Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Có nhiều nội dung cần vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay. Trong phạm vi bài viết, xin nêu lên bốn vấn đề. 1. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Một số người cho rằng, Hồ Chí Minh không phải là nhà lý luận mà chỉ là người hoạt động thực tiễn có tài. Nhận định này không đúng, vì ở Hồ Chí Minh, tư duy và hành động kết hợp một cách nhuần nhuyễn với nhau, lý luận luôn luôn đi cùng thực tiễn, trong lý luận có chất thực tiễn đúc kết ở đó và trong thực tiễn có sự chỉ đạo của lý luận. Hồ Chí Minh hay nêu lên những cặp chỉnh thể, như học đi đôi với hành, nói đi đôi với làm, lý luận kết hợp với thực tiễn, v.v. Hồ Chí Minh nêu lên quan niệm về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế… Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi… Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ… Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách… Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”(3). Hồ Chí Minh vừa coi trọng lý luận vừa coi trọng thực tiễn vì thực tiễn khái quát nên lý luận và chính lý luận lại chỉ đạo thực tiễn. Ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy không có sự tuyệt đối hóa mặt nào giữa chúng. Thậm chí, nhìn xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh thì trong lý luận đã có thực tiễn, trong thực tiễn đã có lý luận; chỉ khi muốn nghiên cứu thật sâu với tư cách là một yếu tố chuyên biệt thì chúng ta mới có thể cắt lát riêng ra, nhưng việc cắt lát cũng chỉ là tạm thời trong một động thái nào đó của thao tác nghiên cứu, còn về bản chất của nội dung phương pháp luận này là sự thống nhất biện chứng “2 trong 1”. Điều này phải được thể hiện ngay trong cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối đúng đắn của Đảng bao giờ cũng phản ánh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn. Trong khoảng hơn ba chục năm trở lại đây, ở Việt Nam lý luận chính trị đã có một số biểu hiện của sự lạc hậu so với thực tiễn. Không ít những vấn đề thực tiễn không được lý luận soi sáng; nhiều vấn đề thực tiễn chưa được tổng kết hoặc tổng kết một cách chưa thấu đáo. Điều đó một mặt phản ánh sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình thực tiễn; mặt khác phản ánh thực trạng của công tác nghiên cứu lý luận còn nhiều hạn chế. Ở đây, cần nghiêm khắc nhìn về phía nguyên nhân chủ quan, tức là ở nhận thức tầm quan trọng của công tác này; ở việc tổ chức bộ máy; ở xây dựng đội ngũ nghiên cứu, tham mưu; ở phương pháp nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn chưa phù hợp, chưa đạt yêu cầu. Vận dụng phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay cần chú ý đặc biệt đến công tác này để khắc phục cho được tình trạng đó; đặc biệt có cả việc hoạt động của tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong từng cá nhân, cũng phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn hiện nay đang đứng trước những yêu cầu lớn. Đó là khắc phục tình trạng dạy chay, học chay, chạy theo kiến thức, ít dạy và học về kỹ năng. Cần trở lại quan điểm có tính phương pháp luận mà Hồ Chí Minh ghi trong quyển sổ của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương tháng 9/1949: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải Cần, kiệm, liêm, chính, Chí công, vô tư”(4). Có như thế mới khắc phục được tình trạng đào tạo, bồi dưỡng chưa thiết thực, còn nặng về lấy chứng chỉ, bằng cấp, mà chưa chú trọng đúng mức tới việc học để hiểu biết lý luận, vận dụng lý luận vào thực tế; tổng kết thực tiễn để bổ sung cho lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” đã được Bảo tàng Hồ Chí Minh khai mạc ngày 7/5/2020 tại Hà Nội, nhân dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020) và sơ kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự triển lãm “Những tấm gương bình dị mà cao quý” nhân dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020) và sơ kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. 2. Tính bao quát, có trọng điểm Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một tổng thể vận động với những cái chung và cả những cái riêng, những đặc điểm trong sự vận động cụ thể của điều kiện hoàn cảnh nhất định nào đó và xem xét chúng trong xu thế chung. Trong cuộc sống, Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ điều đó khi đặt con người nằm chung trong một thực thể của tự nhiên để hòa đồng với thiên nhiên, thân thiện với thiên nhiên, tác động thuận cho thiên nhiên tươi tốt hơn chứ không vùi dập, làm xấu, làm hỏng thiên nhiên. Hồ Chí Minh cũng đặt mọi hoạt động của con người vào sự vận động chung của xã hội mà con người cần là và thực tế là một thực thể tác động tích cực vào xã hội để tạo ra sự tiến bộ xã hội. Vì coi tính bao quát là một nguyên tắc tư duy và hành động, như là một phương pháp luận, cho nên Hồ Chí Minh xem xét cách mạng Việt Nam trong quan hệ tổng thể với cách mạng thế giới. Cũng chính vì thế mà Hồ Chí Minh rất ghét căn bệnh địa phương chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, biệt phái, hẹp hòi, cục bộ và hàng loạt căn bệnh khác nữa nói lên sự tách rời cái riêng ra khỏi cái chung. Người coi một con người như là một bộ phận trong một cỗ máy khi vận động tương tác nhau. Trong khi nhìn bao quát, phương pháp luận Hồ Chí Minh còn chỉ rõ điểm nhấn, cái bộ phận nào có tính trọng điểm để hướng hành động một cách tập trung ưu tiên vào đó. Trọng điểm này có khi không phải là trọng điểm của cả một quá trình dài mà chỉ là trọng điểm của một giai đoạn, một thời kỳ nào đó mà thôi. Khi nhìn lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh nhìn thấy trước hết là lực lượng lãnh đạo, lực lượng “gốc” là công nông rồi nhìn bao quát cả “đồng bào”. Hồ Chí Minh hay có cách nói, cách viết chỉ ra cho mọi người rõ cái “gốc”, cái nền tảng của vấn đề, chẳng hạn: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng; gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân; dân là gốc của nước; đạo đức cách mạng là gốc của cây, là nguồn của sông, là cái căn bản của con người, v.v. Với phương pháp luận này, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho những người cách mạng giải quyết một cách biện chứng, đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp ở Việt Nam qua các thời kỳ. Đồng thời, với phương pháp luận này, Hồ Chí Minh đã tìm thấy điểm tương đồng, từ đó nhân lên điểm tương đồng, hạn chế điểm khác biệt trong các giai cấp, tầng lớp của xã hội Việt Nam để tạo ra lực lượng cách mạng tổng hợp giành thắng lợi. Khi nhìn nhiệm vụ thì Hồ Chí Minh thấy rõ những việc “cần kíp”, “cần thiết” trong từng giai đoạn để tập trung nguồn lực vào giải quyết cho có hiệu quả. Học tập và làm theo phương pháp luận Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, cả tổ chức và cả từng cán bộ, đảng viên phải: 1) Có tầm nhìn xa và sâu về mục tiêu, con đường phát triển. Đó là yêu cầu về tính bao quát. Muốn như vậy thì phải có tầm trí tuệ, nghĩa là phải có năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền. Năng lực này không tự nhiên mà có, nó được tích lũy qua quá trình hoạt động của Đảng và sự phấn đấu bền bỉ của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực tế. 2) Cần chú trọng hơn nữa việc tổng kết quá trình thực thi những nhiệm vụ đã đặt ra. Trong tổng kết, cần chú trọng tìm tòi những quy luật vận động của tình hình. Có như thế Đảng mới có những quyết sách phù hợp thực tế, có cái nhìn bao quát, không những cho cả một thời kỳ dài mà còn cho cả những nhiệm vụ trước mặt của từng giai đoạn nhỏ. Quy luật cần được tôn trọng, nếu vi phạm thì sẽ bị quy luật trừng phạt. Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 và nhiều Đại hội tiếp theo đều nhấn mạnh vấn đề phải tôn trọng quy luật khách quan. Ở đây thuộc về bản lĩnh chính trị và tầm trí tuệ. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người lúc nào, bao giờ cũng bình tĩnh, thanh thản, và do như thế cho nên Người có những quyết sách đúng. Sở dĩ như vậy là Người có bản lĩnh chính trị cao cường, có tầm nhìn xa, rộng, sâu, nắm được quy luật, chiều hướng phát triển của sự vật và hiện tượng, làm chủ được bản thân mình. Phương pháp luận này giúp cho Hồ Chí Minh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao thác gềnh, hiểm nguy để tới đích quang vinh. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cương lĩnh là tầm nhìn xa. Cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn trong nước và thế giới để bổ sung và phát triển nó như đã từng bổ sung và phát triển năm 2011. Đảng đã có những nghị quyết cho từng khóa đồng thời có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ít nhất từng chặng 10 năm. Đó cũng có thể coi là sự phản ánh tầm nhìn bao quát và có trọng tâm, trọng điểm. Nhưng, quan trọng hơn là cần xác định, làm rõ thêm những vấn đề tầm nhìn như thế đã đúng chưa, đồng thời cần điều chỉnh ở khâu nào, có phải do chủ quan duy ý chí như Đảng đã tự phê bình không. Hơn nữa, nhiều chính sách quốc gia (phần nhiều là biểu hiện trọng tâm, trọng điểm ở từng giai đoạn nhỏ - thường được hiểu là các giải pháp đột phá) cần được xem xét cho phù hợp và mang tính hiệu quả. 3. Luôn luôn giải phóng, đổi mới và phát triển Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một trạng thái vận động không ngừng. Đó là một quá trình giải phóng mọi trở lực: trở lực bên ngoài, trở lực bên trong, thậm chí trở lực nằm ngay trong mỗi tổ chức của hệ thống chính trị, trong mỗi con người, để phát triển bền vững. Phương pháp luận Hồ Chí Minh về điểm này là ở chỗ tổ chức chính trị - xã hội và con người phải luôn luôn thích nghi với mọi hoàn cảnh. Muốn thích nghi, phải luôn luôn tự đổi mới để phát triển. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn luôn nhanh nhạy với cái mới. Quá trình phát triển là quá trình phủ định biện chứng cái cũ, nhân lên yếu tố mới. Đó cũng là quá trình luôn luôn giải phóng, giải phóng mọi sự ràng buộc lạc hậu để bắt kịp những điều tiến bộ. Từ sớm, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, Hồ Chí Minh đã không ít lần tuyên bố chính sách “mở cửa và hợp tác”(5), tức là có ý thức chủ động đổi mới và phát triển. Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc năm 1946, Hồ Chí Minh nêu: “Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc dưới đây: 1 - Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền. 2 - Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực. a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc. d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”(6). Thật đáng ngạc nhiên về tầm nhìn xa và rộng của Hồ Chí Minh, vì quan điểm đổi mới để phát triển, mở cửa và hợp tác trên đây được đặt ra từ rất sớm và có tính nhất quán ở Hồ Chí Minh. Điều này nói lên tính phương pháp luận của sự phát triển. Phát triển là một quá trình tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ và luôn luôn sửa đổi bản thân mình, biết kế thừa những yếu tố tiến bộ đã và đang có. Cũng trên tinh thần đó, đối với công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam phải luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình, coi đó là quy luật tồn tại và phát triển của bản thân Đảng. Đất nước Việt Nam đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhưng trong điều kiện giai đoạn hiện nay là mở cửa, hội nhập quốc tế trong khi quốc tế có những biến chuyển nhanh chóng, khó lường, phức tạp, vừa có những thời cơ để phát triển, vừa có những thách thức, nguy cơ. Với phương pháp luận Hồ Chí Minh, đất nước càng cần có sự đổi mới lớn hơn, cập nhật tình hình nhanh hơn và cần chú ý tới tính hiệu quả lớn hơn để cho đất nước phát triển bền vững. Đổi mới, giải phóng và phát triển, theo phương pháp luận Hồ Chí Minh phải bảo đảm cho thế chân vạc của đất nước thật vững, đó là: 1) Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; 2) Chủ nghĩa xã hội; 3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế đứng đó muốn vững phải luôn luôn được phát triển sáng tạo. Giáo điều là con đường chết của sự nghiệp đổi mới và phát triển. Đương nhiên, sáng tạo ở đây không phải là thoát ly bản chất của thực thể mà từ đó sáng tạo. Tiếp cận mục tiêu phát triển của đất nước Việt Nam, theo phương pháp luận Hồ Chí Minh, là ở sự phát triển bền vững, chứ tuyệt nhiên không phải ở chỗ tăng trưởng kinh tế, đành rằng, tăng trưởng kinh tế là một trong nhiều tiêu chí bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Nếu chỉ chú trọng tới tăng trưởng kinh tế thôi, thậm chí tăng trưởng bằng mọi giá, thì sẽ sa vào kinh tế phiệt - điều trái hoàn toàn với phương pháp luận Hồ Chí Minh. Một vấn đề nữa là, ở đây đổi mới, giải phóng và phát triển còn là giữ được chủ quyền. Chủ quyền ở đây không chỉ là lãnh thổ mà chủ quyền còn bao hàm cả nhận thức, ở đường lối, quan điểm, không bị sức ép từ bên ngoài, không lệ thuộc bên ngoài, không làm theo bên ngoài mà không chịu nhìn vào thực tế đất nước. 4. Mọi suy nghĩ và hành động đều thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn Giải phóng cho con người theo chủ nghĩa nhân văn mácxít là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản. Ở xã hội cộng sản, mà Hồ Chí Minh đã ghi thành mục tiêu của cách mạng Việt Nam khi xác lập cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, thì con người được giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, con người làm chủ xã hội, ở đó con người sống trong tự do thật sự. Vấn đề có tính phương pháp luận Hồ Chí Minh là ở chỗ, mọi suy nghĩ và hành động, mọi lúc, mọi nơi, người cách mạng đều phải hướng tới mục tiêu giải phóng đó. Mọi công cuộc giải phóng trước đó, như giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, đều chỉ là mục tiêu của từng chặng đường, chỉ có con người được giải phóng toàn diện, được ngự trị ở vương quốc tất yếu của tự do, thì đó mới thực sự là mục tiêu cuối cùng và cao cả nhất. Chính vì thế, thước đo duy nhất cho hiệu quả tư duy và hành động của người cách mạng, của tổ chức cách mạng Việt Nam là ở chỗ đưa lại quyền lợi chính đáng cho nhân dân. Mọi suy nghĩ và hành động trái với lợi ích đó đều là những yếu tố có tính chất đi ngược lại với nguyên tắc phương pháp luận Hồ Chí Minh. Nội dung phương pháp luận này của Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cho cách mạng Việt Nam hiện nay cần vận dụng là: 1) Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa chính là một xã hội đi tới giải phóng con người. Mọi suy nghĩ và hành động hiện nay làm tổn hại tới mục tiêu và con đường đó đều trái với phương pháp luận Hồ Chí Minh. Không vì hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn; không vì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trước đây và hiện nay có một số tiêu cực, thậm chí nảy sinh một số quái thai; không vì trong thực tế ở Việt Nam có điều này điều nọ tiêu cực mà đi đến phủ nhận mục tiêu và con đường đó để đi theo con đường khác. 2) Lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo cho trình độ lãnh đạo của Đảng cũng như hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị. Với nội dung phương pháp luận này của Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội nói chung, cán bộ, đảng viên phải hành động trên tinh thần phục vụ nhân dân. Tất cả vì con người, mà cụ thể ở đây là tất cả vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, đó chính là chương trình hành động lớn nhất của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Khác với C.Mác, Ph.Ăngghen khi coi đảng cộng sản là bộ phận tinh túy nhất của giai cấp vô sản đại công nghiệp; khác với V.I.Lênin khi coi đảng cộng sản là đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh coi Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị từ trong xã hội mà ra, là Đảng con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động; vì thế Đảng chính là con của dân, là có quan hệ máu thịt với nhân dân. Vì vậy, Đảng phải làm tròn chữ Hiếu đối với nhân dân. 3) Đảng và hệ thống chính trị nói chung cũng như cán bộ, đảng viên phải “nâng cao dân chúng”, nghĩa là phải làm cho dân giác ngộ cách mạng, để luôn luôn trở thành “dân tiên tiến”. Đảng không được coi mình là một nhóm tách rời nhân dân để đi đến nhận thức và hành động cho lợi ích nhóm. Bản chất vấn đề ở đây là ở chỗ: mục đích của Đảng và của nhân dân, của Tổ quốc là một. Đồng thời, tránh thói mị dân, tránh “theo đuôi quần chúng”. Sự nghiệp giải phóng con người, tức là theo chủ nghĩa nhân văn, do chính bản thân con người gánh lấy, nhưng hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, phải là tổ chức luôn luôn tiên phong dẫn lối đưa đường. Đảng phải là tổ chức tiêu biểu cho “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta”(7). 4) Vấn đề vị trí, vai trò của nhân dân ở Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng. Trách nhiệm của Đảng đối với dân cũng đã được ghi rõ trong nhiều nghị quyết của Đảng. Vấn đề là ở chỗ thực hiện trong thực tế như thế nào cho có hiệu quả. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân vẫn là yêu cầu số một hiện nay. 5) Muốn bồi đắp và luôn luôn thấm đượm chủ nghĩa nhân văn, trước hết, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải làm gương trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực công tác. Phải hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng, của nhân dân, như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Giàu sang không thể quyến rũ/Nghèo khó không thể chuyển lay/Uy lực không thể khuất phục”(8), như yêu cầu tư cách của người cách mạng được Hồ Chí Minh ghi trong trang đầu cuốn sách Đường cách mệnh: “Ít lòng tham muốn về vật chất”(9). Đó cũng là điều Hồ Chí Minh gửi gắm trong Di chúc: “Về việc riêng. Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Không phải tiếc vì chưa có vật chất đủ đầy, chưa có cuộc sống cao sang, mà tiếc là không còn sống lâu hơn nữa để phục vụ nhân dân. Đó là sự nuối tiếc đong đầy chủ nghĩa nhân văn của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Điều này, chúng ta cũng thấy trong bài trả lời phỏng vấn của Hồ Chí Minh với các nhà báo nước ngoài đầu năm 1946: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành...”(10). Gương sáng của cán bộ, đảng viên là cực kỳ quan trọng đối với giáo dục con người, là điểm quy chiếu cho mọi suy nghĩ và hành động hướng tới chủ nghĩa nhân văn. Hồ Chí Minh đã dạy: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(11); “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu (...) nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”(12); “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”(13)... Muốn học tập và làm theo những vấn đề phương pháp luận Hồ Chí Minh, ít nhất phải có ba điều: có tâm thế chủ động, tích cực; hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có nội dung phương pháp luận; làm cho phù hợp. Những nội dung phương pháp luận Hồ Chí Minh cần được vận dụng sát hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới giai đoạn hiện nay để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vận dụng cho đúng là yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay để làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là một tổ chức chính trị xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc.

Khát vọng về đất nước Việt Nam cường thịnh, giàu mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Những bài học kinh nghiệm quý giá từ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng và phát triển tốt, sẽ là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất làm cho đất nước Việt Nam trở thành một nước hùng cường, phồn thịnh, hạnh phúc. Ở thời khắc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập để đi tới xã hội cộng sản, đảm bảo tốt đẹp các phương diện xã hội, chính trị, kinh tế và liên kết quốc tế. Trong “đêm trước” của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh vạch chiều hướng phát triển của nước Việt Nam mới, lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức là một nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong đó hạt ngọc lung linh tỏa sáng là dân là chủ, dân làm chủ. Người dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị công dân, trở thành “ông chủ” của đất nước. Đây là giá trị lớn nhất, quý giá nhất từ thắng lợi của cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục tiêu, động lực của phát triển. Chương trình Việt Minh năm 1941 dưới ánh sáng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Hội nghị Trung ương 8 đề ra các chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục, xã hội, ngoại giao được coi như Hiến pháp lâm thời, cùng với Quốc hội lâm thời (Đại hội quốc dân Tân Trào) và Chính phủ lâm thời được đề ra trước đó tỏ rõ rằng Hồ Chí Minh có một tư duy sớm, tầm nhìn xa về khát vọng phát triển đất nước. Ngay sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh khẳng định mục tiêu - triết lý phát triển Việt Nam là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đó chính là mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, mục tiêu hàng đầu là phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc. Nước không độc lập, dân nô lệ sẽ không có gì hết. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của độc lập khi được ăn no, mặc đủ. Vì vậy, phải đi tới tự do, hạnh phúc, tức là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề, nền tảng của chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là thước đo giá trị sống, tạo động lực tinh thần để nhân dân xả thân bảo vệ thành quả độc lập dân tộc. Triết lý phát triển đất nước của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng. Giai đoạn 1930-1945, chủ nghĩa xã hội mới ở dưới dạng triển vọng tiến lên của độc lập dân tộc. Giai đoạn 1945-1954, chủ nghĩa xã hội thể hiện ở nhiệm vụ kiến quốc. Từ năm 1954 trở đi, khi cả nước đồng thời tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược có tính thời đại thì chủ nghĩa xã hội thể hiện rõ ở cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần bằng thể chế, sinh khí chính trị, kinh tế, xã hội mà hạt nhân là con người mới xã hội chủ nghĩa. Thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc có nhiều nhân tố, trong đó phải khẳng định chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất. Vì chính cuộc đời mới ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương vững chắc, là tương lai của đồng bào miền Nam trong đấu tranh thống nhất nước nhà. Điều đó chứng tỏ rằng tầm nhìn và cách nhìn đúng đắn của Hồ Chí Minh về phát triển đất nước giàu mạnh xuất phát và phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thực tiễn thế giới. Thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc có nhiều nhân tố, trong đó phải khẳng định chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất. Hồ Chí Minh là người nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước. Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu bằng nhiệm vụ “trồng người”. Viết Di chúc (5/1965), Người khẳng định: “Còn non, còn nước, còn người / Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” Giữa ác liệt, mất mát đau thương do cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ gây ra, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Di chúc bổ sung năm 1968, suy nghĩ về việc chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, Hồ Chí Minh viết về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân. Trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp… Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng với sự nghiệp cách mạng thế giới. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi như Quốc bảo xây dựng lại và phát triển đất nước “đàng hoàng, to đẹp” theo tinh thần đổi mới cùng nhịp bước, xu hướng với thế giới.

KHÁT VỌNG MUỐN TRỞ THÀNH HIỆN THỰC PHẢI TRÊN CƠ SỞ TÍN TÂM, QUYẾT TÂM, ĐỒNG TÂM, TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG, ĐỔI MỚI, SÁNG TẠO

Hồ Chí Minh là người truyền cảm hứng tín tâm, quyết tâm, đồng tâm cho cả dân tộc: “Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên”. Nói về ý chí độc lập và lòng khát khao tự do, Người khẳng định “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập dân tộc”. Quan điểm của Người dứt khoát, rõ ràng: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Với tinh thần tự lực, tự cường, đứng về phe tiến bộ bảo vệ những giá trị cao quý của nhân loại là độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái, dân tộc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Khi nền độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ bị chà đạp, Hồ Chí Minh khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Người kêu gọi: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Người khẳng định một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng biết đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính theo đúng đường lối Mác - Lênin thì nhất định sẽ đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước của Hồ Chí Minh xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; từ quan điểm “vô luận việc gì, đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”, trực tiếp là lấy dân làm gốc. Người chú trọng kết hợp sức mạnh dân tộc mà hạt nhân là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với sức mạnh thời đại; nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh, trong đó nguồn nội lực của dân tộc, nhất là giá trị văn hóa và sức mạnh của con người Việt Nam là quan trọng nhất. Người gắn mục tiêu của dân tộc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ý chí và khát vọng đó đã từng bước đưa dân tộc Việt Nam cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại. Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách như giải quyết nạn đói, nạn dốt, xây dựng hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần kiệm liêm chính, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc thông thái, dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng được hưởng những quyền cơ bản của người dân một nước độc lập. Người quan tâm tới giới công thương Việt Nam để xây dựng một nền tài chính vững vàng, thiết lập nền kinh tế quốc dân thịnh vượng. Người chỉ rõ muốn giữ vững nền độc lập thì phải đi vào con đường kiến quốc. Cần phải kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiết giáo dục. Kiến thiết cần có nhân tài và biết trọng dụng người tài đức là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh vẹn nguyên giá trị đến tận hôm nay và mai sau. Xuất phát từ một nước nông nghiệp, trong việc kiến quốc, Người đưa lên hàng đầu quan điểm “nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp”. Dẫn tục ngữ “tấc đất tấc vàng”, Hồ Chí Minh nêu lên ý nghĩa phải làm cho nông nghiệp mau tiến bộ, dân “dĩ thực vi thiên” (trước cần phải ăn) và “dĩ nông vi bản” (nghề nông làm gốc). Phát triển nông nghiệp liên quan đến cứu đói, cứu đói liên quan đến “thực túc”, “thực túc” liên quan đến “binh cường”, “binh cường” liên quan đến kháng chiến, kháng chiến gắn với kiến quốc. Như vậy, kiến quốc trên mặt trận nông nghiệp có ý nghĩa tích cực đến sự cường thịnh, giàu mạnh, tồn vong của dân tộc, sự trường tồn của đất nước. Người công khai tuyên bố quan điểm về “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”. Đi đến mục đích đó vừa là thước đo giá trị của độc lập vừa thể hiện dân tộc ta xứng đáng với tự do độc lập. Giá trị một chữ “DÂN” mang tầm vóc chiến lược phát triển lâu dài, bền vững đất nước. Một điểm nhấn trong giải pháp phát triển đất nước là Hồ Chí Minh đề cao trách nhiệm, bổn phận của Đảng cầm quyền chân chính cách mạng, của Chính phủ và vai trò nêu gương của người đứng đầu. Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, Hồ Chí Minh đã tuyên thệ nhậm chức, xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”, Người chỉ rõ trách nhiệm của Chính phủ do Người đứng đầu phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái; phải là một Chính phủ liêm khiết, biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà; Chính phủ cố gắng làm việc, nỗ lực làm việc, một lòng vì nước vì dân, tranh thủ nền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới. Ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, với bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới, chỉ rõ việc thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc. Một kế sách kiến quốc, phục hưng đất nước trong kháng chiến được triển khai đồng bộ, sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là Thi đua ái quốc nhằm mục đích “Diệt giặc đói - Diệt giặc dốt - Diệt giặc ngoại xâm” với cách làm “dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân”. Làm mau, làm tốt, làm nhiều với khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vừa kháng chiến vừa kiến quốc” để thực hiện “Dân tộc độc lập - Dân quyền tự do - Dân sinh hạnh phúc”. Lời kêu gọi Thi đua ái quốc của Hồ Chí Minh cách đây 73 năm nêu bổn phận của mọi người dân Việt Nam bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh, già, trẻ, gái, trai “ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc. Thi đua ái quốc ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng. Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi”. Nói đến phát triển thì phải luôn luôn sáng tạo, đổi mới. Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, xã hội ngày một phát triển nên tư tưởng hành động cũng phải phát triển theo. Nếu bảo thủ, trì trệ, máy móc, giữ nếp cũ thì không những không phát triển mà có nguy cơ thất bại. Người viết: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng đắn, hôm sau đã không hợp thời nữa, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước”(1) . Đổi mới, sáng tạo vừa là đường dẫn vừa là linh hồn của phát triển.

ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THÀNH CÔNG TÂM NGUYỆN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI

rong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta luôn luôn khẳng định kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ đề Đại hội XIII: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(2). Với khát vọng phát triển đất nước, quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII là bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia - dân tộc. Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới cả bề rộng và chiều sâu với một trình độ và chất lượng mới, phát triển nhanh và bền vững. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, chủ động tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam là quan trọng nhất. Mục tiêu tổng quát Đại hội XIII nêu ra là nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phồn vinh, hạnh phúc; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cụ thể đến năm 2025, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI cho tới khi đất nước kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, và 100 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) thành lập, tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình đất nước còn nhiều đổi thay, nhưng giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không thay đổi. Những bài học kinh nghiệm quý giá từ tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng và phát triển tốt, sẽ là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất làm cho đất nước Việt Nam trở thành một nước hùng cường, phồn thịnh, hạnh phúc. Đó là bài học về tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, coi cán bộ là gốc của mọi công việc, vấn đề cán bộ quyết định mọi việc, mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Đó là bài học lấy dân làm gốc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Muốn giành thắng lợi trong các cuộc chiến đấu khổng lồ chống mọi trở lực của phát triển, phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân. Đó là bài học về kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới với hội nhập và phát triển trên cơ sở tín tâm, quyết tâm, đồng tâm, không chủ quan tự mãn, không bi quan dao động, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Tất cả xuất phát từ nhân tố con người là trung tâm phát triển; phải thường xuyên quan tâm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa biết “tu thân, chính tâm”, vừa “hồng” vừa “chuyên”, phát triển toàn diện. Tài nguyên-nguồn lực con người là quan trọng nhất, quyết định tất cả. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chúng ta tin tưởng sẽ tiếp tục phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp vớisức mạnh thời đại, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu theo tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc./.

EU ra tuyên bố về Biển Đông, sự hiện diện của các tàu Trung Quốc tại đá Ba Đầu (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) đang đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực.

 

EU ra tuyên bố về Biển Đông, sự hiện diện của các tàu Trung Quốc tại đá Ba Đầu (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) đang đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực.

Báo Inquirer đưa tin Liên minh châu Âu (EU) ngày 24-4 đã lên tiếng bày tỏ lo ngại về sự hiện diện của các tàu Trung Quốc trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, sau khi hơn 200 tàu nước này bị phát hiện trong khu vực. EU bày tỏ quan lo ngại về sự hiện diện của các tàu Trung Quốc tại Biển Đông, tuyên bố rằng điều này đang đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực.

Trong tuyên bố gửi đến Cơ quan Hành động Đối ngoại Châu Âu (EEAS ), EU tuyên bố rằng sự hiện diện của các tàu Trung Quốc tại đá Ba Đầu (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) đang đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực: “Căng thẳng ở Biển Đông, bao gồm sự hiện diện gần đây của các tàu lớn của Trung Quốc tại đá Ba Đầu, đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực” - EU nêu rõ trong tuyên bố.

EU kêu gọi các quốc gia liên quan, gồm cả Trung Quốc và Philippines, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình và ngoại giao phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS).

“EU ủng hộ tiến trình do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dẫn dắt nhằm hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả, thực chất và ràng buộc về mặt pháp lý, không làm phương hại đến lợi ích của các bên thứ ba. EU kêu gọi tất cả các bên theo đuổi những nỗ lực chân thành hướng tới việc hoàn thiện COC” - tuyên bố nhấn mạnh.

EU cũng kêu gọi tôn trọng Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan) năm 2016.

“EU cam kết đảm bảo các tuyến đường cung cấp hàng hải an toàn, tự do và rộng mở ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, tuân thủ đầy đủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, vì lợi ích của tất cả mọi người” - EU nêu rõ.

“EU nhắc lại sự phản đối mạnh mẽ đối với bất kỳ hành động đơn phương nào có thể làm suy yếu sự ổn định của khu vực và trật tự dựa trên luật lệ quốc tế. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, bao gồm các cơ chế giải quyết tranh chấp. Về vấn đề này, EU nhắc lại Phán quyết của Tòa Trọng tài được đưa ra theo UNCLOS vào ngày 12-7-2016" – EU nhấn mạnh trong tuyên bố.

Phản ứng trước tuyên bố của EU về tình hình Biển Đông hôm 24-4, người phát ngôn của phái đoàn Trung Quốc tại EU cùng ngày cho biết “các rủi ro an ninh ở Biển Đông chủ yếu đến từ bên ngoài khu vực”, đồng thời kêu gọi EU “ngừng gieo rắc bất hòa”, hãng thông tấn Tân Hoa Xã đưa tin. “Biển Đông không nên trở thành công cụ để một số quốc gia kiềm chế và cưỡng bức Trung Quốc, đây vẫn là nơi ít tranh giành của các cường quốc lớn” – người phát ngôn cho biết.

Tuyên bố của EEAS cũng nhắc lại phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016.

Người phát ngôn phái đoàn Trung Quốc ngang nhiên nói rằng đá Ba Đầu (thuộc chủ quyền của Việt Nam) là “một phần của quần đảo Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam) của Trung Quốc, bãi đá và vùng biển lân cận luôn là khu vực hoạt động và trú ẩn quan trọng của tàu đánh cá Trung Quốc”.

“Các tàu đánh cá của Trung Quốc gần đây đang hoạt động trong khu vực và tránh gió, điều này là hợp lý và đúng luật. Tại sao điều đó lại gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định của khu vực được?" – người phát ngôn ngang nhiên cho biết.

Người phát ngôn ngang nhiên nói rằng “Tòa Trọng tài Biển Đông được thành lập trên cơ sở các hành vi và tuyên bố chủ quyền phi pháp của Philippines. Tòa không có tính hợp pháp và phán quyết mà Tòa đưa ra là vô hiệu. Trung Quốc không chấp nhận hoặc công nhận phán quyết và kiên quyết bác bỏ mọi tuyên bố hoặc hành động dựa trên phán quyết".

Liên quan Chiến lược Hợp tác Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương do EU đề xuất hôm 19-4, người phát ngôn nói rằng tình hình hiện tại ở Biển Đông “đang trên đà ổn định”.

Người phát ngôn cho biết Trung Quốc “duy trì liên lạc chặt chẽ về các vấn đề liên quan với các nước trong khu vực, bao gồm Philippines”, đồng thời cho biết thêm rằng “các nước trong khu vực và hơn thế nữa trong những năm gần đây đã thấy rõ rằng các yếu tố gây bất ổn và rủi ro an ninh ở Biển Đông chủ yếu đến từ bên ngoài khu vực”.

Người phát ngôn kêu gọi EU “tôn trọng nỗ lực của các nước trong khu vực trong việc giải quyết đúng đắn những khác biệt và duy trì sự ổn định ở Biển Đông, đồng thời ngừng gieo rắc bất hòa”.

Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, hay còn gọi là “đường lưỡi bò”, đã bị Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan) bác bỏ vào năm 2016.

Trong tuyên bố, Tòa cho biết “đường chín đoạn” của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý, đồng thời Trung Quốc “không có quyền lịch sử” tại Biển Đông. Tuy nhiên Trung Quốc cho đến nay luôn phủ nhận và không tuân thủ theo phán quyết.

Việt Nam luôn khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như phản đối bất kỳ nước nào xâm phạm đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở khu vực. 

Sau khi phát hiện hàng trăm tàu Trung Quốc xuất hiện ở đá Ba Đầu, thuộc cụm Sinh Tồn ở quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền Việt Nam, đồng thời yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc vi phạm này.

 

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc

 

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc

Chiều 25.4, thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy T.Ư, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đã chủ trì lễ đón thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, cùng các thành viên đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước này đang thăm chính thức Việt Nam từ 24 - 27.4. Tại hội đàm, Bộ trưởng Quốc phòng 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thẳng thắn trao đổi về những vướng mắc hiện nay trong quan hệ hai nước; trong đó có vấn đề Biển Đông.

Tại hội đàm sau lễ đón, thượng tướng Phan Văn Giang khẳng định, chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng đối với Bộ Quốc phòng Việt Nam, thể hiện sự coi trọng của Đảng, Chính phủ và cá nhân ông Ngụy Phương Hòa đối với việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai Đảng, hai nước nói chung và hai Bộ Quốc phòng nói riêng.

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang cũng chúc mừng Trung Quốc đã tổ chức thành công kỳ họp lưỡng hội, công bố hoàn thành mục tiêu 100 năm lần thứ nhất “Xây dựng toàn diện xã hội khá giả vào năm 2020” và là năm khởi đầu quy hoạch 5 năm lần thứ 14, đặt nền tảng cho mục tiêu 100 năm lần 2 “Xây dựng cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp”.

Thông tin đến người đồng cấp, thượng tướng Phan Văn Giang cho biết, Việt Nam đã tổ chức thành công tốt đẹp Đại hội Đảng lần thứ XIII. Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam luôn coi trọng việc củng cố tình hữu nghị truyền thống và thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa cũng khẳng định, quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Trung Quốc và Việt Nam là một trong những hoạt động quan trọng, góp phần vào nâng cao quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai đảng, nhà nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở mỗi nước cũng như của khu vực và thế giới.

Không có hành động vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trên biển

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang cho biết, hơn 70 năm qua, kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, mặc dù có những lúc thăng trầm, nhưng thực tiễn lịch sử cho thấy hữu nghị và hợp tác luôn là dòng chảy chính trong quan hệ hai Đảng, hai nước.

Ông khẳng định, quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và quân đội Việt Nam là xây dựng mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, ổn định lâu dài, tin cậy, hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Việt Nam luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã dành cho nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và công cuộc đổi mới ngày nay.

Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang cũng đánh giá cao hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua không ngừng được mở rộng và có các hình thức hợp tác phong phú, ngày càng đi vào thực chất. Mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhưng hai bên vẫn duy trì các hình thức trao đổi linh hoạt, hiệu quả.

Ông đề nghị thời gian tới, hai bên cần tiếp tục triển khai có hiệu quả các lĩnh vực hợp tác theo các thỏa thuận đã ký, nhất là Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng nước CHND Trung Quốc đến năm 2025.

Tại hội đàm, hai bên cũng thẳng thắn trao đổi về những vướng mắc hiện nay trong quan hệ hai nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là giải quyết các bất đồng thông qua biện pháp hòa bình trên tinh thần tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982, thực hiện đầy đủ và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không làm phức tạp tình hình, không có hành động vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Sau hội đàm, hai bộ trưởng cùng nhau chứng kiến ký kết Bản ghi nhớ về việc thiết lập quan hệ đơn vị hữu nghị trong lĩnh vực hợp tác quân sự quốc tế giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc.

 

45 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ BẦU QUỐC HỘI CỦA NƯỚC VIỆT NAM THỐNG NHẤT

 

     Ngày 25/4/1976, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Ảnh tư liệu

    Cách đây 45 năm, vào ngày 25/4/1976, trên 23 triệu cử tri của nước Việt Nam thống nhất đã nô nức đi bầu cử, bầu ra những đại biểu xứng đáng nhất vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

    Đây là cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI (1976-1981) - Quốc hội chung của cả nước đầu tiên sau thống nhất; là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước thắng lợi quyết định của nhân dân ta trên con đường thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước.

    Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước

    Mùa Xuân năm 1975, quân và dân ta đã giành được thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, xóa bỏ chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ, giành lại độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc. Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập thống nhất, cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.

    Tuy nhiên, dù non sông đã thu về một mối nhưng ở hai miền vẫn tồn tại hai nhà nước. Ở miền Bắc, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; chính quyền các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính.

    Ở miền Nam có Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn của Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, Ủy ban nhân dân cách mạng ở địa phương.

    Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã sớm nhận thức được yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách đặt ra lúc đó là phải hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước.

    Để thực hiện nhiệm vụ này, tháng 11/1975, đại biểu nhân dân hai miền Nam-Bắc đã tổ chức Hội nghị hiệp thương chính trị. Hội nghị đánh giá tình hình và đi đến quyết định “cần tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam để bầu ra Quốc hội chung cho cả nước. Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và chủ nghĩa xã hội, Quốc hội đó sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và quy định Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất."

    Trên cơ sở thành công của Hội nghị Hiệp thương chính trị, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 228-CT/TW ngày 03/01/1976, yêu cầu các cấp ủy đảng phải hết sức coi trọng việc lãnh đạo Tổng tuyển cử.

    Theo Chỉ thị số 228-CT/TW, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung “sẽ được tiến hành trong cả nước cùng một ngày, theo những nguyên tắc thật sự dân chủ: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những nguyên tắc ấy sẽ được vận dụng vào miền Nam cho thích hợp với điều kiện cụ thể của miền Nam." Đây là những nguyên tắc cơ bản của một cuộc bầu cử dân chủ, được tiếp tục kế thừa từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam cách đó đúng 30 năm.

    Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước diễn ra trong điều kiện hòa bình. Nguyện vọng tha thiết trước sau như một của nhân dân ta là nước nhà độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội đã thành hiện thực. Nhân dân ta bước vào cuộc Tổng tuyển cử với tinh thần phấn khởi, tự hào trước thắng lợi huy hoàng đã giành được, với lòng tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và tiền đồ vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

    Bên cạnh những mặt thuận lợi, cuộc tổng tuyển cử cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn khi nhân dân ta vừa phải trải qua cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, để lại những hậu quả hết sức nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xây dựng lại nước nhà và ổn định đời sống nhân dân.

    Ở miền Nam, những tàn dư của chế độ cũ vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn, vẫn còn những hoạt động phá hoại của các thế lực phản động dưới nhiều hình thức, kể cả hình thức vũ trang. Tình hình đó đòi hỏi phải ra sức phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác cách mạng, tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân, động viên tinh thần yêu nước, bảo đảm thắng lợi cho cuộc bầu cử.

    Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt

    Theo quyết định của Hội đồng bầu cử toàn quốc, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25/4/1976. Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân Việt Nam.

    Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, đã nô nức làm nghĩa vụ công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

    Cuộc bầu cử được tiến hành nhanh, gọn và đạt kết quả tốt. Tỷ lệ cử tri đi bầu trong cả nước đạt 98,77%, trong đó miền Bắc 99,36%, miền Nam 98,59%. Có nhiều xã, huyện, thị xã, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu.

    Cử tri đã lựa chọn và bầu đủ 492 đại biểu trong vòng đầu, không nơi nào phải bầu lại hoặc bầu thêm. Trong tổng số 492 đại biểu trúng cử, có 16,26% công nhân; 20,33% nông dân; 1,22% thợ thủ công; 28,66% cán bộ chính trị; 10,97% quân nhân cách mạng; 18,5% tri thức; 4,06% nhân sĩ dân chủ và tôn giáo; 26,21% đại biểu nữ; 14,28% đại biểu các dân tộc thiểu số.

    Thành phần của đại biểu Quốc hội được cử tri lựa chọn đã phản ánh đậm nét hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.

    Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước thắng lợi quyết định của nhân dân ta trên con đường thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Đó còn là thắng lợi của đường lối cách mạng sáng tạo của Đảng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh mang tầm vóc một học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển với ý chí không gì lay chuyển nổi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam ta là một. Dù cho sông cạn đá mòn, Nhân dân Nam, Bắc là con một nhà."

    Xây dựng lại đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”

    Ngày 24/6/1976, Kỳ họp đầu tiên Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới.

    Quốc hội quyết định đổi tên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết định đặt tên thành phố Sài Gòn-Gia Ðịnh là Thành phố Hồ Chí Minh. Sự ra đời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở đầu cho bước phát triển mới trong quá trình đi lên của đất nước.

     Với mục tiêu thể chế hóa đường lối chiến lược của Đảng, Quốc hội khóa VI đã hoàn thành trọng trách xây dựng một bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam thống nhất, Hiến pháp 1980, thể hiện một bước phát triển mới trong công tác lập hiến. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, tổng kết và xác định những thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam đã giành được qua nửa thế kỷ đấu tranh để giành độc lập, tự do; thể chế hóa Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng; thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của 5 khóa Quốc hội trước, Quốc hội khóa VI đã hoàn thành trọng trách to lớn mà Đảng và nhân dân giao phó, hoàn thành tốt các chức năng được giao theo quy định của Hiến pháp năm 1980 gồm lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa, những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

    Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, cùng với thắng lợi của các kỳ họp Quốc hội khóa VI đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để nhân dân ta tiếp tục thực hiện lời căn dặn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng lại đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn."

    Như vậy, kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội khóa I (ngày 6/1/1946), sau 30 năm, cuộc Tổng tuyển cử chung lại được tổ chức trên phạm vi cả nước. Đây là một trong những mốc son trong lịch sử cách mạng nước nhà.

    Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI còn có ý nghĩa chính trị to lớn, tiếp theo chiến thắng vĩ đại về quân sự vào mùa Xuân năm 1975, mở ra cơ hội cho quá trình hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế của Quốc hội Việt Nam, trong vị thế của một Nhà nước độc lập, thống nhất.

     Kỷ niệm 45 năm Ngày Tổng tuyển cử thống nhất đất nước (25/4/1976-25/4/2021) là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại ngày lịch sử của dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam.

     Những kinh nghiệm trong các kỳ tổng tuyển cử bầu Quốc hội trước đây chính là những bài học quý giá để Đảng và Nhà nước ta tiếp tục lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đi đến thành công./.

Ngày 25-4-1975, đảo Sơn Ca được giải phóng


Quân ủy Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo chính quyền Sài Gòn đang chiếm giữ. Kiến nghị ngay lập tức được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25-3-1975.

Về thời cơ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dặn dò: “Nếu đối phương đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay, nếu nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại. Trên mặt trận biển Đông, hành động của Hải quân cũng phải thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Nhiệm vụ được giao cho Đoàn 126, Quân chủng Hải quân. Đoàn đặc công nổi danh với hàng trăm trận đánh chìm tàu chiến của Mỹ ở Đông Hà - Cửa Việt làm lực lượng chủ công, phối hợp với đội đặc công nước của Tiểu đoàn 471 và Tiểu đoàn 4 của Trung đoàn 28, Sư đoàn 2 (Quân khu 5). Tàu vận tải quân sự của Trung đoàn 125 được giao nhiệm vụ chở quân. Thượng tá Mai Năng, Trưởng đoàn 126 là chỉ huy trận này.

Một ngày sau, các tàu vận tải 673, 674, 675 của Quân chủng Hải quân cải trang thành tàu đánh cá nước ngoài, chở theo các chiến sĩ đặc công rời quân cảng Đà Nẵng tiến về Trường Sa. Sau 3 ngày lênh đênh, đoàn tàu đến nơi, cách Song Tử Tây vài km vờ đánh cá để trinh sát tình hình.

Trong các đảo ở Trường Sa mà quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ, Nam Yết là mạnh nhất, có sở chỉ huy chung và khoảng 60 binh sĩ; Song Tử Tây có khoảng 40 và mỗi đảo còn lại khoảng 20 người, được trang bị vũ khí bộ binh, cối... Quân chủng Hải quân chọn đánh Song Tử Tây trước vì đây là chỗ yếu nhất và để thăm dò phản ứng của đối phương, làm bàn đạp tấn công các đảo còn lại.

4 giờ 30 phút sáng 14-4, các tàu vận tải bí mật áp sát Song Tử Tây, 3 mũi đặc công cùng đổ bộ. Bị đánh bất ngờ, lính trên đảo chống trả yếu ớt. Sau 30 phút giao tranh, đặc công hải quân làm chủ Song Tử Tây.

Thực hiện chiến thuật vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, ngày 25-4, bộ đội hải quân chiếm Sơn Ca; ngày 27-4 làm chủ Nam Yết và Sinh Tồn; ngày 28-4 chiếm Trường Sa Lớn và An Bang./.


Dấu ấn Việt Nam tại Hội nghị các Nhà lãnh đạo ASEAN


Ba nội dung chính của hội nghị được các lãnh đạo ASEAN trao đổi gồm hợp tác xây dựng Cộng đồng ASEAN, quan hệ đối ngoại của ASEAN và các vấn đề khu vực, quốc tế đang được quan tâm. Tham dự hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra những sáng kiến, đề xuất khẳng định vai trò, vị trí, sự chủ động, tích cực của Việt Nam trong tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, góp phần giải quyết những thách thức nổi lên ở khu vực.

Tại hội nghị, từ kinh nghiệm phòng chống dịch COVID-19 thành công của Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra hàng loạt sáng kiến như kế hoạch cung cấp vaccine cho người dân, thành lập và đưa vào vận hành Trung tâm ASEAN về các tình huống y tế khẩn cấp và dịch bệnh mới nổi, phục hồi và phát triển kinh tế trong và sau đại dịch.

Sau 2 phiên thảo luận, nước Chủ tịch ASEAN đã ra Tuyên bố nhất trí đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng ASEAN, tăng cường hợp tác ứng phó với COVID-19, phục hồi, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ giữa ASEAN với các đối tác. Tuyên bố cũng thể hiện 5 điểm đồng thuận của ASEAN về vấn đề Myanmar gồm yêu cầu chấm dứt bạo lực; tất cả các bên liên quan hết sức kiềm chế; tiến hành đối thoại mang tính xây dựng nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình; cử đặc phái viên của Chủ tịch ASEAN làm trung gian thúc đẩy tiến trình đối thoại; cung cấp hỗ trợ nhân đạo cho người dân Myanmar thông qua Trung tâm điều phối hỗ trợ nhân đạo ASEAN.

Nội dung tuyên bố cho thấy, những sáng kiến, đề xuất của Việt Nam đã được các quốc gia chia sẻ, đồng thuận cao. Việt Nam đã khẳng định dấu ấn quan trọng trong thành công của hội nghị lần này./.