Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

QUỐC HỘI NGÀY CÀNG PHÁT HUY VAI TRÒ LÀ CƠ QUAN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CAO NHẤT

Quốc hội khoá I - Quốc hội ra đời từ lòng dân, bao gồm đầy đủ các tầng lớp, các giới, các đảng phái chính trị ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, gồm 333 đại biểu (trong đó, Bắc Bộ có 152 đại biểu, Trung Bộ có 108 đại biểu, Nam Bộ có 73 đại biểu). Cùng với 70 đại biểu không thông qua bầu cử, Quốc hội khoá I có 403 đại biểu, với đầy đủ các thành phần công nhân, nông dân, trí thức, các nhà tư sản, người buôn bán… là hình ảnh tượng trưng cho khối toàn dân đoàn kết, minh chứng hùng hồn cho việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân. Theo quy định, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - được gọi là Nghị viện nhân dân có nhiệm kỳ là 3 năm (Điều 24, Hiến pháp 1946) và Quốc hội có nhiệm kỳ 4 năm (Điều 45, Hiến pháp 1959). Tuy nhiên do điều kiện chiến tranh kéo dài, vì vậy cuộc bầu cử Quốc hội khoá II (ngày 8/5/1960), khoá III (ngày 26/4/1964), khoá IV (ngày 11/4/1971) và khoá V (ngày 6/4/1975) chỉ được tiến hành ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thực tế là, dù chỉ bầu cử ở miền Bắc, song Quốc hội khoá II, III, IV, V vẫn là cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân cả nước, bởi số đại biểu miền Nam vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ trong Quốc hội. Quyết định lưu nhiệm các đại biểu Quốc hội miền Nam do nhân dân cả nước bầu ra trong Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 thực sự là biểu tượng của sự đoàn kết, nhất trí toàn dân tộc, kiên trì vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Từ cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I cho đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1946 -1975), đất nước ta đã trải qua nhiều biến cố và Quốc hội cũng đã nhiều lần được bầu lại. Nhiệm vụ chính trị của Quốc hội ở mỗi thời kỳ tuy có khác nhau, song đó vẫn thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói, dù ở vào giai đoạn lịch sử nào của đất nước, Quốc hội cũng đều thể hiện rõ chức năng “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, “cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”,v.v.. Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã trao cho Quốc hội những quyền hạn và nhiệm vụ rộng lớn, thể hiện tập trung quyền của nhân dân lao động. Những quyền đó được ghi thành văn, với các điều kiện bảo đảm thực hành như mọi nền dân chủ đạt trình độ cao trên thế giới. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội đã đặt ra cho Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân những trọng trách mới. Nhiệm vụ mới đòi hỏi Quốc hội phải có một cơ cấu phản ánh được tính chất toàn dân tộc. Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc, ngày 21/11/1975 đã nhất trí nhận định: cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước cùng làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Hội nghị nhất trí khẳng định việc cần thiết phải tổ chức Tổng tuyển cử trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam để bầu Quốc hội chung cho cả nước, vì: Thực hiện thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước là khâu then chốt, nó tạo điều kiện để thống nhất nước nhà về các mặt khác một cách thuận lợi. Hội nghị không chỉ đạt được sự nhất trí cao về chủ trương, phương hướng mà còn đề ra những biện pháp cụ thể để thực hiện ý nguyện của toàn dân - đó là tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội cho một nước Việt Nam thống nhất. Theo quyết định, “cuộc Tổng tuyển cử sẽ tiến hành trong nửa đầu năm 1976, theo đúng nguyên tắc dân chủ: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Số đại biểu Quốc hội sẽ tính theo số dân. Khoảng 100.00 dân sẽ được bầu 1 đại biểu”[12]. Từ tháng 2/1976, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tiến tới Tổng tuyển cử được triển khai trong phạm vi cả nước. Ngày 25/4/1976, trong niềm vui chung “Bắc Nam sum họp một nhà, non sông liền một dải”, nhân dân cả nước đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá VI của nước Việt Nam thống nhất. Đây là lần thứ hai cuộc Tổng tuyển cử đước tiến hành trong cả nước, sau 30 năm kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (6/1/1946). Hơn 23 triệu cử tri (98,8% tổng số cử tri) đã đi bầu cử và bầu được 492 đại biểu vào Quốc hội khoá VI của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất. Với 492 đại biểu, trong đó (có 80 người là công nhân, 100 người là nông dân, 6 người là tiểu thủ công nghiệp, 54 người là chiến sĩ quân đội nhân dân, 141 người là cán bộ chính trị, 98 người là trí thức và nhân sĩ, 13 người là các thành phần tôn giáo), Quốc hội khoá VI là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường tiến tới hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước. Tổng tuyển cử ngày 25/4/1976 là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của nước ta. Lịch sử dân tộc ta đã chuyển sang một bước ngoặt vĩ đại. Trong kỷ nguyên mới của đất nước, Quốc hội khoá VI tiếp tục hoàn thành thống nhất đất nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tuởng, kinh tế, văn hoá, xã hội gắn với việc thực hiện những nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Thực hiện khát vọng của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, nhân dân cả nước quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Tiếp tục một cách xứng đáng những thành tựu, những bài học kinh nghiệm của Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, Quốc hội khoá VI - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã trở thành nhân tố quan trọng trong hệ thống chính trị của đất nước để tổ chức nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991), khi Đảng tuyên bố xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì vị trí, vai trò của Quốc hội ngày càng tăng lên mạnh mẽ. Điều này không chỉ dừng ở việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử Quốc hội ở các khoá (từ khóa VII đến khóa XIV và chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa XV vào ngày 23/5/2021 sắp tới) mà còn thể hiện ở việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trên nhiều mặt. Cùng với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và gần nhất là Hiến pháp 2013, việc ban hành nhiều văn bản pháp luật thiết thực, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng các luật; đổi mới các hoạt động giám sát để tăng cường hiệu lực, hiệu quả; chủ động xem xét và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; đồng thời, tăng cường các hoạt động mở rộng quan hệ đối ngoại của Quốc hội với Quốc hội các nước, các tổ chức quốc tế vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển,v.v.. đã làm cho Quốc hội ngày càng thể hiện rõ vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nhìn lại quá trình ra đời và phát triển của Quốc hội, có thể thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặc biệt quan tâm đến cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I mà trong các kỳ bầu cử tiếp theo, Người cũng chú trọng việc bầu cử để thành lập cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân. Thực hiện theo tư tưởng của Người, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Quốc hội Việt Nam cũng hoạt động ngày càng hiệu quả để làm tròn một cách vẻ vang nhiệm vụ là những người đại biểu của nhân dân, thực sự hết lòng vì dân, vì nước; được nhân dân, cử tri cả nước tín nhiệm và đồng tình ủng hộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, thực hiện tốt chức năng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Truyền thống đoàn kết, vì dân, vì nước của Quốc hội khoá I do Chủ tịch Hồ Chí Minh hết lòng chăm lo xây dựng và phát triển đã đưa kháng chiến đến thắng lợi thì nhất định vẫn sẽ là một trong những nhân tố quan trọng để Quốc hội Việt Nam khóa XIV và các khóa tiếp theo đồng hành cùng dân tộc, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phát triển phồn vinh và hạnh phúc.

Người về mang tới những mùa Xuân đất nước!

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, trưa ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ (28/1/1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Có thể nói, đây là một trong những sự kiện lịch sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian truân song rất đỗi vinh quang của Người. TRÊN NẺO ĐƯỜNG TRỞ VỀ TỔ QUỐC Kể từ ngày rời Tổ quốc (5/6/1911) để ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi vượt qua biên giới Việt - Trung (28/1/1941), Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã phải trải qua một một hành trình dài đầy gian lao, thử thách. Trong gần 30 năm đó, với khát khao được từ năm 1923 là "trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”[1], Người từng nhiều lần tìm đường trở về Tổ quốc, song không thể thực hiện được. Dù Người đã hoạt động ở Quảng Châu, Trung Quốc những năm 1924 - 1927 và ở Thái Lan những năm 1928-1929 và trong những năm tháng này, Người đã 2 lần tìm đường trở về Tổ quốc song đều thất bại. Vấn đề này đã được Nguyễn Ái Quốc nêu rõ trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/2/1930: "C. Đi về An Nam (hai lần cố gắng về nước song phải quay trở lại"[2]. Sau đó, phải đến khi tình hình thế giới có nhiều biến chuyển; khi chiến tranh thế giới lần thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt, phát xít Đức tấn công nước Pháp (15/6/1940) và Chính phủ Pháp chấp nhận đầu hàng không điều kiện (22/6/1940)…; khi những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, trong đó có Việt Nam được mở ra thì việc tìm đường trở về Tổ quốc lần thứ 3 của Người mới có thể trở thành hiện thực. Lúc này, nhận thấy thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam đến gần, Người đã phân tích kỹ tình hình thế giới và Đông Dương, đã không chỉ nhấn mạnh: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”[3] mà còn xúc tiến chuẩn bị những điều kiện cần thiết như tìm hiểu tình hình, nghiên cứu để chọn con đường trở về Tổ quốc, định hướng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở đâu…để có thể sớm lên đường về nước. Cuối tháng 10/1940, Người cùng một số cán bộ rời Côn Minh về Quế Lâm (Quảng Tây, Trung Quốc) và sau đó tiếp tục rời Quế Lâm đi xuống Tĩnh Tây (Quảng Tây) để tìm đường về nước. Tại Tĩnh Tây (Quảng Tây) vài ngày sau Tết dương lịch năm 1941, Người đã gặp và nghe đồng chí Hoàng Văn Thụ từ trong nước sang báo cáo tình hình trong nước và những công việc đang thực hiện. Liên quan đến con đường về nước, đồng chí Hoàng Văn Thụ đề nghị Người nên chọn hướng Cao Bằng. Đề nghị này trùng với nhận định của Người từ tháng 10/1940: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”[4]... Sau đó, Người cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường đã di chuyển xuống Nậm Quang ở sát biên giới Việt - Trung. Tại Nậm Quang, tranh thủ quỹ thời gian quý báu, Người đã mở lớp huấn luyện cho những thanh niên từ Cao Bằng sang, đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán để trở về Cao Bằng công tác, xây dựng thí điểm các đoàn thể và lập căn cứ địa cách mạng. Sự kiện này được ghi lại trong Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Bác và anh Phùng Chí Kiên về một làng cách Tĩnh Tây năm chục cây số. Bác cho người đến gọi anh Đồng và tôi về để mở lớp huấn luyện… Các anh Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi được Bác hướng dẫn làm chương trình huấn luyện. Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh"[5]. Dựa theo tài liệu của Người, các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã biên soạn tập bài giảng cho lớp học, gồm 6 bài. Trong đó: “Bài 1: Tình hình thế giới, trong đó đề cập tới cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, phong trào cách mạng trên thế giới, về Liên bang Xô viết, về cuộc kháng Nhật cứu nước của nhân dân Trung Quốc. Bài 2: Tình hình Đông Dương, trong đó giới thiệu về đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế, chính trị, về các giai tầng và các dân tộc Đông Dương, về thái độ của người Pháp và Hoa kiều…Bài 3: Vấn đề cách mạng Việt Nam, trong đó giới thiệu về phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam, về những điều kiện đảm bảo của cách mạng, đồng thời giới thiệu các đảng phái chính trị ở Đông Dương và chủ nghĩa dân chủ mới của Việt Nam. Bài 4: Về công tác, chủ yếu hướng dẫn học viên cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đưa quần chúng ra đấu tranh.Bài 5: Vấn đề khởi nghĩa, trong đó có hai nội dung chính là đánh du kích và khởi nghĩa. Bài 6: Một người cách mạng phải như thế nào nói về tư cách của người cách mạng”[6] (sau được in thành sách Con đường giải phóng). Ngày trở về đã đến!. Trưa ngày 2 Têt nguyên đán Tân Tỵ (28/1/1941), Người về đến biên giới Việt - Trung, đoạn cột mốc 108. Phút giây thiêng liêng bồi hồi, xúc động về với Tổ quốc đã được Người kể lại: “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”[7]. Những ngày đầu về nước, Người ở lại nhà ông Lý Quốc Súng (Máy Lỳ), dân tộc Nùng, ở thôn Pác Bó. Từ ngày 8/2/1941, Người (với bí danh Già Thu) đã chọn hang Cốc Bó (tiếng Nùng có nghĩa là “đầu nguồn”) là một hang núi kín đáo (ăn thông ra một con đường kín dẫn sang bên kia biên giới, có thể rút lui an toàn khi bị lộ) ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để sống và làm việc. Hằng ngày, Người dậy sớm tập thể dục, leo núi, xuống suối tắm, sau đó bắt tay vào công việc; hoặc xuống làng hỏi chuyện đồng bào; hoặc cùng anh em lên núi hái củi; tối về tranh thủ bồi dưỡng kinh nghiệm hoạt động cách mạng cho cán bộ phong trào. Cuộc sống những ngày tháng tại hang "đầu nguồn" tuy thiếu thốn, gian khổ, song ở nơi đó/từ nơi đó vẫn tràn đầy một tinh thần lạc quan cách mạng đúng như Người viết trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó: "Sáng ra bờ suối tối vào hang/Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng/Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/Cuộc đời cách mạng thật là sang"[8]. Cuối tháng 4/1941, Người giao nhiệm vụ cho đồng chí Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ tỉnh cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng. Hội nghị này do đồng chí Hoàng Văn Thụ chủ trì, với sự tham gia của cán bộ ba huyện Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình là những huyện đã có phong trào quần chúng tương đối tốt. Lúc này, tình hình quốc tế và trong nước có những biến chuyển lớn. Đặc biệt, trong nước, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ theo lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào đấu tranh chống Pháp, đuổi Nhật của nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải kịp thời có những quyết sách đúng đắn, nhạy bén và tập trung hơn nữa để chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng của quần chúng, nhằm quy tụ nguồn sức mạnh nội lực của khối đại đoàn kết toàn dân "tiến lên làm cách mạng dân tộc giải phóng"[9]. QUYẾT ĐỊNH THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG Kịp thời và nhạy bén với tinh hình, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941). Tại Hội nghị, trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và Đông Dương; tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước, Hội nghị khẳng định: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương, cho hợp với tình hình thay đổi"[10]. Trên cơ sở nhận định rõ: “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương", Người và Trung ương Đảng quyết định thay đổi chiến lược và sách lược cách mạng: Tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Vì thế, Hội nghị xác định rõ cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng" và đó là cuộc "cách mạng dân tộc giải phóng” để nhằm "giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của Pháp - Nhật". Hội nghị nhấn mạnh: "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"[11]. Vì thế, để nhằm động viên tất cả mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giàu nghèo, già trẻ, gái trai vào một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, "đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn", cùng nhau đoàn kết "đánh đuổi giặc Pháp - Nhật" và "thực hiện cho được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc", Người và Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh - tên gọi "cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại"[12]). Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời với Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ; trong đó, nêu rõ: “Chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn”[13]. Đồng thời, kêu gọi “đồng bào ta hãy tìm các đoàn thể cứu quốc của Việt Minh mà gia nhập cho mau. Các bạn trẻ hãy thống nhất lại trong”Thanh niên cứu quốc đoàn”…Anh chị em thợ thuyền và dân cày hãy vào “Công nhân cứu quốc hội” và “Nông dân cứu quốc hội”. Các bậc trí thức văn nhân hãy đoàn kết thành “Văn hóa cứu quốc hội”[14]… để “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam sung sướng, tự do”[15]. Tư tưởng độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh do Người sáng lập và lãnh đạo đã hấp dẫn, quy tụ được các các tầng lớp nhân dân, các giai tầng trong xã hội trên tinh thần không có sự phân biệt giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, đảng phái… Từ những tổ chức thí điểm của Mặt trận Việt Minh đầu tiên ở Hà Quảng (Cao Bằng) năm 1941, Việt Minh phát triển nhanh và lan rộng trong toàn quốc. Cùng với đó, các đoàn thể Hội Nông dân cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc… cũng được thành lập và phát triển nhanh chóng trong các nhà máy, xí nghiệp, trường học; ở khắp các tỉnh, thành phố… Quyết định chuyển hướng chiến lược và sách lược cách mạng tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) chính là sự hoàn chỉnh nội dung các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939) và 7 (11/1940); đồng thời, đáp ứng được khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc khi đó. Sự thay đổi chiến lược và sách lược cách mạng không chỉ thể hiện sự nhạy bén, quyết đoán cuả Trung ương trước sự thay đổi của tình hình quốc tế và trong nước mà còn góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quyết định lịch sử này chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam đã được lựa chọn, được khẳng định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng từ tháng 2/1930. Để đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 về tổ chức Mặt trận Việt Minh vào thực tiễn, để tập trung cho nhiệm vụ dân tộc giải phóng, ngày 6/6/1941, Người viết thư Kính cáo đồng bào gửi đến các tầng lớp nhân dân cả nước. Trong thư, Người đã nêu lên tình cảnh khổ cực của nhân dân Việt Nam dưới ách thống trị của Pháp - Nhật; đã ca ngợi những tấm gương oanh liệt của các bậc anh hùng tiền bối trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, song cũng khẳng định là những cuộc đấu tranh đó chưa thành công, vì "cơ hội chưa chín" và vì "dân ta chưa hiệp lực đồng tâm"… Vì thế, theo lời Người, “hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Cũng bởi, trong lúc này "quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy" và “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng". Đồng thời, Người kêu gọi: "Giờ giải phóng đã đến! Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên. Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật”[16]…Cuối tháng 10/1941, Người đã viết Diễn ca Mười chính sách của Việt Minh, giới thiệu mục tiêu đấu tranh của Việt Minh, vai trò to lớn của Việt Minh và cuối cùng kêu gọi mọi người đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh để thống nhất hành động cứu nước. Đặc biệt, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của cán bộ - Cán bộ nào phong trào đó và cán bộ là gốc của mọi công việc; đào tạo cán bộ là công việc gốc của Đảng, Người không chỉ quan tâm việc mở các lớp huấn luyện trên hành trình về nước để kịp thời đào tạo và bồi dưỡng cán bộ mà còn yêu cầu các đồng chí Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng chọn một số thanh niên Cao Bằng gửi đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc) vào cuối tháng 6/1941[17]. Giữa năm 1941, Người tổ chức lớp huấn luyện chính trị - quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương. Người trực tiếp giảng bài về tình hình thế giới, tình hình trong nước, về 5 bước công tác quần chúng, về chiến thuật du kích, các hình thức du kích... Tháng 10/1941, Người giao đồng chí Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự. Cuối tháng 10/1941, Người yêu cầu các đồng chí Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba báo cáo về việc thành lập đội vũ trang. Tháng 11/1941, khi đội vũ trang đầu tiên của Cao Bằng được thành lập, Người đến dự, nhắc nhở mọi người phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật, khiêm tốn học hỏi và giúp nhau về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt… và biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện họ[18]…Các bài giảng tại các lớp huấn luyện đều tập trung vào các nội dung thiết thực để các học viên hiểu được những nét cơ bản về tình hình thế giới và trong nước; nhiệm vụ cách mạng trước mắt; chủ trương chính sách mới của Đảng và Chương trình, Điều lệ Việt Minh; công tác vận động quần chúng… Không chỉ chú trọng việc mở những lớp huấn luyện ngắn ngày cho cán bộ địa phương, mở lớp huấn luyện quân sự, thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng... nhằm chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho công cuộc khởi nghĩa vũ trang sau này mà Người còn trực tiếp tham gia giảng bài tại các lớp học; đồng thời, biên soạn Cách đánh du kích, dịch Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga tóm tắt… để phục vụ cho công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ. Thực tế, những việc làm cụ thể, thiết thực, chu đáo của Người như nắm rõ tình hình cách mạng, trình độ của cán bộ địa phương; chuẩn bị nội dung huấn luyện phù hợp, diễn giải giản dị, dễ hiểu, có liên hệ giữa lý luận và thực tiễn đã giúp cho công tác giáo dục, huấn luyện cán bộ mà Người thực hiện không chỉ được tiến hành trên lớp học mà cả trong công tác và sinh hoạt hằng ngày. Nhờ đó, những lớp cán bộ được Người huấn luyện hoặc được làm việc cùng Người đều trưởng thành về chính trị, trình độ, rèn luyện đạo đức cách mạng và khả năng công tác nhanh. Đặc biệt, năm 1941, Người không chỉ sáng lập báo Việt Nam độc lập mà còn viết nhiều bài cho báo theo thể lục bát hoặc văn vần để người đọc dễ nhớ, dễ đọc; đã cổ vũ thanh niên học quân sự, ca ngợi dân cày, đề cao phụ nữ, kêu gọi thiếu nhi, khuyên đồng bào đọc báo, mua báo Việt Nam độc lập. Tháng 12/1941, Người viết Thế giới đại chiến và phận sự dân ta, đăng trên báo Việt Nam độc lập, nhấn mạnh cơ hội giải phóng đến rồi và kêu gọi đồng bào đoàn kết lại… Như vậy là, trong năm đầu tiên trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước sau gần 1/3 thế kỷ hoạt động ở nước ngoài, với những quyết định chính xác, kịp thời của mình cùng Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8; với những chỉ đạo kịp thời và hoạt động trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; trong công tác huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ cho phong trào cách mạng… lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng cả nước phát triển nhanh, mạnh và rộng, tạo bước nhảy vọt cho phong trào cách mạng trong nước; chuẩn bị tinh thần và lực lượng cho ngày vùng lên của toàn dân tộc trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sau đó. Với ý nghĩa lớn lao đó, cùng với sự kiện mùa Xuân thành lập Đảng năm 1930, sự kiện Người về nước mùa Xuân năm 1941 là một dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ sau mùa Xuân năm 1941, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đã giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Vững bước trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sau 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một Việt Nam kiên định và bản lĩnh đã hồi sinh sau những năm dài chiến tranh, đã ngày một phát triển đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc. Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam đều đổi mới đã tạo ra thế và lực mới. Một Việt Nam kiên định đổi mới và sáng tạo trong đổi mới đã khẳng định vị trí, vai trò của mình trong khu vực và trên trường quốc tế, ngày càng tham gia, đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng và đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách. Vinh dự và tự hào, năm 2019, Việt Nam lần thứ 2 được bầu làm Uỷ viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, với số phiếu bầu cao gần như tuyệt đối. Một Việt Nam với tinh thần trách nhiệm cao, chủ động hội nhập và sẻ chia đã không chỉ nỗ lực trong các hoạt động hỗ trợ, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế mà còn khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; đồng thời, chú trọng đẩy mạnh quan hệ với các nước, các đối tác. Đặc biệt, một Việt Nam kịp thời hành động, quyết liệt hành động, với những chiến lược hiệu quả, với sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị đã phòng và chống đại dịch Covid-19 hiệu quả, phù hợp với điều kiện tiềm lực của đất nước; được cộng đồng thế giới ghi nhận và ngưỡng mộ… 80 năm sau ngày Người trở về Tổ quốc, một Việt Nam với sắc vóc và diện mạo mới đón Xuân Tân Sửu 2021 trong niềm tin yêu và kỳ vọng vào thành công của Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam; trong sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng một nước Việt Nam phát triển bền vững, hùng cường, phồn vinh, để mỗi người dân Việt Nam ngày càng được thụ hưởng đầy đủ hơn giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc như Người từng mong ước./.

Học tập tư tưởng lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh

“Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” là triết lý chính trị của mọi thời đại nhưng đã được Hồ Chí Minh luận giải một cách khoa học và phát triển lên một tầm cao mới. Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới mà còn là nhà tư tưởng lớn với những chân lý đã được kiểm chứng bởi thực tiễn. Điều nổi bật và cũng là bí quyết thành công của Hồ Chí Minh với tư cách nhà tư tưởng và thủ lĩnh chính trị nằm ở chỗ: Người đã thấu hiểu vai trò của dân, thực sự trọng dân, biết phát huy vai trò của dân và hết lòng vì dân. Trong 35 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành sự nghiệp Đổi mới với tinh thần “đổi mới là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân”. Cho dù chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ như ngày hôm nay nhưng cơ hội và thách thức đang đặt ra cho cách mạng Việt Nam đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức và hành động đúng tinh thần “Lấy dân làm gốc” để phát huy cao độ tiềm lực trong dân, đưa đất nước tiến lên. Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng và phương châm hành động của các bậc hiền minh từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim. Trên tinh thần kế thừa và phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng “Lấy dân làm gốc” lên một tầm cao mới. Tư tưởng của Người vừa có sự chung đúc với tiền nhân, vừa có nét độc đáo, sáng tạo. Đáng chú ý nhất là một số quan điểm sau đây. Thứ nhất, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm mới về quần chúng nhân dân. Nói đến dân là nói đến những người đứng ngoài bộ máy cai trị, chịu tác động từ chính sách của nhà cầm quyền. Nếu trong quan niệm của giai cấp phong kiến, dân chỉ là “thần dân”, “thảo dân”, tức tầng lớp “bị trị” thấp hèn thì đối với Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1). Quan niệm về nhân dân của Hồ Chí Minh có điểm khác biệt so với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nếu Lênin nhấn mạnh tính giai cấp khi coi “quần chúng là đa số, và hơn thế nữa chẳng những đa số công nhân, mà là đa số những người bị bóc lột”(2) thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính dân tộc khi định nghĩa: “Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác”(3). Việc mở rộng nội hàm “Nhân dân” của Hồ Chí Minh hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam. Mặt khác, quan niệm của Người về nhân dân cũng khác biệt so với ông cha khi Người đứng trên lập trường của giai cấp công nhân để khẳng định “công - nông là gốc của cách mạng”. Thứ hai, Hồ Chí Minh luận giải một cách khoa học “vì sao dân là gốc của nước”. Dân là “gốc” của nước bởi “lực lượng của dân rất to”, rất đông, rất mạnh. Dân là “gốc” của nước bởi “dân rất tốt”, trong mỗi người dân đều có phẩm chất cao quý nhất là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Dân là “gốc” của nước còn bởi “dân rất thông minh”, biết “giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(4). Chính của cải, sức mạnh, đạo đức, tài năng, lòng tin của dân đã tạo nên “cái gốc” của nước. Nhận thức sâu sắc về cái “gốc” đó, Hồ Chí Minh đúc kết: “Nước lấy dân làm gốc… Gốc có vững, cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(5). Như vậy, lòng dân chính là “vận nước”. Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của dân trong sự nghiệp cách mạng và vị thế của dân trong chế độ mới. Nếu giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản coi nhân dân chỉ là động lực, phương tiện cần huy động cho các cuộc đấu tranh thì Hồ Chí Minh khẳng định nhân dân là chủ thể và là mục tiêu của cách mạng. Người nhấn mạnh: Làm cách mạng phải dựa vào dân nhưng làm cách mạng để mang lại hạnh phúc cho dân. Người còn nâng quan điểm “Dân vi bản” và truyền thống “thân dân” thành quan điểm “dân là chủ và làm chủ”. Người khẳng định: Trong chế độ dân chủ, nhân dân mới là chủ sở hữu mọi quyền lực. Nếu cụm từ “Dân là chủ” nói đến địa vị cao nhất của dân trong xã hội thì cụm từ “Dân làm chủ” nói đến trách nhiệm và nghĩa vụ làm chủ của dân. Sự nghiệp cách mạng không chỉ của dân mà còn do dân; cho nên, bản thân quần chúng nhân dân phải có đạo đức và trách nhiệm công dân. Mặt khác, khi dân đã là chủ thì tất cả cán bộ, kể cả Chủ tịch nước, đều là đầy tớ của dân. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ vai trò “kép” của mình: Vừa là người đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo sáng suốt nhưng “lãnh đạo là làm đày tớ cho nhân dân và phải làm cho tốt”(6). Thứ tư, Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên phải gần dân, trọng dân, học dân, thật thà trước dân và yêu dân. Dân tộc Việt Nam đã tồn tại hàng ngàn năm nhưng Đảng thì mới ra đời vào năm 1930. Điều đó có nghĩa là “lòng dân” có trước “ý Đảng”. Dân là “gốc” của nước, là cội nguồn sức mạnh của Đảng nên muốn lãnh đạo dân, Đảng phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Coi xa dân, quan liêu là những căn bệnh lớn nhất của đảng cầm quyền nên Hồ Chí Minh đã viết: “Đề nghị các vị Bộ trưởng nên luyện cho mình đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ, không nên chỉ ngồi bàn giấy, theo kiểu “đạo nhân phòng thủ”(7). Không chỉ nhấn mạnh phương thức hoạt động của Đảng là “phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(8), Người còn cảnh báo: Nếu xa cách dân chúng thì nhất định thất bại. Sự “gần dân” trong quan niệm của Hồ Chí Minh không chỉ là gần về khoảng cách địa lý, tức là cán bộ phải bám sát cơ sở mà còn phải “gần” về lối sống, mức sống, thậm chí là cán bộ, đảng viên phải có tinh thần “tiên ưu hậu lạc”. Chỉ như thế nhân dân mới thấy đây là người đại diện của mình và cán bộ cũng mới hiểu rõ dân sinh, dân ý, dân tình. Dân là “gốc” của nước nên Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực hành văn hóa trọng dân, trước hết là tôn trọng ý nguyện và quyền làm chủ của dân. Người căn dặn “ý dân là ý trời”, dân muốn gì ta phải làm nấy. Sự tín nhiệm của dân luôn thể hiện chính xác năng lực, phẩm chất của cán bộ nên Đảng phải tôn trọng đánh giá của dân về từng cán bộ để làm tốt công tác tổ chức. Ai “không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân. Có biết làm trò dân mới làm được thầy học dân”(9) – Hồ Chí Minh Do lực lượng của dân rất đông, trí tuệ của dân là vô tận nên cán bộ, đảng viên phải thực sự cầu thị, khiêm tốn, học hỏi dân chúng. Dân chính là người chịu tác động của mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên việc xây dựng đường lối phải dựa trên ý nguyện của dân, tuyệt đối không được chủ quan, duy ý chí; nếu “nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì đề nghị họ sửa chữa”(10). Trong công tác lãnh đạo dân chúng, nếu cán bộ “có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình”(11). Sự thành thực của cán bộ không chỉ làm dân thông cảm, tin yêu mà còn là cơ sở để Đảng khắc phục hạn chế, ngày càng trưởng thành hơn. Mọi tình cảm bền vững phải dựa trên nguyên tắc 2 chiều nên Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ là, “chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Thứ năm, cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự dựa vào dân để vì dân. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” vì vậy, cho dù Đảng Cộng sản là lực lượng dẫn đường nhưng “những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân”(12). Muốn thực hiện bất cứ chiến lược nào, Đảng đều phải bàn bạc với dân, dựa vào dân, huy động sức mạnh trong nhân dân. Không chỉ dựa vào dân, quan trọng hơn là Hồ Chí Minh đã coi lợi ích của dân là mục tiêu của cách mạng, lý tưởng của Đảng. Người nói rõ “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(13). Vì dân là “gốc” nên việc gì có lợi cho dân dù nhỏ nhất vẫn phải làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ nhất cũng phải tránh. “Dân dĩ thực vi thiên”, khi trở thành Đảng cầm quyền, tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều phải nhằm vào mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC”

Từ sự trưởng thành trong tư duy lý luận và sự kiểm chứng trên thực tế, các Đại hội Đảng trong thời kỳ Đổi mới đều khẳng định bài học: Đổi mới phải luôn quán triệt tư tưởng “Lấy dân làm gốc”; phải thực sự dựa vào dân, vì lợi ích của dân. Đảng muốn đồng hành và lãnh đạo dân thì Đảng phải tin vào dân và quan trọng hơn là phải được dân tin. Tuy nhiên, phải thắng thắn thừa nhận thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên vẫn chỉ biết vun vén, thậm chí vơ vét cho bản thân mà thờ ơ, vô cảm trước dân. Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sơ vẫn còn nhiều hạn chế; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chủ yếu mới dừng ở “dân làm”. Căn bệnh độc đoán, chuyên quyền, dân chủ hình thức còn ở đâu đó… Những khuyết điểm trên đã làm ảnh hưởng tới lòng tin của dân vào Đảng và chế độ. Do đó, thực hành tư tưởng Hồ Chí Minh về “Lấy dân làm gốc” để khôi phục lại lòng tin của dân, là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Tuy nhiên, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh không phải chỉ là nhắc lại những câu nói mang tầm chân lý của Người mà là nghĩ sâu, nhìn thẳng và làm tốt một số việc sau đây. Một là, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, thấm nhuần bài học “Lấy dân làm gốc” một cách sâu sắc nhất để vì dân một cách thiết thực nhất. Khi giải quyết công việc, cán bộ phải luôn tận tâm, nhiệt tình, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, phải tránh thói “miệng nói dân chủ nhưng làm theo lối “quan chủ””. Hai là, phải hoàn thiện thể chế, cơ chế để đảm bảo quyền làm chủ của dân trên thực tế. Theo Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII, nguyên tắc “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” được bổ sung thêm nội dung “dân giám sát và dân thụ hưởng”. Điều này hoàn toàn đúng nhưng quan trọng hơn là phải nhanh chóng thể chế hóa, cụ thể hóa nguyên tắc đó bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Tôn trọng lợi ích của dân thì trước khi ban hành pháp luật, chính sách, cần đánh giá kỹ lưỡng tác động của nó đến đời sống nhân dân, phải thăm dò dư luận, đẩy mạnh việc đối thoại với dân - những người chịu tác động của chính sách ban hành. Ba là, cán bộ phải lắng nghe dân và mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước phải hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của dân. Cho dù không phải mọi ý kiến của dân đều xác đáng, nhưng đúng như Hồ Chí Minh đã nói, “nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích”(14). Điều quan trọng nhất để có được lòng tin của dân chính là: Toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước phải xuất phát và hướng tới lợi ích của dân. Trong thời kỳ đất nước có chiến tranh, cơ sở để tạo ra sự gắn kết giữa “lòng dân” và “ý Đảng” chính là mục tiêu giải phóng dân tộc. Trong thời bình, cơ sở quan trọng nhất để tạo dựng niềm tin của dân vào Đảng chính là lợi ích của dân. Đây không phải là sự ban ơn mà là trách nhiệm, là hành động đúng quy luật của Đảng. Nếu không mang lại lợi ích cho dân thì có nói bao nhiêu về dân chủ cũng đều vô nghĩa. Bốn là, phải tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, “lợi ích nhóm”. “Lấy dân làm gốc” thì phải huy động nhân dân vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cho dù hình thức dân chủ trực tiếp ngày càng được chú trọng nhưng dân chủ đại diện vẫn là một phương thức cơ bản để hiện thực hóa quyền làm chủ của dân. Muốn được dân tin yêu thì người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu về mọi mặt. Đặc biệt, phải quyết liệt chống tiêu cực thì nhân tố tích cực mới có chỗ đứng, giống như muốn lúa tốt, phải nhổ sạch cỏ. Vì thế, biểu hiện rõ nhất, tập trung nhất của tư tưởng “lấy dân làm gốc” hiện nay chính là nói “không”với tham nhũng và đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, triệt tiêu“lợi ích nhóm. Mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm “tiếp nhiệt” cho “lò” chống tham nhũng rực cháy. Thực hiện tư tưởng “Lấy dân làm gốc” thì còn phải phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết trong dân, xây dựng “thế trận lòng dân” trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Phải làm tốt công tác dân vận để huy động tối đa “tài dân, sức dân, của dân để mưu cầu hạnh phúc cho dân”. Cổ nhân từng đúc kết: “Dân vi bang bản thiên niên sách/ Công tại nhân tâm vạn cổ trường”( Lấy dân làm gốc, đó là sách lược ngàn năm/ Công lao ở lòng người sẽ ghi tạc muôn đời). Kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử đều bắt nguồn từ sự thực hành tư tưởng “Lấy dân làm gốc” của các bậc anh minh, trong đó có Hồ Chí Minh. Sinh ra từ dân, sống và hoạt động trong lòng dân, luôn tin tưởng và biết phát huy sức mạnh vô tận của dân để vì dân, Hồ Chí Minh trở thành tượng đài bất tử trong tình yêu của nhân dân. Bí quyết thành công của Người chính là bài học sâu sắc mà hậu thế phải noi theo./.

Việt - Trung cùng chung tay xây dựng đường biên giới hợp tác, phát triển, thịnh vượng

 

Việt - Trung cùng chung tay xây dựng đường biên giới hợp tác, phát triển, thịnh vượng

Chiều ngày 24/4 vừa qua, tiếp tục các hoạt động trong khuôn khổ giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 6, Thượng tướng Phan Văn Giang - Bộ trưởng Quốc phòng chủ trì lễ đón chính thức đoàn đại biểu Trung Quốc do Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc làm trưởng đoàn, tại Cửa khẩu Hoành Mô (huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh). Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc khẳng định, việc tăng cường trao đổi hữu nghị, hợp tác hai bên sẽ góp phần đưa quan hệ Việt-Trung ngày càng phát triển, vì đường biên giới hợp tác, thịnh vượng.

Sau khi tiến hành nghi lễ chào và tô sơn cột mốc, trồng cây lưu niệm, Bộ trưởng Phan Văn Giang cùng người đồng cấp Trung Quốc và đại diện một số đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng hai nước, lãnh đạo địa phương đã cắt băng khánh thành Nhà văn hóa hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc tại xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh).

Thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa quân đội Việt Nam - Trung Quốc luôn được duy trì, đẩy mạnh, đi vào thực chất và là một trụ cột quan trọng trong dòng chảy chính của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Qua 5 lần tổ chức, Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã cho thấy quyết tâm của hai Đảng, hai Nhà nước và Quân đội hai nước trong công tác phối hợp cùng nhau xây dựng, bảo vệ biên giới chung hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển.

Việc xây dựng các công trình Nhà văn hóa hữu nghị biên giới và Trung tâm giao lưu văn hóa, thương mại và du lịch tại các tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu trở thành nơi giao lưu văn hóa, xúc tiến thương mại đã góp phần quan trọng thúc đẩy tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới của hai nước.

 

Phát biểu tại chương trình, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa khẳng định: Trung Quốc và Việt Nam là hai nước núi sông liền một dải. Việc tăng cường trao đổi hữu nghị, hợp tác giữa hai bên sẽ góp phần đưa quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển, vì đường biên giới hợp tác, phát triển, thịnh vượng.

Khẳng định giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 6 là sự kiện đầy ý nghĩa, Thượng tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, nhìn lại chặng đường hơn 70 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đến nay, hợp tác, hữu nghị vẫn luôn là dòng chảy chính, là truyền thống tốt đẹp, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt - Trung.

Theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp, bền vững lâu dài với Trung Quốc. Đây là chủ trương nhất quán và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng như chính sách đối ngoại quốc phòng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong những năm vừa qua, hợp tác quốc phòng luôn duy trì được đà phát triển trên cơ sở nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện hai nước.

“Chương trình giao lưu ngày hôm nay là một trong những ví dụ điển hình về quyết tâm chính trị, tình cảm hữu nghị, gắn bó của Quân ủy Trung ương, lực lượng vũ trang, các địa phương và nhân dân vùng biên giới của hai nước trong điều kiện bình thường mới. Đây cũng là chương trình hợp tác quốc phòng quan trọng của Quân ủy TƯ, Bộ Quốc phòng hai nước diễn ra ngay trong đầu năm 2021”, Thượng tướng Phan Văn Giang nêu rõ.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam cho rằng, qua mỗi lần tổ chức, nội dung giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung ngày càng đi vào thực chất, có tính lan tỏa cao.

Bắt đầu bằng các hoạt động trong nhà, đến nay chương trình giao lưu đã phát triển ra các hoạt động giao lưu ngoài thực địa như tuần tra chung, xây dựng nhà hữu nghị biên giới, khám chữa bệnh cho nhân dân ở hai bên khu vực biên giới, diễn tập chống khủng bố và cứu trợ thảm họa, dịch bệnh. Theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, đây không chỉ là cầu nối giữa quân nhân vùng biên hai nước mà còn tạo cơ hội để chính quyền địa phương và nhân dân hai nước giao lưu, kịp thời động viên, tương trợ lẫn nhau.

Theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, công trình Nhà văn hóa tại xã Đồng Văn được khánh thành dịp này là kết quả của sự chung tay đầu tư, xây dựng của Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc, là một trong những kết quả hợp tác tiêu biểu, thiết thực của chương trình Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc; đồng thời là một biểu tượng cho quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước nói chung, chính quyền và nhân dân xã Đồng Văn (Việt Nam) và trấn Động Trung (Trung Quốc) nói riêng.

Nhấn mạnh chương trình lần này đã đánh dấu một trong những sự kiện hợp tác, giao lưu lớn giữa Bộ Quốc phòng hai nước trong năm 2021, Thượng tướng Phan Văn Giang bày tỏ hy vọng tình cảm hữu nghị, gắn bó sẽ tiếp tục lan tỏa qua biên giới đến các địa phương và đơn vị của hai nước, hai quân đội; góp phần đưa quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển, để chương trình giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục trở thành cầu nối hữu nghị giữa lực lượng vũ trang, chính quyền và nhân dân địa phương hai nước.

Kết thúc chương trình Giao lưu, Bộ trưởng Phan Văn Giang và Bộ trưởng Ngụy Phượng Hòa đã tham quan Nhà văn hóa xã Đồng Văn. Dịp này, hai Bộ trưởng cũng tặng quà cho hai xã vùng biên hai nước: xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và trấn Động Trung (khu Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc).

 

“Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi” .

Là một người tiên tri tiên lượng, nhà dự báo chiến lược thiên tài, sau khi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7/1935), trả lời nhà văn I.Êrenbua khi được hỏi cảm nghĩ về mùa xuân này, Nguyễn Ái Quốc nói: “Tôi chỉ có một mong ước là sớm trở về Tổ quốc tôi”(1)... . 1. Với một khả năng thấy trước, tiên đoán khoa học của bậc kỳ tài về tình hình thế giới và trong nước đang từng bước có những chuyển biến mau lẹ, Người thấy phải sớm về nước để tranh thủ và chớp thời cơ lãnh đạo toàn dân vùng lên giải phóng. Trong hai năm làm việc ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa và học ở lớp nghiên cứu sinh do Viện mở (từ khoảng tháng 6/1936 đến tháng 6/1938), Nguyễn Ái Quốc luôn luôn nung nấu kế hoạch về nước. Ngày 6/6/1938, Nguyễn Ái Quốc (Lin) viết Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản. Thư nhắc đến ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc Người bị bắt giữ ở Hồng Công, đó là mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của Người. Thư đề nghị phân Người đi đâu đó, giao cho Người làm một việc gì có ích. Thư nhấn mạnh: “Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”(2). Hai ngày sau, ngày 8/6/1938, Nguyễn Ái Quốc được Phòng Tổ chức cán bộ của Quốc tế Cộng sản gửi báo cáo Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản đề nghị giải quyết dứt điểm cho về nước. Tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa từ ga Iarôxlápxki rời Mátxcơva đi về phương Đông. Con đường trở về Tổ quốc từ tháng 10/1938 của Nguyễn Ái Quốc gian nan, vất vả. Trong vai Thiếu tá bát lộ quân, với bí danh Hồ Quang, Người di chuyển từ Diên An, Tây An đến Quế Lâm qua Trùng Khánh… Từ cuối tháng 7/1939 đến đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục di chuyển nhiều nơi trên đất Trung Quốc và có nhiều hoạt động tích cực. Người có báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương (từ năm 1936 đến năm 1938). Người làm việc ở Quế Lâm (tỉnh Quảng Tây), Quý Dương (tỉnh Quý Châu), Côn Minh (Vân Nam)… Từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu liên hệ được với nhiều đồng chí Việt Nam đang ở Trung Quốc và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Tháng 6/1940, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu Phạm Văn Đồng (bí danh Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh Dương Hoài Nam) đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khoảng 20 ngày sau, nghe tin Pari bị quân Đức chiếm (20/6/1940), Người triệu tập một cuộc họp và phân tích “việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(3). Người điện ngay cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp nói không đi Diên An học tập nữa mà phải tìm cách về nước. Khi đi Trùng Khánh, Người dặn đi dặn lại Vũ Anh và các đồng chí ở Côn Minh lo chuẩn bị mọi mặt để khi Người trở lại có thể lên đường về nước ngay. Khi biết Nhật vào Đông Dương, Người nhận định:“Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(4). Từ tháng 10/1940, khi được tin hơn 40 thanh niên các dân tộc Cao Bằng vì bị đế quốc Pháp khủng bố mạnh đã vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc có ý định tổ chức lớp huấn luyện cho các anh em, sau đó đưa anh em về củng cố và mở rộng phong trào ở Cao Bằng, tổ chức đường liên lạc về nước, phát triển xuống Thái Nguyên và tiếp xúc với toàn quốc. Đầu tháng 1/1941, Người bắt đầu tổ chức lớp học, trực tiếp huấn luyện chính trị. Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Một ngày trước đó (ngày 27/1, tức mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ), trong khi chuẩn bị về nước, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tấy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). 2. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục dịch (đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người giao nhiệm vụ cho Vũ Anh triệu tập Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng. Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 Đảng Cộng sản Đông Dương. Những hoạt động trên, đặc biệt là việc Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc cùng với Đảng ta đề ra chủ trương đúng đắn, thay đổi chiến lược, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là cấp thiết, hàng đầu Xuất phát từ nhận định tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, vấn đề dân tộc, Hội nghị phân tích sâu sắc mối quan hệ vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, bộ phận và toàn thể, chỉ rõ “trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau”(5). Xác định “cần phải thay đổi chiến lược”(6), Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(7). Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng xác định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(8). Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đề ra sáng kiến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) Căn cứ vào tình hình thay đổi, sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh thuộc về chiến thuật vận động. Vấn đề cốt yếu là đánh đuổi được Pháp - Nhật, thực hiện cho được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay sau khi về nước, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh ở một số huyện như Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Rút kinh nghiệm tổ chức thí điểm đó, tại Hội nghị Trung ương 8, Người khẳng định tính thiết thực, bổ ích của một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong dân tộc Việt Nam. Mặt trận Việt Minh đã liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị để mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. Vấn đề tổ chức các đoàn thể quần chúng được Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ phải phản ánh được chính sách cứu quốc, mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu quốc là cốt yếu, mà hạt nhân là tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc. “Cứu quốc” tức là quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của toàn thể dân tộc. Với sáng kiến thành lập Mặt trận Việt Minh, Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”(9). Việt Minh đưa ra chính sách 10 điểm được coi như “tiền Hiến pháp” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ Mười chính sách của Việt Minh phản ánh nguyện vọng chung của toàn dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và mọi tầng lớp nhân dân. “Khuyên ai xin nhớ chữ đồng, Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” (Trích bài thơ Mười chính sách của Việt Minh) Sau Hội nghị Trung ương 8, ngày 6/6/1941, Nguyễn Ái Quốc có thư Kính cáo đồng bào. Trong thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm. Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(10). Mười năm sau, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), Hồ Chí Minh nhận định: “Cái tên Việt Nam độc lập đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân… Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên Việt Minh phát triển rất mau và rất mạnh. Vì mặt trận phát triển mạnh mà Đảng phát triển cũng khá”(11). “Không có chuyển hướng chiến lược do Cụ Hồ đề nghị thì không có Việt Minh; không có Việt Minh thì không có Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Xem đó thì rõ tầm quan trọng của sự chuyển hướng chiến lược là to lớn dường nào”(12) Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc về nước cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cần phải khẳng định rằng sự kiện 80 năm trước Nguyễn Ái Quốc về nước (28/1/1941) mang tầm vóc to lớn và ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Đánh giá sự kiện ngày 28/1/1941 phải gắn chặt với suy nghĩ và hành động của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian trên đường về nước. Nguyễn Ái Quốc là con người hành động, lý luận gắn với thực tiễn. Quan điểm của Người rõ ràng: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhắc như con vẹt “Vô sản thế giới liên hiệp lại” mà phải thống nhất chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nói đến chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam là nói đến chủ trương, chính sách của Đảng. Ví dụ đại đoàn kết”(13). Việc Nguyễn Ái Quốc sau khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quyết định trở về nước vì “không muốn sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống bện cạnh, ở bên ngoài của Đảng” là minh chứng hùng hồn cho quan điểm lý luận Mác - Lênin thống nhất với thực tiễn cách mạng Việt Nam của Người. Việc trở về nước của Nguyễn Ái Quốc cùng với thư Kính cáo đồng bào và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương qua Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 mà Nguyễn Ái Quốc là linh hồn, đã tạo nên sự thống nhất cao độ, bền vững giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với quan điểm, đường lối của Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng làm nên kỳ tích lịch sử, cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên thắng lợi huy hoàng của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “biến người nô lệ thành người tự do”, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân, tạo điều kiện cho dân tộc ta theo kịp các nước trên hoàn cầu, bước tới đài vinh quang để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau ngày nước nhà độc lập./.

Mềm hoá hoạt động bồi dưỡng chính trị, tư tưởng

Ở các trường đại học, việc bồi dưỡng chính trị, tư tưởng cho sinh viên được “mềm hoá” thông qua các hoạt động thiết thực trong sinh viên. Tại trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2, những cuộc thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” thu hút được nhiều sinh viên tham gia. Ở nội dung này, 5 năm qua, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 liên tục được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen cho đơn vị đạt thành tích xuất sắc. TS Cao Bá Cường, Trưởng phòng Công tác Chính trị - Học sinh sinh viên, trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 cho biết: “Nắm bắt được những vấn đề thời sự đang diễn ra trong xã hội cũng như đời sống sinh viên, nhà trường lồng ghép vào các hoạt động chính trị, tư tưởng. Cụ thể, trường triển khai tuyên truyền giáo dục sinh viên về Luật an ninh mạng và các kỹ năng, quy định khi sử dụng internet và mạng xã hội, chú trọng tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng an ninh, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ thông qua gương người tốt, việc tốt. Hàng năm, những tấm gương như: Đảng viên trẻ tiêu biểu, các tập thể xuất sắc đều được Thành đoàn Hà Nội tuyên dương, khen thưởng”. Bồi dưỡng chính trị, tư tưởng cho sinh viên cũng còn thể hiện trong việc triển khai các phương thức nắm bắt tình hình chính trị, tư tưởng trong sinh viên. TS Cao Bá Cường cho biết: “Từ năm học 2017-2018, Nhà trường thành lập “Tổ sinh viên tự quản khu vực nội trú, ngoại trú”, “Tổ dư luận sinh viên” kịp thời nắm bắt những thông tin tại khu vực sinh sống của sinh viên. Bên cạnh đó, Hội nghị “Hiệu trưởng, Trưởng khoa đối thoại với đại diện sinh viên” được tổ chức hàng tháng, mạng lưới cán bộ Đoàn – Hội cũng góp phần quan trọng trong việc đảm bảo thông tin 2 chiều giữa nhà trường với sinh viên, đảm bảo tinh thần dân chủ trong trường”. Theo anh Nguyễn Đồng Anh, Phó bí thư Đoàn thanh niên Bộ Ngoại giao, để giáo dục lý tưởng cho thanh niên trong thời đại công nghệ thông tin cần những cách làm mới, dễ tiếp cận. Chẳng hạn có thể lồng ghép nội dung lý tưởng cách mạng vào các thông điệp truyền thông hiện đại. Để các thông điệp đến được với thanh niên cần đúng và trúng nhóm đối tượng. Cần tận dụng công nghệ để thiết kế các thông điệp với nội dung hấp dẫn, có thể dưới dạng các video, trò chơi trực tuyến, các bài báo tương tác đa phương tiện... trên cơ sở những thống kê, nghiên cứu về cách tiếp cận đối tượng công chúng đặc thù là "thanh niên" trong môi trường mạng xã hội, internet”. Nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT phối hợp với các bộ, ngành liên quan và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ, đặc biệt là việc giáo dục học sinh, sinh viên khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội một cách hiệu quả. Đây cũng là mục tiêu của ngành giáo dục 2021 khi coi chuyển đổi số là một nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện nhiệm vụ giáo dục của ngành./.

Giáo dục học sinh qua những việc làm thiết thực

Việt Nam đang đứng trước sự vận động không ngừng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó lực lượng thanh niên đóng vai trò xung kích với sức sáng tạo, trí tuệ và bản lĩnh. Sau 50 năm, lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Di chúc của Người về vai trò của thanh niên vẫn còn nguyên giá trị trên con đường tiến tới bắt kịp xu thế thời đại. Tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng - Hà Nội, việc trang bị các chuyên đề về đạo đức, lối sống và các chủ đề hoạt động của Đoàn thanh niên luôn được đề cao. Thầy Nguyễn Hữu Quyết, Phó Bí thư đoàn trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội cho biết: “Dạy đạo đức, lối sống của học sinh thanh niên ở bất kỳ thời điểm nào cũng là vấn đề vô cùng quan trọng và cần thiết. Không chỉ quan trọng về mặt giáo dục lý luận mà còn quan trọng trong việc giáo dục thực tiễn để hình thành lối sống, đạo đức, tác phong, hình thành phẩm chất, năng lực của một công dân trong thời đại mới. Nhưng làm sao để hoạt động không chỉ dừng lại ở phong trào mà thấm nhuần vào việc làm của mỗi học sinh luôn là bài toán tôi đặt ra”. Theo thầy Quyết, việc thiết thực nhất là học sinh được tham gia làm chính những sản phẩm truyền thông, phù hợp với lứa tuổi của các em. Những năm qua, thầy Nguyễn Hữu Quyết cùng học trò trong trường làm các sản phẩm truyền thông để tuyên truyền, giáo dục học sinh về đạo đức lối sống. Đồng thời, tích hợp những buổi toạ đàm về đạo đức, lối sống của học sinh thời nay vào các môn khoa học xã hội. Bản thân thầy Nguyễn Hữu Quyết cũng là “cây sáng tạo” trong hoạt động chuyên môn. Công trình “Tái chế rác thải thành đồ dùng dạy học cho học sinh phổ thông” của thầy Quyết vừa xuất sắc lọt vào top 15 công trình, sáng kiến sẽ tham gia tranh tài tại vòng chung khảo chương trình Tri thức trẻ vì giáo dục năm 2020. Thầy Nguyễn Hữu Quyết chia sẻ: “Thông qua đó, tôi muốn giáo dục học sinh nhận thức về môi trường xung quanh. Từ đó, học sinh bằng sức lực, hiểu biết tự làm ra sản phẩm có ích trong học tập. Bài học đạo đức, lối sống cũng từ đó mà ra”. Từ những mô hình đầu tiên về chủ quyền biển đảo, các bộ phận cấu thành của lãnh thổ Việt Nam, mô hình bản đồ Việt Nam đến sa bàn về chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ lẫy lừng hay đại thắng mùa xuân năm 1975, đến nay hầu hết các bộ môn khoa học xã hội ở Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng đều được thầy Quyết cùng học trò sáng tạo ra những mô hình học tập trực quan, sinh động. Nguyên liệu rất đặc biệt là được lấy từ rác thải. Cách làm của thầy Quyết là một trong rất nhiều mô hình thiết thực mà nhiều Đoàn trường phổ thông đang nỗ lực hiện thực hoá nhằm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Mới đây, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục thực hiện thông qua hoạt động dạy học các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành qua các chương trình lồng ghép, tích hợp trong các chương trình môn học và hoạt động giáo dục như giáo dục tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phòng, chống tham nhũng, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục các vấn đề về giới, bình đẳng giới, giáo dục bảo vệ môi trường; thông qua các hoạt động, lao động sản xuất, hoạt động tập thể, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao và các hoạt động vui chơi giải trí; thông qua vai trò nêu gương của cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè và những tấm gương về đạo đức được rút ra từ sách vở, từ lịch sử, từ cuộc sống, giáo dục đạo đức, lối sống qua di sản văn hóa. PGS TS Nguyễn Xuân Thành, Vụ trưởng Vụ Trung học, Bộ GD&ĐT cho biết: “Chương trình giáo dục phổ thông mới đã chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh được thực hiện thông qua tất cả các môn học, hoạt động giáo dục. Môn đạo đức ở bậc tiểu học, giáo dục công dân ở bậc trung học trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã được tăng cường cả nội dung và thời lượng”.

Phát huy tinh thần tự phê bình để xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải là đạo đức, là văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đề cao ý thức tự giác tự phê bình, phải chủ động, tự giác kiểm thảo, tự nhận trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, gắn trách nhiệm của cá nhân với trách nhiệm của tập thể. Người nói: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”(1). Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về thực hành tự phê bình và phê bình. Mọi suy nghĩ và hành động của Người, trong đó có việc phê bình và tự phê bình, đều xuất phát từ mục tiêu giản dị: tất cả vì con người và vì hạnh phúc của mọi người. Trong quá trình công tác, có một số cán bộ, đảng viên, kể cả người giữ cương vị cao mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thậm chí phạm phải những khuyết điểm, vi phạm nghiêm trọng. Điều quan trọng là khi mắc phải sai lầm, khuyết điểm đó, cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên phải nêu cao ý thức tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm, vi phạm, chủ động tự giác nhận trách nhiệm của tập thể, cá nhân, đề ra cách sửa chữa, khắc phục phù hợp, phấn đấu vươn lên. Khi cần thiết phải công khai xin lỗi, sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm đó trước quốc dân, đồng bào để mong đồng bào tha thứ. Trong cải cách ruộng đất, Đảng, Chính phủ đã mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, Trung ương tự phê bình, đồng chí Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị là người đứng đầu Đảng, Chính phủ tự giác nhận khuyết điểm, sai lầm đó và đã được quốc dân, đồng bào tha thứ. Vì thế, uy tín của Đảng, của Chính phủ, của cán bộ, đảng viên không những không giảm sút mà còn được nâng lên. Thực tế cho thấy, thời gian qua, còn một bộ phận cấp ủy, tổ chức đảng và một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sa vào chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, cơ hội thực dụng, tham nhũng, lãng phí, “tư duy nhiệm kỳ và bệnh thành tích”, “lợi ích nhóm”, quên đi bổn phận với Đảng, với nhân dân, với dân tộc. Tình trạng tham nhũng chính trị, tham nhũng cơ chế, chính sách, tham nhũng quyền lực thông qua việc tác động, can thiệp để “chạy”, hoặc “bắc thang cho trèo”, hoặc “nâng đỡ không trong sáng” vào những chức vụ, những vị trí quan trọng, có nhiều thuận lợi, cơ hội thăng tiến và thu được nhiều lợi ích, bất chấp tiêu chuẩn, điều kiện không đúng, không đủ quy trình, sai thủ tục, không bảo đảm diễn ra ngày càng tinh vi. Dẫn đến hậu quả chỉ tìm được người thân, người nhà, người chịu “chạy”, "người có bề dày cung tiến", người thiếu đức, kém tài; gây nhiều hậu quả trong công tác tổ chức, cán bộ, công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành; làm cho công tác cán bộ là khâu then chốt của then chốt đang là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, làm giảm sút niềm tin của nhân dân. Điều đáng lo ngại là khi mắc phải những khuyết điểm, vi phạm, đã chót “nhúng chàm” đã có những cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không tự giác nhận trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm và không chủ động có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên. Thậm chí còn tìm mọi cách để tiêu hủy, hợp pháp hóa chứng cứ, hồ sơ, tài liệu, bưng bít thông tin, che giấu khuyết điểm, vi phạm, tìm cách mua chuộc, đe dọa, trả thù và trù dập người đấu tranh phê bình, tố cáo đúng, hoặc nhờ can thiệp, tác động tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra,… xem xét, xử lý. Khi cấp ủy, ủy ban kiểm tra có thẩm quyền qua kiểm tra đã kết luận có khuyết điểm, vi phạm, yêu cầu kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận hoặc đề xuất hình thức kỷ luật thì còn không ít cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, chưa tự nhận trách nhiệm. Một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên còn quanh co, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác, cho cấp dưới hoặc cấp trên; chỉ nêu ưu điểm, kết quả, thành tích, quá trình cống hiến hoặc chỉ nhận những khuyết điểm, vi phạm nhỏ, thứ yếu, chối bỏ khuyết điểm, vi phạm chính, gây hậu quả rất nghiêm trọng... để đề nghị được minh oan, xem xét giảm mức độ, hình thức xử lý. Tổ chức đảng có khuyết điểm, vi phạm cũng không tự giác nhận trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm của tập thể và gắn với trách nhiệm, khuyết điểm, vi phạm của từng cá nhân, trong đó có cả người đứng đầu, cán bộ chủ chốt có khuyết điểm, vi phạm rất nghiêm trọng, phải xử lý ở mức độ, hình thức cách chức hoặc khai trừ ra khỏi Đảng. Và còn tình trạng tổ chức đảng quản lý nhận thức chưa đúng, không nêu cao ý thức phê bình, góp ý chân thành, thẳng thắn để giúp cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm kiểm điểm, tự phê bình nghiêm túc, cầu thị, tự giác nhận trách nhiệm, hình thức xử lý kỷ luật phù hợp, từ đó bỏ phiếu quyết định hoặc đề nghị hình thức kỷ luật theo thẩm quyền được chính xác. Có cấp ủy, tổ chức đảng không thấy được trách nhiệm của tổ chức mình trong việc động viên, thuyết phục tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm tự giác kiểm điểm, nhận trách nhiệm, hình thức xử lý phù hợp, mà còn bao biện, che giấu, xin hoặc đề nghị không xử lý, xử lý kỷ luật nhẹ hơn; sợ ảnh hưởng đến truyền thống, đến phong trào chung và công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của địa phương, đơn vị... Đó là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của tổ chức đảng và của một bộ phận cán bộ, đảng viên với các hình thức, mức độ khác nhau. Các vụ việc vi pạm, sai phạm thời gian qua ở một số bộ, ngành, tập đoàn và địa phương cấp tỉnh, hầu hết các tổ chức đảng, đảng viên được kiểm tra, kể cả cán bộ cao cấp chưa tự giác kiểm điểm, tự kiểm tra, nhận trách nhiệm và hình thức kỷ luật đúng với nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm. Tổ chức đảng tính chiến đấu kém, không đề nghị hoặc đề nghị hình thức kỷ luật đối với đảng viên được kiểm tra thấp, chưa đúng với mức lỗi phạm, gây bức xúc trong dư luận. Song, cũng đã xuất hiện một số trường hợp cán bộ được kiểm tra đã tự giác kiểm điểm, tự nhận trách nhiệm về khuyết điểm, vi phạm và nhận hình thức kỷ luật. Tổ chức đảng nơi đảng viên công tác, sinh hoạt cũng đã nhận thức đúng, nêu cao trách nhiệm trong việc phê bình, góp ý kiến về khuyết điểm, vi phạm của đồng chí mình và bỏ phiếu đề nghị hình thức kỷ luật đúng với kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền. Về vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập trong bối cảnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua, bên cạnh kết quả, thành tích đã đạt được, cũng còn những khuyết điểm, hạn chế, yếu kém, thậm chí là vi phạm của một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Cần phải chủ động giám sát, kiểm tra để phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn từ khi còn manh nha, không để xảy ra khuyết điểm, vi phạm là quan trọng nhất để vừa không mất cán bộ, vừa không hỏng công việc, không ảnh hưởng đến sự phát triển của Đảng, của đất nước. Còn việc phải kiểm tra, xử lý kỷ luật một số cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm thì không “thích thú gì”, là việc “cực chẳng đã”. Tuy nhiên, để đề cao sự cảnh tỉnh, răn đe, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, sự trong sạch, vững mạnh sự phát triển của Đảng thì cần phải xử lý kỷ luật “một vài người để cứu muôn người” là việc cần thiết nhằm khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên khởi động, dưới chậm chuyển động”. Điều quan trọng không phải xử lý kỷ luật “thật nhiều, thật nặng” đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm, mà xử lý phải “thấu tình, đạt lý”, khiến đối tượng bị kiểm tra, xử lý phải phải thực sự “tâm phục, khẩu phục”, phải bảo đảm “công minh, chính xác, kịp thời”, có tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe chung và có “tính nhân văn cao” theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Để nêu cao tinh thần tự phê bình theo tư tưởng Hồ Chí Minh và tiến tới thực hiện văn hóa tự giác tự phê bình, “tự soi”, “tự nhận khuyết điểm vi phạm”, “tự nhận trách nhiệm”, “tự xử” của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên qua kiểm tra có khuyết điểm, vi phạm, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ một số nội dung sau: Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thấy được trách nhiệm của mình cả khi là chủ thể kiểm tra, khi là đối tượng kiểm tra và khi là đối tượng có liên quan (phối hợp, tham gia, chỉ đạo...) trong quá trình kiểm tra để thực hiện đúng trách nhiệm và thẩm quyền hoặc trách nhiệm và quyền của mình. Từ đó giúp cho quá trình kiểm tra trở thành tự kiểm tra, tự phê bình và phê bình sâu sắc để bảo đảm chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của kiểm tra. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong Đảng nói chung, trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật nói riêng. Đồng thời, tuyên truyền tính nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật để cán bộ, đảng viên học tập, thấm nhuần, thực hiện đúng quy định cả khi là chủ thể, cả khi là đối tượng kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh. Hai là, chủ thể kiểm tra phải có biện pháp khơi gợi, động viên, thuyết phục, cảm hóa đối tượng kiểm tra tin tưởng vào sự kiểm tra của tổ chức đảng để chủ động cộng tác, phối hợp, chấp hành nghiêm yêu cầu kiểm tra, quá trình thực hiện quy trình, thủ tục thi hành kỷ luật khi có khuyết điểm, vi phạm để bảo đảm nâng cao tính chủ động tự giác kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý thích hợp (tức là nâng cao văn hóa tự xử). Ba là, tổ chức đảng phải nêu cao trách nhiệm trong việc động viên, thuyết phục, tạo điều kiện cho tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên chấp hành nghiêm yêu cầu của chủ thể kiểm tra; đồng thời, phải nêu cao trách nhiệm trong việc tự phê bình, góp ý cho tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm. Qua đó, giúp cho tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm chuyển biến nhận thức, biến quá trình kiểm tra thành tự kiểm tra, tự phê bình, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý kỷ luật phù hợp. Bốn là, từng cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy khi có khuyết điểm, vi phạm, phải có nhận thức đúng, nêu cao ý thức trách nhiệm, chủ động tự giác kiểm điểm, tự kiểm tra, tự phê bình về khuyết điểm, vi phạm, từ đó tự nhận trách nhiệm, mức độ, hình thức xử lý thích hợp. Khắc phục tình trạng thiếu tự giác, thiếu trung thực, không thành khẩn, quanh co, chối tội, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác, cho tập thể, cho cấp dưới hoặc cho cấp trên. Năm là, tăng cường tuyên truyền, phổ biến những vụ việc, trong đó cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có khuyết điểm, vi phạm đã chủ động tự giác kiểm điểm, tự phê bình, tự kiểm tra, tự nhận trách nhiệm và hình thức xử lý thích hợp, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra. Đôn đốc, tạo điều kiện cho đối tượng có khuyết điểm, vi phạm thực hiện đúng kết luận kiểm tra, quyết định xử lý kỷ luật, khắc phục hậu quả, phấn đấu vươn lên./.

Học Bác từ những việc nhỏ .

Trên cơ sở nội dung học Bác về "trọng dân", cũng như phát huy tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tỉnh ủy An Giang xác định: Sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp, ngành, địa phương, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định, quy chế làm việc, xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu, đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, tác phong công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo là điều cần làm trước. . Và cũng từ tinh thần này, nhiều cán bộ, đảng viên ở An Giang đã xung phong, đi đầu theo từng nhiệm vụ, phần việc cụ thể. Gương mẫu, nói đi đôi với làm Năm 2010, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn còn nhiều khó khăn và điều kiện xây dựng nông thôn mới (NTM) có xuất phát thấp. Với vai trò Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã, ông Huỳnh Công Tấn thấm nhuần tư tưởng của Bác về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó quyết tâm vận dụng sáng tạo trong từng nhiệm vụ. Huy động mọi đoàn thể cùng vào cuộc, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ông Tấn còn giúp người dân hiểu rõ hơn về vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM, trong tham gia giám sát việc xây dựng cầu, đường giao thông nông thôn, cũng như huy động mạnh mẽ các nguồn lực trong và ngoài xã. 5 năm gần đây, kết hợp cùng các đoàn thể, quỹ vì người nghèo, các tổ chức cá nhân trong và ngoài xã, ông Tấn đã vận động được hơn 34,5 tỷ đồng phục vụ an sinh xã hội và xây dựng NTM của địa phương."Lời Bác dạy về đoàn kết đã trở thành khẩu hiệu. Học Bác để làm việc có ý nghĩa. Những việc làm của Ðảng và Nhà nước là vì mục đích lo cho dân, vì dân phục vụ. Học Bác và hành động vì dân, đó không chỉ là niềm vui vì đã hoàn thành tốt nhiệm vụ do Ðảng và Nhà nước giao cho, mà còn là niềm vui khi được đóng góp, giúp đỡ bà con nghèo, cũng như công tác xã hội của địa phương", ông Tấn bộc bạch. Cũng bởi sự tích cực, nhiệt thành của ông, nên hầu hết các địa bàn, thôn ấp trong xã, khi ông Tấn kêu gọi, vận động thì mọi người đều đồng tình ủng hộ. Nhiều người nhắc về ông Tấn với tình cảm chân thành. Như trường hợp hộ gia đình bà Võ Kim Phượng (ở ấp Trung Bình Nhì), do hoàn cảnh nghèo khó, nhà ở lụp xụp, làm thuê quanh năm, chồng con đau ốm… Mọi thứ dồn lên đôi vai của người phụ nữ trong nhà. Thấy được hoàn cảnh của gia đình, ông Tấn đến động viên và vận động các nguồn tài trợ, giúp xây mới được ngôi nhà, trao một thẻ bảo hiểm hộ nghèo, và thêm kinh phí điều trị bệnh. Tuyến đường ở ấp Tây Huề thuộc xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn dài gần 5 km. Trước đây, mặt đường cũ chỉ khoảng 2,5 m, việc đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân gặp nhiều khó khăn. Nhưng từ khi mở rộng mặt đường lên 3,5 m, bà con nơi đây ai cũng phấn khởi. Ðó là thành quả của sự chung lòng, của sự hợp nhất giữa ý Ðảng lòng dân. "Họp dân thì được thông tin chi tiết ý nghĩa của việc làm đường, rồi mình cũng thấy các cán bộ đã tiên phong, gương mẫu nên mình làm theo. Xây dựng NTM là giúp phát triển cho quê hương giàu đẹp mà, mình cũng nên đóng góp chút công sức", ông Quách Văn Tùng ở ấp Tây Huề chia sẻ. Giai đoạn 2010 - 2019, tổng nguồn vốn cho xây dựng NTM của huyện Thoại Sơn gần 2.120 tỷ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp và cộng đồng dân cư đóng góp gần 400 tỷ đồng, chiếm 16,48%. Ðạt được kết quả này, ngoài đối thoại, vận động, tuyên truyền trực tiếp có sự gương mẫu, đi đầu của cấp ủy, chính quyền cũng như từng cán bộ, đảng viên giúp lan tỏa phong trào "Nhà nước và nhân dân cùng làm" trong xây dựng NTM ngày càng rộng khắp.

Học Bác để sẻ chia yêu thương

Người dân ấp Vĩnh Quới, xã Vĩnh An, huyện Châu Thành gọi ông Nguyễn Văn Sáng là "kỹ sư nông dân" dù mới chỉ học hết lớp 5 trường làng. Tính đến nay, ông cùng đồng đội đã xây dựng hàng trăm cây cầu trong và ngoài tỉnh. Trong đó có khoảng 50 chiếc cầu bê-tông, cốt thép, có tuổi thọ trung bình dự kiến hơn 70 năm. Người dân ấp Vĩnh Quới đang chờ đón một cây cầu do nhóm của ông Tư Sang xây dựng đưa vào sử dụng. Cây cầu có chiều dài 64 m, ngang 5 m, với trọng tải tám tấn. Ðược biết cây cầu có dự trù kinh phí thực hiện khoảng 4,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, ông Nguyễn Văn Sáng cùng đội của mình đã tính toán chi ly để giảm chi phí, từ nhân công, đến nguyên vật liệu, nên ước kinh phí thực xây dựng còn khoảng 2 tỷ đến 2,5 tỷ đồng. Nói về Ðội thi công cầu tự nguyện này, mà người đứng đầu là ông Sáng (xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn) thì cán bộ, đảng viên và nhân dân ở đây đều nhắc đến với tình cảm trìu mến. Với ông hình ảnh và những câu chuyện về Bác luôn có sức thuyết phục mọi hành động của ông. Bởi thế mà hơn 40 năm nay, ông chưa một phút giây sao lãng, ông nói "Học Bác, tôi đã nguyện cống hiến chút công sức cho quê hương đất nước đến khi nào sức không thể làm được nữa mới thôi". Ông Ðoàn Văn Hổ, sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cách mạng, ba mẹ tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bản thân ông từng tham gia quân đội và thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Cam-pu-chia. Ðến tháng 11-1984, ông xuất ngũ trở về hoạt động tại địa phương. Với ý thức của một quân nhân và cùng hoàn cảnh khó khăn thuở nhỏ, từ khi xuất ngũ, ông dành hầu hết thời gian để quan tâm, chăm lo cho bà con nghèo ở quê mình. Tính đến nay, đã hơn 20 năm ông phát tâm làm việc thiện. Khi được hỏi về số căn nhà mà ông đã cất cho bà con vùng biên giới, ông bảo mình cũng không nhớ nổi. Riêng tính trong ba năm trở lại đây, đã có khoảng 200 căn nhà được trao tặng. Mỗi căn nhà được dựng mới là niềm vui của ông, cũng như của từng thành viên trong đội làm từ thiện. Và ông cho rằng, đó cũng là những việc cụ thể, cần thiết khi học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác Hồ. Việc học tập và làm theo Bác không chỉ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong tổ chức đảng, đoàn thể mà còn sâu rộng trong toàn nhân dân trên địa bàn tỉnh An Giang. Cụ thể ở các phong trào thi đua như "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc", xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng văn hóa, xây dựng con người Việt Nam,… đã mang lại kết quả khả quan, nhiều mô hình đi vào thiết thực, có tác động tích cực đến hệ tư tưởng cũng như trong hành động. Riêng giai đoạn 2010 - 2019, tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình xây dựng NTM toàn tỉnh gần 14.800 tỷ đồng. Bình dị, giản đơn trong cách nghĩ và làm, song nhắc nhớ về những cán bộ vì dân, những "thủ lĩnh" vì dân của vùng Bảy Núi An Giang thì đó đều là những tấm gương có đức tính kiên trì, vượt khó, cần kiệm, góp phần cùng với địa phương chăm lo tốt công tác an sinh xã hội, công tác giảm nghèo, mà còn giúp khơi gợi tinh thần tương thân tương ái, sự sẻ chia yêu thương, sự lan tỏa đức tính tốt đẹp trong nhiều người và ở khắp mọi nơi.