Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2021

Không để tái diễn những tiền lệ nguy hiểm

Trước hết, cần khẳng định những "điểm nóng" gây mất an ninh chính trị, kinh tế, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn xảy ra không nhiều trong những năm qua. Tuy nhiên, những sự việc ấy dù là cá biệt nhưng cũng để lại nhiều hậu quả khôn lường về an ninh chính trị, kinh tế-xã hội cũng như mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trước, trong và sau mỗi sự việc, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương đều phải nghiêm túc phân tích, nhìn nhận, giải quyết một cách tích cực, khéo léo, đúng pháp luật, vì sự ổn định, phát triển của mỗi địa phương và của đất nước. Nhưng cùng với đó, phải luôn kịp thời, nghiêm khắc rút ra những bài học kinh nghiệm để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, không để tái diễn và tạo ra những tiền lệ xấu. Chúng ta từng có bài học kinh nghiệm trong giải quyết sự việc diễn ra ở Thái Bình năm 1997, khi nhiều nông dân bột phát chống đối chính quyền, để lại nhiều bài học kinh nghiệm do buông lỏng thực hiện dân chủ ở nông thôn. Sau khi sự việc xảy ra, từng có 3 giả thiết về nguyên nhân được đặt ra là: Do kẻ địch phá hoại, do phần tử xấu, bất mãn kích động và do chính tiêu cực của cán bộ địa phương, yếu kém của chính quyền. Sau khi xem xét kết luận, Bộ Chính trị xác định nguyên nhân chính do cán bộ địa phương sai phạm, chính quyền yếu kém. Sau đó, bài học đau xót là hơn 2.000 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, hơn 70% tổ chức cơ sở đảng phải thay thế từ 50% đến 70% cấp ủy. Nhưng cũng có nhiều sự việc liên quan đến giải phóng mặt bằng, không phải cứ người dân tụ tập yêu sách là có thể có quyền lợi. Vụ việc nhiều hộ dân ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thuê một luật sư tư vấn sau đó tụ tập nhiều ngày tại trụ sở Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đòi bồi thường vì lưới điện ảnh hưởng đến sức khỏe là một ví dụ. Sau khi nhiều cơ quan pháp luật vào cuộc, đã kết luận rõ việc hỗ trợ là thẩm quyền của địa phương, hành vi tụ tập trước trụ sở EVN là trái pháp luật. Cùng với việc tỉnh táo, cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn kích động tạo ra “điểm nóng” của các thế lực phản động, thù địch thì trước hết, cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là từ cơ sở phải phát huy hơn nữa vai trò của mình trong ngăn chặn, giải quyết các “điểm nóng”. Mà muốn không để xảy ra các "điểm nóng" từ gốc thì chính quyền phải mạnh, hệ thống chính trị ở địa phương phải luôn được nhân dân tin cậy. Gần đây, đã có một số sự việc phức tạp liên quan đến giải phóng mặt bằng được giải quyết hài hòa sau khi người đứng đầu ở một số địa phương đối thoại với nhân dân. Cách làm này cho thấy việc gần dân, tăng cường đối thoại với nhân dân là cần thiết nhưng nếu lạm dụng, sự việc nào cấp dưới cũng đẩy lên cấp trên, địa phương cũng đẩy về Trung ương thì không thể giải quyết được. Cần phải phát huy vai trò người đứng đầu ở cơ sở, thực hiện nghiêm túc các quy định về đối thoại với nhân dân, cán bộ đi cơ sở để giải quyết công việc, kiên quyết điều chuyển những cán bộ không được nhân dân tin cậy, xa dân. Tuy nhiên, cũng không nên hữu khuynh, né tránh, dễ tạo thêm những tiền lệ xấu. Trong mỗi sự việc "điểm nóng", nếu có thế lực phản động đứng sau giật dây, những kẻ chủ mưu, cầm đầu, kích động, vạch kịch bản cho các vụ việc này chỉ đợi khi chính quyền áp dụng biện pháp mạnh, thì chúng sẽ kích động dân chống đối lại chính quyền, biến "điểm nóng" kinh tế thành điểm nóng chính trị, gây mất ổn định xã hội. Không đối đầu với nhân dân nhưng phải sớm tìm ra những đối tượng kích động, chủ mưu để xử lý nghiêm minh, dập tắt mọi âm mưu của chúng. Dĩ nhiên, việc xử lý phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo nhưng cũng phải nhanh chóng, kịp thời. Đối với mỗi người dân, rất cần tỉnh táo, tránh bị lôi kéo, kích động, có những hành vi vi phạm pháp luật có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với tinh thần thượng tôn pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Những sai phạm của cán bộ chắc chắn sẽ bị xử lý nghiêm minh nhưng cũng không thể vì những cái sai đó mà hành xử theo kiểu “vô thiên vô pháp”. Không chỉ Đảng, Nhà nước mà chính mỗi người dân chân chính đều không đồng tình với những hành vi “tự xử” kiểu bột phát và đều mong muốn xây dựng một xã hội pháp luật được thượng tôn, kỷ cương phép nước luôn được coi trọng./.

Sự nguy hiểm của chủ nghĩa tư bản thân hữu và một số biểu hiện tại Việt Nam

Câu hỏi đặt ra là: Những biểu hiện của chủ nghĩa tư bản thân hữu ở Việt Nam chúng ta hiện nay ra sao, nhất là khi đất nước ta ngày càng hội nhập sâu, rộng hơn với thế giới, khi chúng ta vận hành đầy đủ các quy luật của nền kinh tế thị trường, được hưởng lợi từ những mặt tích cực và chịu thiệt hại từ những mặt tiêu cực. Trong đó, có những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường được tác động rõ từ những đặc thù của thể chế chính trị của đất nước ta. Hiện nay, hầu hết giới doanh nghiệp tại Việt Nam đều hiểu rằng, xây dựng mối quan hệ với các quan chức là rất quan trọng để có thể làm ăn dễ dàng. Rất nhiều doanh nghiệp coi đây không chỉ là một sự cần thiết, mà còn là một cách đầu tư sinh lợi hiệu quả. Dự án đầu tư vào các quan chức bắt đầu từ việc tài trợ cho chuyện "chạy" chức, "chạy" quyền. Đây là mối quan hệ hai chiều: Các doanh nghiệp có thể xin phép được tài trợ, mà các quan chức cũng có thể kêu gọi tài trợ. Có nói hay không thì cả hai bên đều hiểu cam kết bất thành văn ở đây: “Giúp anh thành công thì anh mới có điều kiện hỗ trợ”; “...Lên được mới tạo điều kiện được...”. Đây có lẽ đang là cách phổ biến nhất hình thành nên hệ thống các doanh nghiệp "sân sau", doanh nghiệp thân hữu. Nhiều doanh nghiệp còn tấn công qua "cửa sau" là vợ, con của quan chức để tạo sự thân tình, được hưởng mối quan hệ thân hữu. Mặt khác, quan hệ thân hữu còn được hình thành theo cách tự nhiên nữa là người nhà của cán bộ đứng ra thành lập doanh nghiệp. Họ kinh doanh nhờ mối quan hệ mà không cần phải đầu tư trí, lực. Những doanh nghiệp này chẳng cần nhiều vốn, chẳng cần nhiều kiến thức, kỹ năng kinh doanh, chỉ cần đón lõng và hiểu "phép chia" đối với công lao những người giúp mình có được dự án là thành công. Với những biểu hiện cụ thể như vậy, nền kinh tế của chúng ta có phải bị chi phối bởi chủ nghĩa tư bản thân hữu không? Cách làm ăn dựa vào quan hệ thân hữu đang để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho đất nước, đồng thời sẽ còn tiếp tục tạo ra những nguy cơ, những rủi ro chưa thể lường hết. Trước hết, nó làm cho môi trường kinh doanh bị hủy hoại nghiêm trọng. Chính phủ thời gian qua đã cố gắng rất nhiều trong việc thúc đẩy cải cách hành chính để cải thiện môi trường kinh doanh. Nhưng cải cách hành chính sẽ làm được gì khi "đầu tư cho quan hệ" đang chi phối. Không ít doanh nghiệp phàn nàn rằng, ở một vài địa phương, việc gia nhập thị trường gần như là không thể đối với các doanh nghiệp không nằm trong nhóm thân hữu hoặc ở địa phương khác đến. Các doanh nghiệp như vậy sẽ khó có được các hợp đồng, dự án, chi phí kinh doanh luôn bị đội lên, không sớm thì muộn họ cũng sẽ bị phá sản. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp thân hữu lại tận dụng được cơ hội nhờ được ưu tiên, ưu đãi trong việc tiếp cận các nguồn lực của đất nước bao gồm đất đai, tài nguyên, tiếp cận hợp đồng, thương quyền. Quan chức cũng hưởng lợi nhờ mối quan hệ này. Nạn hối lộ và tham nhũng cũng sinh ra từ đây. Thứ hai, cạnh tranh lành mạnh như là một động lực thúc đẩy phát triển hoàn toàn bị triệt tiêu. Đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, hay áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất để hạ giá thành sản phẩm không quan trọng bằng việc đầu tư để có các mối quan hệ thân hữu với các cán bộ quản lý. Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản giải thích tại sao các doanh nghiệp ở Việt Nam ít đầu tư vào khoa học-công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh dẫn đến hệ quả là năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế nước ta cũng rất thấp. Thứ ba, bất công và bất bình xã hội đang bị tích tụ lại ngày một nhiều hơn. Nếu mọi cơ hội đều do một nhóm thâu tóm thì sẽ còn lại gì cho những người làm ăn chân chính? Điều này đi ngược với những giá trị về bình đẳng và công bằng xã hội mà chúng ta đang dày công xây dựng. Nó cũng dẫn đến tham nhũng và lạm dụng quyền lực công vì lợi ích tư. Thứ tư, vì những mục đích của nhóm thân hữu mà những cán bộ có quyền có thể quyết định cả những việc đi ngược lại lợi ích quốc gia, hủy hoại môi trường. Do đó, đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản thân hữu là rất quan trọng đối với sự tồn vong của chế độ. Chính chủ nghĩa tư bản thân hữu đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 làm cho xã hội ở Thái Lan bị mất ổn định nghiêm trọng, còn chính quyền ở In-đô-nê-xi-a thì sụp đổ. Với mô hình thể chế ở ta, việc xây dựng một cơ chế giám sát hiệu quả là rất quan trọng, nó giúp kiểm soát được sự chi phối của "lợi ích nhóm", bảo đảm công bằng xã hội, cân đối được các nguồn lực và tạo cơ hội cho mọi thành phần kinh tế có môi trường, điều kiện phát triển như nhau. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm”-một cách gọi khác của chủ nghĩa tư bản thân hữu tại Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI). Trong thời gian qua, bằng Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, việc chống chủ nghĩa tư bản thân hữu dường như đã được phát động thành một “cuộc chiến”. Liên tiếp các vụ án tham nhũng lớn được đưa ra xét xử, một số lãnh đạo, nguyên lãnh đạo ở các bộ, ngành, địa phương đã bị xử lý kỷ luật, thậm chí là cách chức. Cùng với đó, quy định về 19 điều đảng viên không được làm đã được hoàn thiện hơn, cụ thể hơn, trong đó đã nghiêm cấm cán bộ để bố, mẹ, vợ (chồng), con, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, nhận những dự án ở mảng lĩnh vực mình đang phụ trách để trục lợi; 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng-chính trị, đạo đức-lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ cũng đã được chỉ rõ. Điều này cho thấy quyết tâm và hành động ngày càng quyết liệt của Đảng trong việc làm trong sạch đội ngũ cán bộ.

Làm gì để ngăn chặn sự xâm lấn của chủ nghĩa tư bản thân hữu?

Để chống những biểu hiện của chủ nghĩa tư bản thân hữu, giữ vững định hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang theo đuổi, có lẽ cần phải lưu ý đến những vấn đề sau: Thứ nhất, phải có cơ chế để khống chế quyền lực. Mà cơ chế để khống chế quyền lực có hiệu quả nhất là thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch để người dân có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; khắc phục sự thiếu minh bạch trong chính sách, thông tin và cả trong hệ tiêu chí đánh giá, đo lường chất lượng, hiệu quả đầu tư; tăng yêu cầu giải trình, sự phản biện và giám sát xã hội. Đồng thời, cần vận hành hiệu quả Luật Đầu tư công và làm rõ quyền tự chủ địa phương với yêu cầu quản lý nhà nước tập trung, thống nhất (đặc biệt là trong quy hoạch tổng thể chung và quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc thị trường). Thứ hai, cần xây dựng một nhà nước pháp quyền mạnh, đồng thời nỗ lực cải cách hành chính. Pháp luật là tối cao, rõ ràng, đồng bộ và nhất quán, đồng thời mang tính hiện đại, theo kịp trình độ phát triển luật pháp, thông lệ quốc tế. Các thủ tục hành chính phải đơn giản hóa, công khai, công bằng, thống nhất, nhanh chóng và trực tiếp. Việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn trong hệ thống cơ quan hành chính phải gắn liền với tăng cường trách nhiệm trực tiếp và cuối cùng. Bảo đảm mọi tài sản xã hội, mọi luật định, mọi công việc nhà nước đều có người chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm hình sự cụ thể, rõ ràng. Kiểm soát chặt việc tự vay, tự trả của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), các địa phương và cả khu vực tư nhân liên kết với các DNNN hay bảo lãnh của Nhà nước. Công khai, minh bạch đầu tư công và các số liệu của các DNNN để có giám sát từ cộng đồng, cùng phối hợp với giám sát của cơ quan nhà nước. Cần công khai việc công bố các dự thảo và văn bản chính thức luật lệ, quy định có liên quan đến người dân để nhân dân có thể đóng góp, hiểu rõ và thi hành đúng. Cần thi hành hệ thống thông tin điện tử thống nhất, dễ tra cứu về các thu, chi liên quan đến thu, chi ngân sách và đầu tư công trên internet để có thể theo dõi, giám sát. Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác thông tin. Chưa bao giờ yếu tố thông tin và lòng tin, nhất là trong khu vực kinh tế tư nhân và thị trường tài chính lại có vai trò nhạy cảm, quan trọng như hiện nay, cả trong phát triển, quản lý kinh tế. Trên cấp độ quốc gia, khi tình trạng các thông tin bất đối xứng, bị hạn chế, chậm trễ, thiếu thốn và thiếu chính xác càng nặng nề và phổ biến, thì căn bệnh thành tích và tư duy nhiệm kỳ càng trầm trọng, kéo dài. Vì vậy, cần tăng cường và thể chế hóa các phát ngôn, cung cấp thông tin chính thức có chất lượng và trách nhiệm pháp lý cao định kỳ, không định kỳ của các cơ quan, đại diện nhà nước, các tổ chức kinh doanh có liên quan; bảo đảm các biến động chính sách phải tường minh và có thể dự báo được trong xu hướng ổn định, nhất quán, phù hợp các nguyên tắc kinh tế thị trường và yêu cầu cam kết hội nhập, các thông lệ thế giới cũng như các tín hiệu thị trường khách quan. Thứ tư, cần đổi mới công tác cán bộ theo hướng đề cao quy chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu; khắc phục tình trạng bổ nhiệm đúng quy trình hình thức nhưng không bảo đảm chất lượng cán bộ; coi trọng phát hiện, đào tạo, sử dụng và tôn vinh người tài, đặc biệt là đối với những người đứng đầu đủ tâm và đủ tầm gánh vác trọng trách; kiên quyết chống những biểu hiện tham nhũng trong công tác cán bộ cũng như thường xuyên phát hiện, xử lý, loại bỏ kịp thời những cán bộ tham nhũng, suy thoái đạo đức, vô trách nhiệm, mất uy tín và trở thành lực cản phát triển; cần thường xuyên luân chuyển cán bộ, tái lựa chọn cán bộ, tránh để một cán bộ tồn tại ở một vị trí quá lâu. Thứ năm, chủ động và không ngừng hoàn thiện cơ sở lý luận đường lối, pháp luật, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và đề án xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững. Nên xem xét cẩn trọng tính hợp lý của các quy hoạch, bởi có thể lẩn khuất trong đó những lợi ích nhóm, gây thiệt hại cho cộng đồng, cho đất nước. Thứ sáu, coi trọng các nhân tố chất lượng và yêu cầu phát triển bền vững. Cần đa dạng hóa các phương thức huy động và đầu tư (BOT, BT, PPP...); tích cực thu hồi, “bóc tách” và thương mại hóa những tài sản đất đai và bất động sản cùng các tài nguyên công cộng khác trên địa bàn bị chiếm hữu trái phép, sử dụng sai mục đích, quá tiêu chuẩn hoặc không hiệu quả… để đưa vào thị trường vốn. Do lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị từ việc cố kết với nhau giữa các cá nhân có tiền, có quyền trong xã hội, nên việc "hóa giải" những cản trở cho phát triển đất nước là điều không hề đơn giản. Vấn đề là chúng ta có thật sự quyết tâm, từ đó có những giải pháp phù hợp, thực hiện quyết liệt để chống lại chủ nghĩa tư bản thân hữu vì sự tồn vong của chính chúng ta hay không. Chống chủ nghĩa tư bản thân hữu, chống "lợi ích nhóm" là để kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện đúng tính chất của nó. Đó là phát triển kinh tế theo quy luật của kinh tế thị trường-một thành tựu của nhân loại, đồng thời thành quả của phát triển được phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích của xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rất phù hợp trong giai đoạn hiện nay để tiến tới đạt được mục tiêu lớn của chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội phát triển và hạnh phúc./.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bắt đầu từ mỗi cán bộ, đảng viên .

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải bắt đầu từ mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng. Điều đó cũng có nghĩa là xây dựng Đảng liên quan đến xây dựng con người, từ tư tưởng, tình cảm, tâm lý, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Phải vừa kiên quyết, tích cực, không né tránh, hữu khuynh, nhưng cũng không nôn nóng, gây ảnh hưởng đến ổn định chính trị. . Đảng ta, từ khi ra đời đến nay, được rèn luyện trong các cuộc đấu tranh cách mạng, luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tính kiên định cách mạng, tinh thần độc lập sáng tạo, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng ta, giúp cho Đảng có khả năng lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn to lớn, đưa cách mạng liên tục tiến lên giành thắng lợi. Tuy nhiên, trước tình hình và yêu cầu nhiệm vụ mới, Đảng cũng bộc lộ những khuyết điểm, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên do không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, mang nặng chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội thực dụng; buông lỏng các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, quan liêu, xa dân, thiếu gắn bó mật thiết với nhân dân; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao chưa được đẩy lùi mà thậm chí ngày càng có chiều hướng nghiêm trọng hơn... Trong những khuyết điểm nêu trên, có những khuyết điểm đang trở thành nguy cơ cần phải nhận diện, nghiêm túc tự phê bình, tự đổi mới để Đảng mãi mãi xứng đáng với lòng tin của nhân dân, cũng như với vai trò lãnh đạo của Đảng. Xin được đề cập đến một số khuyết điểm, nếu không nhanh chóng khắc phục sẽ trở thành nguy cơ đối với một đảng cầm quyền như Đảng ta hiện nay. Một là, một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động mất lòng tin; một số sa vào chủ nghĩa cá nhân, trở nên thoái hóa, biến chất Phai nhạt mục tiêu lý tưởng của Đảng dẫn đến việc vi phạm các nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, tất yếu sẽ dẫn đến xa rời bản chất giai cấp công nhân, mơ hồ về quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp, mất cảnh giác dẫn đến (vô tình hay hữu ý) tiếp tay cho các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Những biểu hiện này, bắt đầu chỉ là “ngọn lửa nhỏ” nhưng nó sẽ bùng lên thành “đám cháy lớn” có nguy cơ hủy hoại Đảng từ bên trong, bắt đầu là uy tín chính trị của Đảng, tiếp đến là năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Điều nguy hiểm nhất là "bộ phận không nhỏ" những cá nhân này đã và sẽ “góp gió” cho nguy cơ tự “diễn biến” từ bên trong - nội bộ Đảng. Trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta chủ trương đưa nền kinh tế đất nước hội nhập sâu rộng hơn, đầy đủ hơn vào nền kinh tế thế giới; ngày càng hoàn thiện hơn các yếu tố của nền kinh tế thị trường, đòi hỏi chúng ta càng cần phải tăng cường bản chất giai cấp của Đảng. Mơ hồ, xa rời lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, cũng có nghĩa “bỏ rơi” lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lợi ích của dân tộc. Phải luôn cảnh giác với biểu hiện trên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó khăn phức tạp đến đâu, mỗi đảng viên của Đảng cũng phải vững vàng, không bao giờ được xa rời mục tiêu lý tưởng của mình, luôn trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân. Hai là, một bộ phận cán bộ, đảng viên chấp hành kỷ luật của Đảng lỏng lẻo, nhiều trường hợp vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở rằng: Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ kỷ luật... Kỷ luật của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải là kỷ luật sắt. Một thứ kỷ luật buộc tất cả cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực hiện, nhưng thực hiện một cách tự giác. Trên thực tế, một bộ phận cán bộ, đảng viên “có chức, có quyền” hiện nay, do “suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống...” bỏ qua mọi quy định được ghi trong Điều lệ Đảng, họ tự cho mình một cái “quyền”, thứ quyền lực vượt qua mọi quyền lực khác, họ không thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng..., không trung thực thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình, thiếu dân chủ và dân chủ hình thức. Trong các trường hợp này, nguyên nhân đều bắt nguồn từ sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Trên thực tế, ở đâu và lúc nào không thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ thì ở đó và lúc đó kỷ luật của Đảng sẽ rơi vào mệnh lệnh, độc đoán hoặc trở nên lỏng lẻo. Để giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, một vấn đề có tính nguyên tắc hiện nay là: Đảng ta phải loại bỏ bằng được những phần tử hủ bại ra khỏi Đảng. Trên cơ sở tự phê bình và phê bình mà làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc cực kỳ khó khăn. Nhưng Đảng ta hoàn toàn có thể làm được. Bởi, trong lịch sử lãnh đạo, đấu tranh và trưởng thành của Đảng, Đảng đã không ngừng được tôi luyện về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ. Ở những thời điểm có tính bước ngoặt và trước những khó khăn thử thách nặng nề, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng càng được khẳng định. Điều đó làm cho uy tín chính trị của Đảng được đề cao và chính uy tín chính trị là điều kiện không thể thiếu để Đảng vững mạnh về tổ chức và kỷ luật. Ba là, xa rời quần chúng, xa rời nhân dân dẫn đến mất lòng tin của dân với Đảng. Thành công của Đảng ta, kể từ khi mới ra đời cho đến nay, là do Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, được nhân dân đồng lòng ủng hộ, chở che, nhân dân đặt trọn niềm tin vào Đảng, một lòng hy sinh, phấn đấu dưới lá cờ của Đảng. Cũng trong mấy chục năm qua, sự thành công của Đảng ta một mặt có học thuyết và tư tưởng đúng, mặt khác được nhân dân đồng tình ủng hộ, nhờ đó mới đủ khả năng lãnh đạo thắng lợi cách mạng Việt Nam. Lịch sử Việt Nam - dưới các triều đại quân chủ trước đây, đến bài học về sự thất thế của các Đảng Cộng sản các nước trên thế giới hiện nay đều có chung một nguyên nhân: mất lòng tin của nhân dân, hoặc không được nhân dân ủng hộ. Các biểu hiện tùy tiện vô nguyên tắc, vô kỷ luật, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân... của một phận cán bộ, đảng viên hiện nay là sự vi phạm trắng trợn đạo đức cách mạng của đảng viên; là biểu hiện của sự suy thoái lòng trung thành đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nếu tình trạng xa rời quần chúng, xa rời nhân dân dẫn đến mất lòng dân trở thành “phổ biến” thì các thế lực thù địch sẽ tận dụng cơ hội ấy để mị dân, chiếm lòng dân. Đây chính là nguy cơ Đảng tự đánh mất vai trò lãnh đạo, làm mất tính chính đáng cầm quyền của mình. Do đó, xa rời quần chúng, xa rời nhân dân dẫn đến mất lòng dân sẽ là nguy cơ của mọi nguy cơ. Có thể nhận diện sự mất lòng tin ấy là một bộ phận nhân dân thờ ơ, ít quan tâm đối với các vấn đề chính trị trọng đại của đất nước như Đại hội Đảng các cấp; tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, họ làm việc này một cách chiếu lệ, bởi dân cho rằng “ai làm thì cũng vậy!”. Tiếp đến, nhân dân thiếu lòng tin vào sự tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Tâm trạng chung của dân là rất bức xúc mỗi khi có việc liên quan đến chính quyền, nhất là chính quyền ở địa bàn cơ sở xã, phường, bởi sự mất dân chủ, sự sách nhiễu, nói một đằng, làm một nẻo của cơ quan công quyền. Sự mất lòng tin lớn nhất của dân là cuộc đấu tranh chống tham nhũng ít hiệu quả, trong khi hiện tượng không ít cán bộ, đảng viên có chức, quyền lại giàu có nhanh chóng, ăn chơi trác táng, sa đọa gia tăng. Sự suy giảm lòng tin đối với Đảng đến một mức độ nhất định, nhân dân sẽ không thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sẽ không đi theo Đảng. Đây chính là nguy cơ Đảng tự đánh mất vai trò lãnh đạo, làm mất tính chính đáng cầm quyền của mình. Một thực tế hiển nhiên là, khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, nếu chỉ hiểu Đảng là người lãnh đạo nhân dân mà thôi, thì nguy cơ xa rời quần chúng, dễ làm nẩy sinh tư tưởng kiêu ngạo, tự mãn trong một số đảng viên sẽ trở nên hiện hữu. Vì thế, gắn với mệnh đề thứ nhất, cần phải đi kèm với mệnh đề thứ hai Đảng phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Tư tưởng đó nói lên rằng: mục đích trong hoạt động lãnh đạo của Đảng là nhằm phục vụ nhân dân, nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân, để không bao giờ trở thành kiêu ngạo, xa rời nhân dân. Muốn cho dân tin Đảng, Đảng phải tự tin vào chính mình, đồng chí trong Đảng phải tin yêu lẫn nhau. Vấn đề quan trọng là đảng viên phải tin vào lý tưởng của Đảng và phải thể hiện niềm tin đó trong cuộc sống hàng ngày bằng tấm gương của chính bản thân họ. Xây dựng lòng tin của Đảng đối với quần chúng là điều không phải giản đơn nếu trong Đảng còn có những người xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân. Từ sự nhận diện và phân tích các nguy cơ trên để xây dựng đảng thực sự trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn hiện nay, cần phải làm trong sạch đội ngũ đảng viên, đưa ngay những phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất, vì mưu cầu danh lợi, địa vị cá nhân mà xâm phạm tài sản và tính mạng của nhân dân, ra khỏi Đảng dù họ là ai, ở cấp nào. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải bắt đầu từ mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng. Điều đó cũng có nghĩa là xây dựng Đảng liên quan đến xây dựng con người, từ tư tưởng, tình cảm, tâm lý, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Đó là những vấn đề nhạy cảm, rất tế nhị, nên phải rất chú ý cách làm, bảo đảm vừa kiên quyết, tích cực, không né tránh, hữu khuynh; nhưng cũng không nôn nóng, thô bạo, vừa không gây căng thẳng nội bộ và ảnh hưởng đến ổn định chính trị./. Phạm Văn Thắng Học viện Quốc phòng Việt Nam

Tăng cường đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Cần phải thống nhất nhận thức: phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan dẫn đến thoái hóa, biến chất. . Trong những năm qua, tùy từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch, cơ hội trong và ngoài nước đã sử dụng những thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” khác nhau. Trong đó chúng đặt trọng tâm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ. Bởi đây là nơi hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của nước ta. Khi quan điểm, đường lối không chuẩn thì sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước là khó tránh khỏi. Và khi đường lối, chủ trương không vì cuộc sống, lợi ích của nhân dân thì niềm tin của quần chúng đối với Đảng, với Nhà nước và chế độ sẽ bị xói mòn, mất niềm tin. Như chúng ta đã biết, “diễn biến hòa bình (“DBHB”) và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ khăng khít, không tách rời, trong đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là âm mưu, thủ đoạn và cũng là mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tiến hành đối với cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; ngăn chặn đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề có ý nghĩa quyết định làm thất bại chiến lược “DBHB” của các thế lực thù địch. Đồng thời, đó cũng là nhiệm vụ cấp bách về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Đảng ta đã đặt ra. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “DBHB” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” (1). Đây là những điểm phát triển mới trong Nghị quyết Đại hội XII mà Đảng ta đã liên tục đề cập. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là một quá trình suy thoái từ bên trong nội bộ, một mặt, do tác động khách quan, như mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và do âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” vào từng con người và tổ chức; mặt khác là từ nguyên nhân chủ quan do một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong hai nguyên nhân đó, thì nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Thực tiễn ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu những thập kỷ cuối thế kỷ XX cho thấy, nếu ban lãnh đạo các Đảng Cộng sản không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội; quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì các thế lực thù địch không thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa. Đúng như V.I. Lê-nin đã căn dặn: “không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta”. Như vậy, cần phải thống nhất nhận thức: phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan dẫn đến thoái hóa, biến chất là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Hiện nay, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, rơi vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc… như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI chỉ ra, là những biểu hiện cụ thể của một bộ phận cán bộ bị thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong nội bộ của Đảng. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới; nguy cơ “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí” (2)… vẫn chưa được khắc phục. Nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, diễn biến phức tạp. Tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận ngày 27/5/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Trong khi ở nhiều nơi, đời sống nhân dân còn khó khăn, nhiều yêu cầu thiết yếu của quần chúng chưa được bảo đảm, thì có những cán bộ, đảng viên chỉ lo thu vén cá nhân, xoay xở làm giàu, ăn uống chè chén bê tha; thậm chí có người vô trách nhiệm với dân, vô cảm trước những khó khăn, đau khổ của quần chúng. Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vén của cải của Nhà nước, của tập thể, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là, sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân; ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; bất chấp đạo lý, dư luận; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm của một bộ phận cán bộ, đảng viên không gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trước hết, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị. Việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa thực dụng. Cần kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; phát triển đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập. Phát hiện kịp thời những tư tưởng đối lập do các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động phá hoại, không để các thế lực thù địch tạo dựng ngọn cờ tập hợp được lực lượng. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình trong xã hội đối với các cơ quan công quyền. Triển khai có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Tích cực đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá trong nội bộ” (3). Đồng thời, kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc trong một bộ phận cán bộ, đảng viên…. Hai là, về lĩnh vực kinh tế - xã hội. Cần tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững; có khả năng cạnh tranh cao để chủ động hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế; có khả năng đứng vững, vượt qua được những biến động bất thường của nền kinh tế thế giới. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa-xã hội, thực hiện công bằng xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh. Cần tiếp tục đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt là bảo vệ đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong lĩnh vực này, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa cá nhân” chi phối. Ba là, trên mặt trận văn hóa - xã hội. Cần quyết tâm bảo vệ đường lối xây dựng và phát triển văn hóa - xã hội của Đảng, chủ trương và chính sách văn hóa - xã hội của Nhà nước; bảo vệ, xây dựng và phát triển hệ thống giá trị, những chuẩn mực văn hóa, đạo đức xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tinh hoa truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc. Chống lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống của phương Tây. Bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách đổi mới giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước; chống lợi dụng giao lưu về giáo dục - đào tạo để chuyển hóa tư tưởng, ý thức của một số trí thức, sinh viên, học sinh, thế hệ trẻ mang văn hoá đồi truỵ, độc hại vào Việt Nam. Chống lợi dụng mở cửa để thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp theo mô hình xã hội phương Tây. Giải quyết đúng đắn, kịp thời những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận giữa các tầng lớp xã hội, các vùng, miền. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu theo Kết luận của Hội nghị Trung ương 5 khoá XI. Thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công với nước, chính sách dân tộc, tôn giáo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng chiến lược, các địa bàn trọng yếu. Mở rộng dân chủ trong xã hội để tạo sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc, tôn giáo; chống chia rẽ, ly khai. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội, cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời trên cơ sở pháp luật, hài hòa với truyền thống, đạo lý dân tộc. Bốn là, về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Cần tập trung bảo vệ đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước; xây dựng lực lượng, tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh. Giữ vững bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang, đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Xây dựng Quân đội và Công an vừa là lực lượng chính trị, vừa là lực lượng quân sự, an ninh tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân với Quân đội và Công an. Chống “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an; chống chia rẽ trong nội bộ lực lượng vũ trang. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chống địch cài cắm. Bảo vệ đường lối, chủ trương chiến lược, chính sách đối ngoại quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước; phát triển các quan hệ đối ngoại song phương và đa phương phù hợp với lợi ích của đất nước; giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; củng cố tình đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng và khu vực, với các tổ chức quốc tế; tăng cường ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; giải quyết đúng đắn mối quan hệ đối ngoại và đối nội, không để nước ngoài tạo cớ can thiệp. Giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Giải quyết đúng đắn, xử lý mềm dẻo những bất đồng, tranh chấp với các nước láng giềng, trong khu vực và quốc tế, kịp thời xử trí các tình huống không để nước ngoài tạo cớ can thiệp; đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ quan ngoại giao nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Để chống lại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, cơ hội cần giữ vững và tăng cường khả năng đề kháng trong nội bộ. Xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững chắc là cơ sở để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ tác động từ bên ngoài. Đảng ta chỉ rõ cần: Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hoá” trong nội bộ. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái,“lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(4). Như vậy, cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí phải được tăng cường, kiên quyết loại bỏ những con “sâu mọt” ra khỏi bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước, làm trong sạch các tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền; đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, việc tăng sức đề kháng, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nếu không kết hợp chặt chẽ với chủ động tiến công làm thất bại những mưu đồ đen tối, những thủ đoạn thâm độc thực hiện “DBHB” của các thế lực thù địch thì hiệu quả đấu tranh sẽ không cao, kẻ thù sẽ có thời cơ và điều kiện để tổ chức chống phá quyết liệt hơn. Khi ấy, việc phòng ngừa, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ càng trở nên khó khăn hơn. Kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa từ xa với chủ động tiến công làm thất bại âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch từ trong “trứng nước”, là phương châm đúng đắn, thể hiện rõ tư tưởng cách mạng tiến công trong chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta. Yêu cầu cơ bản khi thực hiện phương châm này là, cùng với tích cực, chủ động giữ vững ổn định bên trong, phòng ngừa, ngăn chặn các tác động tiêu cực từ phía các thế lực thù địch. Đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu tích cực, chủ động tổ chức các các đợt sinh hoạt học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình của mỗi cán bộ đảng viên./.

Việt Nam không bao giờ liên minh với một nước khác để chống lại nước thứ ba

Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam là rất rõ ràng. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, đa phương hóa, đa dạng hóa trên cơ sở độc lập tự chủ và nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Mục đích của Việt Nam là tạo được lợi ích chung với các nước-đó là duy trì hòa bình, ổn định. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không bao giờ liên minh, liên kết với một nước khác để chống lại nước thứ ba, không đi với nước này để chống nước kia... . Từ đầu năm 2017 đến nay, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ ta đã có hàng loạt hoạt động ngoại giao với các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng. Đây là những hoạt động bình thường nhằm tiếp tục triển khai toàn diện, đồng bộ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nhằm mở rộng quan hệ quốc tế, tiếp tục duy trì và nâng cao các quan hệ đã có, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ và lợi ích quốc gia-dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, tiếp tục nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Thế nhưng bên cạnh những cái nhìn thiện cảm, những nhận định, đánh giá khách quan về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng và thành công từ những chuyến thăm và các hoạt động ngoại giao nổi bật ấy, đây đó vẫn còn những cái nhìn thiển cận, những ý kiến phiến diện, suy diễn chủ quan của một số nhân vật thiếu thiện chí, phần tử bất mãn, phản động chuyên tìm cách chống phá Việt Nam. Cả trước, trong và sau mỗi chuyến thăm, thông qua một vài trang mạng ở nước ngoài, những nhân vật ấy lại cố tình xuyên tạc về mục đích, ý nghĩa và kết quả các chuyến thăm. Đáng lưu ý có người hồ đồ nói rằng, Việt Nam đang có sự điều chỉnh trong quan hệ đối ngoại nhằm tìm kiếm đối tác chiến lược, thiết lập liên minh mới để đối phó với những quốc gia đang gây áp lực với mình... Lại có kẻ còn trắng trợn nói rằng, Việt Nam đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia... Một điều chúng ta chẳng lạ là trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Bằng nhiều chiêu trò, chúng mưu toan đẩy mạnh tuyên truyền, tán phát những thông tin sai lệch, bịa đặt, phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại, xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; xuyên tạc đường lối, phương châm đối ngoại, hòng gây nghi kỵ quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế... Những động thái nói trên không có gì mới và không nhằm mục đích nào khác là tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam. Dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng những năm qua, đặc biệt trong hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trong công tác đối ngoại. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần tạo nên môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước... Dù có giở chiêu trò gì đi chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được những thành tựu trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam là rất rõ ràng. Trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, đa phương hóa, đa dạng hóa trên cơ sở độc lập tự chủ và nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Mục đích của Việt Nam là tạo được lợi ích chung với các nước-đó là duy trì hòa bình, ổn định. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không bao giờ liên minh, liên kết với một nước khác để chống lại nước thứ ba, không đi với nước này để chống nước kia. Trong giải quyết những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định là phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế... Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ. Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII là: "Bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm “phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”[1]. Như vậy có thể thấy, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Những gì đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII thêm một lần nữa khẳng định: Việt Nam không bao giờ liên minh với một nước khác để chống lại nước thứ ba. Nếu ai đó nói rằng Việt Nam dựa vào nước này để chống nước kia thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm mưu đồ xấu, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, hòng làm cho tình hình thêm phức tạp, gây hoài nghi, mất ổn định, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Để không mắc mưu dẫn đến tiếp tay cho chúng, mọi cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân ta cần đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.

Không thể xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam

Hàng loạt hoạt động đối ngoại được lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta tiến hành trong thời gian gần đây nhằm tăng cường hợp tác và đối thoại chiến lược với nhiều đối tác, nâng cấp quan hệ song phương với một số quốc gia, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... do Đại hội lần thứ XII đề ra. Sự chủ động, tích cực đó của Việt Nam được dư luận thế giới đồng tình và đánh giá cao. Ấy vậy mà đây đó vẫn xuất hiện những giọng điệu lạc lõng cho rằng, tư duy ngoại giao của Việt Nam đã lỗi thời và khuyến cáo rằng, đã đến lúc Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại nếu không muốn bị cô lập... Thực chất của chiêu trò này không gì khác vẫn là xuyên tạc sự thật hòng làm cho thế giới nghi kỵ với Việt Nam, chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta. Những giọng điệu ấy dù có xảo quyệt, tinh vi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể xuyên tạc được sự thật lịch sử, không thể đánh lừa được dư luận. Thực tiễn lịch sử từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời (2-9-1945) cho đến nay, đặc biệt trong hơn 30 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn độc lập công bố trước quốc dân đồng bào tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Có thể nói đó là những thông điệp ngoại giao đầu tiên mà Việt Nam muốn gửi tới thế giới. Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, với một chính quyền non trẻ đứng trước vô vàn gian nan, thử thách, có những lúc ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Việt Nam đã thể hiện rõ ý chí và thiện chí của mình đó là lấy độc lập, tự chủ, bằng sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Trên thực tế ngoại giao đã được Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, huy động nhân tài, vật lực để kiến thiết đất nước. Những thành công khởi đầu ấy đã đặt móng, xây nền cho công tác ngoại giao, tiếp thêm động lực và để lại những kinh nghiệm quý để Việt Nam tổ chức mặt trận ngoại giao trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sau này. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện những đường lối, quyết sách đúng đắn, đặc biệt là các hoạt động ngoại giao khôn khéo, linh hoạt theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Đảng ta, đấu tranh ngoại giao đã góp phần quan trọng nâng cao địa vị của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế; phân hóa, cô lập kẻ thù. Và cuối cùng, bằng những thắng lợi trên mặt trận ngoại giao kết hợp với những thắng lợi về quân sự trên chiến trường, chúng ta đã buộc thực dân Pháp phải cam kết công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và các nước Đông Dương. Thực hiện đường lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác ngoại giao Việt Nam luôn là một mặt trận hỗ trợ và phối hợp với mặt trận đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự. Bằng nhiều hoạt động và biện pháp linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả, đấu tranh ngoại giao đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt là qua 30 năm đổi mới, công tác đối ngoại luôn bám sát tình hình thế giới, tiếp tục đạt được những thành quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước. Sẽ là phiến diện nếu bàn đến thành tựu của công tác ngoại giao mà không nhấn mạnh nhân tố quyết định đó là sự phát triển trong tư duy ngoại giao và vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Có thể khẳng định tư duy ngoại giao của Đảng ta luôn đổi mới và phát triển không ngừng. Chính sự đổi mới, phát triển ấy đã giúp cho chính sách ngoại giao của Việt Nam luôn phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với tình hình thế giới và trong nước, đạt được những thành tựu kỳ diệu, không ngừng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự phát triển tư duy ngoại giao của Đảng ta được thể hiện rõ nét trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề ra. Trong đó về lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm, cái nhìn mới mẻ về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới; về những tác động, ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới với Việt Nam; về xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước... Từ những nhận định chiến lược, Đảng ta chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, ngày 20-5-1988, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 13/NQ-TW "Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới", trong đó khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là "Củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế". Nghị quyết cũng thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng ta đó là "thêm bạn, bớt thù"... Trong đổi mới về tư duy đối ngoại, Bộ Chính trị xác định: Đổi mới tư duy cho kịp với sự phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới, kết hợp sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới của tình hình thế giới. Như vậy có thể nói, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị đã đánh dấu sự đổi mới tư duy về công tác đối ngoại. Đây là cơ sở hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niêm 90 của thế kỷ trước, tại Đại hội lần thứ VII (tháng 6-1991), Đảng ta tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, với trọng tâm là “Hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nhiệm vụ bao trùm của công tác đối ngoại là: "Giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ". Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng ta chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI và có những bổ sung, phát triển mới. Đại hội XII chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Như vậy có thể thấy rõ đường lối đối ngoại rộng mở đề ra tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã được Đảng ta bổ sung, phát triển thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả của đường lối đó đã được minh chứng bằng thành tựu rực rỡ của công tác đối ngoại qua các nhiệm kỳ đại hội. Đường lối đó đã góp phần quan trọng tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện thuận lợi và tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong phát triển KT, XH, tăng cường QP, AN, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện đường lối đúng đắn đó, Việt Nam đã tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đồng thời hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các thể chế kinh tế toàn cầu. Đường lối đó đã khẳng định vị thế và vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Sự thật rất rõ ràng vậy mà người ta vẫn cố tình xuyên tạc. Hành động xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam mà những kẻ phản động đang tiến hành là hết sức nguy hiểm. Đặc biệt giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung phát huy sức mạnh tổng hợp, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì những hành động ấy dễ làm nhiễu thông tin, gây phân tâm, gây hiểu lầm trong quan hệ của các nước với Việt Nam, tác động tiêu cực tới niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng. Sự phát triển trong tư duy ngoại giao, tính đúng đắn, sáng tạo và hiệu quả trong đường lối đối ngoại của Đảng ta là lời tuyên bố bác bỏ mọi giọng điệu xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động, những phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. Vấn đề đặt ra với mỗi người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước là cùng với quán triệt, nâng cao nhận thức về đường lối đối ngoại của Đảng, phải chủ động phát hiện và đấu tranh mạnh mẽ phản bác mọi thông tin sai sự thật, những luận điệu xuyên tạc chống phá của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ đường lối của Đảng, góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển KT, XH, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới.

Cảnh giác với những lời sáo rỗng, mị dân, xuyên tạc sự thật

Là người miền Trung, ai chẳng xót xa khi một năm về trước, sự cố do Công ty Formosa gây ra làm ô nhiễm môi trường biển, khiến nhiều gia đình lao đao, khổ sở vì mất kế sinh nhai. . Trước thực tế ấy, Đảng, Nhà nước ta đã tích cực, chủ động tìm nhiều giải pháp tháo gỡ, khắc phục hậu quả, sớm ổn định cuộc sống của người dân. Công ty Formosa cũng cam kết khắc phục hậu quả và tiến hành đền bù cho người dân. Hơn một năm trôi qua, môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung đã trong lành trở lại. Người dân nơi đây đã được hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, họ yên tâm ra khơi bám biển, đánh bắt cá, tôm. Nhịp sống ở các cảng cá thuộc 4 tỉnh miền Trung đã sôi động trở lại. Vậy mà những kẻ có dã tâm xấu xa đưa ra những lời sáo rỗng, mị dân, xuyên tạc sự thật, kích động một bộ phận giáo dân biểu tình vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Đây là hành động sai trái cần phải lên án mạnh mẽ và những kẻ vi phạm pháp luật phải bị trừng trị thích đáng nhằm ổn định tình hình, thúc đẩy sản xuất phát triển. Để vạch rõ bộ mặt thật của những kẻ cơ hội, hãy cùng nhau tìm câu trả lời cho các vấn đề sau: Môi trường biển Bắc miền Trung hiện nay ra sao? Người dân Bắc miền Trung lao động sản xuất như thế nào để phát triển sản xuất trong mùa hè năm 2017? Điều thứ nhất có thể khẳng định, môi trường biển miền Trung đang trong sạch trở lại. Cá, tôm và các loài sinh vật biển đang sinh sôi phát triển bình thường. Biển Bắc miền Trung đẹp và thơ mộng, những dải cát dài trắng mịn với làn nước trong xanh, mát mẻ hiếm nơi nào có được. Mọi người đều có thể nhìn thấy cá, tôm và các sinh vật biển đang bơi lượn, sinh sống, khi ngụp lặn trên biển Bắc miền Trung trong những ngày hè sôi động này. Ai về Bắc miền Trung mùa hè này đều thấy, trên bãi biển Lăng Cô của Thừa Thiên-Huế; Cửa Tùng của tỉnh Quảng Trị; Nhật Lệ của tỉnh Quảng Bình; cảng Vũng Áng, khu nghỉ dưỡng Thiên Cầm, Lộc Hà hay trên bãi biển Xuân Thành của tỉnh Hà Tĩnh, vào dịp nghỉ lễ 30-4, 1-5 nhộn nhịp những dòng người và phương tiện. Những người đã, đang sống bình dị trên quê hương Hà Tĩnh nói riêng, Bắc miền Trung nói chung, mới thấy quê hương mình thật đậm đà, sâu lắng nghĩa tình. Vậy mà đi ngược lại cuộc sống yên bình đang phục hồi và phát triển sau sự cố Formosa, các thế lực thù địch vừa công khai, vừa ngấm ngầm tung ra nhiều lời xuyên tạc. Chẳng hạn linh mục Nguyễn Thái Hợp đã trơ trẽn trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Hành động tắm biển và thưởng thức thủy, hải sản của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trên bãi biển Nhật Lệ là hành động đóng kịch, giả tạo”. Họ còn tuyên truyền là “cá đang chết nhiều trên biển”... nhằm hạn chế sự trao đổi, tiêu dùng các sản phẩm từ biển, gây khó khăn cho ngư dân. Đây là chiêu bài nguy hiểm, dụng ý tuyên truyền xuyên tạc, xấu xa của những kẻ mang danh "đạo đức". Vì vậy, hãy tỉnh táo khi nghe những lời nói tưởng như vì người dân, nhưng thực chất đó chỉ là những kẻ "lòng lang dạ sói", đang thực hiện âm mưu thâm độc nhằm chống phá cuộc sống bình yên của người dân. Điều thứ hai cần nhận thức rõ, người dân Bắc miền Trung vốn lam lũ, cần cù, chịu thương chịu khó, giàu lòng vị tha, luôn có khát vọng vươn lên, nhưng rất tỉnh táo trước mọi âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Trong suốt các cuộc trường chinh đánh đuổi ngoại xâm dành lại độc lập cho dân tộc, người dân miền Trung không tiếc xương máu chống lại sự đàn áp tàn bạo của bọn thực dân, đế quốc. Nhân dân miền Trung nói chung, Hà Tĩnh nói riêng, có truyền thống yêu nước nồng nàn, đang ra sức lao động sản xuất làm giàu cho quê hương. Riêng Hà Tĩnh có khoảng 263.000 lao động nghề biển, trong đó có 100.000 lao động trực tiếp. Sau sự cố Formosa, người dân nơi đây đã được Chính phủ, các cấp chính quyền quan tâm thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tiến hành đền bù, khắc phục khó khăn, cuộc sống đang dần trở lại sản xuất bình thường. Nhiều tàu, thuyền của ngư dân ở các huyện Lộc Hà, Thạch Hà... đã đánh bắt được hàng tấn cá, thu về từ 200 đến 400 triệu đồng chỉ sau một chuyến đi biển. Bên cạnh nghề biển, người dân nơi đây đang đẩy mạnh áp dụng khoa học-công nghệ vào sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển sản xuất toàn diện, đời sống của từng gia đình đang không ngừng được cải thiện. Lợi dụng sự cố Formosa, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, bôi nhọ các cấp chính quyền, kích động một số giáo dân biểu tình, tấn công người thi hành công vụ, đập phá trụ sở chính quyền, ngăn chặn gây ách tắc giao thông vì cho rằng “các cấp chính quyền không quan tâm đến dân, không đền bù thỏa đáng cho người dân, mặc dù đã được Công ty Formosa đền bù 500 triệu USD”. Thực tế, hàng nghìn tỷ đồng tiền hỗ trợ đã được các cấp chính quyền chuyển đến tay người dân Bắc miền Trung, giúp họ đầu tư mua sắm thêm trang, thiết bị để họ phấn khởi, hăng hái tiếp tục ra khơi bám biển. Chỉ riêng số tiền đền bù đợt 2 là 1.680 tỷ đồng, trong đó Hà Tĩnh nhận 560 tỷ đồng, Quảng Bình nhận 760 tỷ đồng, Quảng Trị nhận 160 tỷ đồng và Thừa Thiên-Huế nhận 200 tỷ đồng. Thực tế hiển nhiên và không thể phủ nhận được rằng: Tuyệt đại bộ phận người dân Bắc miền Trung đang hăng say bám biển đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản và nỗ lực tích cực tham gia lao động sản xuất. Trước những hành vi vi phạm pháp luật của một số người, nhân dân cả nước nói chung, người dân Bắc miền Trung nói riêng, mong muốn các cấp chính quyền phải nghiêm khắc trừng trị theo đúng quy định của pháp luật.

Kiên định đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ

Thời gian gần đây, mỗi khi có những sự kiện trọng đại của đất nước hoặc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, trên một số trang mạng, blog lại rộ lên thông tin liên quan đến chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tung lên mạng những bài viết mập mờ theo lối “rộng đường dư luận”, cùng thông tin bịa đặt, xuyên tạc để đánh lừa dư luận và gây hoang mang trong xã hội. . Bằng thủ đoạn đưa thông tin lập lờ “đen-trắng” lẫn lộn, các thế lực thù địch kích thích trí tò mò của công chúng, làm cho người đọc không phân biệt được đúng sai, nảy sinh nghi ngờ, mất lòng tin vào Đảng và Nhà nước. Những kiểu bình luận, suy diễn, bịa đặt như: "Việt Nam đang sử dụng cảng quốc tế Cam Ranh làm “mồi nhử” để "lôi kéo" các nước lớn ủng hộ Việt Nam". Hay nhân dịp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Hoa Kỳ (29-31/5/2017), hai bên đã ra Tuyên bố chung về tăng cường đối tác toàn diện giữa hai nước, trong đó có nội dung "Việt Nam và Hoa Kỳ trao đổi về khả năng tàu sân bay Hoa Kỳ thăm cảng Việt Nam", những "cây bút" trên mạng xã hội đã bịa ra chuyện Việt Nam sẽ cho nước ngoài thuê Cam Ranh làm căn cứ quân sự hoặc Việt Nam sắp liên minh quân sự... Vậy sự thật đằng sau những thông tin bịa đặt này là gì? Kể từ khi Cảng quốc tế Cam Ranh được khánh thành và đi vào hoạt động, không chỉ báo chí trong nước mà báo chí nước ngoài đã có nhiều bài viết, nhận xét tích cực về chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào hoạt động góp phần phát triển kinh tế, giữ vững an ninh, quốc phòng của đất nước cũng như mở rộng quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, một số hãng thông tấn nước ngoài cùng một số trang mạng, blog cá nhân đã lợi dụng chủ trương của Nhà nước ta về việc đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào khai thác, để tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu Việt Nam nhằm chia rẽ quan hệ của Việt Nam với các nước. Với dụng ý đó, họ cố tình xuyên tạc, bóp méo thông tin, phục vụ cho mưu đồ chính trị của một số tổ chức, một số nhóm người không có thiện cảm với Việt Nam. Thực tế cho thấy, chúng ta đã chủ động cung cấp thông tin một cách công khai, minh bạch về chủ trương đưa Cảng quốc tế Cam Ranh vào sử dụng. Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Quy chế quản lý hoạt động của Cảng quốc tế Cam Ranh thuộc địa bàn tỉnh Khánh Hòa, có hiệu lực từ ngày 15-8-2016. Với vị trí địa chính trị, Cảng quốc tế Cam Ranh thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu, nhất là trong lĩnh vực quân sự và hàng hải. Vì vậy, các nhà quân sự thế giới hiểu rất rõ vị trí, vai trò của Cảng quốc tế Cam Ranh. Như vậy, Cảng quốc tế Cam Ranh bản thân nó đã có sức hút là một trong những cảng nước sâu tốt nhất thế giới, thì không có lý do gì chúng ta phải "lôi kéo" ai. Nhờ vị trí tiếp cận gần nhất các tuyến hàng hải quốc tế nên cảng quốc tế Cam Ranh là vị trí lý tưởng để tàu bè các nước dừng chân, sử dụng các dịch vụ hậu cần kỹ thuật trên đường hành trình của mình và đây là điều hết sức bình thường. Chính sách quốc phòng của Việt Nam đã nêu rõ: Việt Nam chủ trương không cho bất cứ quốc gia nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình. Chính phủ Việt Nam đã khẳng định không cho nước ngoài thuê cảng Cam Ranh làm căn cứ quân sự hay căn cứ hậu cần-kỹ thuật. Tuy nhiên, Việt Nam hoan nghênh tàu, thuyền quốc tế ghé đậu và sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật tại đây. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam sẵn sàng mở cửa đón tiếp tàu quân sự, dân sự của các nước có thiện chí và muốn sử dụng dịch vụ hậu cần-kỹ thuật ở Cảng quốc tế Cam Ranh. Tàu, thuyền các nước càng vào Cam Ranh nhiều càng chứng minh họ tín nhiệm Việt Nam và Việt Nam cũng tin tưởng họ. Do vậy, chuyện suy diễn Việt Nam cho nước ngoài thuê Cảng quốc tế Cam Ranh làm căn cứ quân sự là một suy diễn mang tính chủ quan, vô căn cứ. Còn những ý kiến cho rằng, Việt Nam muốn liên minh quân sự, lôi kéo nhân tố quốc tế để đối phó với nước thứ ba. Câu chuyện thực chất là gì? Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh tính chất hòa bình, tự vệ và chính nghĩa của liên minh quân sự, liên minh chiến đấu, đồng thời khẳng định liên minh quân sự, liên minh chiến đấu là một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm nhất định. Từ khi đất nước hòa bình, thống nhất đến nay, Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Theo đó, tất cả những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng và bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực đều là đối tác hợp tác quốc phòng của Việt Nam. Thông qua các mối quan hệ đối ngoại, Việt Nam tăng cường sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau với nhân dân và chính phủ các nước, tạo cơ sở mở rộng hợp tác, giải quyết các mâu thuẫn nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ, Việt Nam xây dựng sức mạnh quốc phòng bằng mọi nguồn lực của đất nước; kiên trì chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác quốc phòng với mọi quốc gia để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh chứng: Càng trong những tình thế khó khăn, càng đòi hỏi phải có chính sách quốc phòng đúng đắn theo đường lối độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là chính. Đồng thời, cần hiểu đúng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, sức mạnh lực lượng vũ trang là nòng cốt, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp quân sự, kinh tế, chính trị với ngoại giao. Sức mạnh bên trong của đất nước, sức mạnh của chế độ chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định. Chỉ có kiên trì thực hiện đường lối và “chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ” chúng ta mới có thể phát huy hết được sức mạnh dân tộc, tận dụng và khai thác triệt để sức mạnh của thời đại trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, nếu ai đó cho rằng, Việt Nam cần liên minh quân sự là trái ngược với tinh thần nói trên. Những diễn biến trong thời gian cho chúng ta thấy rõ ai là người thực tâm ủng hộ Việt Nam và ai đang toan tính thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá Việt Nam. Có thể thấy, những luận điệu trên là nhằm chia rẽ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta; chia rẽ Đảng với nhân dân, Đảng với lực lượng vũ trang; chia rẽ quan hệ Việt Nam với các nước. Âm mưu của họ là lái Việt Nam chệch khỏi đường lối độc lập, tự chủ trong thực hiện chính sách quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cũng như trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phục vụ cho những mưu đồ nham hiểm.

“ĐỪNG VÌ LỢI ÍCH THƯƠNG MẠI, LỢI ÍCH CÁ NHÂN MÀ BÁN RẺ HÌNH ẢNH THƯƠNG HIỆU CỦA MÌNH”!



            Ngày 2/4/2021, hãng thời trang H&M đã có một hành xử lật lọng khiến hàng triệu người Việt Nam phẫn nộ. Đó là việc  hãng này cho đăng bản đồ Việt Nam có đường lưỡi bò và gián tiếp công nhận 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là của Trung Quốc.

CHIẾN THẮNG 30/4/1975 – CHÍNH NGHĨA VÀ NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC VIỆT NAM

 


          Chiến thắng 30/4/1975 là sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Đồng thời, nó có ý nghĩa thời đại sâu sắc, thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội. Chiến thắng ấy đã được nhân loại tiến bộ thừa nhận, đánh giá cao. Chiến thắng khẳng định chân lý cao đẹp mà nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đã và đang vươn tới, đó là: cuộc chiến tranh chính nghĩa để giải phóng dân tộc thoát khỏi sự thống trị của những kẻ xâm lược tất yếu sẽ đi đến thắng lợi. Dân tộc Việt Nam đã kiên cường, bất khuất đấu tranh, chúng ta buộc phải cầm súng để giành lại độc lập và đó là cách duy nhất để có thể hướng đến hòa bình trước kẻ thù hung bạo là đế quốc Mỹ, kẻ đã từng tự xưng hùng mạnh nhất thế giới. Do đó, tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính đều có quyền tự hào với Chiến thắng lịch sử 30/4/1975

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

Đằng sau chiêu trò “chính trị hóa” các vụ án hình sự

Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường áp dụng khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” là “chính trị hóa” các vụ án hình sự. Từ những vụ án đơn lẻ, các thế lực thù địch thổi phồng, xuyên tạc, suy diễn lái vụ việc sang hướng khác rồi quy kết thành những vấn đề chính trị của từng quốc gia. Tình hình chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Việt Nam thời gian gần đây càng cho thấy rõ điều đó. . Một điều chúng ta không khó để nhận ra trong thời gian qua là các thế lực thù địch cùng những phần tử cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước đã “chính trị hóa” một số vụ án hình sự bằng cách đơm đặt, dựng chuyện, xuyên tạc, suy diễn, cắt khúc, gán ghép các tình tiết trong vụ án với những vấn đề chính trị hệ trọng của đất nước, nhất là những vấn đề nóng, nhạy cảm trong xã hội để lợi dụng kích động, chống phá. Chẳng hạn như sự việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Công an TP Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự để điều tra làm rõ về tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” theo Điều 123, Bộ luật Hình sự và tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 143, Bộ luật Hình sự. Đây thực chất chỉ là một vụ án hình sự đơn lẻ, nhưng những kẻ “ăn không nói có” đã lượm lặt thông tin trên internet để nhào nặn rồi phán bừa rằng “vụ khởi tố này là bằng chứng cho thấy một sự đấu đá ở hậu trường”... Rõ ràng họ đã lợi dụng vụ án hình sự đơn thuần để đơm đặt rồi lái sang câu chuyện “đoàn kết nội bộ” trong Đảng, trong chính quyền... Mục tiêu sâu xa mà các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động hướng tới không gì khác là gây ra sự hoài nghi trong nội bộ, phá hoại sự đồng thuận trong xã hội, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân. Hay từ sự việc một số phần tử xấu ở các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh... núp dưới vỏ bọc “tôn giáo” lợi dụng sự cố môi trường ở các tỉnh miền Trung kích động, lôi kéo một bộ phận giáo dân tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự... Xét thấy có những yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan chức năng các địa phương đã khởi tố vụ án để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Thực chất đây chỉ là vụ án hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”... Thế nhưng thông qua một số trang mạng ở nước ngoài, các thế lực thù địch, những phần tử phản động đã "chính trị hóa" vụ việc này rồi lái câu chuyện sang vấn đề "dân chủ, nhân quyền" và cho rằng “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo”... Tương tự mới đây là vụ Lê Duy Phong, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, bị Công an TP Yên Bái khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi "lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản", theo Điều 280, Bộ luật Hình sự... Thế nhưng trên một vài trang mạng, một số phần tử phản động, có tư tưởng thù địch đã xuyên tạc, suy diễn, quy chụp theo kiểu lấy cái cụ thể để đánh giá, kết luận về cái tổng thể và cho rằng "Việt Nam vi phạm tự do báo chí", chính quyền Việt Nam "gài bẫy" để đưa các nhà báo chống tham nhũng vào vòng lao lý. Hơn thế, từ sự việc này họ còn suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Đảng ta về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: “Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh”, “tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân”; có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng” của cấp ủy, chính quyền các cấp.... Nguy hiểm hơn, họ còn chụp mũ cho rằng tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo độc tôn. Cần khẳng định một vài vụ việc nêu ra trên đây chỉ là những vụ án hình sự bình thường. Tuy nhiên, thông qua những bài viết trên một số trang mạng của những người có tư tưởng cực đoan, phản động đã xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo làm sai lệch bản chất vấn đề, hướng lái dư luận sang những vấn đề chính trị, xã hội hệ trọng khác như: Tự do tôn giáo, tự do báo chí, đoàn kết nội bộ... hòng triệt để khoét sâu từng vụ việc từ đó chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu sâu xa của họ vẫn là nhằm phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực, vẽ ra bức tranh méo mó về xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, để từ đó gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng; về khả năng quản lý, điều hành của chính quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, để rồi thừa cơ xúi giục, kích động những người dân nhẹ dạ, cả tin đứng lên chống lại chính quyền, đòi thay đổi cương lĩnh, thể chế chính trị, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển xã hội ta sang một xã hội “đa nguyên, đa đảng”. Từ những vấn đề lý luận chỉ ra và thực tiễn kiểm chứng, rõ ràng chúng ta không thể lấy hiện tượng để quy kết thành bản chất, không thể dùng cái đơn lẻ để quy thành hệ thống. Ấy vậy mà từ những vụ án hình sự đơn lẻ, các thế lực thù địch sẵn sàng suy diễn, gán ghép, quy chụp để từ đó đưa ra những nhận định về những vấn đề chính trị lớn trong xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chúng ta không lạ gì với chiêu trò này, bởi suy diễn, quy kết chủ quan, phiến diện trở thành thói quen, trở thành "căn bệnh" của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động. Mọi sự việc, mọi vấn đề họ đều có thể suy diễn, chụp mũ miễn sao đạt được mục tiêu tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trong quá trình tồn tại và phát triển, bên cạnh những thành tựu, không một quốc gia, dân tộc nào không có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước, bên cạnh những thành quả đạt được, Đảng và Nhà nước Việt Nam không phủ nhận trong xã hội đã và đang tồn tại những vấn đề nổi cộm. Để giải quyết những vấn đề đó nhằm củng cố niềm tin trong nhân dân, Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt; đồng thời cũng kiên quyết lên án, đấu tranh không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề ấy để tiến hành các chiêu trò nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam. Bản chất của chiêu trò “chính trị hóa” các vụ án hình sự nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch ngày càng hiện rõ. Thực tế cho thấy các thế lực thù địch luôn tận dụng triệt để mọi cơ hội có thể để thực hiện chiêu trò "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Cho dù chiêu trò đó phần nào chứng tỏ sự bất lực của các thế lực thù địch trước thực tiễn sinh động của đất nước Việt Nam, nhưng cần phải thấy rõ đây là một âm mưu chính trị và hoạt động chống phá hết sức nguy hiểm. Mỗi người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước cần nhận thức rõ về chiêu trò này và kiên quyết lật tẩy, đấu tranh, phản bác. Mặt khác mọi người dân cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không ngộ nhận trước chiêu trò ấy, không tin vào luận điệu xuyên tạc, suy diễn, quy chụp của những phần tử cơ hội chính trị, phản động cực đoan; không tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Học thuyết kinh tế mác-xít là cơ sở lý luận của công nghiệp hóa, hiện đại hóa - điều không thể bác bỏ

Nhiều vấn đề lý luận liên quan đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu và trình bày ở những mức độ khác nhau. Đó là cơ sở lý luận cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; đồng thời, bác bỏ ý kiến cho rằng, học thuyết kinh tế học mác-xít đã lỗi thời. . Để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C. Mác bắt đầu từ hàng hóa và chỉ ra rằng, chính những quan hệ giá trị - quy luật giá trị là tiền đề kinh tế cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Với việc phân tích giá trị và quy luật giá trị, C. Mác đã chứng minh quan hệ giá trị đã làm cho con người tách khỏi những lệ thuộc cá nhân, gắn kết họ lại trong quan hệ xã hội, tạo lực đẩy cho sự phát triển kinh tế. Quy luật giá trị chính là một sức mạnh kinh tế, chỉ ra hướng phát triển là nên làm những gì có lợi, theo tiếng gọi của thị trường. Nó gợi mở tư duy về tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh, ưu tiên cho các cực tăng trưởng mà hiện nay chúng ta đang bàn đến trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bộ “Tư bản” của C. Mác không chỉ trình bày một trong hai phát kiến lớn nhất của Ông là Học thuyết giá trị thặng dư mà còn trình bày những phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường, là bộ sách lớn nhất về “kinh tế thị trường” mà ngày nay những nhà kinh tế học mác-xít cần phải dựa vào để tổng kết thực tiễn kinh tế thị trường hiện đại. Những nguyên lý về sản xuất hàng hóa, thị trường, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, thị trường vốn, tín dụng, tích lũy vốn, tuần hoàn, chu chuyển vốn, quy luật lưu thông tiền tệ cho đến nay vẫn không ai bác bỏ được. Nó cũng đã bác bỏ luận điểm cho rằng, cơ chế thị trường mà chúng ta đang xây dựng để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa không có gì có thể học được ở C. Mác, rằng học thuyết kinh tế Mác đã lỗi thời! C. Mác đã dành phần lớn bộ “Tư bản” để phân tích sự vận động của tư bản (cả tư bản cá biệt và tư bản xã hội) trong cơ chế thị trường. Luận điểm quan trọng của Ông là sự lớn lên của tư bản, thông qua cơ chế không ngừng biến phần lớn giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tích lũy). Với tiêu chí số một là giá trị thặng dư, việc tăng tốc quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, trong đó các yếu tố tăng vòng quay của đồng vốn, không ngừng tích lũy, thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản, dùng lao động sống để đánh thức tiềm năng của lao động vật hóa,… là yếu tố sống còn đối với mỗi nhà tư bản cũng như nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nếu gạt bỏ yếu tố tư bản chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy rằng, đó là cơ chế đích thực để phát triển kinh tế. Nó còn cho thấy, tăng tích lũy, tăng đầu tư vốn, thay đổi kết cấu kỹ thuật của sản xuất là cơ sở của sự tăng trưởng. Và chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay chính là chuyển từ nền kinh tế không có tích lũy (tái sản xuất giản đơn) sang nền kinh tế có tích lũy (tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu) với quy mô ngày càng lớn. Học thuyết tái sản xuất mác-xít cũng gợi mở nhiều điều về mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng, giữa tích tụ và tập trung vốn, cũng như những cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Thế mà, có ý kiến cho rằng, công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, chúng ta không học được gì từ học thuyết kinh tế của C. Mác! Để nghiên cứu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, tức là quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, C. Mác đã nghiên cứu ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp: hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí (máy móc và công nghiệp lớn). Điểm xuất phát lịch sử của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là số đông người làm việc cùng một lúc, ở cùng một nơi, dưới sự điều khiển của một nhà tư bản. Như vậy, nội dung của quá trình sản xuất đã có sự thay đổi trong tổ chức lao động, đó là quá trình lao động xã hội trực tiếp, là hiệp tác. Hiệp tác và phân công trong công trường thủ công là hai giai đoạn kế tiếp nhau của cuộc cách mạng trong lao động, khi kỹ thuật sản xuất còn là thủ công. Nó xã hội hóa trực tiếp quá trình lao động và tạo ra sức sản xuất mới của lao động (sức sản xuất xã hội). Quá trình chuyên môn hóa lao động chính là cách thức tăng sức sản xuất cá nhân của con người lên và chuẩn bị những cơ sở cho sự thay đổi trong công cụ lao động. Hai giai đoạn này có thể xem như thời kỳ chuẩn bị để “cất cánh”. Cuộc cách mạng công nghiệp (công nghiệp hóa) đã đưa chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn phát triển thứ ba - giai đoạn đại công nghiệp cơ khí. Lúc này, nền sản xuất xã hội đã có được cơ sở vật chất kỹ thuật trong tay mình là kỹ thuật cơ khí và nhờ kỹ thuật này đã giải phóng sức sản xuất cá nhân khỏi những giới hạn về thể chất tự nhiên của con người, tạo cơ sở để ứng dụng khoa học vào sản xuất, từng bước đưa khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Với quá trình công nghiệp hóa, nền kinh tế được đặt trên cơ sở công nghiệp và cùng với nó là quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thực hiện cuộc đại phân công lần thứ hai trong nền sản xuất xã hội, tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và biến nó thành một ngành sản xuất độc lập. Đó là sự bùng nổ có tính dây chuyền trong quá trình công nghiệp hóa ở một số ngành mới ra đời, kéo theo những ngành khác xuất hiện. Nếu kinh tế hàng hóa lấy phân công lao động xã hội là cơ sở, thì chính công nghiệp hóa với những chuyển dịch trong cơ cấu nền sản xuất xã hội là nội dung vật chất của quá trình chuyển sang kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường. Đó cũng là nội dung chính của quá trình tăng năng suất lao động xã hội. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi để phát triển kinh tế (phương thức sản xuất) thì lực lượng sản xuất là nội dung, là yếu tố động nhất và quyết định nhất, mà trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của chúng ta hiện nay thì phải thực hiện nhiều trình độ, từ trình độ cơ khí đến trình độ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0); trong đó phải chú trọng tận dụng thành tựu của cách mạng 4.0, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (trong đó có cơ cấu thành phần kinh tế) mới thúc đẩy được lực lượng sản xuất phát triển. Chính trên cái nền của lực lượng sản xuất được công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra mà từng bước xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Bằng quan điểm duy vật lịch sử, C. Mác cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, xác định vai trò quyết định của cơ sở kinh tế và tính tích cực, chủ động của kiến trúc thượng tầng. Quan hệ này gợi mở ý tưởng về vai trò điều hành của Nhà nước với quá trình phát triển kinh tế mà ở nước ta hiện nay là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong điều kiện hiện nay, việc vận dụng học thuyết kinh tế Mác vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cần phải lưu ý rằng: công nghiệp hóa mà C. Mác nghiên cứu là mô hình công nghiệp hóa cổ điển, lấy việc thay đổi trong sản xuất làm nền tảng và giải pháp cơ bản, coi tích lũy và đầu tư là nguồn gốc chính của sự tăng trưởng. Điều đó đòi hỏi ngày nay phải kế thừa và phát triển học thuyết kinh tế Mác về công nghiệp hóa vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trí thức. Nếu chỉ kế thừa mà không phát triển để phê phán các ông thì không đúng với tinh thần và mong muốn của những người sáng lập ra học thuyết kinh tế mác-xít. Trong số các nhà kinh điển, lịch sử đã trao cho V.I. Lê-nin một sứ mệnh đặc biệt, trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã phát triển ở Nga và nước Nga Sa hoàng có trình độ phát triển công nghiệp đứng thứ năm châu Âu, song chính quyền Xô-viết do V.I. Lê-nin lãnh đạo đã phải đứng trước thù trong, giặc ngoài, nội chiến khốc liệt, đẩy nền kinh tế nước Nga trong những năm đầu của chính quyền Xô-viết tới tình trạng kiệt quệ. Trong bối cảnh đó, V.I. Lê-nin rất nhiều lần nhấn mạnh tới việc phải phát triển đại công nghiệp bằng mọi cách, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Đây thực chất là cuộc cách mạng công nghiệp, xây dựng cơ cấu tái sản xuất mà bộ phận nòng cốt là cơ khí và điện khí. Kế hoạch điện khí hóa nước Nga đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Dưới sự lãnh đạo của V.I. Lê-nin, những nguồn tài chính, vật chất, trí tuệ trong điều kiện còn khó khăn đã được ưu tiên để xây dựng các nhà máy điện và cơ khí với khẩu hiệu: “Chủ nghĩa xã hội là chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc”. Trong những năm nội chiến (1918 - 1921), nước Nga Xô-viết bắt buộc phải thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến”, mà mục tiêu trước hết là giữ vững chính quyền Xô-viết non trẻ. Sau khi nội chiến kết thúc vào năm 1921, đứng trước một thực tế so với năm 1913, sản lượng đại công nghiệp giảm bảy lần, vận tải đường sắt giảm bốn lần, sản lượng nông nghiệp giảm hai lần, diện tích gieo trồng giảm 25 triệu héc-ta, số đầu súc vật giảm 30%, V.I. Lê-nin đã đề xướng và lãnh đạo thực hiện “chính sách kinh tế mới” (NEP), một quyết sách nhằm cứu vãn tình hình kinh tế Nga. NEP đã chuyển hướng sự chú trọng vào những ngành làm cơ sở cho công nghiệp, thay vì tập trung sức phát triển công nghiệp nặng, trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. V.I. Lê-nin cho rằng, phải khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp, thay đổi quan hệ nhà nước với nông dân. Chính sách cộng sản thời chiến xóa bỏ kinh tế tư nhân và thủ tiêu kinh tế hàng hóa ở nông thôn đã triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế, vi phạm quan hệ chính trị giữa giai cấp công nhân với nông dân. V.I. Lê-nin cho rằng, nền tảng vững chắc của chuyên chính vô sản chính là liên minh công - nông. Nếu để mất nông dân, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Vì vậy, khôi phục kinh tế nông thôn, tôn trọng lợi ích kinh tế của nông dân là cơ sở kinh tế của khối liên minh công - nông, là tạo ra nền tảng xã hội, chính trị cho chuyên chính vô sản. Trong chính sách kinh tế mới, việc phát triển kinh tế hàng hóa, chấn hưng nông nghiệp, chính sách tô nhượng và chủ nghĩa tư bản nhà nước là những giải pháp để phát triển kinh tế ở những giai đoạn đầu, nhằm đưa nền kinh tế tới đại công nghiệp, v.v. Đây là một trong những cơ sở để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà Đảng ta đã xác định. Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, trong đó có những tư tưởng về công nghiệp hóa. Một là, xác định mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là làm sao cho “dân giàu, nước mạnh”, “mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”. Quán triệt quan điểm đó của Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định: “Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hai là, công nghiệp hóa phải bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Quan điểm lấy nông nghiệp làm điểm xuất phát được Hồ Chí Minh xác định ngay từ năm 1960, khi miền Bắc tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng: nước ta là nước nông nghiệp, muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính; phải cải tạo và phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hóa nước nhà, phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới phát triển mạnh. Khi nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp, Người chủ trương phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, coi trọng áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, đồng thời chú trọng sản xuất lương thực, thực phẩm và nông nghiệp xuất khẩu. Người còn khẳng định, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cả hai chân, nông nghiệp và công nghiệp. Những tư tưởng trên đây thể hiện tính quy luật của những bước đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, quy luật bước khởi đầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quan điểm bắt đầu từ nông dân được Hồ Chí Minh giải thích: đa số dân ta là nông dân, mỗi việc đều phải dựa vào dân; nông dân là quân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minh chủ yếu, tin cậy nhất của giai cấp công nhân và là lực lượng cơ bản cùng giai cấp công nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ trương phát triển nông nghiệp, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn mà Đảng ta đã xác định trong các nghị quyết gần đây hoàn toàn phù hợp với chính sách kinh tế mới do V.I. Lê-nin khởi xướng và quan điểm, tư tưởng nói trên của Hồ Chí Minh. Ba là, các biện pháp tạo động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Theo Hồ Chí Minh, sau khi xác định mục tiêu và điểm xuất phát thì yếu tố quyết định kết quả là ở hệ thống động lực của sự phát triển. Nó thể hiện ở các giải pháp sau: (i) Coi trọng yếu tố con người, con người là trung tâm của sự phát triển, tập trung sức phát triển giáo dục - đào tạo, quan tâm đến lợi ích cá nhân và lợi ích toàn xã hội. (ii) Đề cao công tác quản lý, Người cho rằng: trong công cuộc xây dựng nước nhà, việc quản lý kinh tế, tài chính là cực kỳ quan trọng. Người nhắc nhở: phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể, kế hoạch phải chắc chắn, cân đối. Chớ đem điều kiện chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế. (iii) Đẩy mạnh sản xuất phải đi liền với thực hành tiết kiệm: cả cuộc đời Hồ Chí Minh là mẫu mực về chăm lo phát triển sản xuất và tiết kiệm vì đời sống nhân dân; coi tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là điều kiện để cải thiện đời sống, khi đời sống được cải thiện lại tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất hơn nữa. Bốn là, phát động quần chúng đấu tranh khắc phục những yếu tố tiêu cực cản trở sự phát triển, quan trọng nhất là chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Những di huấn đó của Hồ Chí Minh hiện nay đang là vấn đề thời sự nóng bỏng trong việc đẩy lùi nguy cơ tham nhũng, buôn lậu, trong yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia để tạo điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ những vấn đề trình bày trên cho thấy cơ sở khoa học của việc tiếp tục học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, học tập học thuyết kinh tế mác-xít nói riêng để vận dụng vào sự nghiệp xây dựng đất nước, nhằm sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên cơ sở đó, vừa kiên định với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc tính khoa học, cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Việt Nam thực hiện đầy đủ cam kết thúc đẩy quyền con người .

Luôn đặt người dân ở trung tâm của phát triển, trong những năm qua Việt Nam đã, đang làm hết sức mình để bảo đảm hòa bình, ổn định, phát triển bền vững, thúc đẩy quyền con người và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) là cơ chế mới và liên chính phủ của Hội đồng Nhân quyền được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2008. Cơ chế này có nhiệm vụ rà soát tổng thể các vấn đề nhân quyền tại tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc, bất kể lớn hay nhỏ, phát triển và đang phát triển, định kỳ 4, 5 năm một lần. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II mà Việt Nam chấp thuận. Cách tiếp cận tích cực, cởi mở và minh bạch Việt Nam thực hiện Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát lần đầu vào tháng 5/2009, nhận được 123 khuyến nghị từ 60 nước, chấp thuận 96 khuyến nghị, 5 khuyến nghị khác đã và đang được thực hiện tại thời điểm rà soát. Phiên rà soát cơ chế định kỳ phổ quát chu kỳ II về Việt Nam diễn ra vào ngày 5/2/2014 tại Geneva, Thụy Sỹ, nhận được sự quan tâm cao với 106 nước đăng ký phát biểu. Kết thúc phiên đối thoại, Việt Nam nhận được 227 khuyến nghị. Các khuyến nghị tập trung vào các lĩnh vực​ cải cách tư pháp, pháp luật, thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, đảm bảo quyền của các nhóm yếu thế, đảm bảo an sinh xã hội, tạo việc làm; tăng cường hợp tác với các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. Hầu hết các nước phát biểu ghi nhận hoặc đánh giá cao các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo các quyền con người kể từ sau phiên rà soát lần đầu tiên năm 2009, nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm lo cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số... Nhiều nước cũng đánh giá Báo cáo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát của Đoàn Việt Nam có chất lượng tốt, cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình đảm bảo quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam đã có cách tiếp cận tích cực, cởi mở và minh bạch trong quá trình soạn thảo Báo cáo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát với sự tham gia của nhiều cơ quan Chính phủ, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và của người dân... Tại khóa họp lần thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền (tháng 6/2014), Việt Nam đã chính thức công bố việc chấp thuận 182/227 khuyến nghị, chiếm hơn 80% tổng số khuyến nghị nhận được. Các khuyến nghị tập trung vào 7 lĩnh vực​ cải cách hệ thống pháp luật về quyền con người; tiếp tục tăng cường và bảo vệ các quyền con người trên các lĩnh vực kinh tế​-xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị; đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương; giáo dục về quyền con người; tiếp tục gia nhập các chuẩn mực quốc tế về quyền con người; thực hiện nghĩa vụ quốc tế về quyền con người; hợp tác quốc tế về quyền con người. Đồng thời Việt Nam giải thích rõ các khuyến nghị không chấp thuận (gồm 45 khuyến nghị) là do đề cập đến các lĩnh vực chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc thù và pháp luật của Việt Nam hoặc chưa có đồng thuận quốc tế như tạm ngừng hoặc hủy bỏ án tử hình; sửa đổi một số điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự, tham gia ngay một số điều ước quốc tế... Mặc dù không chấp nhận nhưng Việt Nam sẽ cân nhắc các khuyến nghị này để có thể thực hiện khi điều kiện thực tế cho phép. Đánh giá cao sự phối hợp của Việt Nam với những cơ quan thực hiện cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc trong việc triển khai Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, ông Kamal Malhotra, Điều phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, Trưởng Đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng, tiến trình triển khai Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát cần đảm bảo tính độc lập quốc gia, giúp công tác báo cáo kịp thời, triển khai các khuyến nghị được hiệu quả, nâng cao chất lượng tương tác, tính bổ trợ của tiến trình Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát. Thiết lập hệ thống giám sát Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát hiệu quả là rất quan trọng. Việc thiếu những kỳ hạn rõ ràng, không có chỉ số cụ thể thì việc giám sát chương trình hành động Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát đặt ra thách thức trong việc theo dõi biến chuyển và tiến độ của việc thực hiện. Những chuyển biến tích cực trong thực tế Ngay sau khi nghiên cứu các khuyến nghị đã được chấp thuận, Việt Nam đã phân công các bộ, ngành triển khai thực hiện. Tại Quyết định số 2057/QĐ-TTg ngày 23/11/2015, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể triển khai các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, đảm bảo phối hợp liên ngành. Bộ Ngoại giao là cơ quan chủ trì, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kế hoạch này, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Kế hoạch hành động thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát hướng đến chu kỳ III, dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 1/2019. Cho biết việc thực hiện các khuyến nghị Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức quốc tế (Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh, sau hai năm tính từ tháng 6/2014 đến hết ngày 31/12/2016, có 147 khuyến nghị đã được triển khai thực hiện và có 4 khuyến nghị được thực hiện một phần, trong tổng số 182 khuyến nghị Việt Nam đã chấp thuận, đạt 80,7%. Về cải cách hệ thống pháp luật về quyền con người, từ năm 2014-2016, hàng chục văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân đã được thông qua nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong hệ thống luật pháp, đã sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Công ty, các quy định pháp luật về xuất cảnh, quốc tịch, nhận con nuôi theo tinh thần cởi mở, thông thoáng; ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Báo chí, Luật Xuất bản... Do vậy, trên thực tế, các quyền dân sự, chính trị của người dân, bao hàm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do đi lại, quyền tham gia đời sống chính trị, quyền của người dân tộc thiểu số, của nhóm yếu thế trong xã hội... được nhận thức, tôn trọng và được bảo đảm tốt hơn. Về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự, chính trị, 7/7 khuyến nghị về việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người nói chung; 29/32 khuyến nghị về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; 26/36 khuyến nghị về quyền dân sự, chính trị đã được triển khai thực hiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.900 USD năm 2013 lên 2.215 USD năm 2016. Số người được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế tăng 25,05% ở xã đạt chuẩn nông thôn mới. Công tác an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm cao, kịp thời thực hiện chính sách hỗ trợ, giải quyết các khó khăn cho người dân tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, đẩy mạnh triển khai Chiến lược quốc gia về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. Các tổ chức xã hội và người dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, chính sách của Nhà nước. Người dân được tạo điều kiện tiếp cận và sử dụng Internet để thực hiện quyền tự do ngôn luận. Hiện có khoảng 50 triệu người sử dụng Internet tại Việt Nam, chiếm 52% dân số. Các tổ chức tôn giáo ngày càng được tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động. Về quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, 34/35 khuyến nghị đã được thực hiện. Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình quốc gia đạt kết quả cao: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020; Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2012-2020; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em 2012-2020; Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020. Việt Nam thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đã ban hành cho đối tượng bảo trợ xã hội, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương. Trong lĩnh vực giáo dục về quyền con người, đã thực hiện 9/12 khuyến nghị. Tại Việt Nam, nhận thức của người dân, đặc biệt là giới trẻ về quyền con người được nâng cao. Các bộ, ban, ngành tích cực triển khai các chương trình, kế hoạch tuyên truyền về quyền con người, đặc biệt là phổ biến, đào tạo về Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế và các văn kiện nhân quyền quốc tế; nỗ lực và chính sách của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người. Hiện Việt Nam đã thực hiện 10/19 khuyến nghị liên quan đến gia nhập các Công ước quốc tế về quyền con người; 2 khuyến nghị được thực hiện một phần. Việt Nam chính thức là thành viên của 7/9 Công ước chủ chốt của Liên hợp quốc về quyền con người. Ngày 28/11/2014, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn việc tham gia Công ước Chống tra tấn (CAT) và Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD). Việt Nam tích cực thực hiện các nghĩa vụ, cam kết quốc tế về quyền con người như đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016; đang đảm nhận tốt vai trò thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018, Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2015-2019; tham gia tích cực, có trách nhiệm tại Ủy ban liên chính phủ ASEAN về quyền con người (AICHR)... Qua việc thực hiện Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II, Việt Nam đã đề cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam đổi mới, sẵn sàng đối thoại và đóng góp tích cực về mọi vấn đề quyền con người mà quốc tế quan tâm. Có được điều đó là nhờ chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người và những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc Đổi mới toàn diện đã tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người tại Việt Nam./.