Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

LẠI CỐ Ý XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH VIỆT NAM

Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền dân chủ, quyền con người. Hàng năm Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại New York (Mỹ) lại tung ra cái gọi là Báo cáo Thế giới, cố ý xuyên tạc tình hình thực hiện quyền con người ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Năm nay cũng vậy, Báo cáo Thế giới năm 2021 dày tới 761 trang của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) nêu ra có nhiều nội dung không đúng, sai lệch với thực tế ở Việt Nam. Chúng ta kiên quyết bác bỏ sự xuyên tạc này.

Dư luận đã quá quen thuộc với cái gọi là “Báo cáo Thế giới hàng năm” hay còn gọi là “Phúc trình Thường niên” mà Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) đưa ra. Trong bản báo cáo năm 2021 mà họ tự cho là cập nhật và đánh giá tình hình nhân quyền của hàng trăm quốc gia trên khắp thế giới, như thường lệ, Tổ chức Theo dõi nhân quyền tiếp tục khoác “chiếc áo quan tòa” phán xét vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

Thực chất, Báo cáo Thế giới năm 2021 này không có gì mới. Đó vẫn là những cáo buộc vô căn cứ về cái gọi là “Việt Nam gia tăng trấn áp những người cổ vũ cho các quyền dân sự và chính trị cơ bản”; hay cái gọi là “Việt Nam lo sợ dân chủ, truyền thông độc lập và các quyền tự do”.

        Trong bản báo cáo này, Tổ chức Theo dõi nhân quyền tiếp tục bao che, dung túng cho những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, sử dụng mạng xã hội vi phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, cổ súy tuyên truyền chống phá đất nước và những thành quả đổi mới của toàn dân tộc ta, trong đó có những cái tên như Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn- tự xưng là nhà báo của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam; hay Phạm Thị Đoan Trang, tự xưng là một cây bút-blogger nổi tiếng…

Cần khẳng định rằng ở Việt Nam hoàn toàn không có những người gọi là “nhà hoạt động và bất đồng chính kiến” bị bắt giữ và xét xử. Ở Việt Nam chỉ có những công dân vi phạm pháp luật Việt Nam bị bắt giữ, truy tố và xét xử như Nguyễn Tường Thụy, với vai trò tự xưng là Phó Chủ tịch của cái gọi “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, thường xuyên đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kêu gọi đa nguyên, đa đảng đăng tải trên trang blog cá nhân; facebook cá nhân và website của “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”; hay Phạm Thị Đoan Trang, do bị tác động, lôi kéo của các đối tượng có tư tưởng chống chế độ, đã tham gia các cuộc biểu tình, gây rối an ninh, trật tự…

Rõ ràng Nguyễn Tường Thụy, Phạm Thị Đoan Trang… hay nhiều đối tượng khác tự coi mình là các nhà dân chủ hay bất đồng chính kiến, vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý. Đây là việc làm chính xác và cần thiết bởi lẽ đã vi phạm pháp luật-thì ở quốc gia nào cũng không thể dung thứ. Ngay cả ở Mỹ, mới đây, khi một nhà lãnh đạo có những phát ngôn, hành vi kích động đám đông, thì dư luận Mỹ cũng phản ứng gay gắt, thậm chí tài khoản của nhà lãnh đạo này còn bị khóa vĩnh viễn. Cũng trong vụ việc này, nhiều chính khách và người dân Mỹ đã lên tiếng, đòi phải xử lý nghiêm những kẻ quá khích, gây rối, xâm phạm đến chính thể nước Mỹ. Nói vậy để thấy rằng, Tổ chức Theo dõi nhân quyền đã cố tình thông tin lập lờ, đánh giá sai lệch hoàn toàn về tình hình nhân quyền Việt Nam. Tổ chức này đã can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia, vi phạm các quy chuẩn quốc tế.

Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền dân chủ, quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến. Các quyền con người được quy định một cách rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; việc đảm bảo quyền con người là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam; quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp. Mọi công dân có quyền bình đẳng, có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân Việt Nam được nâng lên.

Đặc biệt trong năm 2020 vừa qua, người dân hoàn toàn ủng hộ, chung sức cùng Đảng, Nhà nước Việt Nam không chế và phòng chống thành công đại dịch COVID19, góp phần quan trọng vào việc Việt Nam đạt tăng trưởng dương ở mức 2,91%. Nếu Việt Nam vi phạm nhân quyền, không lắng nghe dân, không chăm lo cho lợi ích của người dân thì liệu có làm được điều này không?

Theo báo cáo của trang mạng "We are social", năm 2020 Việt Nam có hơn 68 triệu dân sử dụng internet (chiếm tỷ lệ 70% dân số) với mục đích sinh kế, học tập, giải trí trực tiếp, biểu đạt và thực hiện các quyền con người của mình, kể cả những quyền dân sự, chính trị như tham gia đóng góp ý kiến với các dự thảo văn bản chính sách, pháp luật, văn kiện Đại hội Đảng. Do đó, không có chuyện Việt Nam vi phạm nhân quyền hay “bắt giữ người bất đồng chính kiến” như những cáo buộc vô căn cứ của Tổ chức theo dõi nhân quyền.

Tổ chức theo dõi nhân quyền đã nhiều lần đưa ra những thông tin thiếu khách quan, sai lệch về Việt Nam; cổ súy cho những đối tượng chống đối cũng như các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Việc họ vội vã kết luận “năm 2020, thêm một năm tồi tệ khủng khiếp nữa với nhân quyền ở Việt Nam”, là hoàn toàn sai sự thật và không thể chấp nhận được. Người dân Việt nam nhận thức rõ những động cơ xấu của Tổ chức theo dõi nhân quyền, họ không hướng tới những giá trị tốt đẹp của cuộc sống người dân, mà thực chất họ chỉ muốn lợi dụng cái gọi là vi phạm nhân quyền như một cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, của các quốc gia có chủ quyền./. St

 

 ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 - SỨC MẠNH KHÁT VỌNG HOÀ BÌNH VÀ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Đại thắng mùa Xuân 1975 kết thúc thắng lợi chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), đồng thời kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm đấu tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc.
Sức chiến đấu kiên cường, bền bỉ toàn dân tộc
Năm 1954, thực dân Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, buộc phải ký kết Hiệp định Geneva (7/1954) rút khỏi Đông Dương. Tuy nhiên, ngay sau đó, thực hiện chính sách “lấp chỗ trống”, đế quốc Mỹ nhảy vào tiến hành chiến tranh xâm lược, âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Để thực hiện mưu đồ trên, Mỹ dựng lên chính quyền, quân đội tay sai, ra sức phá hoại Hiệp định Geneva, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam.
Chỉ trong vòng 4 năm (1954 - 1958), cả miền Nam tổn thất 9/10 số cán bộ, đảng viên; gần 90 vạn đồng bào yêu nước bị bắt, tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn, giết hại... Trước âm mưu, hành động xâm lược của địch, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn nằm dưới sự đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và tay sai.
Như vậy, khác với 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, kẻ thù của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến lần này là đế quốc Mỹ, đứng đầu thế giới tư bản chủ nghĩa với tiềm lực kinh tế, quân sự rất hùng mạnh. Để đương đầu, đánh thắng kẻ thù đó, đòi hỏi nhân dân Việt Nam phải có sức mạnh rất lớn - sức mạnh chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, hay nói một cách khác, đó là sức mạnh khát vọng hòa bình và thống nhất đất nước, tập trung cao độ trước hết ở đường lối kháng chiến.
Trên cơ sở phân tích đặc điểm tình hình trong nước, bối cảnh quốc tế cũng như khu vực có liên quan, Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng (khóa II) lần thứ 15 (đầu năm 1959) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) đã vạch ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo, đó là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Từ năm 1965, để cứu nguy cho chế độ Sài Gòn, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh, nhiều loại vũ khí, trang bị cùng phương tiện chiến tranh hiện đại vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam; đồng thời mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam.
Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương Đảng (khóa III) lần thứ 12 đã thêm một lần nữa khẳng định nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng thiêng của cả dân tộc, của nhân dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc; từ đó đề ra quyết tâm: động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.
Đường lối kháng chiến do Đảng đề ra đã đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả nước, thực sự trở thành ngọn cờ dẫn dắt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nhau đoàn kết phát huy sức mạnh tổng hợp vì lý tưởng cách mạng cao đẹp mà lịch sử đặt ra. Sức mạnh đấu tranh nhờ đó được biểu hiện phong phú, nhân lên gấp bội, biến thành hành động thực tiễn qua nhiều phong trào thi đua yêu nước sôi nổi khắp cả nước, từ hậu phương đến tiền tuyến. Điển hình như các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang”... ở miền Bắc; các phong trào “Bám đất, giữ làng”, “Một tấc không đi, một li không dời”, “Giết giặc lập công”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”... ở miền Nam; hay quyết tâm “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”... trên tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam. Tất cả đều hướng đến mục tiêu độc lập, hòa bình và thống nhất non sông.
Một nhà sử học Mỹ đã nhận xét rằng: Lịch sử phải đánh giá họ (người Việt Nam - miền Nam cũng như miền Bắc) cao nhất về sức chiến đấu ngoan cường và dũng cảm của con người. Còn cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara thì thừa nhận: nước Mỹ thua trận vì đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thúc đẩy họ đấu tranh cho giá trị và mục tiêu cao cả.
Bằng sức mạnh đó, trải qua gần 20 năm liên tục chiến đấu anh dũng kiên cường, bền bỉ, quân dân Việt Nam lần lượt từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh của kẻ thù: chiến tranh đơn phương, “tố cộng, diệt cộng” (1954 - 1960), “chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965), “chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969 - 1973), buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân viễn chinh về nước. Đây là thắng lợi cơ bản, mở ra bước ngoặt mới cho sự nghiệp kháng chiến.
Quyết tâm giành toàn thắng
Với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, tuy rút quân viễn chinh về nước, song đế quốc Mỹ lại lập ra bộ chỉ huy quân sự trá hình, tiếp tục viện trợ cho chính quyền, quân đội Sài Gòn ra sức phá hoại Hiệp định hòa bình vừa mới ký kết, hòng kéo dài chiến tranh xâm lược.
Về phía cách mạng, chúng ta thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris, nhưng trước hành động phá hoại trắng trợn, có hệ thống của địch, buộc nhân dân ta phải tiếp tục đấu tranh để giữ vững thành quả cách mạng, từ đó tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Hội nghị Trung ương Đảng (khóa III) lần thứ 21 (7/1973) đã khẳng định: bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam vẫn là con đường bạo lực, do đó phải nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công để giành toàn thắng.
Đến cuối năm 1974, đầu năm 1975, cục diện chiến tranh có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng. Đáp ứng yêu cầu cấp cách mạng đặt ra, Đảng họp Hội nghị Bộ Chính trị (30/9- 7/10/1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (18/12/1974-8/1/1975), chính thức hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, làm thay đổi nhanh chóng, toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta; tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam.
Thực hiện quyết tâm mà Bộ Chính trị đề ra, cả dân tộc “ra quân” trong mùa Xuân 1975 lịch sử. Chưa bao giờ, khát vọng hòa bình, thống nhất non sông của quân dân ta diễn ra sục sôi cao trào như thời điểm này. Chỉ ba tháng đầu năm 1975, hậu phương miền Bắc đã dốc sức đưa vào chiến trường miền Nam gần 12 vạn cán bộ, chiến sĩ; chi viện 230 nghìn tấn vật chất các loại, bảo đảm 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải...
Sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam thời kỳ này không chỉ tạo nên sức mạnh áp đảo về thế và lực so với quân địch, phục vụ tốt yêu cầu Tổng tiến công và nổi dậy, mà còn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng vùng giải phóng trên tất cả các mặt: kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế... chuẩn bị cho việc tiếp quản vùng giải phóng khi chiến tranh kết thúc.
Được sự chi viện to lớn của miền Bắc, trên khắp chiến trường miền Nam, quân dân ta ra sức chuẩn bị các mặt cho trận quyết chiến quyết định cuối cùng. Chưa bao giờ, các phong trào đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, ngoại giao diễn ra sôi nổi như thời gian này, đẩy chính quyền, quân đội Sài Gòn lún sâu hơn vào tình thế khó khăn, hoàn toàn bị cô lập. Sức mạnh chiến đấu từ hơn 20 năm được dồn lại cho thời khắc lịch sử này.
Sau một thời gian chuẩn bị mọi mặt tạo thế, tạo lực, ngày 4/3/1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta bắt đầu, diễn ra với ba đòn tiến công chiến lược lớn: Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4/3 đến 3/4/1975), tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng (từ 21/3 đến 29/3/1975) và Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26/44 đến 30/4/1975).
Trưa 30/4/1975, quân ta tiến vào Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cả chặng đường 30 năm đấu tranh trường kỳ gian khổ (1945 - 1975). Đây chính là một trong những chiến công tiêu biểu nhất, huy hoàng nhất trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
Nhân dịp cả nước chào mừng kỷ niệm 46 năm Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ, toàn diện hơn về ý nghĩa tầm vóc sự kiện lịch sử trọng đại này. Từ đó, mỗi chúng ta càng nêu cao niềm tự hào dân tộc, biết trân trọng gìn giữ hòa bình, gìn giữ chủ quyền, từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc; ra sức thi đua lao động, học tập, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
ST

Thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

 

Trong thời gian qua, các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đã luôn tìm cách “bẻ lái”, chính trị hóa một số vụ án hình sự nhằm tạo cớ, tìm kiếm sự can thiệp từ bên ngoài vào Việt Nam, phục vụ hoạt động chống phá Nhà nước.

Các đối tượng suy diễn, cắt ghép thông tin nhằm làm sai lệch bản chất vụ án, vu khống các cơ quan chức năng, quy kết để gây ra sự nghi ngờ, hoang mang trong dư luận quần chúng, nhất là thời điểm chuẩn bị diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.

Điển hình, vào ngày 9/3, cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Ninh Bình ra quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Quốc Khánh, quê quán tại Lưu Phương, Kim Sơn, Ninh Bình; ngày 29/3, Công an TP Hà Nội thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Lê Trọng Hùng, trú tại phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cả 2 đối tượng đều bị bắt theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015, về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Ngay sau khi các đối tượng bị bắt, khởi tố, lập tức trên các trang truyền thông như “Việt Tân”, “Nhật ký yêu nước”, “Dân làm báo”, RFA, VOA… cùng facebook, blog của một số phần tử chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc, vu khống cơ quan chức năng trong hoạt động khởi tố hình sự đối với các vụ án nói trên. Các đối tượng cho rằng, việc cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam các bị can trên là “chỉ dấu cho thấy đang có đợt trấn áp trước bầu cử” nhằm bóp nghẹt, bịt miệng các “tiếng nói trái chiều”… Từ đó, họ cổ suý, kêu gọi những người “hoạt động vì dân chủ” lên tiếng đả kích, chống phá trên mạng internet.

Các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị muốn nhân cơ hội này để “tung diều trước gió”, vu cáo các cơ quan chức năng bắt Trần Quốc Khánh và Lê Trọng Hùng là vì lý do các đối tượng này tự ứng cử.

Với các thông tin sai lệch được đưa lên blog, trang mạng xã hội, các đối tượng xuyên tạc vụ án theo chiều hướng tiêu cực, hướng lái dư luận với mục đích, ý đồ xấu. Trên thực tế, việc điều tra vụ án đối với các bị can trên được tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp lý. Việc khởi tố, bắt tạm giam bị can là khi cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự, cần khởi tố để điều tra, làm rõ, xét xử theo quy định.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên cơ sở luật pháp không phụ thuộc vào thời điểm trước, trong hay sau bầu cử. Do đó, không thể vu cáo cho rằng vì chuẩn bị bước vào thềm bầu cử nên chính quyền Việt Nam mới tiến hành bắt bớ để ngăn chặn số người tự ứng cử. Hoàn toàn không có việc do các đối tượng này tự ứng cử nên mới bị bắt, đó là lập luận sai trái với động cơ xấu.

Ngay sau khi các đối tượng này bị bắt, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng thông tin trên website, fanpage với chủ đề: “Tự ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ bị bắt giam”. Trong bài viết, tổ chức này đưa ra các luận điệu rằng “chỉ vì phổ biến Hiến pháp và tự ứng cử đại biểu Quốc hội mà ông Lê Trọng Hùng (facebooker Hùng Gàn Lê), SN 1979, đã bị nhà nước Việt cộng bắt giam với cáo buộc “Tàng trữ, phát tán tài liệu chống nhà nước”.

Thông tin này được tổ chức khủng bố Việt Tân tung ra nhằm “đánh lận con đen”, lừa bịp, dẫn dắt dư luận theo hướng Lê Trọng Hùng và Trần Quốc Khánh bị bắt chỉ vì ứng cử đại biểu Quốc hội chứ không phải vì hành vi phạm pháp, chống phá Nhà nước. Tuy nhiên, khi đăng tải thông tin lại bỏ đi bản chất vụ án là các đối tượng đã có quá trình dài vi phạm pháp luật hình sự, bất chấp các hoạt động giáo dục, ngăn ngừa của cơ quan chức năng.

Trong bài viết “Bắt những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội: sự vi phạm Hiến pháp” vào ngày 29/3, trang RFA đăng tải thông tin vu cáo rằng “trước lúc bị bắt, vào ngày 18/3, trên Facebook cá nhân của mình, ông Lê Trọng Hùng đã đăng tải các hình ảnh và tài liệu cho thấy ông đã nộp đơn tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XV tại Ủy ban bầu cử thành phố Hà Nội”.

Dẫn lời của một đối tượng chống đối chính trị trong nước, RFA quy kết: “Việc bắt ông Lê Trọng Hùng với một vị bác sĩ đang ứng cử đại biểu Quốc hội, thì tôi thấy họ chà đạp lên chính luật pháp mà họ đặt ra. Bắt vào thời điểm khác còn có thể bào chữa cho việc bắt bớ, đàn áp tự do ngôn luận. Bắt ngay lúc người dân được tự do ra ứng cử thì rõ ràng họ muốn nói việc ứng cử không phải việc của dân”.

Thực tế, việc bắt và khởi tố các đối tượng theo quy định của pháp luật được các cơ quan tố tụng làm rất chặt chẽ, thận trọng, đảm bảo đúng người, đúng tội, song các phần tử chống đối, cơ hội chính trị lại cố tình định hướng, xuyên tạc để làm sai lệch bản chất của vụ án nhằm hướng dư luận theo hướng tiêu cực. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với các hành vi là khách quan, bất kỳ ai, vị trí nào, nếu sai phạm đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, theo các điều khoản tương ứng.

 Do đó, không có cớ gì khi các đối tượng này vi phạm pháp luật hình sự, hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm lại không bị khởi tố. Thời điểm diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 là lúc mà các đối tượng chống đối ra sức tuyên truyền chống phá, bản thân các đối tượng cũng nhân cơ hội này để tăng cường “múa bút”, tuyên truyền xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước, nhân dân nên việc bị cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định pháp luật là lẽ hiển nhiên. Khởi tố vụ án hình sự đối với các bị can có hành vi vi phạm pháp luật hình sự là việc làm cần thiết để đảm bảo giá trị pháp lý căn bản, đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại./.

Trước mỗi vấn đề từng người dân cần suy tính kỹ lưỡng

Thời gian gần đây, tình trạng một số người dân tụ tập gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn một số tỉnh miền Trung thực sự là điều rất đáng lo ngại. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, những khó khăn và thiệt hại không nhỏ về kinh tế, về việc làm, ảnh hưởng lớn đến đời sống của một bộ phận người dân ở 4 tỉnh miền Trung do Formosa gây ra là điều hết sức đáng trách, đáng bị phê phán. Hậu quả mà Formosa gây ra bắt nguồn từ cung cách lãnh đạo, quản lý; thể hiện trình độ hạn chế của một số cán bộ, đảng viên ở địa phương. Tuy nhiên, trước hậu quả nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã có những biện pháp chỉ đạo quyết liệt, quy rõ trách nhiệm đối với từng tập thể, cá nhân; đồng thời có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ những người dân bị thiệt hại do Formosa gây ra nhằm sớm ổn định cuộc sống. Thực tế, bằng nhiều chính sách hỗ trợ, cuộc sống của người dân ở 4 tỉnh miền Trung từng bước trở lại bình thường, thậm chí mở ra nhiều hướng đi mới trong phát triển kinh tế, khai thác tiềm năng, thế mạnh ở địa phương. Tuy nhiên, một số cá nhân, thậm chí là một bộ phận nhân dân chưa thấy hết hoặc cố tình không thấy hết sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm chính trị rất cao, thể hiện rõ trách nhiệm của mình trước nhân dân của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc giải quyết hậu quả do Formosa để lại. Với những giải pháp rất cụ thể, Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp bước đầu có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống. Đặc biệt, ngoài những chính sách hỗ trợ trước mắt, Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp còn có những chủ trương, chính sách về lâu dài, bảo đảm để mọi người dân phát huy ngành nghề truyền thống, khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương trong xây dựng và phát triển kinh tế. Hơn thế, từ vụ việc mà Formosa gây ra, Đảng, Nhà nước ta đã thể hiện rất rõ quan điểm trong phát triển kinh tế-xã hội: Không vì lợi ích kinh tế mà đánh đổi môi trường. Phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, tạo sự phát triển bền vững, vì chất lượng và cuộc sống của người dân. Việc một số người dân có thể do tự phát, có thể do bị một số phần tử kích động, lôi kéo tụ tập gây mất an ninh trật tự trên địa bàn một số địa phương miền Trung thời gian gần đây là hết sức đáng ngại. Thực tế, những hành động tự phát nêu trên của một số người dân sẽ không giải quyết được vấn đề gì mà chỉ gây thêm rối bận trong công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; gây thiệt hại về kinh tế mà trước hết là thiệt hại cho chính những người dân bị lôi kéo, kích động. Hành động của số ít người dân tham gia các lần tụ tập thực chất chỉ là sự tiếp tay cho những mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ của thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị đi ngược lại lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc. Chiêu bài của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá Đảng, chống phá Nhà nước thực sự không có gì mới, vẫn chỉ lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm cụ thể trong lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp, lợi dụng những sai phạm của một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy của Đảng, chính quyền và núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “tự do”, “nhân quyền”, “tôn giáo”... để kích động, lôi kéo. Mục tiêu mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị hướng đến không phải là vì quyền lợi của người dân, vì cuộc sống của nhân dân, mà chính là mưu đồ chính trị hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Xin hãy nhìn rộng ra một số nước trên thế giới và khu vực để thấy rõ hơn mưu đồ hết sức thâm độc của các thế lực thù địch. Ban đầu, họ lợi dụng những khó khăn trong đời sống xã hội, những bất ổn trong đời sống chính trị để tuyên truyền, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng tổ chức biểu tình, gây rối loạn xã hội. Cùng với những hoạt động trong nước, được sự “hà hơi, tiếp sức” của các tổ chức phản động ở nước ngoài, trên danh nghĩa là “ý nguyện của quần chúng nhân dân”, họ đặt ra nhiều yêu sách đòi bầu cử sớm quốc hội để thay đổi người đứng đầu nhà nước nhằm tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng, từng bước lái đất nước đi theo mục đích riêng. Tuy nhiên, sau khi đã nắm được chính quyền, họ sẵn sàng quên hết mọi lời hứa trước đó đối với nhân dân. Và hậu quả là cuộc sống của người dân đã khổ cực ngày càng thêm khổ cực. Nội chiến triền miên; nạn đói, dịch bệnh xảy ra ngày càng nghiêm trọng; tình trạng thất nghiệp gia tăng; bệnh viện, trường học bị tàn phá... xảy ra ở không ít quốc gia trên thế giới, đẩy người dân “tham gia” vào làn sóng di cư, trở thành vấn đề nhức nhối của toàn cầu. Thực tế đã diễn ra và hiện nay cũng đang diễn ra cho thấy, chính sự mất cảnh giác của nhân dân là một yếu tố khiến nhiều nước trên thế giới và khu vực từng là điểm đến hấp dẫn, là nơi “đáng sống”, là quốc gia có thu nhập cao... giờ đây trở thành những nơi bất ổn, đe dọa nghiêm trọng không chỉ cuộc sống, mà cả sinh mạng của người dân. Bất ổn về chính trị không chỉ gây hậu quả cho thế hệ người dân hôm nay mà còn gây rất nhiều hệ lụy cho các thế hệ mai sau. Sẽ không cần phải phân tích nhiều và đề cập một cách chi tiết, bởi trong điều kiện hiện nay, khi khoa học, công nghệ phát triển với sự bùng nổ của thông tin thì mọi vấn đề xảy ra trên thế giới người dân ít nhiều đều biết được, hiểu được. Bởi vậy, trước từng vấn đề, từng vụ việc, mỗi người cần bình tĩnh phân tích, nhìn nhận một cách kỹ càng để có những quyết định phù hợp, chính xác. Hiến pháp năm 2013 và văn kiện Đại hội XII của Đảng đều thể hiện rất rõ quan điểm: Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp tuyệt đối tôn trọng ý kiến của nhân dân. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách được Đảng, Nhà nước ban hành với mục tiêu duy nhất, cao nhất là hướng đến quyền lợi của người dân, vì cuộc sống của nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước đều phải phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Thời gian gần đây, nhất là sau thành công Đại hội XII của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, phong trào cách mạng trong các tầng lớp nhân dân đang diễn ra sôi nổi trên cả nước. Nhiều chương trình, kế hoạch hành động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương được công bố công khai. Nhiều vấn đề, vụ việc phức tạp được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương, chính quyền các địa phương giải quyết dứt điểm, hiệu quả. Đặc biệt, những vấn đề, vụ việc liên quan đến đời sống nhân dân, liên quan đến quyền lợi chính đáng của người dân đều được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội quan tâm, chỉ đạo hết sức quyết liệt với yêu cầu cao nhất, hiệu quả nhất, thời gian giải quyết nhanh nhất. Đảng, Nhà nước đã thể hiện rõ chủ trương, quan điểm hướng về nhân dân, hướng về cơ sở, quan tâm, chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của người dân; kiên quyết xử lý các trường hợp tập thể, cá nhân vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đặc biệt, không chỉ xử lý cán bộ sai phạm đã nghỉ hưu, nghỉ chế độ, mà những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Đảng đều bị xem xét, xử lý thích đáng. Hàng loạt vụ án nghiêm trọng được đưa ra xét xử công khai; hàng chục vụ việc phức tạp xảy ra ở một số địa phương, đơn vị được các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc, xác định rõ nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm, có những hình thức xử lý thích đáng là những minh chứng sinh động trong đổi mới phong cách, phương pháp công tác, điều hành và quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, với mục tiêu cao nhất và duy nhất: Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Với những gì nhìn thấy và đang hiện hữu trong đời sống xã hội của một số quốc gia trên thế giới, với những nỗ lực, cố gắng của Đảng, Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, với truyền thống yêu nước, đoàn kết, thủy chung... để mỗi người dân thể hiện rõ trách nhiệm của mình, trong mỗi suy nghĩ, trong từng hành động, mỗi người cần bình tĩnh, tỉnh táo, phân tích cặn kẽ, thấu đáo để không rơi vào cạm bẫy của các thế lực thù địch, mà vẫn bảo vệ được quyền lợi của mình. Truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, chính sự đoàn kết, đồng lòng của nhân dân đã tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhiệm vai trò lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước, nhân dân đã ủy thác, trao quyền, gửi gắm niềm tin, tạo nên sức mạnh đánh bại kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cứ mỗi nhiệm kỳ qua đi, mỗi năm qua đi, thế giới lại ghi nhận Việt Nam tạo thêm được những dấu ấn đặc biệt và toàn diện. Nhiều chỉ tiêu thiên niên kỷ chúng ta đã hoàn thành; đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện; quyền sống, quyền con người, quyền tự do ngày càng được coi trọng. Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn và an toàn trong nhận xét, đánh giá của bạn bè quốc tế. Những kết quả có được ấy khởi nguồn từ sự ổn định về chính trị; trong đó, sự đồng thuận của nhân dân, của xã hội mang yếu tố quyết định. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, những thành tựu ấy mới chỉ là những bước tạo dựng ban đầu trong điều kiện còn rất nhiều khó khăn, phức tạp đặt ra ở phía trước. Tương lai dân tộc, vận mệnh của đất nước không chỉ phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, mà quan trọng chính là bắt nguồn từ sức mạnh đoàn kết, đồng lòng của mọi tầng lớp nhân dân./

Loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất ra khỏi Đảng

Để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay đạt hiệu quả, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cần nhìn thẳng vào sự thật để thấy nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên nằm trong sự lạc hậu, hạn chế trong công tác lý luận, trong công tác xây dựng Đảng, trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị, trong quản lý Nhà nước về kinh tế-xã hội… “Nếu không nhận thức sâu sắc và quyết tâm xóa bỏ được các căn nguyên này, mọi giải pháp khác sẽ khó phát huy hiệu quả, hoặc chỉ có tính chất nhất thời, không thể giải quyết cơ bản vấn đề. Khắc phục các nguyên nhân sâu xa này có thể được coi là điều kiện cơ bản nhất, vừa là giải pháp chủ yếu nhất để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”- PGS.TS Vũ Văn Phúc nhấn mạnh. Thạc sỹ Nguyễn Thị Mai Anh, Tạp chí Cộng sản cho rằng, “trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập theo tấm gương Bác Hồ. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Theo TS Nguyễn Đình Hòa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, cùng với việc tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác, cần chú ý giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên để họ thực sự trở thành những công bộ, đày tớ trung thành của nhân dân. “Nếu mọi người luôn cảnh giác và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vốn biểu hiện và được che đậy dưới nhiều hình thức tinh vi, cũng có nghĩa họ đã thực sự có ý thức vươn tới cái chung, vì tập thể, cộng đồng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, Đảng trở nên vững mạnh, có năng lực trí tuệ và sức chiến đấu cao chính là do đội ngũ của mình gồm những con người vừa hồng, vừa chuyên”. PGS.TS Vũ Văn Phúc cho rằng, cùng với việc thực hiện quyết liệt, đồng bộ một hệ thống các nhóm giải pháp, cần thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng, triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế-xã hội, trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, duy trì thường xuyên trong sinh hoạt Đảng. Bổ sung các thang giá trị đạo đức, các phẩm chất cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ. “Cán bộ lãnh đạo quản lý phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”- PGS.TS Vũ Văn Phúc đề xuất. Theo PGS.TS Vũ Văn Phúc, cùng với các giải pháp trên, cần thực sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên bằng việc ban hành và thực thi quy định chặt chẽ hơn về kết nạp đảng viên mới bảo đảm chất lượng, kiên quyết không chạy theo số lượng để ngăn chặn những kẻ cơ hội, thực dụng thâm nhập vào hàng ngũ Đảng. Nghiên cứu để có cách thức đánh giá, xếp loại đảng viên thực chất hơn, đủ sức thanh lọc, loại bỏ những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Không dung nạp những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa. Cùng với đó, cần khẩn trương rà soát, loại bỏ các cơ chế, chính sách không còn phù hợp. “Rà soát cơ chế, chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước, xóa bỏ những kẽ hở trong pháp luật, chính sách dễ bị những kẻ tham nhũng lợi dụng”./.

Chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ tiềm ẩn

PGS. TS Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản cho rằng, phải đặt ra vấn đề là vì sao tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn diễn biến nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi? Phải chăng chúng ta chưa đánh giá được chính xác mức độ, tính chất của tình hình, chưa chỉ rõ được nguyên nhân, chưa đề ra được giải pháp đồng bộ và đủ mạnh hay thiếu các điều kiện để thực thi giải pháp? Theo PGS. TS Vũ Văn Phúc, tình trạng này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chính. Trong đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, hoạt động kém hiệu quả. Có biểu hiện xem nhẹ giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xem nhẹ giáo dục đạo đức cách mạng. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp. “Cùng với đó, công tác quản lý cán bộ, đảng viên bị buông lỏng. Bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện và học tập, để chủ nghĩa cá nhân phát triển, chi phối làm xói mòn bản chất tốt đẹp của người đảng viên”. TS Nguyễn Đình Hòa, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam cũng cho rằng, chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Đó là các nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra… Trong bối cảnh như vậy, rất nhiều việc “cần làm ngay” để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, cần đặt trọng tâm vào một số nội dung cơ bản. Trong đó cần coi trọng đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. “Thái độ xem nhẹ việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, chưa nghiêm túc thực hiện phê và tự phê bình… khiến không ít cán bộ, đảng viên sa ngã trước những cám dỗ đời thường”. Sự không chiến thắng, không vượt qua nổi cái “tôi” nhỏ bé để thành nô lệ của những ham muốn cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vừa là nguồn gốc sâu xa, vừa là sự tiếp tay dẫn đến những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, mất đoàn kết… Chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ tiềm ẩn, thường xuyên bởi nó núp ngay trong bản thân mỗi con người” - TS Nguyễn Đình Hòa nhấn mạnh.

Phát huy tiềm lực của người Việt Nam ở nước ngoài

Hơn 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc. Vì thế việc trở về, tham gia đóng góp công sức, trí tuệ vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước là nguyện vọng của rất nhiều người. Có thể nói, chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam đã và đang tạo điều kiện thuận lợi để tâm nguyện đó trở thành hiện thực. . Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ ba (Hội nghị) vừa diễn ra tại TP Hồ Chí Minh đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận trong nước, ngoài nước. Tại Hội nghị, nhiều tiếng nói tâm huyết và niềm mong mỏi được đóng góp nhiều hơn cho đất nước đã được cất lên. Và không khí của Hội nghị đã phản ánh sự thay đổi to lớn trong nhận thức, cũng như sự tự ý thức về trách nhiệm của người Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Với sự có mặt của hơn 500 đại biểu đến từ 36 quốc gia và vùng lãnh thổ, có thể nói, Hội nghị đã đạt kết quả tốt đẹp. Điều này gợi nhớ tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ nhất tổ chức năm 2009, không ít đồng bào còn dè dặt, có tâm lý thăm dò, nghe ngóng, thậm chí còn dè chừng vì trở về nơi cư trú sẽ chịu “điều tiếng” từ những người thiếu thiện chí. Đến Hội nghị lần thứ ba này, dường như tâm lý đó đã được xóa bỏ. Trên diễn đàn Hội nghị, nhiều ý kiến đóng góp thẳng thắn, cởi mở đã được chia sẻ. Xóa bỏ định kiến và mặc cảm để cùng đi tới, chung tay đóng góp công sức với đất nước là mong mỏi của nhiều bà con; và đất nước cũng trông đợi điều đó, như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Đất nước luôn chào đón những người con của dân tộc trở về, đem theo tấm lòng, hoài bão, ý tưởng, nguồn lực, để đóng góp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Như chuyện trở về của một người Mỹ gốc Việt - bà Kiều Linh Caroline Valverde (Ca-rô-lin Van-véc-đe) đã khiến nhiều người xúc động. Rời Việt Nam đến Mỹ lúc 5 tuổi, môi trường sống mới khiến bà quên tiếng Việt, quên phong tục tập quán của người Việt Nam mà bà mới học được đôi điều. Nhưng câu hỏi: “Nếu là người Việt thì điều gì khiến mình nhận ra nguồn gốc của mình?” luôn trở đi trở lại trong tâm trí, và đã thôi thúc bà Kiều Linh học tiếng Việt để lấy đó làm phương tiện, rồi từng bước kết nối với quê hương. Bà nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở Mỹ. Tác phẩm Transnationalizing Vietnam (Xuyên quốc gia Việt Nam) là thành quả từ quá trình tìm hiểu rất công phu, tâm huyết của bà. Rồi bà Kiều Linh trở về Việt Nam, dành thời gian, công sức nghiên cứu lịch sử đất nước, cũng như tìm hiểu mối liên hệ giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Hiện là giáo sư, tiến sĩ giảng dạy tại Đại học UC Davis về văn hóa Việt Nam và châu Á, bà Kiều Linh vẫn không ngừng tham gia các hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế. Bà đang mong muốn mở một trung tâm nghiên cứu Việt Nam tại Đại học UC Davis. TS Nguyễn Thanh Mỹ - người con của tỉnh Trà Vinh, rời Việt Nam sang Canada khi đã trưởng thành. Ông được biết đến như một doanh nhân thành đạt ở Canada với Công ty American Dye Source Inc (ADS) chuyên nghiên cứu, sản xuất vật liệu hữu cơ dùng trong ngành in, phát quang, điện tử hữu cơ, tạo hình ba chiều, màng biến đổi năng lượng mặt trời hữu cơ, chống hàng giả... Năm 1999, ông về thăm quê hương. Theo ông, chính chuyến đi “định mệnh” ấy, được tận mắt nhìn những đổi thay ở Việt Nam, nhất là chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc kêu gọi người Việt Nam ở nước ngoài trở về đầu tư, kinh doanh, xây dựng, phát triển đất nước đã thôi thúc ông phải làm điều gì đó ý nghĩa cho quê nhà. Dự án Mylan Chemicals và Mylan Printing Media (hoạt động trong lĩnh vực hóa chất, vật liệu quang điện tử, vật tư ngành in) có vốn đầu tư ban đầu 10 triệu USD là một hành động ý nghĩa và rất thiết thực của TS Nguyễn Thanh Mỹ với quê hương Trà Vinh. Theo thông tin được phản ánh trên báo chí, sau 6 năm đi vào hoạt động, sản phẩm từ Tập đoàn Mỹ Lan của TS Nguyễn Thanh Mỹ đã xuất khẩu đến các nước như Mỹ, Canada, Tây Ban Nha, Trung Quốc..., và Tập đoàn cũng trở thành nhà sản xuất bản kẽm CTP có uy tín quốc tế... Sự trở về của bà Kiều Linh, ông Nguyễn Thanh Mỹ chỉ là hai thí dụ cho thấy tấm lòng tâm huyết của đông đảo người Việt Nam ở nước ngoài với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong nhiều năm qua. Từ năm 1993 tới năm 2004, số người Việt Nam ở nước ngoài về nước tăng từ 160.000 lượt người/năm lên 430.000 lượt người/năm, tức là tăng gần ba lần. Hàng nghìn dự án được đầu tư về trong nước, nhờ đó lượng kiều hối không ngừng tăng. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), từ năm 1991 đến nay, lượng kiều hối về Việt Nam tăng bình quân hằng năm đạt mức trên 38%; tổng lượng kiều hối về Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2015 đạt khoảng 108,6 tỷ USD. Riêng năm 2015, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đón lượng kiều hối là 12,25 tỷ USD (tăng khoảng 0,25 tỷ USD so với năm 2014), đứng thứ 11 trên thế giới. Bên cạnh đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tích cực phát huy vai trò làm cầu nối giữa Việt Nam với các nước trên thế giới; sự hợp tác của nhiều doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài với doanh nghiệp, doanh nhân trong nước đã mở rộng cánh cửa thị trường quốc tế cho hàng hóa Việt Nam. Đặc biệt, sự tham gia của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài cũng góp phần tạo các “cú huých” trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ... và triển khai các dự án từ thiện xã hội ở trong nước. Số liệu thống kê của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho biết, 10 năm qua, bình quân hằng năm có khoảng 300 lượt trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc, và tiếp tục tăng trong các năm gần đây. Không thể không nhắc tới tên tuổi các trí thức với trí tuệ và tâm huyết đã trở về tham gia giảng dạy, bồi dưỡng thế hệ trẻ trong nước, như: GS, TS Trần Thanh Vân (ngành vật lý - Pháp); GS, TS Võ Văn Tới (ngành hàng không - Mỹ); GS Trương Nguyện Thành (ngành hóa lượng tử - Mỹ); TS Nguyễn Đình Uyên (ngành viễn thông - Mỹ)... Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ ba vừa qua là một trong những biểu hiện sinh động cho tính đúng đắn, hiệu quả từ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã nhấn mạnh: Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước... Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW trong giai đoạn 2016 - 2020, ngày 5-4-2016 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó đề ra các nhiệm vụ cụ thể gồm: 1. Tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết số 36-NQ/TW và Chỉ thị số 45-CT/TW; 2. Thực hiện đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; 3. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ kiều bào ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại; 4. Bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về người Việt Nam ở nước ngoài; 5. Huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 6. Tăng cường thông tin tuyên truyền đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; 7. Hỗ trợ cộng đồng duy trì tiếng Việt, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; 8. Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả các hình thức tập hợp, vận động kiều bào; 9. Kiện toàn bộ máy tổ chức, cơ chế phối hợp làm công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. Đó là các nội dung hết sức thiết thực, vừa thể hiện quan điểm nhất quán, vừa là tấm lòng của người Việt Nam trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài. Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu kể trên, rất cần sự chung sức, chung lòng của cộng đồng người Việt Nam trong nước và ngoài nước. Tin tưởng rằng khi tiềm lực của người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng phát huy và cộng hưởng, chắc chắn sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để đất nước phát triển bứt phá mạnh mẽ về mọi mặt.

Giữ vững bản chất cách mạng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng vừa nêu ra mới đây là: “Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”. .Để phòng chống nguy cơ này, việc cần thiết hiện nay là phải khẳng định rõ tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam, từ đó củng cố, tăng cường niềm tin vào thể chế tiến bộ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn, xây dựng. Trong lịch sử xây dựng, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản lý của các nhà nước XHCN trước đây nói chung, nhà nước ta nói riêng, khái niệm “Nhà nước pháp quyền” chưa được đề cập và thực tế có lúc chưa được nhận thức đầy đủ. Sau sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng ta đã nhìn nhận những nguyên nhân làm tan rã Liên Xô và các nước Đông Âu, trong đó có một trong những nguyên nhân cơ bản là hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước yếu kém, buông lỏng pháp luật, vi phạm nguyên tắc pháp chế XHCN (tức là nguyên tắc yêu cầu nhà nước, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải triệt để chấp hành pháp luật, tôn trọng tính tối cao của hiến pháp); đồng thời chúng ta cũng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ về pháp quyền của các nước phát triển trên thế giới, trong đó có những tiến bộ về sử dụng công cụ của pháp luật trong tổ chức các thiết chế nhà nước, quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Sau khi giành chính quyền năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng đề cao pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật - một công cụ quản lý xã hội văn minh, hiệu quả. Điều đó đã được chứng minh khi ngày 3-9-1945, chỉ sau đúng một ngày tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu một trong những nhiệm vụ cấp bách đầu tiên của Chính phủ là phải xây dựng một bản hiến pháp dân chủ. Trong phiên họp đó, Bác Hồ đã chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”. Ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I họp tại Hà Nội đã thông qua bản Hiến pháp năm 1946, với tỷ lệ phiếu gần như tuyệt đối, 240/242 đại biểu dự họp. Những tinh thần pháp quyền cơ bản đã thể hiện ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên với những chế định rất tiến bộ như: Tư tưởng về quyền con người, quyền công dân (tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài...); sự phân công quyền lực nhà nước, các nhánh quyền lực nhà nước; nhân dân bầu ra các cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, đồng thời có quyền bãi miễn các đại biểu do mình bầu ra... Trên cơ sở kế thừa tinh thần pháp quyền của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN. Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng (khóa VII, năm 1994) đã mở ra mốc dấu quan trọng khi lần đầu tiên, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” được ghi nhận, cho dù tinh thần pháp quyền đã hiện thực hóa ngay từ những ngày đầu lập quốc. Quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của mình, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ với nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực to lớn nhằm phát huy dân chủ XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN. Thực tiễn của 30 năm đổi mới đã khẳng định, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan tất yếu mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Trong quá trình đổi mới, những nhận thức lý luận của Đảng ta trong vấn đề Nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ, sâu sắc. Chủ trương của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã trở thành nguyên tắc hiến định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Các quan điểm chủ đạo của Đảng ta về xây dựng mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã phản ánh các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và các giá trị dân chủ và nhân đạo chung trên thế giới, được vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm của các quốc gia về cách thức tổ chức nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hòa với các giá trị truyền thống, đặc điểm và lịch sử phát triển của đất nước. Trong những bước đi đầu tiên xây dựng nhà nước pháp quyền, bên cạnh những thành tựu lớn đã được nhân dân, cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, chúng ta không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm và điều đó Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới đối với nước ta. Sự phân định vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được chế định rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức thực hiện pháp luật và pháp chế XHCN chưa nghiêm”. Tuy nhiên, sự chưa hoàn thiện đó không đồng nghĩa với việc phải tìm kiếm bản sao mô hình nhà nước pháp quyền ở một nước nào đó và trên thực tế cũng chứng minh, chưa khi nào và không bao giờ có “bản sao nhà nước pháp quyền” của chung hai quốc gia. Trong tác phẩm “Tinh thần của pháp luật”, nhà tư tưởng người Pháp Mông-te-xki-ơ từng viết: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc mà vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này”. Nhà triết học người Đức G.Hê-ghen cũng đã từng có quan điểm tương tự khi ông viết: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình... Mỗi một chế độ nhà nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần riêng của một dân tộc và của trình độ phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi”. Kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới cũng cho thấy, mọi sự “bắt chước, sao chép” mô hình nhà nước pháp quyền mà không dựa trên điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa, đặc điểm dân tộc, chế độ chính trị của mỗi quốc gia, thì mô hình nhà nước đó khó có thể phát huy hiệu lực, hiệu quả. Thế nên, nếu ai đó lên tiếng đòi hỏi nước ta phải từ bỏ Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, để sao chép mô hình thể chế “tam quyền phân lập” một cách máy móc, là thiếu tính khoa học, không có cơ sở thực tiễn. Hay ai đó còn xuyên tạc con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta là “đảng trị thay pháp trị”, cũng là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và vô hình trung tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, nên cần phải cảnh tỉnh, phê phán.

Cảnh giác và đấu tranh với luận điệu bịa đặt, dựng chuyện

Những năm gần đây, một thủ đoạn mà các thế lực xấu, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thường tiến hành là khai thác một số hiện tượng rồi suy đoán, bịa đặt, dựng chuyện để đưa lên in-tơ-nét. Vì thế, cảnh giác, tỉnh táo đấu tranh với thông tin loại này trở thành một yêu cầu cấp bách trong cuộc đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị. . Ngày 13-9-2016, trong bài đăng trên blog của RFA, blogger Kami viết: “trong cuộc đối đầu với nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, các cá nhân hay tổ chức chính trị đã tận dụng việc sử dụng truyền thông để tiến hành và thực hiện cuộc chiến tranh tâm lý, trên cơ sở một ma trận thông tin thực ảo lẫn lộn, để tấn công vào sự nghi ngờ, thậm chí là bất mãn của dân chúng,…”, rồi ông ta “Xin khẳng định đây là điều cần thiết và phù hợp cần được cổ vũ”! Có lẽ vì không thể chịu nổi cái lối Kami cổ xúy cho sự gian trá, ngày 14-11 vừa qua, Nguyễn Quang Duy (thành viên tổ chức khủng bố “Việt tân”, hiện sống ở Australia (Ô-xtrây-li-a), từng giữ vai trò đại diện cho cái gọi là “tổ chức 8406” tại Ô-xtrây-li-a mà ngày 20-11 vừa tuyên bố “ngừng sinh hoạt”!) công bố bài viết vạch rõ việc cách đây sáu năm “Kami bịa ra chuyện Wikileaks công bố một tài liệu “tuyệt mật” động trời liên quan đến Việt Nam”, và để tạo niềm tin Kami viết: “Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ”; Nguyễn Quang Duy bình luận: “Gần sáu năm nay Wikileaks chưa đưa ra một thông tin nào về việc này… Điều đáng tiếc cho đến nay vẫn còn người tìm cách chứng minh điều bịa đặt nói trên là “sự thật”…”! Trên thế giới, những thủ đoạn chiến tranh tâm lý mà Kami cổ vũ vốn vẫn được coi là sản phẩm của thuyết âm mưu, và có thể tìm hiểu thuyết này qua định nghĩa tại mục từ Thuyết âm mưu (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia). Theo đó, thuyết âm mưu là: “sản phẩm trí tưởng tượng nhằm giải thích về những chuyện đã và đang diễn ra. Dù không có bằng chứng xác thực để chứng minh nhưng những nghi ngờ vẫn bao phủ khắp thế giới”, người viết mục từ này nhận xét: “Thuyết âm mưu nghe qua rất hấp dẫn, ly kỳ nên được nhiều người tin theo, bàn tán, thêm các chi tiết. Đáp ứng nhu cầu tò mò, phức tạp hóa vấn đề của dư luận, báo chí thường xuyên đăng các câu chuyện do giới theo thuyết âm mưu kể hay phân tích”. Trên thế giới đã xuất hiện nhiều sự kiện, vấn đề thu hút sự chú ý của dư luận vốn được coi là sản phẩm của thuyết âm mưu, như cho rằng: vụ ám sát Tổng thống John F.Kennedy (J.F.Ken-nơ-đi) không phải do một người mà do nhiều người, hoặc hung thủ làm việc cho FBI, KGB thậm chí cho ma-phi-a (?); tai nạn xe hơi dẫn đến cái chết của công nương Diana (Đi-a-na) là hành động ám sát do gia đình Hoàng gia Anh thực hiện nhằm ngăn cản bà tái hôn (?); năm 1969, tàu vũ trụ Apollo 11 hạ cánh xuống mặt trăng chỉ là trò giả mạo của Hoa Kỳ để đánh bại Liên Xô (trước đây) trong cuộc đua lên mặt trăng (?); một số phòng thí nghiệm tạo ra vi-rút HIV và thử nghiệm thành công tại châu Phi, hoặc là vi-rút HIV do Cục Tình báo trung ương Mỹ hoặc Ủy ban An ninh quốc gia Nga tạo nên để giảm dân số thế giới (?). Thậm chí về vụ khủng bố 11-9-2001 tại New York (Niu Oóc - Hoa Kỳ), cũng đã có một số ý kiến lý giải, kết luận theo thuyết âm mưu được công bố, như: đây là vụ khủng bố được cố tình cho phép hoặc là một chiến dịch đánh lừa công luận do Chính phủ Hoa Kỳ tiến hành (?); sự sụp đổ của tòa tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới là kết quả của việc phá hủy có kiểm soát hơn là sự suy yếu của chính cấu trúc (?); khủng bố dễ dàng cướp bốn chiếc máy bay và tiến hành vụ khủng bố là nhờ có trợ giúp từ “bên trong” (?)... Gần đây hơn, vào ngày 6-9 vừa qua, sau khi một chiếc xe Mercedes bất ngờ lấn trái làn đường trên đại lộ Kutuzovsky (Ku-tu-dốp-xky) ở Matxkva (Mát-xcơ-va, Nga) đã đâm vào một chiếc BMW công vụ, lập tức những người theo thuyết âm mưu cho rằng đó là âm mưu ám sát Tổng thống Nga V.Putin. Song sau đó cơ quan chức năng Nga khẳng định, chiếc xe này dành cho nghị sĩ tỉnh Vologda (Vo-lốt-đa) sử dụng; hơn nữa vào thời điểm đó mọi người đều biết ông V. Putin không có mặt ở Nga… Qua sản phẩm của thuyết âm mưu trên đây có thể thấy về bản chất, đó chỉ là những giả thuyết xây dựng trên suy đoán chủ quan, không có bằng chứng xác thực, tin cậy từ các bên liên quan. Có một điểm chung đáng chú ý, những sản phẩm này thường tập trung vào hiện tượng, sự kiện, vấn đề giật gân, gợi tò mò, đã hoặc đang thu hút sự quan tâm của dư luận, hướng người đọc vào kết luận đó là kết quả của âm mưu. Như Giáo sư V.Pagan (V.Pa-gan) tại Đại học Florida (Phờ-lo-ri-đa, Hoa Kỳ) từng nhận xét: “Điều gây kích thích luôn nằm ở việc tìm kiếm bằng chứng về sự dính líu của bàn tay vô hình”. Đáng chú ý hơn, người theo thuyết âm mưu thường không quan tâm tìm hiểu các quan hệ bản chất, có tính quyết định, mà dựa trên một số hiện tượng đơn lẻ, đặc biệt là hiện tượng xuyên tạc bản chất để suy đoán, kết luận. Như Giáo sư T.W.Eagar (T.W.I-ga) ở Học viện Công nghệ Massachusetts (Ma-sa-chu-sét, Hoa Kỳ) cho rằng, người theo thuyết âm mưu “sử dụng phương pháp khoa học nghịch lý. Họ định đoạt những gì đã xảy ra, loại bỏ tất cả những dữ kiện nào mà họ thấy không phù hợp với kết luận của họ, rồi tung hô những gì họ tìm thấy là kết quả duy nhất có thể có”! Tương tự, trong bài “Conspiracy theory” (thuyết âm mưu) là gì? - Nguyễn Huy Hoàng chuyển ngữ từ các định nghĩa được đánh giá cao nhất trên urbandictionary.com, đã đưa ra cảnh báo rất xác đáng: “Cho nên tuyên bố một chuyện gì đó là thuyết âm mưu vẫn là một cách hữu hiệu đáng báo động để khiến người ta theo phe những kẻ hoàn toàn không có một luận điểm, bất chấp việc gọi một chuyện là thuyết âm mưu vô lý đến thế nào. Nhớ rằng, những cái mác là thứ rất nguy hiểm, chúng có thể dễ dàng ảnh hưởng đến nhận thức của người khác khi bản chất của chúng chỉ là để bóp méo sự thật”. Do khả năng lan truyền, ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nhiều sản phẩm từ thuyết âm mưu đến tâm lý tiếp nhận của người đọc mà nhiều năm nay, các thế lực xấu, thù địch ngày càng tỏ ra hết sức thâm độc trong việc sử dụng thuyết âm mưu làm công cụ xuyên tạc, vu cáo, vu khống, dựng chuyện,… để gieo rắc thông tin bịa đặt, từng bước gây mơ hồ, hoang mang, làm xói mòn niềm tin vào Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đặc biệt từ khi in-tơ-nét phát triển, bài vở xuất phát từ thuyết âm mưu ngày càng nhiều hơn, điển hình trong đó là sản phẩm của mấy kẻ như Phạm Trần, Ngô Nhân Dụng, Tưởng Năng Tiến, Kami, Bùi Thanh Hiếu (blogger Người buôn gió),… và một số “nhà báo, chuyên gia, nhà nghiên cứu” là người nước ngoài! Thủ đoạn chung trong sản phẩm của mấy người này là khai thác, tận dụng, dựa trên một (hay một số) con người, hiện tượng, sự kiện, vấn đề được dư luận quan tâm, để ghép nối với một (hay một số) con người, hiện tượng, sự kiện, vấn đề hiện tượng khác, và nhặt nhạnh một số tư liệu đã công bố bổ sung cho có vẻ xác thực, thêm thắt một số chi tiết mùi mẫn, giật gân để gợi sự tò mò của người đọc, sau đó bình luận, bịa đặt, suy đoán có lớp lang để biến thành vấn đề hệ trọng, khẳng định đó là hậu quả của âm mưu, thủ đoạn của “bàn tay vô hình”. Để gia cố sự thuyết phục, khi trình bày, những kẻ này cố tỏ ra rất am hiểu, nắm chắc vấn đề, trích dẫn đông tây tạo vẻ uyên bác, điểm xuyết bằng loại thông tin không thể kiểm chứng như “một nguồn tin cao cấp cho biết”, “một lãnh đạo giấu tên khẳng định”, “một tài liệu mật phổ biến trong nội bộ viết”,… Sau khi công bố, những sản phẩm này thường lập tức được khai thác, đăng tải tại rất nhiều địa chỉ trên mạng, từ trang tiếng Việt của RFA, BBC, VOA, RFI,… đến blog, facebook của một số cá nhân, tổ chức xấu, thù địch với Việt Nam. Như khi RFA công bố bài viết nói trên của Kami, một số địa chỉ liền vội vã đăng lại, thậm chí có kẻ sản xuất video clip đưa lên youtube… Cũng cần nhắc tới sự trơ tráo của mấy kẻ này là kể cả khi sự việc được xác minh và điều bịa đặt bị bác bỏ, thì họ vẫn không xấu hổ, thậm chí còn tảng lờ, tiếp tục sử dụng điều đã bịa đặt để công bố. Cho nên không chỉ dư luận lành mạnh, ngay kẻ “cùng hội, cùng thuyền” với họ cũng không thể chấp nhận, như ngày 27-10-2016, Mai Tú Ân - một nhân vật chống cộng, công bố bài nhan đề Hãy hạ cánh an toàn, các ông trùm thuyết âm mưu, trong đó viết: “Cùng với việc chộp lấy đề tài khai thác rồi biến tấu theo ý mình của một số nhà đấu tranh dân chủ hàng đầu, nhưng lại là những đồ đệ của thuyết âm mưu đã khiến cho hầu hết người đọc chúng ta thấy chết ngợp vì sung sướng, khi thấy các chuyên gia của chúng ta nói vanh vách… Cứ y như họ là ma xó… Nhưng đáng tiếc, một số người viết có uy tín đã nâng cao quan điểm chính trị, mà hạ thấp đi các giá trị sự thật để tô vẽ những chuyện này thành những huyền thoại không có thực…, thưa các nhà đấu tranh thuộc thuyết âm mưu, thuyết phe nhóm và các nhà tưởng tượng ra các cuộc thanh trừng nội bộ, rồi thuyết ly khai cùng các âm mưu đen tối, các cuộc đảo chính cung đình... thì tìm đâu ra một con người”! Như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ, một trong các nguyên nhân chủ quan dẫn tới tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là chúng ta: “Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị”. Thiết nghĩ, đó là một trong những lý do để sản phẩm từ thuyết âm mưu do các thế lực xấu, thù địch truyền bá có cơ hội lan truyền. Vì thế, luôn cảnh giác và đấu tranh để vạch trần luận điệu bịa đặt, dựng chuyện của chúng là một nhiệm vụ quan trọng với xã hội nói chung, với báo chí nói riêng. Điều này không chỉ đúng với Việt Nam, mà đúng với mọi quốc gia.

“Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về chính trị trong Đảng” .

Hội thảo là hình thức đấu tranh trực tiếp với các quan điểm thù địch, luận điệu xuyên tạc, lợi dụng cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng để chống phá Đảng và Nhà nước ta. . Ngày 30/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị Công an nhân dân (Bộ Công an) tổ chức Hội thảo khoa học “Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về chính trị trong Đảng”. Trình bày báo cáo đề dẫn tại Hội thảo, GS.TS Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương cho biết, Đảng ta ngay từ khi thành lập đã xác định đúng đắn và đấu tranh kiên quyết bảo vệ đường lối, chống lại các tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh khác nhau trong các lĩnh vực, lý luận, kinh tế, văn hóa, văn nghệ... Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong lịch sử Đảng đã góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng trong mỗi thời kỳ. Đồng thời đấu tranh về tư tưởng, lý luận cũng đã góp phần phát triển các quan điểm lý luận đúng đắn, tuyên truyền sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong Đảng và xã hội; góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên. GS.TS Vũ Văn Hiền nhấn mạnh, trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước vừa qua, cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận của Đảng diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới, mang tính phức tạp và quyết liệt hơn. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở một loạt các nước Đông Âu là cái cớ để các thế lực thù địch phủ nhận sự đúng đắn, khách quan của chủ nghĩa xã hội trên thế giới; để đẩy mạnh tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội. Sự kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn là đề tài “ưa thích” để các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bằng đủ các luận điệu khác nhau. Trong mỗi giai đoạn cụ thể, lợi dụng những khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết trên con đường đi lên của công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch lại tăng cường chống phá, “đẻ” ra hàng loạt các luận điệu xuyên tạc chống lại quan điểm, đường lối của Đảng. Cũng theo GS.TS Vũ Văn Hiền, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tăng cường và không từ một thủ đoạn nào để bóp méo, xuyên tạc, vu cáo, cản trở công việc của chúng ta. Trong hoàn cảnh đó, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, không chỉ làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá các thế lực thù địch trên lĩnh vực lý luận, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển công tác nghiên cứu lý luận, góp phần hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng. Đây thực sự là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững mối quan hệ máu thịt bền chặt giữa Đảng với nhân dân. “Cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái là một nhiệm vụ tất yếu của chúng ta phải làm và nhất định phải làm thật tốt”, GS.TS Vũ Văn Hiền nhấn mạnh. Hội thảo nhằm mục đích đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay; đề xuất một số giải pháp thiết thực, khả thi, góp phần đấu tranh phê phán, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Hội thảo cũng là hình thức đấu tranh trực tiếp với các quan điểm thù địch, luận điệu xuyên tạc, lợi dụng cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng để chống phá Đảng và Nhà nước ta./.

Bệnh nhân Covid-19 Ấn Độ nối tiếp nhau chết do cạn kiệt oxy

20 bệnh nhân Covid-19 lần lượt tử vong đêm 23/4 tại Bệnh viện Jaipur Golden, New Delhi, do nguồn oxy y tế cạn kiệt. Bệnh viện đã yêu cầu tiếp tế 3,5 tấn oxy, dự kiến sẽ đến vào lúc 5h chiều 24/4. Tuy nhiên, đến nửa đêm, bệnh viện mới nhận được bình dưỡng khí. Trong thời gian đó, nguồn dự trữ oxy của bệnh viện gần như cạn kiệt. Vào khoảng nửa đêm, nhiều người bệnh bắt đầu không chịu nổi. "Một thời gian ngắn sau đó, họ lần lượt tử vong, người này nối tiếp người kia", bác sĩ Deep Kumar Baluja, lãnh đạo bệnh viện, kể lại. Sáng 24/4, bác sĩ Baluja viết trên Twitter: "Chúng tôi vẫn đang chờ oxy. Sinh mạng của 215 bệnh nhân Covid-19 còn lại đang phụ thuộc vào bệnh viện. Xin hãy giúp đỡ, chúng tôi đang rất tuyệt vọng". Khoảng 25 bệnh nhân Covid-19 cũng đã chết trong vòng 24 giờ vào ngày 22/4 tại Bệnh viện Sir Ganga Ram (SGRH) do thiếu hụt oxy y tế. Khi đó, bệnh viện có hơn 140 bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch và phải thở máy. Các bệnh viện khác như Moolchand, SGRH, Batra ngày 24/4 đều thông báo khẩn về tình trạng thiếu oxy, yêu cầu sự trợ giúp từ chính quyền. Sáng 24/4, Giám đốc Bệnh viện Batra, Tiến sĩ SCL Gupta cho biết bệnh viện chỉ còn đủ oxy trong một giờ cho 350 bệnh nhân. 500 lít oxy sau đó đã được cung cấp cho bệnh viện. "Chúng tôi chỉ nhận được 500 lít oxy sau khi cầu xin trong gần 12 giờ, ít hơn nhu cầu hàng ngày là 8.000 lít. Chúng tôi có 350 bệnh nhân và sẽ rất khó điều trị cho họ nếu không có đủ bình dưỡng khí", tiến sĩ Gupta cho biết. Đến nay, Ấn Độ ghi nhận hơn 17 triệu ca Covid-19, hơn 189.000 ca tử vong. Số ca mắc trong ngày 24/4 tại Ấn Độ ở mức cao nhất thế giới, với hơn 346.000 ca. Số người thiệt mạng do Covid-19 trong vòng 24 giờ qua là 2.623. Đầu năm 2021, số ca nhiễm ở Ấn Độ dưới 9.000 và chưa đến 80 ca tử vong. Các chuyên gia cho rằng chính phủ lầm tưởng dịch bệnh đã biến mất và cho phép tổ chức các sự kiện với nhiều người tham gia. Việc nới lỏng các biện pháp, cùng với sự nổi lên của biến thể nCoV mới đã châm ngòi cho cơn sóng thần Covid-19 tại nước này. Ấn Độ đã triển khai 135 triệu liều vaccine, nhưng con số này vẫn nhỏ so với quy mô dân số 1,38 tỷ người. Đến nay, 8,23% dân Ấn Độ được tiêm ít nhất một mũi vaccine và 1,39% được tiêm đầy đủ. Chính phủ có kế hoạch tiêm chủng cho người trên 18 tuổi từ ngày 1/5, nhưng một số bang đang gặp tình trạng thiếu hụt vaccine. Viện Huyết thanh của Ấn Độ, nơi sản xuất vaccine AstraZeneca, cho biết họ sẽ không thể đạt mục tiêu làm ra 100 triệu liều trong một tháng. Kaushik Basu, giáo sư tại Đại học Cornell, đồng thời là cựu cố vấn kinh tế của chính phủ Ấn Độ, cho biết: "Thật là bi thảm. Đối với một quốc gia được mệnh danh là nhà thuốc của thế giới, chỉ có dưới 1,5% dân số được tiêm đầy đủ là một thất bại khó hiểu".

Bộ trưởng Y tế: 'Đợt dịch sau thường tàn khốc hơn lần trước'

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long nhận định bức tranh tổng thể Covid-19 trong khu vực cho thấy nguy cơ lớn dịch xâm nhập vào Việt Nam, xu hướng chung là đợt dịch sau tàn khốc hơn do biến thể mang đột biến kép. "Trong 24 giờ qua, nhìn bức tranh tổng thể Covid-19 trên toàn cầu, nhất là tại các nước trong khu vực, chúng tôi rất lo lắng về nguy cơ tình hình dịch lây nhiễm vào Việt Nam", ông Long nói sáng 25/4. Viện Pasteur TP HCM giải trình tự gene các ca nhiễm nhập cảnh từ Campuchia gần đây, kết quả 85,7% mẫu mang biến thể B1.1.7 và 14,3% mẫu mang biến thể B.1.351. Tại Ấn Độ, trong 24 giờ qua phát hiện 340.000 ca nhiễm mới. Tình hình và bối cảnh Covid-19 tại Ấn Độ được Bộ Y tế đánh giá là "hết sức đáng quan ngại". Tại Campuchia, trong 24 giờ qua ghi nhận thêm trên 600 ca nhiễm. Tại Lào, cũng trong 24 giờ, số nhiễm mới vượt qua số cao nhất từ trước đến nay của Việt Nam. Ngày ghi nhận nhiều ca mắc mới nhất ở Việt Nam là hôm bắt đầu đợt dịch liên quan Hải Dương, với 82 ca ngày 28/1. Điều lo lắng nữa khi dịch xâm nhập là các biến chủng kép nCoV tại Ấn Độ hoặc biến chủng của Anh tại Campuchia. Đây là những biến chủng được cho là mang ít nhất hai đột biến (còn gọi là đột biến kép) có khả năng lây nhiễm nhanh hơn, tử vong nhiều hơn so với các biến chủng trước. Do đó khi lây nhiễm cộng đồng, từ ổ dịch nhỏ thành ổ dịch lớn rất nhanh chóng. "Tình hình lây nhiễm hiện nay trên thế giới cho thấy tất cả những đợt dịch xảy ra lần sau thường lớn hơn, mạnh hơn và tàn khốc hơn lần trước", ông Long đánh giá. Trong thời gian qua, Ban Chỉ đạo chống dịch quốc gia và Bộ Y tế liên tục có những cảnh báo với việc có thể xuất hiện đợt dịch thứ 4 ở Việt Nam. Nguy cơ lây nhiễm từ nước ngoài vào Việt Nam hiện hữu, cộng thêm việc một bộ phận người dân lơ là, mất cảnh giác. "Ngành y tế đã chuẩn bị các kịch bản trong tình huống dịch lan rộng, tình huống dịch xuất hiện tại địa phương, nhất là với khu vực Tây Nam bộ", Bộ trưởng nói. Tây Nam bộ là khu vực trọng điểm vì tình hình lây nhiễm Covid-19 ở Campuchia, khả năng xâm nhập vào ViệtNam. Công tác kiểm soát biên giới đường bộ đã được tiến hành tốt, song kiểm soát biên giới trên đường biển là thách thức đối với tất cả các tỉnh tại khu vực này, theo Bộ trưởng. Hồi nửa đầu tháng 4, khi khảo sát Kiên Giang, đặc biệt Hà Tiên, Bộ Y tế quyết định thành lập bệnh viện dã chiến khu vực này để chủ động ứng phó khi tình huống xấu xảy ra. Lý do là từ Hà Tiên về TP Rạch Giá (thuộc tỉnh Kiên Giang) cách nhau 100 km, việc đi lại khó khăn, Hà Tiên lại đang điều trị nhiều ca Covid-19. Bệnh viện dã chiến giúp công tác cách ly điều trị bệnh nhân thuận lợi hơn. "Chúng tôi đã chuẩn bị kịch bản cho các tình huống: Xuất hiện ca nhiễm cộng đồng; Có ca lây nhiễm trong cộng đồng mà chúng ta không biết; Xuất hiện lây nhiễm mạnh trong cộng đồng", ông Long nói. Bộ trưởng Long nhấn mạnh một trong những bài học thành công trong cuộc chiến chống dịch ở nước ta là sự tham gia chủ động, tích cực của người dân. Tuy nhiên một tháng qua, Việt Nam chưa ghi nhận ca mắc mới tại cộng đồng nên người dân lơ là, chủ quan mất cảnh giác. Nhiều người ra đường không đeo khẩu trang, không thực hiện biện pháp 5K của Bộ Y tế. "Người dân cần thực hiện triệt để khuyến cáo 5K của Bộ Y tế, trong đó hai yếu tố quan trọng có thể quyết định làm giảm nguy cơ lây nhiễm là đeo khẩu trang và sát khuẩn tay", ông Long kêu gọi. Bộ Y tế đang triển khai công tác tiêm chủng vaccine Covid-19. Ông Long khuyến cáo người dân và tất cả những ai thuộc nhóm ưu tiên hãy thực hiện tiêm chủng đầy đủ. Tất cả tỉnh, thành phố, nhất là các địa phương có đường biên giới phải kiểm soát tốt tình hình nhập cảnh, đặc biệt là nhập cảnh trái phép. Người dân nếu phát hiện người nhập cảnh trái phép, cần lập tức báo với chính quyền địa phương. "Chúng tôi cũng đề nghị tất cả địa phương tăng cường giám sát, phát hiện sớm các ca nhiễm. Chuẩn bị các kịch bản như dịch lan tràn trong cộng đồng trong thời gian rất ngắn để sẵn sàng ứng phó, không lúng túng, bị động", ông Long nhấn mạnh.

Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2021

DÂN VIỆT NAM KHÔNG CHO CÁC ÔNG BỎ CHỮ NGỤY TRONG LỊCH SỬ

   GỬI CÁC ÔNG GS, TS LỊCH SỬ ĂN CƠM ĐẢNG, MẶC ÁO DÂN MÀ KHÓC THUÊ CHO BỌN NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN

1 . ( bỏ chữ ngụy để ngoại giao) các ông sai rồi nhé các giáo sư. mỹ  đưa máy bay tàu chiến bom đạn súng các loại chất độc hoá học sang sâm chiếm chém giết dân việt nam.  Có người dân nào của việt nam đưa máy bay tàu chiến sang sam lược mỹ không. Bỏ chữ ngụy có thể ngoại giao được tốt hơn thật là một điều ngu ngốc và phi lý. để ngoại giao đáng ra người mỹ phải khắc phục chiến tranh cho người việt chứ không phải yêu sách nhân dân không được kỷ niệm ngày 30 tháng tư và người mỹ còn  cho tháng tư là tháng tư đen.  Mỹ giết ngươi xâm chiếm không nhận ra lỗi còn đứng sau thu nạp và ủng hộ bọn dâm chủ cuội  người mỹ là ném đá dấu tay . người mỹ chưa bao giờ muốn Việt Nam phát triển thì lấy gì mà ngoại giao hả mấy ông lật sử.

2. Bỏ chữ ngụy cho  khởi miệt thị. Mỹ dựng bọn ngụy lên chém giết đồng bào. Ngụy chỉ là  tay sai. Kinh tế phụ thuộc. chính trị phụ thuộc. văn hoá phụ thuộc thì không gọi nguỵ thì gọi là gì. Ngụy là từ nhân văn nhất. Đáng ra phải phải đưa chúng ra toà xử tội chết nhưng người cộng sản nhân văn không giết hại . Nay bọn ngụy kết hợp với những phần tử tha hoá biến chất bọn phản động bọn  cơ hội chính trị trong nước và nhất là các nhà lật sử để chia cắt đất nước và muốn đất nước trở lại chiến tranh vậy như thế các ông bỏ chữ ngụy để phục vụ lợi ích cho bọn  cơ họ chính trị chứ không phải bỏ chữ ngụy đế khỏi miệt thị nhé.

3.  Bỏ chữ ngụy đòi lại Hoàng Sa . Các ông thật buồn cười người mỹ đã bán đảo cho TRUNG Quốc chữ bọn ngụy đâu mà bỏ chữ ngụy đòi Lại Hoàng Sa.   với Hang Sa thì miếng mồi béo bở của. Trung quốc bỏ  chữ ngụy mà đòi lại Hoàng sa ngủ mơ cũng không có . Đây là luận diệu ru ngủ người dân để thực hiện âm mưu của cá nhà lật sử. 

Bỏ chữ ngụy cho bên kia họ buồn nói nghe mà  đau lòng cho các  thương binh gia đình  liệt sĩ. Bỏ chữ ngụy cho bọn giết nhân dân họ  khỏi buồn và để hoà hợp. thật nực cười cho những lời lẽ của các giáo sư.

Chúng tôi thấy các ông bỏ chữ nguy chung qui là vì tiền vì cuộc sống giàu sang mà  các ông đưa ra nhiều câu từ thiếu thuyết phục mà lý lẽ thì trơ trẻo bẩn thỉu.  Bỏ chữ nguy cho bọn gây ra tội ác  chúng giết người  xương người việt chất thành núi màu người Việt chất thành sông bỏ chủ ngụy là   chà đạp lên xương máu của hàng triệu liệt sĩ đã hy sinh. Bỏ chữ ngụy để có nhà cao cửa rộng nhà lầu xe hơi cho các sử gia là đúng nhất. Bỏ chữ ngụy để  hạ cờ đỏ dựng cờ vàng. cuối cùng tôi gửi cho bác thưởng, bác hà, bác giang bác nhã, bác cường mấy bấc ảnh bọn mỹ ngụy tra tấn người Việt Nam trên đất nước của mình ngay nơi mình sinh ra một cách giá man.

Yêu nước ST.

Chìa khóa đánh thức tinh thần đoàn kết dân tộc

 

Có thể thấy, trong giai đoạn của cuộc chiến chống Covid-19, tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên tác động rất lớn đến quần chúng nhân dân, tạo ra sức mạnh rất lớn. Vậy chúng ta cần vận dụng bài học thành công này thế nào thưa ông?

Việt Nam đã trải qua một trận chiến chống Covid-19 căng thẳng và quyết liệt, chúng ta đã mạnh mẽ vượt qua nhờ sự vào cuộc chủ động, sáng suốt của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng thống nhất của mọi tầng lớp nhân dân. Điều này một lần nữa chứng minh sứ mệnh dẫn dắt của Đảng, tính ưu việt của chế độ chính trị nước CHXHCN Việt Nam. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Kết quả chúng ta làm được trong phòng chống dịch Covid-19 vừa rồi rất mừng, qua đây củng cố niềm tin trong nhân dân, tăng thêm uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, dân tin Đảng, tin chế độ”.

Có thể thấy, trong thời điểm gian khó, hiểm nguy, bản lĩnh tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ chốt và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền là chìa khoá đánh thức tinh thần đoàn kết dân tộc.

Đảng ta cần phát huy tốt yếu tố này trong toàn bộ hệ thống chính trị để thực hiện thành công mục tiêu kép “vừa đẩy lùi dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”. Khó khăn rồi sẽ qua đi, dịch bệnh rồi sẽ kết thúc, nhưng cán bộ, đảng viên dù ở vai trò, vị trí công tác nào cũng cần phải tự ý thức rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu, gương mẫu, đi đầu, không ngại khó, ngại khổ để xứng đáng với những kỳ vọng mà Đảng giao phó./.


Xử lý nghiêm vi phạm để siết chặt yếu tố nêu gương

 

Thực tế, có nhiều nguyên nhân khiến một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên chưa gương mẫu, chưa trong sáng. Bên cạnh ý thức tự tu dưỡng của mỗi đảng viên, một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái đạo đức cán bộ, đảng viên là việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện những chủ trương, đường lối của Đảng vẫn là khâu yếu, còn khoảng cách với đòi hỏi của thực tiễn.

Rõ ràng, việc để lọt vào bộ máy Nhà nước một số cán bộ, đảng viên có sai phạm có lỗi của tổ chức Đảng cơ sở. Bởi nếu như làm đúng nguyên tắc của Đảng, có sự giám sát chặt chẽ thì những cán bộ, đảng viên bị tha hóa bởi quyền lực đó không thể leo cao được.

Nhận thức rõ sự tha hóa về quyền lực chính là “căn bệnh” làm mất đi tính tiền phong, gương mẫu của mỗi đảng viên; về lâu dài khiến quần chúng nhân dân bức xúc dẫn đến rạn nứt mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, sau Đại hội XII, chúng ta đã rất quyết liệt trong vấn đề này. Đến nay, có thể khẳng định, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng đã thu được kết quả rất quan trọng. Đảng ta đã nghiêm khắc thi hành kỷ luật đối với số cán bộ vi phạm pháp luật, “xóa bỏ vùng cấm” trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Kể từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, các cấp có thẩm quyền đã thi hành kỷ luật nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Trong khóa này, có 2 Ủy viên Bộ Chính trị; nhiều Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc. Qua đó loại bỏ tư duy “hoàng hôn nhiệm kỳ” hoặc “hạ cánh an toàn”. Đây chính là bước tiến lớn trong quá trình quản lý, xử lý cán bộ, đảng viên trong thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương.

Mỗi cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên nêu gương, tự soi, tự sửa, tránh xa những cám dỗ vật chất nhưng nói dễ làm khó. Theo ông, Đảng cần làm gì để tạo động lực cho đảng viên phấn đấu?

Bao giờ cũng thế, để một tổ chức phát triển, cùng với việc thi hành kỷ luật nghiêm khắc, cần phải có những chính sách đãi ngộ, quy định về động viên, khen thưởng kịp thời tạo động lực phát triển.

Trong xây dựng Đảng cũng vậy, việc kỷ luật cán bộ góp phần đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng và có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên không đi “chệch đường ray”. Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng cường chỉnh đốn Đảng, cũng cần chú trọng đến việc tạo động lực phát triển cho đảng viên. Lựa chọn được cán bộ đủ đức, đủ tài đã khó, giữ được cán bộ đủ đức, đủ tài còn khó hơn.

Về nguyên tắc, đảng viên phải trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân; trong đó bao hàm cả yếu tố luôn gương mẫu, đi đầu trong các việc khó khăn, nguy hiểm. Điều này có thể tuyệt đối hóa trong thời kỳ chiến tranh hay ngay như trong chống dịch Covid-19 hiện nay. Nhưng trong cuộc sống bình thường, khi xây dựng, phát triển kinh tế, chúng ta cũng phải có cái nhìn bao dung hơn, cần phải có những chế độ đãi ngộ hợp lý để phát huy được bản lĩnh tiên phong, gương mẫu của người đảng viên. Ví dụ như tại Singapore, quan điểm của họ là thu nhập của khu vực công phải cao hơn khu vực thị trường để công bộc không nhũng nhiễu người dân.

Đất nước ta sau gần 35 năm đổi mới đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống của người dân được nâng cao. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn có thể thấy, thu nhập của cán bộ, công chức nói chung, của đảng viên nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Rõ ràng, lương thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công việc, chưa nói đến sự tiên phong, sáng tạo. Tất nhiên, đây là câu chuyện dài nếu đi vào phân tích, sẽ kéo theo nhiều vấn đề nhưng nói vậy để thấy rằng, để yếu tố “tiền phong, gương mẫu” đi vào thực chất, Đảng ta cũng cần quan tâm khen thưởng, có phương án quy hoạch, bổ nhiệm những đảng viên luôn gương mẫu, đi đầu./.


Hình ảnh rất đẹp có sức lay động hàng triệu trái tim

 

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, càng trong những thời khắc “nước sôi, lửa bỏng”, trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm của đất nước, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên càng được thể hiện mạnh mẽ.

Có thể thấy, trong thời điểm gian khó, hiểm nguy, bản lĩnh tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ chốt và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền là chìa khoá đánh thức tinh thần đoàn kết dân tộc. Đảng ta cần phát huy tốt yếu tố này trong toàn bộ hệ thống chính trị để thực hiện thành công mục tiêu kép “vừa đẩy lùi dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế”.

Như trước, chúng tôi đã ghi lại nhiều câu chuyện đời thường, giản dị trong cuộc chiến đấu chống virus SARS-CoV-2 nhưng thể hiện rõ trách nhiệm, bản lĩnh, tính tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên. Để có cái nhìn xuyên suốt về tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.


Hình ảnh rất đẹp có sức lay động hàng triệu trái tim

Trước diễn biến phức tạp, khó lường, chưa từng có tiền lệ của dịch Covid-19, rất nhiều đảng viên, từ cán bộ phường tới nhân viên y tế hay Thứ trưởng Bộ Y tế… không ngại gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng xung phong đi vào điểm nóng dịch bệnh để thực hiện nhiệm vụ, ông đánh giá thế nào về những tấm gương này?

Trước hết phải khẳng định, đây là những hình ảnh rất đẹp có sức lay động hàng triệu trái tim người Việt Nam, từ đó, thổi bùng lên tinh thần đoàn kết dân tộc, giúp Việt Nam trở thành điểm sáng trong cuộc chiến chống Covid-19. Trên mặt trận không tiếng súng ấy, khi chiến đấu với kẻ thù vô hình SARS-CoV-2, những cán bộ, đảng viên đã thể hiện được vai trò tiên phong, gương mẫu của mình.

Chúng ta không thể thống kê hết được có bao nhiêu cán bộ, đảng viên công tác trong ngành y tế, đã thức trắng đêm, hàng tháng không về nhà để làm nhiệm vụ cứu người bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; bao nhiêu cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, đã “ăn gió nằm sương” cùng với lực lượng y tế dự phòng tạo thành những “lá chắn thép” nơi tuyến đầu chống giặc.

Lâu nay, chúng ta vẫn nói đến tính tiên phong, đi đầu của người Đảng viên, tuy nhiên, trong cuộc sống bình thường, khó có thể tìm được phép thử đủ mạnh để chứng minh nó.

Chính sự gương mẫu đi đầu của những người đảng viên có sức mạnh lan tỏa, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong cộng đồng, củng cố niềm tin của nhân dân. Và sức mạnh tổng hợp từ sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc đó đã giúp Việt Nam thắng đẹp trong “chiến dịch” mở màn của cuộc chiến chống Covid-19.

Đảng ta chưa khi nào xem nhẹ yếu tố “tiên phong, gương mẫu” của người cán bộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập tới vấn đề nêu gương của người cán bộ đảng viên, Người từng nói “cán bộ là gốc của cách mạng...” hay “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” để răn dạy cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, phải giữ gìn lối sống giản dị, trong sạch và phẩm chất của người cách mạng. Trong những nhiệm kỳ vừa qua, Đảng cũng đã ban hành nhiều nghị quyết đề cập tới vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên.

        Gần đây nhất Trung ương đã ban hành Quy định số 08-QĐ/TW về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đây là sự tiếp nối Quy định số 47 QĐ/TW, ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về “Những điều đảng viên không được làm”; Quy định 101/QĐ-TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” và Quy định 55/QĐ-TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”./.