số trang báo điện tử ở nước ngoài, hoặc qua mạng xã hội thì việc xin ra khỏi Đảng của họ cũng không khó hiểu. Không phải đến bây giờ, những người một thời mang danh đảng viên mới bộc lộ tư tưởng, mà một thời gian dài, họ đã lợi dụng dân chủ nói và viết trái với quan điểm, đường lối của Đảng; trái với chủ trương, chính sách của Nhà nước; trái với nguyện vọng và tình cảm của tuyệt đại đa số nhân dân. Sau khi được một vài trang báo nước ngoài cố súy, được một số kẻ lưu vong, nhất là tổ chức khủng bố Việt Tân “hà hơi”, số người này ảo tưởng cho rằng, tiếng nói của mình là quan trọng, là “khuôn vàng, thước ngọc” có thể từ đó tạo dựng nên một xã hội tốt đẹp (!). Việc những người từng mang danh đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái với quan điểm, đường lối của Đảng không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong nhiều năm. Nhưng với bản chất tốt đẹp, nhân nghĩa, trên tình đồng chí, đồng đội, các tổ chức đảng và đảng viên đã có nhiều biện pháp giúp đỡ để họ nhận ra lỗi lầm, mà sửa chữa, phấn đấu. Tuy nhiên, khi họ đã cố tình đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, thì sự giúp đỡ dù chân tình đến đâu cũng đều không mang lại hiệu quả. Với bản chất và truyền thống cách mạng, một chính đảng chỉ biết chiến đấu, hy sinh vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp công sức, trí tuệ của từng cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không dung túng, mà luôn xử lý nghiêm minh với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào có suy nghĩ, hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đó cũng là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới. Vì vậy, những đảng viên có quan điểm, tư tưởng trái ngược nhằm mục đích chống phá Đảng, chống phá Nhà nước phải sớm loại ra khỏi hàng ngũ của Đảng. Cần nói thêm rằng, mọi công dân Việt Nam, trước khi vào Đảng đều phải trải qua những lớp bồi dưỡng kiến thức về Đảng. Thông qua những lớp học này giúp những quần chúng ưu tú có động cơ phấn đấu vào Đảng nắm chắc và hiểu rõ được bản chất và truyền thống cách mạng của Đảng, mục tiêu của Đảng; đồng thời thấy rõ trách nhiệm của mình khi trở thành đảng viên. Ngay ở Chương 1, Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, thể hiện sự tự nguyện của đảng viên: (1). Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. (2). Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng. Có thể thấy trách nhiệm, nghĩa vụ và sự tự nguyện cống hiến, hy sinh của người đảng viên đối với Tổ quốc, với dân tộc và nhân dân là rất rõ ràng. Bởi vậy, những ai tự nhận thấy mình không còn đủ tư cách, trí tuệ và năng lực; cũng như không chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thì việc tự nguyện xin ra khỏi Đảng là điều nên làm và đó là việc làm bình thường. Mặt khác, theo quy luật chọn lọc tự nhiên thì mọi tổ chức, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, phát triển không ngừng. Theo đó, những nhân tố không còn phù hợp, hoặc không đáp ứng được yêu cầu, sớm muộn cũng bị đào thải, loại bỏ. Sự phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên đó. Vì vậy, những đảng viên không còn thấy mình xứng đáng đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản tiên phong; không còn đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, nhất là những người “mang danh đảng viên” nhưng có tư tưởng đi ngược lại lợi ích của Đảng, của dân tộc thì tốt hơn hết là tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Việc những người này sớm rút ra khỏi đội ngũ không làm cho Đảng yếu đi, mà càng làm cho Đảng thêm trong sạch, vững mạnh. Cần nói thêm rằng, không phải ai xin ra khỏi Đảng cũng là hết tình yêu với Đảng, mà không ít đảng viên do điều kiện, hoàn cảnh gia đình hay cá nhân; hoặc do tuổi cao, sức yếu; cũng có những người tự thấy mình không xứng đáng với danh hiệu đảng viên, nên tự nguyện xin ra khỏi Đảng. Đó là những con người có danh dự, thể hiện phẩm giá cá nhân và không thể "vơ đũa cả nắm" xếp họ cùng những người “mang danh đảng viên” nhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần đạo đức cách mạng… Họ sống và làm việc một cách riêng rẽ, không đoàn kết và hợp tác với người khác. Hễ có đôi chút hiểu biết, đôi chút thành công thì tự cao tự đại, vênh vang kiêu ngạo, tự cho mình tài giỏi hơn người. Ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hơn hết thảy, định đoạt mọi việc; ở ngành nào, địa phương nào thì coi đó như một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích toàn cục… Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài...”. Thực tiễn xã hội Việt Nam có rất nhiều điều để dẫn chứng, để khẳng định việc tuyệt đại đa số người dân, không chỉ riêng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng vào Đảng, nguyện đi theo Đảng. Niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với Đảng Cộng sản Việt Nam được xây đắp, thử thách thông qua thực tiễn cách mạng. Kể từ khi được thành lập cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục tiêu nào khác là phấn đấu, hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì vậy, bất kỳ đảng viên nào, dù ở cương vị nào, nếu thấy mình không đủ dũng khí, phẩm chất để hy sinh, cống hiến cho Đảng, cho dân tộc thì việc xin ra khỏi Đảng là điều cần thiết. Bởi, “vào Đảng là để làm đầy tớ phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp…”. Đó vừa là mục tiêu luôn hướng tới, vừa là bản chất, truyền thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được./.

Lợi dụng dân chủ, nhân quyền - hai mũi tấn công nguy hiểm

Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, dân chủ, nhân quyền luôn là hai vấn đề chiến lược được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội (ANCT-TTXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tạo sức ép từ bên ngoài, dựng “ngọn cờ” từ bên trong Sử dụng hai chiêu bài này, các thế lực thù địch tiến hành rất nhiều thủ đoạn nguy hiểm. Trước hết, họ vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, ra sức tuyên truyền, cổ súy cho dân chủ tư sản phương Tây. Họ cho rằng, chế độ xã hội ở Việt Nam là độc tài, toàn trị. Họ lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc trong xã hội để lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ANCT-TTXH. Họ ra sức tuyên truyền, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản, tuyệt đối hóa tính toàn cầu, tính phổ cập của quyền con người với luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”, tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, đàn áp “những người bất đồng chính kiến” v.v.. Từ chỗ cho rằng, quyền con người là tuyệt đối, bất biến, các thế lực thù địch đã giải thích nhân quyền là tự do thực hiện quyền mà không bị cấm đoán, không bị giới hạn nhằm cổ suý hoạt động lợi dụng nhân quyền vi phạm pháp luật nước ta. Họ đặc biệt đẩy mạnh các chiến dịch phá hoại tư tưởng khi nước ta diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng hay khi Việt Nam tham gia các hội nghị quan trọng của Liên hợp quốc hòng hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Họ dùng dân chủ, nhân quyền làm điều kiện để gây sức ép, can thiệp vào nội bộ nước ta. Họ tìm cách gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với các điều kiện về dân chủ, nhân quyền trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam; đòi nước ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cải cách chính trị, cải cách dân chủ, pháp luật theo kiểu phương Tây. Thông qua các buổi điều trần, họp báo, hội thảo của Quốc hội Mỹ, các nước châu Âu để gây sức ép buộc Việt Nam phải có những “tiến bộ cụ thể về nhân quyền, tôn giáo”. Thông qua các diễn đàn công khai như hội thảo, hội nghị khoa học, những buổi tiếp xúc, đối thoại với các cơ quan chức năng của Việt Nam, họ yêu cầu ta phải đưa ra các lộ trình thực hiện các điều ước quốc tế về dân chủ, nhân quyền, thành lập Tòa án Hiến pháp ở nước ta. Họ còn gửi thư, bản kiến nghị tới Liên hợp quốc, Quốc hội, Chính phủ các nước, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta để phản đối việc chính quyền bắt giữ, xét xử một số đối tượng chống đối trong nước, đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Lợi dụng việc chính quyền đấu tranh, xử lý số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị vi phạm pháp luật, họ đã tạo cớ, vu cáo chính quyền vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp người “bất đồng chính kiến” và những người “yêu nước”, kêu gọi sự can thiệp của cộng đồng quốc tế. Họ dùng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để thúc đẩy, hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập với Nhà nước. Họ xuyên tạc rằng, chế độ độc đảng ở Việt Nam là trở ngại lớn nhất trong quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam, muốn có dân chủ thực sự thì Việt Nam nên xóa bỏ chế độ độc đảng. Thông qua đó, họ tập hợp lực lượng hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” như: “Hội phụ nữ nhân quyền”,“Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”... Họ thúc đẩy sự ra đời của các khuynh hướng dân chủ cực đoan, phát triển “xã hội dân sự”, hình thành các tổ chức chính trị, hội nhóm bất hợp pháp; tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong. Họ còn tuyên truyền, vận động số người có biểu hiện cơ hội, bất mãn ký tên vào kiến nghị, tuyên bố… nhằm đưa ra yêu sách “dân chủ, nhân quyền”, “bảo vệ chủ quyền”… Họ còn vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng bất đồng chính kiến, hay những đối tượng vi phạm pháp luật bị ta bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ súy, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Các thế lực thù địch triệt để tác động Quốc hội Mỹ, EU và các nước phương Tây thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo thường niên... với nội dung xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tôn giáo nhằm làm cho cộng đồng quốc tế hiểu không đúng tình hình trong nước, điển hình như: Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ; Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới hằng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện châu Âu... Trong đó, chỉ riêng Hạ viện Mỹ hằng năm đã liên tục thông qua nhiều dự luật, nghị quyết về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Báo cáo thường niên của các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI); Nhà Tự do (FH), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ)... mặc dù phải thừa nhận Việt Nam có “chuyển biến tích cực” về dân chủ, nhân quyền nhưng vẫn xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Họ còn tìm cách thông qua các chính khách cực đoan tác động đưa Việt Nam trở lại danh sách “các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo” (CPC) để áp dụng các biện pháp “trừng phạt” đối với nước ta. Để đẩy lùi hai mũi tiến công nguy hiểm Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền vẫn là chiêu bài được các thế lực bên ngoài triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định, can thiệp sâu vào nội bộ của ta. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động này, thời gian tới, cần thực hiện tốt những vấn đề sau: Một là, công tác phòng, chống hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nước ta luôn phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng; sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam từ cấp cơ sở. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò công tác bảo vệ và đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng nhân quyền chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác này. Hai là, tiếp tục tham mưu cho Đảng, Nhà nước xây dựng và hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan bảo vệ pháp luật. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền dân chủ của nhân dân trên cơ sở pháp luật. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo ở địa phương. Tăng cường công tác quản lý báo chí, xuất bản; kiểm soát chặt chẽ an ninh thông tin, quản lý internet, tích cực đấu tranh ngăn chặn việc tán phát tài liệu, tin tức xuyên tạc, thù địch về dân chủ, nhân quyền ở nước ta. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, góp phần đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo hòng can thiệp nội bộ nước ta. Bốn là, chủ động triển khai nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch để triển khai những biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Kịp thời phát hiện, phối hợp giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm về dân chủ, nhân quyền phải tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc. Năm là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo… kết hợp với thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người dân trên cơ sở pháp luật; tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định ANCT-TTXH. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và các khuyến nghị về nhân quyền mà Việt Nam đã chấp thuận. Tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền với các quốc gia, tổ chức quốc tế quan tâm vấn đề này ở nước ta./.

Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta

Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số cùng với đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay là những vấn đề lý luận - thực tiễn vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện đồng bộ, toàn diện, kiên trì. Đây là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp phát triển toàn diện các dân tộc, bảo vệ và phát triển các quyền con người chân chính, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số. . Sự tác động qua lại giữa bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc Quyền của các dân tộc thiểu số nhìn chung được chia thành hai nhóm: nhóm các quyền cá nhân thông thường áp dụng với từng thành viên của mỗi dân tộc và nhóm các quyền tập thể áp dụng cho cộng đồng các dân tộc thiểu số. Bảo đảm quyền con người ở vùng dân tộc thiểu số có hiệu quả là bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; là cách làm tốt nhất để bảo vệ chân lý, lẽ phải của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ và chăm lo quyền con người chân chính; là sự chủ động phòng ngừa, ứng phó với mọi nguy cơ phát sinh từ vấn đề dân tộc, không tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá; là môi trường giúp các dân tộc (đa số và thiểu số) phát triển lành mạnh, định hình ý thức dân tộc chân chính, xây dựng quan hệ dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển; là hình thức tự đề kháng của các dân tộc thiểu số trước mọi luận điệu của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc có hiệu quả sẽ tạo môi trường ổn định cho các dân tộc xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau cùng phát triển. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng có vai trò đập tan ngay từ nguồn gốc tư tưởng - lý luận của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai, giúp bản thân các dân tộc định hình ý thức dân tộc chân chính, thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, quyền và nghĩa vụ, quyền cá nhân của thành viên dân tộc với quyền tập thể dân tộc, giữa quyền của tập thể dân tộc với quyền của cộng đồng quốc gia - dân tộc. Đấu tranh có hiệu quả giúp Đảng, Nhà nước khẳng định được tính chính nghĩa, lẽ phải trên các diễn đàn đa phương, song phương, củng cố vị thế, uy tín, nhờ đó vừa tranh thủ được dư luận và nguồn lực quốc tế, vừa tập trung được nguồn lực trong nước để đầu tư cho phát triển các dân tộc. Còn xung đột, chia rẽ không những làm cho các dân tộc thiếu môi trường ổn định và không tập trung được nguồn lực đầu tư để phát triển, mà còn dẫn tới phân tán nhân lực, vật lực, gây xáo trộn các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ các cơ hội phát triển. Đấu tranh còn mang hàm ý đấu tranh trong nội bộ nhân dân, nhất là với những nhận thức chưa đúng đắn, những hành vi lệch lạc, sai trái của một bộ phận cán bộ và người dân trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Nhờ đó bảo đảm cho việc thực thi chính sách dân tộc được triển khai một cách đồng bộ, đầy đủ, nhất quán với ý thức và trách nhiệm tự giác cao của toàn bộ hệ thống chính trị, của đồng bào các dân tộc đa số và thiểu số, của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc có sự thống nhất ở mục tiêu chung, ở chủ thể lãnh đạo - quản lý chung, ở phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc thống nhất, ở sử dụng chung nhiều lực lượng. Mục tiêu chung của bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc đều nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc - dân tộc; bảo vệ môi trường hòa bình và ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội cho phát triển đất nước; bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc ở Việt Nam đều do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, cùng cả hệ thống chính trị tham gia, bao gồm từ hoạch định đường lối đến tổ chức thực hiện; thống nhất ở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc làm tối thượng, lợi ích bộ phận không thể thoát ly lợi ích của quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, bảo đảm và đấu tranh, mỗi vấn đề có nội dung riêng do khác nhau về mục tiêu cụ thể, đối tượng tác động, lực lượng chuyên trách và phương pháp công tác chuyên biệt. Về mục tiêu cụ thể, nếu tính hướng đích của bảo đảm quyền các dân tộc là tôn trọng và bảo vệ quyền chân chính của các dân tộc thiểu số, thì đấu tranh có mục tiêu là làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để phá hoại khối đoàn kết dân tộc, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Về đối tượng, nếu đối tượng của bảo đảm quyền các dân tộc là đồng bào các dân tộc thiểu số, gồm cả tập thể dân tộc và thành viên của từng cộng đồng dân tộc, thì đối tượng của đấu tranh là các thế lực thù địch bên ngoài hòng lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số để chống phá, là các phần tử phản động trong nước tiếp tay cho các thế lực thù địch bên ngoài thực hiện các hành vi chống phá lợi ích quốc gia - dân tộc, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Về lực lượng chuyên trách, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số do các tổ chức và cá nhân có nhiệm vụ tổ chức và thực thi các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh, chính sách đối ngoại, bảo vệ môi trường sinh thái...; mỗi lực lượng có vai trò, vị trí riêng khi thực thi các chính sách đa/liên ngành, trong đó cơ quan chuyên trách công tác dân tộc có vai trò rất quan trọng. Đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc tuy cũng cần lực lượng đa/liên ngành rộng lớn, nhưng đội ngũ nòng cốt chuyên trách là công an nhân dân, quân đội nhân dân, các nhà tư tưởng lý luận, nhà báo đấu tranh trên địa hạt tư tưởng - lý luận. Về biện pháp công tác chuyên biệt, nếu bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số được thực hiện bằng các biện pháp kinh tế, hành chính, dân sự, thông qua các chính sách và luật pháp tôn trọng, bảo vệ, chăm lo quyền con người, thông qua các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống chính trị, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái, ... thì đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc đòi hỏi phải kết hợp cả biện pháp vũ trang và phi vũ trang, kể cả sử dụng nghiệp vụ chuyên biệt của lực lượng vũ trang để đập tan các hoạt động móc nối, gây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng hòng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn lật đổ, thực hiện chủ nghĩa ly khai.

Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc: Vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Để nâng cao hiệu quả trong giải quyết vấn đề này cần chú ý mấy vấn đề sau đây: Thứ nhất, cần nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của việc bảo đảm quyền các dân tộc thiểu số trong giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số có tầm quan trọng đặc biệt đối với ổn định và phát triển của đất nước. Nó được chế định bởi điều kiện địa - chính trị, kinh tế, nhân văn, môi trường của vùng dân tộc thiểu số; bởi tính chất khó khăn, phức tạp của vấn đề dân tộc do di tồn lịch sử, giới hạn nguồn lực đầu tư, rào cản của phong tục, tập quán và trình độ phát triển, đặc biệt là hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số không thể thực hiện nhanh chóng bằng một vài chương trình, dự án hoặc chỉ bằng can thiệp hành chính, mà phải thông qua giải pháp tổng hợp, thực hiện theo các bước phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giai đoạn trước tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn sau. Đây là sự nghiệp lâu dài, gian khổ; cần nhiều nguồn lực đầu tư lớn, gồm cả nhân lực, tài lực, vật lực; cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; cần sự tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; cao nhất vẫn là khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của bản thân đồng bào các dân tộc. Thứ hai, bảo đảm quyền của các dân tộc là vấn đề liên ngành/đa ngành, từ kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, môi trường - sinh thái, quan hệ quốc tế, quốc phòng - an ninh. Quyền kinh tế là vấn đề trước hết cần được quan tâm, vì nó liên quan đến quyền an sinh và phát triển, quyền tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng. Quyền chính trị được thể hiện ở quyền bình đẳng của công dân trong bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, tham dự các nghị trình chính sách, mà ở đó tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và cơ cấu hợp lý cán bộ dân tộc thiểu số trong các cơ quan hệ thống chính trị chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Quyền văn hóa không chỉ có ý nghĩa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn liên quan đến những vấn đề cốt lõi nhất cho duy trì và phát triển một cộng đồng dân tộc. Các vấn đề môi trường, sinh thái liên quan rất chặt chẽ đến quyền của các dân tộc trong bảo vệ không gian sinh tồn và phát triển của cộng đồng. Vấn đề quyền của các dân tộc thiểu số trong thế giới hiện đại không còn bó hẹp trong biên giới quốc gia mà mang tính xuyên quốc gia, kể cả chế định trong các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế. Chẳng hạn, Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền của người thuộc về các nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, chủng tộc (năm 1992)(1), Công ước khung của Hội đồng châu Âu về bảo vệ dân tộc thiểu số (năm 1995)(2), Hiến chương về ngôn ngữ vùng hoặc thiểu số của châu Âu (năm 1994)(3), Bản khuyến nghị Lund về sự tham gia có hiệu quả của các dân tộc thiểu số trong đời sống công cộng (năm 1999)(4)... Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) đã ghi nhận rõ việc bảo vệ quyền con người và quyền của dân tộc thiểu số tại các điều 2, 4, 27. Ở các nước có nhiều nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ thiểu số đó, cùng các thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng (Điều 27)... Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là công việc của nhiều chủ thể, từ Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và toàn cộng đồng xã hội. Đó còn là việc xử lý mối quan hệ giữa tôn trọng các giá trị phổ quát được ghi nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết với tính toán đầy đủ những đặc thù trong bảo đảm quyền cho các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) ghi: “Tại những nước có nhiều nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo và ngôn ngữ cùng chung sống, thì những cá nhân thuộc các dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và các thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không thể bị tước bỏ quyền được thụ hưởng nền văn hóa riêng, quyền được thể hiện và thực hành tôn giáo riêng hoặc quyền được sử dụng tiếng nói riêng của họ” (Điều 3). Phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo đảm đầy đủ quyền của dân tộc thiểu số. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5); Các quy định về quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong Hiến pháp được thể chế bằng chế định về Hội đồng Dân tộc (Điều 75). Ngoài ra, quyền bình đẳng giữa các dân tộc còn được ghi nhận và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam, như Luật Quốc tịch năm 2008 (Điều 1) khẳng định sự bình đẳng về quyền có quốc tịch của các dân tộc thiểu số; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 29), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 20), Luật Tố tụng hành chính 2015 (Điều 17, Điều 21) quy định về quyền bình đẳng của mọi công dân trong tiến hành tố tụng và quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc trong quá trình tiến hành tố tụng. Đây chính là những quy định bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số trong việc bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và tòa án. Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1) xác định một trong những nguyên tắc của luật hình sự là bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc. Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 8, Điều 9) quy định về sự tham gia bình đẳng của các dân tộc thiểu số vào việc bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân... Về quyền giữ gìn bản sắc văn hóa, Hiến pháp năm 2013 (Điều 5) ghi rõ: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; Điều 42 cũng ghi nhận: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Trong nhiều văn bản pháp luật khác, trong đó bao gồm Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều 5, 7, 26, 29) quy định về việc áp dụng tập quán, chính sách đối với quan hệ dân sự, quyền có họ, tên, quyền xác định, xác định lại dân tộc. Pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận quyền được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” (Điều 58); “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn...” (Điều 61). Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 61, Điều 82) quy định về việc Nhà nước thành lập các trường phổ thông dân tộc nội trú, dân tộc bán trú, dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số và chính sách luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các vùng dân tộc thiểu số được học tiếng dân tộc thiểu số để nâng cao chất lượng dạy và học; Luật Khám, chữa bệnh năm 2009 (Điều 4) quy định về chính sách của Nhà nước về khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, được ưu tiên bố trí ngân sách đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân... Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc, thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc (Điều 46, Điều 47). Bộ luật Lao động năm 2012 nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử về dân tộc (Điều 8)... Đó là những bằng chứng thực tiễn - pháp lý sinh động cho thấy quyền của các dân tộc thiểu số đã được tôn trọng, ghi nhận, thực thi và bảo vệ. Thứ ba, mối quan hệ giữa quyền của thành viên dân tộc và quyền tập thể dân tộc. Đây là mối quan hệ rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền dân tộc và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch. Quyền cá nhân con người thuộc mọi dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, thống nhất giữa quyền cá nhân và quyền tập thể cộng đồng dân tộc được đặt chung trong quyền của quốc gia - dân tộc. Bình đẳng về quyền con người đã được Hiến pháp năm 2013 và các luật ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, điều kiện địa lý cách biệt, các rào cản về ngôn ngữ, nên khả năng thực hiện quyền của đồng bào dân tộc thiểu số thường bị hạn chế. Bởi vậy, bảo đảm quyền này phải được ưu tiên trong các chính sách phát triển. Các quyền đều có thể được thực hiện thông qua hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp, từ quyền chính trị, quyền văn hóa, quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển, quyền an sinh và phát triển,... Quyền chính trị được thực hiện bằng hình thức dân chủ trực tiếp hoặc hình thức dân chủ đại diện. Trong điều kiện đa tộc người cư trú phân tán và xen kẽ, các dân tộc có trình độ và quy mô dân số khá cách biệt,... thì dân chủ đại diện đóng vai trò rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền chính trị của các dân tộc thiểu số, thông qua lựa chọn cơ cấu những người thật sự tiêu biểu của các dân tộc vào hệ thống chính trị các cấp. Dân chủ đại diện có ưu thế trong lựa chọn được những đại biểu ưu tú tham gia các cơ cấu chính trị mà dân chủ trực tiếp không thể thay thế được và nhờ đó khắc phục những hạn chế của trình độ và quy mô dân số quá chênh lệch giữa các dân tộc, thậm chí những dân tộc có dân số rất ít, dưới 10.000 người. Thông qua phát huy hình thức dân chủ đại diện mà các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các tộc người thiểu số có dân số ít, thực hiện quyền tham dự chính trị, qua đó phản ánh ý chí của đồng bào các dân tộc, đưa lợi ích, nguyện vọng của đồng bào vào các nghị trình, hoạt động hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả. Kết quả các cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân những kỳ gần đây cho thấy việc bảo đảm quyền tham dự chính trị của đại diện cộng đồng các dân tộc thiểu số. Ngày 9-6-2016, Hội đồng Bầu cử quốc gia đã công bố Nghị quyết về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Theo đó, có 86/496 đại biểu trúng cử, tương ứng 17,30% tổng số đại biểu trúng cử, là người dân tộc thiểu số. Trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm từ 15,6% đến 17,27% (so với tỷ lệ dân số các dân tộc thiểu số chiếm 14,3% trong tổng dân số cả nước). Trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội khóa XIII, có 78 đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số thuộc 29 dân tộc khác nhau, đến từ 26 tỉnh, thành phố (chiếm tỷ lệ 15,6%). Đại biểu là người dân tộc thiểu số tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 là 688 người, chiếm 18%; cấp huyện là 4.237 người, chiếm 20,1%; cấp xã là 62.383 người, chiếm 22,46%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XII là 87, chiếm 17,6%. Số lượng đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số khóa XI là 86, chiếm 17,2%. Như vậy, đại biểu là người dân tộc thiểu số luôn chiếm một phần tỷ lệ lớn trong tổng số các đại biểu nói chung xét trên tổng dân số. Theo điều tra dân số cả nước tại thời điểm ngày 1-4-2009, dân số Việt Nam có 85.846.997 người, trong đó có 54 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống, dân tộc Kinh có 73.594.427 người, chiếm 85,7%, các dân tộc thiểu số chiếm 14,3 % tổng dân số. Thứ tư, về giải quyết mối quan hệ giữa quyền con người với quyền công dân, quyền dân tộc - tộc người với quyền quốc gia - dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đây là mối quan hệ rất cơ bản, quan trọng cần được nhận thức thấu đáo và tổ chức thực hiện nghiêm túc trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc. Không ít cư dân các dân tộc thiểu số, nhất là các nhóm cư dân thường di cư xuyên biên giới chỉ xem trọng ý thức dân tộc - tộc người, quyền dân tộc - tộc người mà xem nhẹ ý thức công dân và quyền của quốc gia - dân tộc. Điều này thường bị các thế lực thù địch lợi dụng, cường điệu hóa ý thức dân tộc - tộc người, hạ thấp hoặc phủ nhận ý thức công dân, kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai. Trong lịch sử nước ta, trong đồng bào các dân tộc đều đã hình thành và phát triển ý thức quốc gia - dân tộc, “đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, đều xác định “nước Việt Nam là nước chung”(5) như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu (tháng 4-1946). Đó là chất keo gắn bó, đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cùng chung sức xây dựng nên nước Việt Nam có hình thái lãnh thổ và kết cấu đa dân tộc như ngày nay. Vì vậy, giáo dục ý thức công dân, tinh thần quốc gia - dân tộc cho các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc. Bởi vì, cư dân thuộc bất cứ thành phần dân tộc nào trong thời đại ngày nay cũng đều phải định cư, sinh sống, hoạt động kinh tế trong lãnh thổ quốc gia nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ với một nhà nước - dân tộc nhất định. Chính trên lãnh thổ quốc gia - dân tộc và nằm dưới sự quản lý của nhà nước quốc gia - dân tộc mà thành viên của dân tộc đó trở thành công dân, có điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ chính đáng của mình. Do đó, thống nhất giữa ý thức dân tộc - tộc người với ý thức công dân, giữa quyền con người và quyền công dân, giữa quyền và nghĩa vụ là những vấn đề rất cơ bản trong quá trình bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Thứ năm, về mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù trong bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tính phổ biến xuất phát từ các giá trị phổ quát của quyền con người, bất luận đó là người thuộc dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, dân tộc thiểu số dân số lớn hay dân tộc thiểu số dân số ít, nhất là các quyền an sinh và phát triển. Tính đặc thù xuất phát từ đặc điểm vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc - tộc người, từ trình độ phát triển của từng dân tộc và của quốc gia - dân tộc, từ bản sắc văn hóa các tộc người thiểu số ở nước ta. Tính đặc thù có thể xem xét ở cả cấp độ quốc gia - dân tộc, cấp độ vùng và cấp độ địa phương. Ở cấp độ quốc gia, Nhà nước ghi nhận đầy đủ quyền dân tộc trong Hiến pháp, pháp luật; cơ cấu hợp lý đại diện các dân tộc trong Quốc hội, Chính phủ, các bộ/ngành; bảo đảm quyền tham gia của các dân tộc thiểu số trong hoạch định và thực thi chính sách. Tuy nhiên, chính ở cấp độ vùng và địa phương mới có điều kiện thể hiện tính đa dạng của dân tộc - tộc người, của nhóm địa phương trong quá trình triển khai thực thi các chính sách bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số. Trong điều kiện mô hình nhà nước đơn nhất, cần thiết phải có sự phân cấp hợp lý cho các địa phương trong hoạch định các chủ trương mang tính địa phương, để bảo đảm thể hiện được đầy đủ tính địa phương và tính dân tộc - tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển, trong cơ cấu hệ thống chính trị địa phương, sâu xa là bảo đảm tốt hơn quyền của các dân tộc thiểu số. Tại địa phương, tùy quy mô dân số dân tộc - tộc người, mức độ xen cài giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, giữa dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc mới đến, giữa dân tộc thiểu số có dân số lớn với dân tộc thiểu số có dân số ít... mà lựa chọn những mô hình quản lý và phát triển phù hợp. Hiện nay, ở tất cả các xã và thôn, làng dân tộc thiểu số, thể chế nhà nước đã được thiết lập với bộ máy khá hoàn bị. Nhưng không vì thế mà xem nhẹ vai trò của luật tục, thiết chế xã hội truyền thống trong quản lý xã hội, bản sắc văn hóa địa phương. Các thiết chế xã hội truyền thống luôn tồn tại song hành với thiết chế nhà nước, thậm chí ở nhiều nơi các thiết chế xã hội truyền thống có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống đồng bào các dân tộc. Trong bộ máy quản lý nhà nước hiện nay thôn, làng được coi là đơn vị dân cư, đơn vị xã hội cơ sở nhưng không phải là một cấp hành chính. Mỗi thôn, làng có một người đứng đầu với chức danh là “trưởng thôn”, “trưởng bản”, vừa tuân thủ luật pháp nhà nước, vừa điều hành theo luật tục trong quản lý các đơn vị dân cư, thậm chí người dân thường tự nguyện chấp hành luật tục hơn là chế tài của pháp luật. Vì thế, chú ý đầy đủ tính địa phương và tính tộc người trong mỗi chính sách quản lý và phát triển bên cạnh tăng cường tính thống nhất quản lý của chính quyền Trung ương là những vấn đề lớn cần quan tâm trong chính sách dân tộc. Bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc là những vấn đề lớn cần được nhận thức, xử lý đầy đủ, thấu đáo trong thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay./.

Không để các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị

Trong những năm qua và thời gian tới, mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận không hề thay đổi. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với những âm mưu, thủ đoạn mới, nhất là thông qua “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị từ bên trong nhằm xóa bỏ nền tảng lý luận-Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; truyền bá hệ tư tưởng tư sản phản động, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận để đi tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, tiến tới làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới, nhất là khi chúng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, thì các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị từ bên trong để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tập trung chống phá trên các vấn đề chủ yếu sau đây: Xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin trên các nguyên lý cơ bản như: Lý luận về hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; hạ thấp và đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Xuyên tạc, phá hoại Cuơng lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, nhất là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong các văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng và các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Tăng cường xâm nhập vào đời sống văn hóa, vào đạo đức, lối sống, tập trung tấn công vào nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc bằng cách làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng của chúng ta, kết hợp với việc gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động, tuyên truyền lối sống thực dụng trong xã hội ta, nhất là trong thế hệ trẻ, trong sinh viên, học sinh. Lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…, những vấn đề do lịch sử để lại, những “điểm nóng” về an ninh, trật tự, an toàn xã hội để kích động chống phá ta, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng, những vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đang có những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần. Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, trong thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để gây áp lực, bôi nhọ, xuyên tạc, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Đối với Quân đội ta, các thế lực thù địch sẽ tăng cường thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội, tìm cách tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; từng bước làm suy yếu bản chất cách mạng và truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân. Tìm cách phá vỡ hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; làm xói mòn về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Trước sự chống phá ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta đã tích cực, chủ động triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức lực lượng đến xây dựng và triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống và đã thu được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa nói chung, lĩnh vực tư tưởng, lý luận nói riêng. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, của ban chỉ đạo các cấp trong xác định kế hoạch và tổ chức lực lượng, triển khai các hoạt động đấu tranh phòng, chống; việc phối, kết hợp đấu tranh và điều kiện bảo đảm thông tin, tư liệu, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận vẫn còn những hạn chế, bất cập. Để góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau đây: Tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thông qua các hình thức, biện pháp, kết hợp giữa giáo dục với tự giáo dục để nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận về: Tính cấp thiết, vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Cần xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ đạo, của ban chỉ đạo các cấp, của các lực lượng chuyên trách và của những lực lượng khác trong tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Vị trí, vai trò, trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận phải gắn chặt với vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trên các cương vị được giao. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Trong đó, cần tăng cường công tác lãnh đạo của cấp ủy đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của ban chỉ đạo các cấp trong xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Xác định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, tổ chức lực lượng và xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các lực lượng đấu tranh phù hợp và có hiệu quả thiết thực. Xác định rõ nội dung đấu tranh, trong đó tập trung vào những nội dung mà các thế lực thù địch chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới những hình thức, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận nhằm đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu tổ chức lực lượng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hợp lý, quan tâm xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt; thường xuyên quan tâm phối hợp, kết hợp tốt giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thường xuyên quan tâm nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thông qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn. Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận để tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về những vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Quan tâm đầu tư những điều kiện bảo đảm cho cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ngày càng hợp lý, có hiệu quả hơn. Quan tâm đầu tư bồi dưỡng lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận về phẩm chất chính trị, đạo đức, về tinh thần đoàn kết, về ý thức kỷ luật, về năng lực và phương pháp đấu tranh. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bảo đảm về mặt thông tin, tư liệu cho các lực lượng tham gia đấu tranh kịp thời, cập nhật, chính xác. Có cơ chế, chính sách, chế độ cụ thể bảo đảm sự quan tâm đối với các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận khó khăn, phức tạp và quyết liệt này. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên là chính để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, hoạt động có hiệu quả. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương với những phong trào cách mạng rộng khắp tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, chống sự xâm nhập và nảy sinh các quan điểm, tư tưởng phản động, phản văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội.

Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng

Có thể nói, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong nội bộ đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên là điều kiện, cơ hội cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (4-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ đối với chế độ ta là: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”(1) . Đánh giá về “nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa” và “nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu” về thực chất đã chỉ ra nguyên nhân có thể dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Nhận định của Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII về những nguy cơ đối với chế độ ta tiếp tục được các đại hội của Đảng, từ Đại hội lần thứ VIII đến Đại hội lần thứ XII khẳng định lại với tinh thần đánh giá những nguy cơ này chẳng những vẫn đang tồn tại mà có phần còn nghiêm trọng hơn. Từ thực tiễn cuộc sống, chúng ta có thể hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là quá trình tự thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến hoài nghi, phủ định tính khoa học, tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để chuyển sang sùng bái, tin theo các luận điểm tư sản, sai trái, phản động.

Để công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đạt được hiệu quả cao

Quyết tâm thực hiện mục tiêu: “... Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng”, như Nghị quyết số 04-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đề ra, trong thời gian tới chúng ta cần: Một là, đổi mới tư duy, phát triển lý luận, đặc biệt coi trọng công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tình hình mới. Mục đích của giải pháp này nhằm củng cố, khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là kim chỉ nam trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần những nguyên lý, quy luật trong xây dựng đảng Mác-xít nói riêng và các vấn đề chính trị - xã hội nói chung. Muốn vậy, cần: - Kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; đồng thời, tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa của nhân loại, những nền tảng cơ bản cần vận dụng trong nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. - Bổ sung, hoàn thiện những luận điểm khoa học về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giải quyết được những băn khoăn, trăn trở trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng để nâng cao nhận thức chính trị, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, góp phần đẩy lùi, triệt tiêu những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng và suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. - Nghiên cứu, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận; tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết; thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Thực hiện nghiêm túc việc chất vấn trong Đảng. Gắn kiểm điểm, tự phê bình và phê bình với làm rõ trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý của đảng viên. Đối với cán bộ, đảng viên làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước các cấp, cần kiểm điểm, đánh giá về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, nghĩa vụ công chức, đạo đức công vụ, trách nhiệm trước nhân dân. - Cụ thể hóa nội dung xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, trong hệ thống chính trị, trọng tâm là đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là của người đứng đầu. Hai là, nâng cao chất lượng quản lý đảng viên, thường xuyên duy trì có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự giác đặt mình vào trong tổ chức, chịu sự quản lý của tổ chức, chấp hành các chế độ, quy định trong sinh hoạt đảng. Khắc phục các hiện tượng ngại sinh hoạt, bỏ sinh hoạt dưới bất kỳ hình thức nào hoặc coi sinh hoạt chỉ là hình thức. Dù ở bất cứ cương vị công tác nào cũng phải luôn luôn nêu cao ý thức tổ chức, kỷ luật, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện. Với tổ chức đảng, phải nâng cao chất lượng quản lý đảng viên một cách toàn diện, kể cả các quan hệ xã hội, các nguồn thu nhập, lối sống. Tăng cường chế độ trách nhiệm trong Đảng, quán triệt và thực hiện nghiêm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát sẽ góp phần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ở mọi lúc, mọi nơi; phát hiện và xử lý kịp thời những đảng viên vi phạm tư cách, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng phải được tiến hành chặt chẽ, đúng quy trình, đạt hiệu quả thiết thực, nâng cao vai trò của cơ quan, Ủy ban Kiểm tra của cấp ủy các cấp, tổ chức đảng, cơ quan báo chí, quần chúng nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng theo Điều lệ đã ban hành; kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, những tổ chức đảng yếu kém làm trong sạch nội bộ Đảng; Cần quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Đối với người đứng đầu, cần tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Ba là, nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên với nhiều hình thức, phương pháp. Trong công tác, cán bộ, đảng viên phải giải quyết nhiều mối quan hệ xã hội, trong đó mối quan hệ giữa lợi ích của tập thể - lợi ích cá nhân là yếu tố cơ bản tác động chi phối đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức lối sống, nếu mỗi cá nhân thiếu bản lĩnh chính trị, không tự giải quyết hài hòa mối quan hệ này sẽ dễ dàng bị lôi cuốn vào vòng xoáy của tham vọng quyền lực, vun vén lợi ích cá nhân, tham nhũng, lãng phí, bị kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, mua chuộc làm phai nhạt mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng. Nâng cao chất lượng giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên là công việc thường xuyên, công việc “gốc” trong công tác xây dựng Đảng. Chú trọng kết hợp giữa tự giáo dục, rèn luyện của bản thân với giáo dục rèn luyện của tổ chức là phương pháp cơ bản. Cán bộ, đảng viên phải tự giác rèn luyện, thể hiện ở tinh thần cầu thị tiến bộ; tinh thần ham học tập ở mọi lúc, mọi nơi; có ý thức kiên trì rèn luyện thói quen, phương pháp làm việc khoa học, nghiêm túc, cụ thể, tỷ mỷ từ việc nhỏ đến việc lớn, từ những hành vi đơn giản đến phức tạp, “việc thiện thì nhỏ mấy, khó mấy cũng nên làm, việc ác thì nhỏ mấy cũng tránh”. Biết tự đánh giá bản thân để lựa chọn con đường, biện pháp rèn luyện phù hợp; có thái độ nghiêm khắc trong tự phê bình, lắng nghe ý kiến nhận xét của quần chúng, cấp trên, cấp dưới và đồng cấp về bản thân mình. Tích cực chủ động phát huy ưu điểm, khắc phục sửa chữa sai lầm, khuyết điểm để không ngừng tự hoàn thiện bản thân… Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức các cấp cần thường xuyên coi trọng việc rèn luyện cán bộ, đảng viên; quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền lợi của mỗi cá nhân trên từng cương vị công tác, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, đảng viên bộc lộ, phát huy tối đa năng lực bản thân; lấy kết quả hoạt động thực tiễn làm tiêu chí cơ bản để đánh giá phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên. Kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; kịp thời phát hiện, biểu dương người tốt, việc tốt; tạo dư luận lên án và kịp thời xử lý nghiêm những biểu hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên dù ở bất cứ cương vị công tác nào. Bốn là, Đảng phải thường xuyên quan tâm hơn nữa đến đời sống vật chất, tinh thần và lợi ích thiết thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hiện nay, trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên là cán bộ, công chức nhà nước có điều kiện chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bản thân và gia đình. Do đó, khi đời sống được bảo đảm, quyền lợi vật chất chính đáng được bảo vệ, chính là điều kiện để mỗi người gắn bó với công việc; yên tâm thực hiện nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống. Bảo đảm thu nhập, tiền lương tương xứng với sự đóng góp, phù hợp với công sức, trí tuệ của mỗi người đã cống hiến; thực hiện “đẩy mạnh cải cách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng”(2); công bằng giữa các khu vực, nhất là khu vực hành chính sự nghiệp, với khu vực doanh nghiệp nhà nước là nguyện vọng chính đáng của đảng viên, công chức, viên chức. Để đời sống vật chất và tinh thần của đảng viên được bảo đảm, ngoài việc phát huy yếu tố chủ quan của bản thân mỗi đảng viên thì trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị các cấp phải thật sự quan tâm đến điều kiện làm việc, thu nhập và cuộc sống cho họ. Chống đặc quyền, đặc lợi, có những chính sách, quy định chế độ vật chất và tinh thần, bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng và chính đáng giữa các cấp cán bộ và giữa cán bộ, công chức với nhân dân./.

Nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng

Có thể nói, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong nội bộ đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên là điều kiện, cơ hội cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (4-1994), Đảng ta xác định 4 nguy cơ đối với chế độ ta là: “Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”(1) . Đánh giá về “nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa” và “nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu” về thực chất đã chỉ ra nguyên nhân có thể dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Nhận định của Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII về những nguy cơ đối với chế độ ta tiếp tục được các đại hội của Đảng, từ Đại hội lần thứ VIII đến Đại hội lần thứ XII khẳng định lại với tinh thần đánh giá những nguy cơ này chẳng những vẫn đang tồn tại mà có phần còn nghiêm trọng hơn. Từ thực tiễn cuộc sống, chúng ta có thể hiểu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là quá trình tự thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến hoài nghi, phủ định tính khoa học, tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để chuyển sang sùng bái, tin theo các luận điểm tư sản, sai trái, phản động.

Diệt trừ tệ “báo cáo không trung thực”

“Báo cáo không trung thực” là biểu hiện cụ thể của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cùng các hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nhận diện rất rõ tệ nạn này và điểm mặt, chỉ tên như “giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm”, “kê khai tài sản không trung thực”, “mắc bệnh thành tích”, “chạy thành tích”, "chạy danh hiệu”, “quan liêu, xa rời quần chúng”... Nếu xem nhẹ những biểu hiện trên sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường. Thực trạng của tệ “báo cáo không trung thực” hiện đang diễn biến ra sao? Sự tác động của nó đến bản chất và sự tồn vong của chế độ như thế nào? Đó là vấn đề cấp thiết đặt ra khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang triển khai thực hiện các nhóm giải pháp chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng. Để nhận rõ tác hại ghê gớm của tình trạng “báo cáo không trung thực”, chúng ta thử nhìn lại tệ nạn này đã hoành hành ở Liên Xô trong suốt giai đoạn 1960-1991. Một tài liệu chuyên khảo khoa học của Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy: Đến giữa những năm 70 của thế kỷ 20, Liên Xô đã có những bước phát triển mạnh mẽ khiến cả thế giới nể phục, những thế lực đối trọng rất lo lắng. Nhưng rồi tệ “báo cáo không trung thực" đã góp phần dần dần hủy hoại Liên Xô hùng cường và vĩ đại. Những sai lầm trước, trong và sau cải tổ đã làm Liên Xô tan rã. Một nguyên nhân được khẳng định là ở giai đoạn cuối của Xô viết, Đảng Cộng sản Liên Xô đã bị quan liêu hóa, đường lối không còn sát thực tiễn, trở thành những văn bản “trên trời” nên mọi nỗ lực kêu gọi cải tổ đều bị người dân và chính đảng viên của Đảng thờ ơ, cho qua. Tệ “báo cáo không trung thực” đã trở nên phổ biến trong Đảng và toàn xã hội Liên Xô. Báo Tin Tức (Liên Xô) ra ngày 27-12-1986, đăng tin Cục trưởng Cục Thống kê một tỉnh bị bắt vì “báo cáo láo” theo chỉ thị của Tỉnh ủy đã trả lời: “Nếu tôi không làm thế thì sẽ có một cục trưởng khác ngồi ở đây”. Còn Báo Ngọn lửa nhỏ, số 46 năm 1988, khẳng định: “Thông tin chính xác về kinh tế thì ngay Bộ Chính trị cũng không có”. Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 22-8-1973 đã phải ban hành một nghị định ngăn chặn tệ “báo cáo láo” khi quy định phạt 7% giá trị hàng hóa, nếu phát hiện các nông trang và cửa hàng “bắt tay nhau” để dối trá về số lượng bơ sản xuất được. Đến nay, chúng ta đã có đủ cơ sở để khẳng định, tệ “báo cáo không trung thực” là tác nhân quan trọng làm quan liêu hóa bộ máy Đảng và Nhà nước Liên Xô, là một trong những nguyên nhân khiến nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới phải sụp đổ. Điều đó hoàn toàn logic với lời cảnh báo của Lênin về bệnh phô trương “thành tích ảo”, thói xu nịnh cấp trên có hệ thống ở nhiều cấp, nhiều ngành để lâu dần thành “thói quen nguy hiểm” ở Liên Xô. Thực trạng ở nước ta, theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), tình trạng “báo cáo không trung thực” kéo dài cũng đã và đang khiến nhiều cán bộ, đảng viên dường như quên đi những lời cảnh báo của Lênin và thực tiễn đã xảy ra ở Liên Xô. Nhiều cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương dường như đang chấp nhận điều đó như một phần của quá trình phát triển, không hề nghĩ rằng đó là thứ “giặc nội xâm”, bệnh “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" đe dọa sự tồn vong của chế độ XHCN. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nhấn mạnh: “Lãnh đạo mà thiếu thông tin, không có căn cứ thực tiễn, thì khó tránh được những quyết định sai lệch”. Trong thực tế, Đảng ta đã có Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đề cập đến việc khắc phục vấn đề này nhưng tình trạng “báo cáo không trung thực” ở một số địa phương, ban, ngành chưa có dấu hiệu giảm, mà còn có những sự kiện, hiện tượng phức tạp hơn. Cụ thể như vụ việc ở Thái Bình cách đây hai mươi năm, tình hình ở cơ sở vô cùng phức tạp, mất dân chủ trở nên phổ biến nhưng Tỉnh ủy lúc đó vẫn báo cáo không đúng, không đủ với Trung ương. Thậm chí, nhiều đoàn kiểm tra của Trung ương về, địa phương vẫn tìm cách giấu giếm thực tế khiến sự việc thêm trầm trọng. Hay một số tổ chức đảng ở các tập đoàn kinh tế như Vinashin, Vinalines… không chỉ giấu giếm chuyện làm ăn thua lỗ mà còn giấu nhẹm cả chuyện nội bộ bất đồng, mất dân chủ, khiến cấp ủy cấp trên vẫn đánh giá đó là những đảng bộ trong sạch, vững mạnh (TSVM) cho đến khi sự thật bị phơi bày ra công luận. Người viết bài này từng được phân công điều tra, viết bài về vụ tiêu cực ở PMU18 (Bộ Giao thông vận tải) năm 2006, qua tìm hiểu cho thấy tổ chức đảng ở đó mất sức chiến đấu, thành “bức bình phong” cho Tổng giám đốc Bùi Tiến Dũng thao túng cơ quan nhưng vẫn được đánh giá là TSVM cho đến khi mọi việc được làm sáng tỏ. Hay như tình trạng “mì tôm cứu trợ đi nhầm vào nhà cán bộ”, kê khai tài sản thiếu trung thực của một số cán bộ cấp cao thời gian gần đây đã gây bức xúc trong dư luận.

"Bệnh thành tích" là nguyên nhân chính

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong các buổi tiếp xúc cử tri TP Hà Nội đã bày tỏ sự lo lắng, sốt ruột trước thực trạng “nhìn đâu cũng thấy tiêu cực, thanh tra ở đâu cũng có sai phạm”. Tiêu cực rất phổ biến nhưng trong các bản báo cáo, đánh giá cuối năm của cấp ủy, chính quyền các địa phương và các ban, ngành thì hầu như không thấy đề cập. Tương tự như vậy, đến nay, công tác tự phê bình và phê bình đảng viên cuối năm, chưa có mấy chi bộ, tổ chức cơ sở đảng chỉ ra khuyết điểm, sai phạm của cán bộ, đảng viên về kê khai tài sản. Nhưng hễ có vụ việc nào do nhân dân tố giác hoặc báo chí phản ánh, thì tiến hành thanh tra đều chỉ ra sai phạm. Điều này cho thấy, tình trạng “thiếu trung thực” thực sự đã trở nên cấp bách, cần được khắc phục ngay. Bài học thành công của sự nghiệp đổi mới, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, xét đến cùng cũng là bài học về sự trung thực. Đó là tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”. Nhưng sau 30 năm đổi mới, những thành công bước đầu khiến cấp ủy, chính quyền nhiều nơi sinh ra chủ quan, cùng với tác động từ những mặt trái của cơ chế thị trường khiến tệ “báo cáo không trung thực” lại trỗi dậy và tìm thấy nhiều “đất sống”. Dư địa để tệ “báo cáo không trung thực” đang “sống khỏe” hiện nay có nhiều, nhưng tựu trung lại vẫn là nguyên nhân do người nhận báo cáo và người báo cáo, tức là giữa cấp trên và cấp dưới. Nguyên nhân trước tiên là do cấp trên quan liêu, xa dân, thích thành tích nên đã chấp nhận, bao che hoặc làm ngơ rồi dẫn đến mặc nhiên công nhận những bản báo cáo sai sự thực. Ví dụ, báo cáo tổng kết năm của hầu hết các địa phương đều khẳng định rằng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của địa phương (GRDP) ở mức 9-10%, thậm chí có địa phương nhiều năm liền giữ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hai con số. Thế nhưng tổng hợp chung, GDP của đất nước nhiều năm gần đây chưa được 7%. Sự vô lý này đã kéo dài, nhưng vì nghị quyết của cấp ủy các địa phương đã định ra mục tiêu tăng trưởng khiến ngành thống kê địa phương phải “chạy theo”. Nguyên nhân thứ hai dẫn tới tình trạng “báo cáo không trung thực” đến từ cấp dưới. Cấp dưới mắc “bệnh thành tích” nên cố tình che giấu khuyết điểm, thổi phồng, tô vẽ thành tích để qua mặt cấp trên; hoặc là cấp dưới biết cấp trên quan liêu, thích “thành tích” nên cố tình “nặn” ra những báo cáo gian dối.

Cảnh giác với những thủ đoạn lừa đảo trực tuyến

 

Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, lừa đảo trực tuyến đang trở thành thủ đoạn được nhiều đối tượng tội phạm sử dụng để nhằm trục lợi bất chính. Các chuyên gia cho rằng, khi sử dụng internet, mạng xã hội..., mỗi người cần nêu cao cảnh giác để tránh trở thành nạn nhân của các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến...

Thực tế cho thấy, lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, lừa đảo trực tuyến, lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng đang dần trở thành xu hướng phạm tội khá phổ biến. Chỉ tính riêng trong năm 2020, cơ quan chức năng đã phát hiện khoảng trên 4.100 vụ việc liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng; trong đó có 776 vụ việc lừa đảo qua mạng viễn thông bằng thủ đoạn giả danh cơ quan thực thi pháp luật (Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát), các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, bưu điện…, đe dọa, yêu cầu người bị hại cung cấp thông tin tài khoản hoặc chuyển tiền. Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã tiến hành xác minh, điều tra 18 vụ; khởi tố 5 vụ án và 27 bị can; đang tiếp tục xác minh hơn 10 vụ.

Để thực hiện hành vi lừa đảo trực tuyến, các đối tượng tội phạm thường sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, lợi dụng sự thiếu cảnh giác của người dân. Điển hình là kết bạn qua mạng xã hội và bán hàng với giá rẻ, yêu cầu bị hại chuyển khoản đặt cọc. Sau khi nhận cọc hay được chuyển khoản trước để đặt mua hàng, đối tượng không giao hàng hoặc giao hàng giả, hàng kém chất lượng, chúng thường khóa trang mạng của mình hoặc xóa hẳn để xóa dấu vết, bỏ số điện thoại và chiếm đoạt tài sản của bị hại. Ngoài ra, chúng thường giả mạo các trang thông tin điện tử, các dịch vụ trực tuyến để lấy cắp thông tin tài khoản của khách hàng và rút tiền; giả mạo cán bộ ngân hàng yêu cầu cung cấp mật khẩu, mã PIN hoặc thông tin thẻ để xử lý sự cố liên quan đến các giao dịch ngân hàng của người dân để chiếm đoạt tài sản...

Các chuyên gia về an ninh mạng cũng cho rằng, hiện nay số lượng người sử dụng các mạng xã hội như: Facebook, Zalo, Instagram... ở nước ta rất lớn. Đây là điều kiện thuận lợi để các đối tượng xấu lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản. Để tránh trở thành nạn nhân của các hành vi lừa đảo trực tuyến, cá nhân sử dụng mạng xã hội cần luôn tỉnh táo, cảnh giác. Khi có người nhắn tin hỏi vay tiền, nhờ nạp tiền điện thoại... thì phải gọi điện trực tiếp kiểm tra, xác minh. Không tin vào những chiêu trò nhận thưởng qua mạng với yêu cầu nạp tiền qua thẻ điện thoại hoặc chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để làm thủ tục nhận thưởng. Tìm hiểu kỹ thông tin khi kết bạn với những người lạ trên MXH, đặc biệt là những người quảng cáo bán hàng... Tuyệt đối không truy cập các đường link, liên kết trong tin nhắn email lạ hoặc không rõ nguồn gốc. Đồng thời, tuyệt đối giữ bí mật thông tin cá nhân, không cung cấp thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ nhà ở, thông tin về tài khoản ngân hàng, tài khoản các dịch vụ trên Internet... cho bất kỳ người lạ nào gọi đến. Không chuyển tiền cho bất cứ ai, bất cứ yêu cầu nào khi không có căn cứ cụ thể, rõ ràng bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền. Trong mọi trường hợp, không cho mượn, cho thuê các giấy tờ cá nhân như: Căn cước công dân, giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu hoặc thẻ ngân hàng, không bán, cho mượn, cho thuê tài khoản ngân hàng, không nhận chuyển khoản ngân hàng hay nhận tiền chuyển khoản của ngân hàng cho người không quen biết... Trường hợp có nghi ngờ về hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần bình tĩnh, kịp thời thông báo cho cơ quan Công an nơi gần nhất để được tiếp nhận và hướng dẫn giải quyết./.

"Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”

 

Trong Di chúc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Người đã viết: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” .


"1 - Ðảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

2 - Cán bộ của Ðảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.

3 - Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương.

4 - Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.

5 - Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Ðảng. Mọi công tác của Ðảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

6 - Mỗi công việc của Ðảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.

7 - Mỗi công việc của Ðảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát.

Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường với lợi ích lâu dài của dân chúng.

8 - Ðảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Ðảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên.

9 - Ðảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.

10 - Ðảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài.

11 - Ðảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới.

Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí.

Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Ðảng.

12 - Ðảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Ðảng./.

 VIỆT NAM CỦNG CỐ VÀ MỞ RỘNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VỚI INDONESIA

Chiều 23/4, tại Dinh Tổng thống ở thành phố Bogor, Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã đóp tiếp và hội đàm với Thủ tướng Phạm Minh Chính. Thủ tướng Phạm Minh Chính là lãnh đạo ASEAN đầu tiên tới Indonesia dự Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN mà Tổng thống Indonesia đón tiếp. Trong không khí trọng thị, chân tình, hai nhà lãnh đạo đã trao đổi thực chất nhiều vấn đề nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới.

 Tổng thống Joko Widodo nồng nhiệt chúc mừng Thủ tướng Phạm Minh Chính đã được Quốc hội tín nhiệm bầu vào trọng trách mới; bày tỏ ngưỡng mộ và chúc mừng thành tựu của Việt Nam trong phòng chống dịch COVID-19 và phục hồi, phát triển kinh tế; khẳng định Indonesia rất coi trọng và mong muốn không ngừng phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác chiến lược với Việt Nam.

 Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, chủ động tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; khẳng định Việt Nam hết sức coi trọng, sẽ không ngừng củng cố và mở rộng quan hệ Đối tác chiến lược với Indonesia.

 Hai bên hài lòng nhận thấy quan hệ hợp tác song phương ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất; nhất trí phối hợp triển khai hiệu quả Chương trình Hành động giai đoạn 2019-2023, triển khai quan hệ Đối tác chiến lược và Tầm nhìn Hợp tác Quốc phòng song phương giai đoạn 2018-2022.

 Hai nhà lãnh đạo đã dành nhiều thời gian để trao đổi về các biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế song phương; đặc biệt là việc giảm rào cản thương mại, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp hai nước để sớm đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 10 tỷ USD theo hướng giảm nhập siêu của Việt Nam. Hai bên nhất trí sớm nối lại các đường bay vào thời điểm phù hợp và xem xét tạo điều kiện cho Vietjet Air mở các đường bay từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến Jakarta; thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm; tăng cường hợp tác biển và đại dương, trong đó có hợp tác giữa các lực lượng cảnh sát biển hai nước.

 Hai nhà lãnh đạo khẳng định đặc biệt coi trọng sự cần thiết sớm hoàn tất đàm phán ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước để tạo hành lang pháp lý cho hai bên tăng cường hợp tác, giảm các vụ việc đánh bắt cá trái phép, tạo hình mẫu về giải quyết khác biệt trên biển giữa các quốc gia, góp phần giữ gìn hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực.

 Tổng thống Joko Widodo đánh giá cao việc Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN ngay sau khi mới nhậm chức, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Việt Nam. Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ và hiệu quả tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là ASEAN và Liên hợp quốc, cùng phối hợp với các nước ASEAN khác thúc đẩy giải quyết vấn đề Myanmar theo hướng sớm ổn định tình hình, giảm bạo lực và thương vong cho người dân, nối lại đối thoại giữa các bên để tìm kiếm giải pháp hòa bình, vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Hai bên cũng nhất trí duy trì lập trường chung của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, trong đó có việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không, thực hiện hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.

 Tổng thống Joko Widodo đã dành cho Thủ tướng Việt Nam sự đón tiếp chân tình, trọng thị, cởi mở, thiết thực và thắm tình hữu nghị, đã đích thân giới thiệu với Thủ tướng Phạm Minh Chính về công trình kiến trúc Dinh Tổng thống tại Bogor. Cuộc hội đàm đã diễn ra thực chất, đạt nhiều kết quả cụ thể, định hướng cho quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước trong thời gian tới.

 Thủ tướng Phạm Minh Chính đã trân trọng mời Tổng thống Joko Widodo thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp và Tổng thống đã vui vẻ nhận lời./.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA


“Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”.

Đây là lời dạy được trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á-Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng-người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác quan trọng mà Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo còn nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động Công tác đảng, công tác chính trị, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt, được đào tạo cơ bản với hơn 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch… của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi bản lĩnh chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội./.


Làm gì để khắc phục tình trạng “báo cáo không trung thực”?

Làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “báo cáo không trung thực”, không cho các thế lực thù địch lợi dụng những bản báo cáo này nhằm xuyên tạc, bịa đặt, “nhồi sọ”, “ám thị” quần chúng, nhân dân? Cách làm cơ bản nhất là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Song muốn thanh tra, kiểm tra có kết quả tốt, nhất định người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải làm được hai việc: Một là thanh tra, kiểm tra phải có hệ thống, phải là nhiệm vụ được tiến hành thường xuyên, kết hợp tốt giữa định kỳ và đột xuất, khi thấy dấu hiệu không trung thực. Hai là đội ngũ những người thanh tra, kiểm tra phải là những người vừa có năng lực chuyên môn, vừa là những con người trung thực. Thanh tra, kiểm tra có hai cách: Một là từ trên xuống, nghĩa là cấp trên phải trực tiếp đi tận nơi, xem xét vấn đề tại chỗ, từ đó đối chiếu với những điều mà cấp dưới đã báo cáo, xem đúng-sai như thế nào; ưu, khuyết điểm của cấp dưới cũng như tính thực tiễn trong các mục tiêu, chỉ thị do mình ban ra. Hai là, thanh tra, kiểm tra phải dựa vào quần chúng, vào cấp dưới và dựa vào nhân dân; nhờ nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên và cơ quan cấp trên; từ thông tin của quần chúng, nhân dân mà tổ chức kiểm tra, thanh tra những nơi “làm thì láo, báo cáo thì hay”; từ những góp ý của nhân dân mà thấy sự quan liêu, thiếu thực tế của bản thân mình. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng chính là cơ hội để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “báo cáo không trung thực”. Khi tình trạng này trong các tổ chức đảng được bài trừ, nhất định sẽ lan tỏa sang các tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị và từ đó trở thành phong trào chung của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã yêu cầu: “Mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác, trung thực, đánh giá mình cho thật khách quan. Tập trung kiểm điểm trên các vấn đề trách nhiệm đối với công việc, đối với đơn vị; phẩm chất cá nhân của mình về các mặt: nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ với quần chúng... Thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận ra khuyết điểm để sửa chữa, coi trọng sự giáo dục, sự giúp đỡ chân thành của đồng chí, đồng nghiệp, học tập lẫn nhau, "trị bệnh cứu người". Những trường hợp sai phạm nghiêm trọng mà không thành khẩn, không tự giác, tập thể giúp đỡ mà không tiếp thu thì phải xử lý thích đáng”.