Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2021

Thông tin chính xác và nhân cách con người .

Việt Nam và thế giới vài năm gần đây trải qua không ít lần chống lại dịch bệnh. Mỗi lần kinh qua ấy lại có thêm những bài học được đúc rút. Trong cuộc chiến với nCoV lần này, bằng sự chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, cùng sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị giúp chúng ta kịp thời phát hiện và khống chế ngay từ những ca bệnh đầu tiên, không để dịch lây lan ra cộng đồng. Góp công lớn phải kể tới sự chủ động, tinh thần trách nhiệm của hệ thống thông tin, báo chí, truyền thông với nhiều loại hình. Thông tin được cung cấp một cách nhanh chóng, chính xác, tạo nhiều thuận lợi trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, cũng như sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành... để triển khai đồng bộ các biện pháp, hạn chế thấp nhất những tác động của bệnh dịch đối với đời sống xã hội và cộng đồng. Thông tin được báo chí, truyền thông cung cấp không những góp phần rất quan trọng nâng cao ý thức phòng, chống dịch mà còn tạo sự ổn định trong đời sống xã hội, không làm rối loạn hoạt động sản xuất, kinh doanh... Để có được những thông tin chính xác, đội ngũ phóng viên các cơ quan báo chí đã không quản ngại vất vả, hiểm nguy, luôn có mặt ở những khu cách ly, nơi điều trị bệnh nhân ghi lại những hình ảnh, những câu chuyện, những gương người tốt-việc tốt, những hành động đẹp sẵn sàng chia sẻ khó khăn với cộng đồng. Tuy nhiên, trong những ngày qua, không ít cá nhân sử dụng mạng xã hội đưa tin sai, tung tin thất thiệt gây hoang mang, bức xúc trong dư luận, đã bị các cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật. Điều đáng tiếc là mặc dù cơ quan chức năng đã xử phạt hàng chục trường hợp, nhưng vẫn có không ít người chưa nhận thức hết sự nguy hiểm của việc lan truyền thông tin sai sự thật. Nói về hậu quả của thông tin thiếu chính xác, một chuyên gia y tế cho biết: Đối với ngành y, một thông tin sai sẽ khiến hàng nghìn người lo lắng tới tình hình sức khỏe, tập trung về bệnh viện gây quá tải, gây tổn thất về nhân lực, vật lực. Vì thế, không chỉ trong phòng, chống dịch mà bất luận vấn đề gì, việc cần làm đầu tiên là làm chủ được thông tin, cung cấp cho người dân những thông tin chính xác nhất. Thông tin thất thiệt không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, gây rối loại xã hội, mà xét trên phương diện văn hóa còn là vấn đề đạo đức của mỗi con người. Bởi vậy, mỗi khi viết gì, nói gì, từng người cần suy nghĩ một cách thấu đáo, kiểm chứng kỹ càng, tuyệt đối không vì những động cơ thiếu trong sáng, vụ lợi mà cung cấp thông tin thiếu chính xác, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, có sự quan tâm lớn của dư luận. Văn hóa, phẩm chất của mỗi con người trước hết cần được thể hiện ở tính trung thực./.

Không được biện hộ cho cái ác .

Biện hộ cho tội ác, ngưỡng mộ tội phạm là loại hiện tượng không thể chấp nhận trong đời sống xã hội thì hiện nay lại đang có dấu hiệu lan tràn trên một số tờ báo điện tử mang khuynh hướng lá cải, website thông tin, mạng xã hội… . Tình trạng này không chỉ gióng lên hồi chuông báo động về sự lệch lạc trong nhận thức, suy nghĩ và sự thiếu hụt về đạo đức của một bộ phận người sử dụng internet hiện nay, mà còn là một nguy cơ xã hội cần được lên án mạnh mẽ và ngăn chặn. Rạng sáng ngày 14-2-2020, nhiều người dân TP Hồ Chí Minh thở phào nhẹ nhõm sau khi chính thức có thông tin Lê Thanh Tuấn (Tuấn khỉ) đã bị triệt hạ. Trước đó, chỉ từ mâu thuẫn cờ bạc, Tuấn đã trực tiếp gây ra cái chết của bốn người. Trên đường tẩu thoát, hung thủ còn giết hại nạn nhân Vũ Chí Tâm, cướp phá một số phương tiện giao thông. Dù đã được cơ quan chức năng vận động ra đầu thú, Lê Thanh Tuấn vẫn sử dụng vũ khí nóng để chống trả quyết liệt. Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án cùng thái độ hung hãn, manh động của Lê Thanh Tuấn, quyết định tiêu diệt tên sát thủ máu lạnh này của ban chuyên án là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội. Thế nhưng trước một vụ án minh bạch, rõ ràng như vậy, trên một số website tin tức và đặc biệt là mạng xã hội, vẫn có ý kiến "trái chiều" bênh vực hung thủ. Trong đó nổi lên ý kiến cho rằng thủ phạm là một "anh hùng thay trời hành đạo" vì đã "trừ khử bốn kẻ phá gia chi tử, chuyên cờ bạc", số khác tiếc nuối cho rằng sát nhân này là "một người sống có nghĩa, có tình". Thậm chí, một số tài khoản trên mạng xã hội còn ngụy tạo "thư tuyệt mệnh" kẻ sát nhân gửi cho vợ với ngụ ý đây là một người lương thiện, yêu gia đình, "đáng thương hơn đáng trách", chỉ vì "một phút nông nổi" mà "cả đời đau thương". Việc bênh vực kẻ sát nhân diễn ra ầm ĩ tới mức những người có lương tri, mà điển hình là "hiệp sĩ" đường phố Nguyễn Việt Sin, buộc phải lên tiếng, đặt ra nghi vấn: Tại sao lại cổ xúy cho Tuấn khỉ? Trong khi ở chiều ngược lại, các gia đình nạn nhân, nhất là trường hợp của ông Vũ Chí Tâm, lại không hề được quan tâm, đoái hoài? Một vụ án khác trong thời gian qua cũng thu hút sự tò mò của một số người là đường dây đánh bạc với số tiền ước tính lên đến hàng nghìn tỷ đồng qua trò chơi điện tử Ðế chế (Age of Empires). Theo thông tin từ cơ quan điều tra, các đối tượng đứng đầu đường dây này là Phí Văn Huấn và Trần Ngọc Anh. Trong đó, kẻ chủ mưu Phí Văn Huấn (biệt danh bầu Huấn) được biết đến như một nhà hảo tâm trong làng thể thao điện tử Việt Nam khi thường xuyên tổ chức các giải đấu lớn, hỗ trợ tiền bạc, vật chất cho cộng đồng người chơi Ðế chế. Thế nhưng, đây chỉ là vỏ bọc để Huấn tổ chức đường dây cá độ trên website Powgs.com, lôi kéo người chơi (gamer) nổi tiếng và các con bạc tham gia. Hệ thống đánh bạc trực tuyến này được thiết lập tinh vi qua bàn tay lập trình của Trần Ngọc Anh vốn là cựu sinh viên Trường đại học Công nghệ, từng được giải cao tại Olympic Tin học quốc gia. Ngoài ra, Huấn còn cộng tác với một số cử nhân công nghệ thông tin từ các trường đại học danh tiếng. Về vụ trọng án này, Trung tá Quách An Tuấn, Ðội trưởng Ðội Cảnh sát hình sự quận Cầu Giấy (Hà Nội) cho biết, đây là đường dây đánh bạc quy mô lớn nhất bị phát hiện kể từ khi thành lập đơn vị đến nay. Ðiều này cho thấy Phí Văn Huấn và đồng bọn là loại tội phạm có tổ chức, hoạt động chuyên nghiệp, chặt chẽ. Vậy mà, trước thông tin Phí Văn Huấn, Trần Ngọc Anh và những kẻ khác trong tổ chức đánh bạc Powgs.com sa lưới pháp luật, một số người vẫn u mê khi cho rằng: Huấn là "một tượng đài AOE (trò chơi Ðế chế)", "tổ chức đánh bạc vì đam mê". Tương tự, Trần Ngọc Anh nhận được nhận xét là "bản chất tốt nhưng dòng đời xô đẩy", "chỉ vì mê trò chơi Ðế chế chứ không phải bị kẻ xấu dụ dỗ"... Hai vụ án kể trên không tương đồng, song trên thực tế lại có cùng một điểm chung, đó là: kẻ phạm tội được bào chữa tung hô như "người hùng lạc lối", tội ác của họ được bênh vực, thậm chí ngợi ca như là hành động quả cảm. Nghiêm trọng hơn, một số tài khoản mạng xã hội còn chủ động đưa ra những nhận định làm sai lệch bản chất vụ án, xuyên tạc công tác phòng, chống tội phạm của lực lượng chức năng, dẫn dắt dư luận theo góc nhìn tiêu cực, lệch lạc. Trong số các tài khoản này, có một số phần tử có nhiều hoạt động chống phá Nhà nước như Hoàng Dũng (biệt danh trên mạng là Hoàng Thiên Di) - thành viên nhóm "con đường Việt Nam". Từ khi diễn ra cuộc truy bắt Lê Thanh Tuấn, Hoàng Dũng thường xuyên đăng tải các bài viết kích động, cho rằng đây là cuộc thanh trừng nội bộ của lực lượng công an, ví von cái chết của một kẻ biến chất như "liệt sĩ hy sinh trong lúc làm nhiệm vụ". Ðáng lên án là những nội dung sai sự thật như vậy lại được một nhóm người, dù chiếm tỷ lệ nhỏ trên không gian mạng, hùa theo cổ vũ, tán thành. Nhìn lại các bài viết, các ý kiến bình luận chung quanh một số vụ án trong thời gian gần đây, có thể thấy hiện tượng bênh vực, thậm chí ngợi ca thủ phạm không chỉ dừng lại ở một, hai trường hợp cá biệt mà đang có xu hướng gia tăng. Và cần chỉ ra rằng, nguyên nhân sâu xa chủ yếu bắt nguồn từ sự vô ý thức, lệch lạc trong suy nghĩ, nhận thức và lối sống của một số người đã dẫn tới tình trạng bùng phát của các loại thông tin không chính thống, thiếu xác thực, thiếu khách quan về đời tư của nghi phạm đã xuất hiện trên một số báo điện tử, trang tin cá nhân, mạng xã hội. Chưa kể, không rõ vì mục đích gì (Ðể bao che cho nghi phạm? Ngại va chạm? E ngại hệ lụy với gia đình và người thân, hàng xóm sống chung quanh nghi phạm? Nhận thức và trình độ chuyên môn yếu kém của một số người làm báo? Lợi dụng vụ việc đang được dư luận quan tâm để tạo sự chú ý cho cá nhân?...) mà trong một số bài viết, một số đối tượng gây án được mô tả theo hướng như muốn bào chữa, minh oan, chạy tội? Thí dụ, có thể thấy nhan đề một số bài báo đăng trên mục pháp luật của một số tờ báo mạng ở Việt Nam như: "Hàng xóm cạnh nhà nghi phạm đầu độc chị họ bằng trà sữa: Trang là người hiền lành, hòa đồng", "Ðối tượng gây ra vụ thảm sát ở Thái Nguyên được đánh giá hiền lành", "Vụ cướp tiệm vàng ở Quảng Ninh: Nghi phạm là người hiền lành", "Nghi phạm bắn tài xế ta-xi hòng cướp xe là người hiền lành", "Nam thanh niên nghi ngáo đá sát hại bốn người: Thường ngày nó rất hiền"... Theo đó, thủ phạm thường được phóng viên ghi lại là "người hiền lành, ngoan ngoãn, chưa bao giờ gây gổ với ai", "học lực rất giỏi, tu chí làm ăn", "từ nhỏ đến lớn không có quậy phá gì, không mất lòng ai và là đứa hiếu thảo", "chỉ biết có vợ và con, gần như đoạn tuyệt với bạn bè chơi bời bên ngoài, chí thú làm ăn", "khi công an bắt còn tưởng nhầm người"... Hành vi phạm tội rõ ràng, cụ thể, thậm chí là tội ác không thể dung thứ, nhưng việc mô tả về con người và nhân thân của thủ phạm theo chiều hướng ngược lại khiến người đọc nghiêm túc có quyền nghi ngờ về thông tin do tác giả bài báo cung cấp. Nhất là khi nội dung đó thường không nhất quán, thậm chí mâu thuẫn với nhau, bởi có trường hợp nghi phạm được bài báo nhận định là người tử tế nhưng "từng phải đi tù cải tạo", "có tiền án và mới thụ án xong", "nhiều lần trộm cắp vặt", "nghiện ma túy nặng", "quan hệ với các thành phần bất hảo" hoặc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, gây sát thương cao... Vì lẽ đó mà nhà báo Mạnh Quân từng hóm hỉnh nhận xét khi thấy ai được giới thiệu là người hiền lành là "lạnh hết sống lưng, kiếm cớ về sớm". Trong vòng xoáy thông tin được viết ra như muốn có lợi cho thủ phạm, không ngạc nhiên khi một số công dân mạng tin vào "bằng chứng" đó đã có những phát ngôn, suy nghĩ chia sẻ, a dua, cổ vũ hoặc bênh vực hung thủ; nhất là những người có nhận thức hời hợt, suy nghĩ nông cạn, hoặc chịu ảnh hưởng bởi văn hóa, phim ảnh nước ngoài về đề tài xã hội đen, tội phạm. Trên thực tế, đây cũng là một vấn đề gây nhức nhối ở nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng không ngoại lệ. Kể từ khi cuốn tiểu thuyết In Cold Blood (Máu lạnh) của T. Capote (T. Cơ-pâu) ra đời và tồn tại như một tác phẩm "ăn khách" tại Mỹ, đời tư của tội phạm đã trở thành đề tài "hái ra tiền" của nhiều nhà báo, nhà văn trên thế giới, bởi có nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn. Thêm nữa, nhân vật trong các tiểu thuyết, phóng sự này lại là những con người có thật, bằng xương, bằng thịt, có thể đối chiếu, so sánh. Nhưng qua sự phóng tay quá đà của nhà văn, nhà báo trong các tác phẩm loại này mà giờ đây là một bộ phận công dân mạng nhẹ dạ, cả tin hoặc có mục đích thiếu trong sáng, thiếu lương tâm lại nhầm tưởng, có cái nhìn lệch lạc về kẻ phạm tội. Thay vì thương tiếc cho nạn nhân, hoặc cảm phục hành động vượt qua khó khăn, vất vả của lực lượng chức năng trong công tác điều tra, phá án,… họ lại dồn tình cảm nông nổi của mình cho kẻ lừa đảo, sát nhân, giết người hàng loạt, tội phạm có tổ chức. Trong khi đó, nếu thật sự có các đức tính như một số tờ báo, trang điện tử, và một bộ phận công dân mạng ca ngợi "tài năng", "học giỏi", "hiền lành",... thì các đối tượng này hoàn toàn ý thức được về hậu quả từ tội ác mà họ gây ra. Nên khó có thể chấp nhận người là "tài năng", "học giỏi", "hiền lành" lại sử dụng thủ đoạn tàn bạo, nhắm mắt chạy theo ma lực của tiền bạc, trả thù bằng hành vi đê hèn, vì lợi ích sai trái và ích kỷ của họ mà xuống tay sát hại người khác. Một vài kẻ còn hung hãn, liều chết chống trả lực lượng công an đến cùng, thậm chí còn cướp thêm sinh mạng của người vô tội. Ðam mê vật chất phù phiếm đến mức u tối đầu óc, bất cận nhân tình, bất chấp lẽ phải, tự sa vào "bẫy" do chính bản thân tạo ra để gây tội ác đối với đồng loại thì nhất định phải chấp nhận hình phạt theo quy định của pháp luật, đó là điều mọi xã hội văn minh đều duy trì. Thậm chí, với những tội danh như thế, dù đã phải trả giá bằng các mức án nghiêm khắc của pháp luật, những kẻ phạm tội cũng khó có thể nhận được sự thương cảm từ những người yêu chuộng công lý, đề cao giá trị cao cả của nhân tính, của tình người. Vì vậy, khi đề cập các sự việc này, người nào còn mơ hồ, thiếu sáng suốt trong nhận thức đưa ra thứ luận điểm đổ lỗi cho xã hội và cho nạn nhân, nhằm bào chữa, giảm nhẹ mức độ phạm tội cho kẻ thủ ác là không thể chấp nhận. Ðó là việc làm đi ngược các nguyên tắc đạo đức, pháp luật cũng như các giá trị xã hội. Cần nên xem đây là cơ sở xác định hành vi phải lên án, thậm chí chịu chế tài xử phạt của xã hội. Do vậy, để tránh những hành vi đi ra ngoài kỷ cương xã hội và giới hạn đạo đức, mỗi người cần nâng cao bản lĩnh, ý thức trên mạng internet, có ý thức bảo vệ mình tránh bị lợi dụng, hình thành bộ lọc miễn dịch, sàng lọc những thông tin, ảnh hưởng xấu, độc để có sự suy xét, tự cảnh tỉnh khi bày tỏ hoặc tiếp nhận thông tin. Cùng với đó, các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội cần tích cực vào cuộc để xây dựng văn hóa trên môi trường mạng, tạo môi trường, điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn người dân tham gia và sử dụng internet có trách nhiệm, đúng pháp luật, đồng thời có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nghiêm những sai phạm hoặc hành vi sai trái của những cá nhân, tổ chức trên không gian mạng. Các cơ quan báo chí truyền thông cũng cần góp phần định hướng thông tin dư luận, làm tốt việc cung cấp thông tin trước các vụ việc nhạy cảm, được xã hội chú ý, thông tin rõ, đúng, sai, giải thích, định hướng dư luận, kịp thời cổ vũ những cái tốt, phê phán, loại bỏ những thứ xấu, góp phần làm cho môi trường internet ngày càng lành mạnh.

Ác ngữ, khẩu nghiệp .

Cổ nhân có câu “họa tòng khẩu xuất” như muốn cảnh tỉnh, khuyên răn người đời chớ để cho cái miệng mình nói năng tùy tiện, lung tung mà có lúc tự rước họa vào thân! Sống trong cuộc đời, đã mấy ai dám tự nhận bản thân mình không có một lúc nào đó lỡ miệng, lỡ lời. Bởi đã là con người, hầu như ai cũng ít nhiều trải qua những cung bậc “hỉ nộ ái ố”. Vợ chồng, anh em, bạn bè, đồng môn, đồng nghiệp dù thân thiết, chân tình đến mấy, cũng khó tránh khỏi có lúc “nóng lạnh” mà phát ra lời nọ ý kia không hợp lòng nhau. Đến vô tri, vô giác như cái bát để trong giàn có lúc còn xô nhau mà, huống chi con người ăn ở, sinh sống, công tác với nhau hằng ngày. Vài ba lời giận hờn, mắng mỏ nhất thời rồi lại bao dung cho qua, miễn là cái tâm mình lành, cái dạ mình thiện, động cơ mình sáng, thì sự “va chạm” nhau trong lời nói, giao tiếp của con người được ví như một thứ “gia vị” làm cho cuộc sống này thêm phong phú. Chứ quanh năm ngày tháng, chỗ nào, ở đâu mà ai ai cũng “giữ miếng” nhau thì cuộc đời sao tránh khỏi đơn điệu, tẻ nhạt! Dân gian có câu “đa ngôn đa quá”, nghĩa là người nói nhiều thì dễ sai lời, mắc lỗi. Đúng là nói nhiều chưa chắc đã hay, nhưng có người nói nhiều mà vẫn vô hại, ví như những người thích tếu táo, trêu đùa chỉ nhằm mục đích duy nhất là gây cười, tạo thêm niềm vui cho người khác. “Đa ngôn” trong trường hợp này là không “đa quá”. Trong khi cuộc sống rất cần nhiều tiếng cười, niềm vui để giải tỏa những áp lực căng thẳng từ xã hội hiện đại, thì thời nay, nhiều cư dân mạng lại bị cuốn vào tâm lý đám đông rồi “xả” ra đủ thứ trên mạng xã hội. Mà lạ thay, có người cứ gặp đâu nói đấy, thích gì nói đấy, nói như cho bõ tức, nói như cho hả lòng hả dạ, nói cho “sướng mồm sướng miệng”, nói để thể hiện “ta đây là người hiểu biết” mà thực ra có khi chẳng biết mình đang nói cái gì, động chạm đến cái gì, vì chỉ biết a dua theo vô thức. Lại nữa, có người cứ nghĩ những bất cập, hạn chế, tiêu cực trong cuộc sống, xã hội này là do người khác gây ra, nên họ cứ tùy tiện ám chỉ, mỉa mai, phê phán, chì chiết mà không biết rằng, mình đang xúc phạm cộng đồng, xã hội. Đáng nói nhất là những người nhân danh kẻ sĩ, trí thức có hiểu biết khi nhận định, phân tích, bình luận một vấn đề nào đó theo kiểu “chẻ sợi tóc làm tư”, lươn lẹo dùng các thủ thuật “ngụy khoa học” để đánh tráo khái niệm, nhìn một cây rồi đánh giá cả cánh rừng, thổi phồng, thậm chí “hô biến” một hiện tượng đơn lẻ thành bản chất nhằm lèo lái dư luận nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng tiêu cực. Mà cái lối nói, lối viết của họ thoạt nghe, thoạt xem cứ tưởng là khách quan, công tâm lắm, nhưng nhìn sâu, đọc kỹ mới thấy “thông điệp” đưa ra hàm chứa đầy tinh vi, xảo trá. Những người này thuộc diện “Khẩu thiệt đại can qua” (miệng lưỡi thay giáo mộc), hàm ý chỉ kẻ dùng lời nói thay cho giáo mác (qua) để đâm chém người ta, tức là hại người ta; và cũng chính họ dùng lời nói thay cho cái mộc (can) để che chở cho mình, tức là cố ý giấu diếm, lấp liếm lỗi lầm của mình. Cái thứ nói năng, phát ngôn chứa đựng động cơ “gắp lửa bỏ tay người” như thế, thực chất là một thứ ác khẩu, mà nhà Phật gọi là “ác ngữ”. Ác ngữ là một trong bốn điều bất thiện thuộc về lời nói, đó là: vọng ngữ (nói láo), ỷ ngữ (nói thêu dệt), lưỡng thiệt (đâm thọc), ác khẩu (chửi rủa). Những người “ác khẩu” thì sớm muộn cũng sẽ gánh chịu “khẩu nghiệp”, tức là phải chịu cái hệ lụy, hậu quả do những lời ác ý, ác tâm của mình gây ra. Thông thường, một lời ác khẩu của một người trong đời sống thực có thể gây phiền toái, liên lụy, xúc phạm đến một hay vài ba người khác; nhưng mỗi cư dân mạng chỉ cần “like”, “share”, “comment” trên mạng xã hội thì một lời ác khẩu có thể nhân lên, biến thành hàng vạn, thậm chí hàng triệu lời ác khẩu thì lúc đó, hệ lụy kéo theo vô cùng lớn. Và như vậy, cái khẩu nghiệp của một người có thể cuốn vô số người khác bị khẩu nghiệp theo. Theo nhà Phật, trong mười nghiệp bất thiện của con người thì khẩu nghiệp có bốn, tức là chiếm gần một nửa. Nếu cứ tạo khẩu nghiệp triền miên, con người không chỉ gây hại cho người khác, cộng đồng, xã hội mà bản thân họ cũng không được thanh thản, thảnh thơi, thậm chí rơi vào cảnh luân hồi đau khổ. Vậy nên, nếu ai mà không chú trọng tu tâm rèn tính, tu thân tích đức, nói lời hay, làm việc thiện, thì người đó sẽ khó tránh khỏi phiền toái, hệ lụy. Cổ nhân có câu “họa tòng khẩu xuất” như muốn cảnh tỉnh, khuyên răn người đời chớ để cho cái miệng mình nói năng tùy tiện, lung tung mà có lúc tự rước họa vào thân!./

Nhậndiện, đấu tranh với biểuhiện lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá mạng cách mạng Việt Nam

 


Những lợi ích từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) mang lại như: Trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, thực tế ảo, tương tác thực tại ảo, mạng xã hội, điện toán đám mây, công nghệ sinh học phân tửin 3D... đã và đang làm biến đổi toàn diện các mặt của quan xã hội truyền thống, được biểu hiện từ quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý đến phân phối sản phẩm và từ quản lý, quản trị truyền thống sang quản lý số. Con người tương tác, kết nối, chia sẻ thông tin với nhau và gắn kết, tích hợp với vạn vật qua mạng Iternet (IoT), các hệ thống kết nối Internet (IoS). Các quốc gia đang từng bước xây dựng thành phố “thông minh”, “chính quyền điện tử”, kinh tế số, xã hội số…

Quan hệ giữa bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật dữ liệu cá nhân với tính tiện ích, đơn giản, chia sẻ của cách mạng công nghiệp 4.0 đứng trước nguy cơ bị đe dọa, đặc biệt là các loại tội phạm phi truyền thống sử dụng không gian mạng để đưa những thông tin xấu độc, giả mạo lên các trang mạng xã hội không những tác động, phủ nhận bản chất của báo chí cách mạng mà còn tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh văn hóa, an ninh xã hội, an ninh trật tự của đất nước, tác động đến niềm tin, tình cảm của các giai tầng xã hội vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hiện nay, lĩnh vực truyền thông đã và đang bị các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm thực hiện “cuộc cách mạng truyền thông” đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, những hình ảnh khiêu dâm, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng; tuyên truyền lối sống thực dụng phương Tây, hưởng thụ, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.

Thủ đoạn phổ biến của chúng là:

- Lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch, bọn phản động và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

- Lợi dụng tiện ích từ cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân, bài viết hồi ký của các đồng chí lãnh đạo cao cấp, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ... nhằm tuyên truyền đề cao chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cổ súy cho xã hội dân sự, lối sống thực dụng phương Tây, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.

- Lợi dụng tiến bộ khoa học của cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Chúng còn khai thác, sử dụng các trang mạng xã hội, tính năng livestream của Facebook với mục tiêu làm “truyền thông xã hội” để chỉ đạo, truyền hình trực tiếp âm thanh, hình ảnh, coi đây là một dạng đấu tranh “bất bạo động” không cần vũ trang, để tác động đến chính trị, tư tưởng, “quyền con người”, thúc đẩy sự hình thành, phát triển báo chí tư nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội đối lập với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước.

- Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

- Lợi dụng tính tương thích và ứng dụng kết nối mạng không dây (wifi) 3G, 4G giữa màn hình tivi thông minh với máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh  trong việc trình chiếu hình ảnh hoặc đăng tải các thông tin phục vụ lợi ích công cộng để khai thác, lợi dụng các tính năng, ứng dụng tương thích trên tivi thông minh, máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh để kết nối, điều khiển và mở ứng dụng Youtube được cài sẵn trên tivi với các khung ảnh tĩnh để đưa những hình ảnh có nội dung xấu độc hoặc thay đổi nội dung thông tin nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc, chống đối Đảng và Nhà nước, gây hoang mang và tạo dư luận xấu. Với cơ chế hoạt động hiện nay, Youtube sẽ tự động gợi ý hiển thị các video clip khác hoặc tự động phát chương trình nếu người quản lý thiết lập chế độ tự động phát trên ứng dụng mà video clip có nhiều nội dung xấu độc, giả mạo tác động đến người đọc.

Như vậy, cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tiếp tục xuất hiện nhiều ứng dụng và các tiện ích đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân, trong đó phải khẳng định sự hiện diện và phát triển của mạng xã hội, của Internet là tất yếu khách quan, trong đó có cả tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức, phát triển và kìm hãm, truyền thống và phi truyền thống, niềm tin và pháp luật... việc tiếp nhận, khai thác và đánh giá, sử dụng, bình luận như thế nào là tùy thuộc vào ý thức chủ quan, thái độ chính trị của người sử dụng. Lợi dụng vấn đền này, các thế lực thù địch xác định Internet là “công cụ số một” để tung tin xấu độc, xuyên tạc, hạ thấp uy tín cá nhân và tổ chức, gây nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ, khoét sâu vào những yếu kém, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trước hết, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Hai là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan báo chí cách mạng cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này (có thể là tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

Ba là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 Bốn là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

 Năm là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Tư duy mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Ðảng

 

 Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 Ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

 Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

 Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, như nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng, trong đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[1]. Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”[2]. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù đich, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.

 Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên không gian mạng và các trang mạng Internet, mạng xã hội. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nhất là những khó khăn, hạn chế, yếu kém của ta trong phát triển kinh tế xã hội, tệ nạn tham ô, tham nhũng để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lôi kéo tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa’ trong nội bộ, gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh trên lĩnh vực  chính trị - tư tưởng, văn hoá sẽ gặp nhiều thách thức mới.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ PHÁ HOẠI

 

Như chúng ta đã biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do.

 Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng.

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được hiến định, quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Như ngày 25-2, trên Facebook xuất hiện một thông tin có nội dung dưới dạng tờ rơi hỏi và trả lời được chia sẻ với tốc độ cao. Tại đây, đối tượng đưa ra các câu hỏi như: Đã từng thấy người nào diễn thuyết, kêu gọi bỏ phiếu cho họ chưa? ai là người đại diện cho quyền, lợi ích của bạn? đã có đại biểu Quốc hội nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho bạn chưa...? Trả lời cho các câu hỏi trên là những từ "chưa từng thấy", "chưa có" và đặc biệt là đi đến khẳng định nếu ứng cử viên bầu đại biểu Quốc hội có đề án nhưng không diễn thuyết thì không thể đại diện cho cử tri và thống nhất là không bầu. Cũng cuối tháng 2 vừa qua, NĐC, một nhân vật “trở cờ” ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”. Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, nhân vật này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

 Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định.

 Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Thực tiễn cho thấy, thứ nhất, việc đưa ra và tuyên truyền, cổ xúy cho phong trào tự phát “không biết không bầu” là đi ngược lại với quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Điều 2 của luật này quy định tuổi bầu cử và tuổi ứng cử như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Thế nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì tự mình đã đánh mất quyền công dân, quyền cử tri mà pháp luật đã quy định. Xin nói thêm là, từ năm 1946 trở về trước, dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, công dân Việt Nam chưa khi nào được hưởng không khí tự do, dân chủ đúng nghĩa; chưa ai được cầm trong tay phiếu bầu để bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của mình. Có thể nói, cùng với việc khai sinh, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) thì cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên (bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa I) diễn ra tại các tỉnh, thành phố trong cả nước vào ngày 6-1-1946, theo lối phổ thông đầu phiếu và lựa chọn ra 333 đại biểu cho Quốc hội là một bước tiến và dấu ấn lịch sử, thể hiện ý chí khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của toàn dân tộc. Từ đó đến nay, việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội chính trị của nhân dân. Các quy định trong bầu cử cũng ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, được luật hóa để sao cho phát huy quyền làm chủ của công dân, cử tri được cao nhất; bảo đảm bầu cử an toàn, thống nhất và hiệu quả. Vậy nên, nếu thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu” thì khác nào “lấy đá ghè chân mình”, tự tước đi quyền, lợi ích của chính công dân và của chính cử tri.

 Thứ hai, việc tán phát thông tin trái luật đã khiến cho nhiều người lầm tưởng và hiểu sai lệch chế độ chính trị ở Việt Nam, cổ vũ cho tư tưởng dân chủ cực đoan, vô lối, chủ nghĩa dân túy. Thực tế, ở các nước phương Tây, việc bầu nghị viện và bầu ra nhà lãnh đạo đất nước được tiến hành khá cởi mở. Các ứng cử viên tự do xây dựng đề án, tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động tranh cử để cử tri lựa chọn. Tuy nhiên, hiện nay việc này đã xuất hiện những “gót chân Asin” mang biểu hiện lợi ích cục bộ, thao túng chính trị, tranh giành cử tri bằng mọi giá, triệt hạ đối thủ bằng mọi cách, gây bất bình giữa các tầng lớp trong xã hội. Những bất ổn, náo loạn, đổ máu... xung quanh bầu cử lãnh đạo cấp cao của một số quốc gia ngày càng cho thấy những bất đồng, phân biệt về quyền làm chủ của công dân giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội là rất khó có thể điều hòa. Những người cổ vũ tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ trong lúc này chẳng những thiếu hiểu biết, mà còn rắp tâm phá hoại đất nước.

 Thứ ba, phong trào tự phát “không biết không bầu” là một cái cớ để các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến có dịp phản bác lại sự ổn định chính trị, ổn định xã hội ở Việt Nam. Chúng mong muốn hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam với bạn bè quốc tế và đối tác, ngăn các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Đây cũng chính là một trong những căn nguyên có thể cướp đi việc làm, thu nhập của người lao động trong xã hội và đặc biệt làm giảm động lực tinh thần hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam hùng cường...

 Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng đồng thời là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

Câu chuyện kết nối

Bây giờ, có biết bao là khái niệm về "phương pháp lãnh đạo" và "người lãnh đạo". Nào là, "lãnh đạo là người biết truyền cảm hứng". Nào là, "lãnh đạo là người dẫn đường". Nào là, "lãnh đạo là người gây ảnh hưởng"... Trong bài này, chỉ gói gọn trong hai từ "kết nối", "kết nối" là để tạo ra nguồn lực. Lãnh đạo là người biết kết nối để tạo ra nguồn lực, nguồn lực cho mình, tổ chức của mình, địa phương của mình . . Nguồn lực của mỗi tổ chức là hữu hạn. Nguồn lực của con người, trong đó, có người lãnh đạo, lại càng hữu hạn. Nguồn lực không chỉ là ngân sách và đất đai, cơ sở vật chất và trang, thiết bị. Còn có những nguồn lực quan trọng hơn như : thông tin và kiến thức, tư duy và tầm nhìn. Các nguồn lực quan trọng như vậy không thể "tự dưng" đến người lãnh đạo, mà phải biết kết nối, kết nối từ bên trong tổ chức và kết nối với bên ngoài tổ chức. Bên trong mỗi tổ chức có đội ngũ nhân viên. Mỗi nhân viên là một nguồn lực cho tổ chức đó. Nhưng từng cá nhân đều có "cái tôi" của riêng mình. Có "cái "tôi" tích cực, cũng có "cái tôi" tiêu cực. Lãnh đạo là người biết kết nối nhân viên lại với nhau, hướng tới một mục tiêu chung, một tầm nhìn chung, một sứ mạng chung. Trong quá trình đó, kết nối những "cái tôi", dung hoà những "cái tôi" để bổ khuyết cho nhau, và để bổ khuyết cho cả cái hữu hạn của người lãnh đạo. Kết nối trong nội bộ vẫn là chưa đủ. Thế giới này mênh mông vô cùng. Kiến thức là bao la, vô tận. Cái mới luôn xuất hiện hàng ngày, từng giờ. Cái mới chưa kịp định hình thì đã có cái mới hơn xuất hiện. Lãnh đạo mà chỉ "quanh quẩn trong bốn bức tường, vào ra khuôn viên tổ chức" thì sẽ mất đi thời cơ kết nối với những người giỏi hơn mình, kiến thức uyên thâm hơn mình, kinh nghiệm từng trải hơn mình. Kết nối thêm được với một người như lát thêm một viên đá trên con đường đi đến thành công của mỗi người. "Thành công là nhận ra những gì bạn biết chỉ là hạt cát trong biển khơi. Thất bại là nghĩ bầu trời trên miệng giếng là cả thế giới"! Muốn kết nối, cần chủ động tìm ra không gian thích hợp và hoà nhập vào không gian đó. Trong tổ chức thì tạo ra cơ hội để mỗi người gắn bó với nhau, sẵn sàng chia sẻ với nhau, kích hoạt những sáng kiến mới, cổ vũ tinh thần sáng tạo ở mỗi người. Muốn vậy, phải vượt qua những rào cản như mệnh lệnh một chiều, áp đặt, khuôn cứng. Muốn vậy, người lãnh đạo phải hiểu rằng, mình cần sự chung tay góp sức của từng người trong tổ chức. Khi biết mình cần người khác thì mình sẽ ứng xử sao cho đúng mực, đối đãi sao cho chân thành, quan hệ sao cho gần gũi, gắn bó. Có một doanh nhân nổi tiếng đúc kết: "Thành công của tôi là nhờ tôi tạo ra hạnh phúc cho nhân viên của mình". Đơn giản vậy thôi mà! Mỗi tổ chức cũng có giới hạn và nguồn lực trong tổ chức cũng mang tính hữu hạn. Vậy là, phải mở ra không gian kết nối rộng hơn, kết nối được nhiều người hơn. Khi nhận thấy mình cần kết nối để tạo thêm nguồn lực thì cơ hội kết nối đến sẽ đến ở mọi lúc, mọi nơi. Tham gia hội thảo, hội nghị cũng là thời cơ kết nối với nhiều chuyên gia trong và ngoài nước. Một chuyến tham quan, giao lưu nơi này nơi kia cũng là cơ hội kết nối nhiều người ở các vùng miền khác nhau. Trong một bàn tiệc chiêu đãi, đâu chỉ là "chuyện ăn, chuyện uống", mà cũng là cơ hội kết nối với người này, người nọ. Kết nối có tính bắt cầu. Kết nối được với một người sẽ tạo cơ hội kết nối với một vài người khác, và cứ thế sẽ kết nối thêm với nhiều người nữa theo cấp số nhân. Khi ấy, thông tin, kiến thức, tư duy, tầm nhìn cũng được mở rộng thêm theo cấp số nhân. Thành công của một người đâu chỉ nhờ kiến thức, kỹ năng, mà còn nhờ vào những mối quan hệ. Những mối quan hệ trong xã hội tạo ra những vòng tròn các mối quan hệ. Vòng tròn càng mở rộng, nguồn lực giúp cho người lãnh đạo thành công càng to lớn. Một người đâu chỉ có một, mà còn có nhiều vòng tròn mối quan hệ bao quanh mình. Như vậy, kết nối để mở rộng đường kính của vòng tròn và tạo ra càng ngày càng có nhiều vòng tròn hơn. Người lãnh đạo đừng tự giới hạn không gian quan hệ, xem nhẹ các mối kết nối với nhân viên bên trong tổ chức và những người giỏi bên ngoài tổ chức của mình. Người lãnh đạo kết nối với bên ngoài để kết nối bên ngoài với bên trong, làm cho nhân viên bên trong có cơ hội được kết nối với bên ngoài. Đó cũng là cách để nhân viên trong tổ chức nắm bắt thông tin, mở mang kiến thức, trải rộng tầm nhìn. Đó là cơ hội để nhân viên của mình có điều kiện trao đổi, giao lưu, học tập để trưởng thành hơn. Xã hội mênh mông, nhiều người không có điều kiện để tự mình kết nối với người khác. Khi ấy người lãnh đạo phải tạo ra chất kết dính để kết nối những nhóm người trong xã hội. Kết nối giữa người sản xuất và người tiêu thụ. Kết nối để nông sản vào các trung tâm phân phối. Kết nối giữa trí thức và nông dân. Kết nối giữa chuyên gia và người khởi nghiệp. Trong thời đại công nghệ, chỉ bằng công cụ internet như thư điện tử, facebook, mạng zalo... là có thể kết nối được rồi. Đơn giản là nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của “câu chuyện kết nối”. Hãy biết kết nối! Có một suy nghĩ trong một quyển sách hay: "Những người bạn gặp trên đường đời sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn. Dù tốt hay xấu, họ cũng tặng bạn kinh nghiệm sống tuyệt vời!".

Bệnh giả dối

Nếu không triệt tiêu được bệnh giả dối trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thì đến một lúc nào đó, nó sẽ trở thành một thứ “vi rút” nguy hại có thể phát sinh, lây lan trong cấp ủy, cơ quan, đơn vị. . Hai đảng viên cao niên ngồi tâm sự: - Dạo này đọc báo chí, thấy người ta nhận diện triệu chứng, mổ xẻ nhiều căn bệnh liên quan đến một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nào là bệnh cơ hội, bệnh thực dụng, bệnh ích kỷ, bệnh phô trương, bệnh háo danh, bệnh vô cảm… Bệnh nào cũng đáng lo ngại ảnh hưởng đến “sức đề kháng” nhân cách cán bộ, đảng viên. Nhưng có một thứ bệnh đáng sợ hơn, ông biết là bệnh gì không? - Theo tôi, đó chính là bệnh giả dối. - Đúng vậy! Có lẽ chưa bao giờ cái bệnh giả dối của một bộ phận cán bộ, đảng viên lại biểu hiện dưới muôn hình vạn trạng như thời nay. Nào là khai man tuổi tác, bằng cấp, trình độ học vấn theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”, thậm chí “đổi trắng thay đen”. Nào là kê khai tài sản theo kiểu “Có bốn bảo hai, có hai bảo một”. Nào là “dối trên, lừa dưới” khi tinh vi “đánh bóng” kết quả, tô hồng thành tích; nhưng lại mưu mô giấu nhẹm khuyết điểm của tổ chức và bản thân. Nào là trong giao tiếp ứng xử, bên ngoài thì tỏ vẻ niềm nở, thân tình, “anh anh chú chú”, nhưng bên trong thì “bằng mặt mà không bằng lòng”, ngấm ngầm giữ miếng, nghi kỵ, tìm cách hãm hại lẫn nhau. Nào là trên đăng đàn, trong hội nghị, trước tập thể, lúc đương chức thì nói một đằng, nhưng khi ra ngoài, lúc “trà dư tửu hậu” hay khi về hưu thì lại “lươn lẹo” nói khác. Bệnh giả dối của một số người còn thể hiện ở “vỏ bọc” hào hoa, phong nhã nhưng tâm địa nhỏ nhen, ích kỷ. “Triệu chứng” nổi cộm nhất của bệnh giả dối là ở thái độ “tiền hậu bất nhất”, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, “hứa nhiều làm chẳng đáng bao nhiêu”, thậm chí nói đúng, làm sai, chỉ đạo và yêu cầu cấp dưới phải “làm thế này”, nhưng bản thân làm ngược lại chính những điều mình đã nói. - Càng ngẫm càng cảm thấy xót xa! Thời kháng chiến muôn vàn gian khó, thế mà tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên không chỉ thể hiện phẩm chất trung thành với Đảng, ý chí trung kiên với cách mạng, mà luôn có ý thức trung thực với tổ chức, với nhân dân và với bản thân mình. Thời đó nói đến đảng viên là nói đến đức hy sinh, lòng trung thành, tính trung thực, là hình mẫu, biểu tượng nhân cách cao đẹp trong lòng muôn dân. - Không ngẫu nhiên mà trong ba yếu tố Chân - Thiện - Mỹ thì cái thật, cái đúng của con người được định vị ở nấc thang giá trị hàng đầu. Vì cái chân, cái thật luôn là tiền đề, cơ sở để xây dựng cái tốt, cái đẹp. Mặt khác, bản chất cái tốt, cái đẹp luôn hàm chứa trong nó cái chân thật xác đáng. Lòng tự trọng, tự tôn của mỗi đảng viên chân chính đều có xuất phát điểm từ đức tính trung thực. Một trong những nội dung nhiệm vụ của đảng viên đã được quy định trong Điều lệ Đảng là phải “trung thực với Đảng”. Nếu ai mang danh đảng viên mà không thấm thía điều này và không tự mình nghiêm khắc phòng ngừa, tẩy rửa những triệu chứng bệnh giả dối của bản thân thì đang tự “nuôi dưỡng” mầm mống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho chính mình! - Thực tế đã minh chứng những điều ông vừa nói. Nếu sống trung thực với mình, với tổ chức, với Đảng, với nhân dân, có lẽ hàng chục cán bộ cấp cao không phải mất quyền, mất chức, mất uy tín, mất danh dự, thậm chí sa vào vòng lao lý để rồi mất cả quyền công dân. Đáng nói hơn, bệnh giả dối thời nay không dừng lại ở một vài cá nhân, mà còn “lây lan” sang cả không ít tập thể. Thì đấy, vì thiếu thái độ thẳng thắn, trung thực trong tự phê bình và phê bình, nên một số tập thể thường vụ cấp ủy “to” như cấp tỉnh, cấp bộ ngành trung ương thời gian qua đã bị xử lý kỷ luật để rồi kéo theo hàng loạt cán bộ từng có “quyền cao chức trọng” cùng ghi thêm “một chấm đen” trong lý lịch chính trị của bản thân. - Nếu không triệt tiêu được bệnh giả dối trong một bộ phận cán bộ, đảng viên thì đến một lúc nào đó, nó sẽ trở thành một thứ “vi rút” nguy hại có thể phát sinh, lây lan trong cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Và dĩ nhiên, “đại họa” không chỉ một người gánh chịu, mà kéo theo nhiều người cũng phải khốn đốn và từ đó, “sức đề kháng” của mỗi tổ chức đảng nói riêng và của Đảng ta nói chung khó mà được bảo toàn chắc chắn, trọn vẹn./.

“No nói, đói làm” .

Có những quan chức lợi dụng sự hoạt ngôn, lợi khẩu, đi đâu, chỗ nào, nhất là trên đăng đàn, hội nghị, khi tiếp xúc, trò chuyện với nhân dân, thì bao giờ cũng nói hay, diễn giỏi, hùng biện tốt cốt để lấy lòng người nghe, mà thực chất là “mị dân”; nhưng bản thân họ thì nói không đi đôi với làm, thậm chí nói một đằng, làm một nẻo. Người ta gọi đó là những kẻ “No nói, đói làm”! Gặp anh - một giảng viên đại học - tại hội thảo chuyên đề về sự phát triển ngôn ngữ đời sống trong xã hội hiện đại, vốn là chỗ thân tình, tôi hỏi đùa: Dạo này có gì mới không, thưa ngài tiến sĩ “đầy lời, vơi túi?”. Cụm từ “đầy lời, vơi túi” do anh tự đặt cho mình, với hàm ý tự trào - là nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì rất giàu vốn liếng ngôn từ, chữ nghĩa (đầy lời), nhưng cuộc sống vật chất thì khá chật vật, ít tiền bạc (vơi túi). Nghe đến cụm từ “đầy lời, vơi túi”, anh “đốc-tờ chữ nghĩa” cười và nói: - Cùng với sự phát triển, biến đổi của muôn mặt đời sống, chữ nghĩa thời nay cũng đa dạng, phong phú lắm. Một số thành ngữ mới ra đời nghe “đối nhau chan chát” và thú vị đáo để! - Đã thú vị lại còn đáo để! Thế nghĩa là sao? - tôi hỏi. Như “gãi đúng chỗ ngứa”, nhà ngôn ngữ “nổi hứng” dẫn ra ví dụ và giải thích rành rọt. - Này nhé, đề cập thực trạng không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị công quyền hiện nay chưa quyết liệt tinh giản biên chế, vì thế vẫn còn nhiều người làm cùng một việc, hay nhiều người mà rất ít việc để làm, người ta gọi đó là tình trạng “Thừa biên chế, thiếu ghế ngồi”! Thực tế ở không ít nơi, nhất là các đơn vị sự nghiệp, trường học, bệnh viện có trụ sở ở các thành phố, thị xã, thị trấn, do một thời ồ ạt tiếp nhận các thành phần thuộc diện “con ông cháu cha” vào làm việc, mà những người này phần lớn đều thuộc diện làng nhàng, thậm chí có kẻ “ăn không nên đọi, nói chẳng nên lời”, muốn cắt giảm biên chế nhưng khó vô cùng vì toàn “đụng chạm” đến con em lãnh đạo cả. Ở những đơn vị, cơ quan mà số lượng nhân viên đông vẫn không mạnh, người ta gọi đó là tình trạng “Thừa người yếu, thiếu người giỏi”! Trong “dân gian” hiện nay cũng đang xuất hiện nhiều câu “thành ngữ” để ám chỉ những “hạng người mới” nữa. Ví như, có những quan chức lợi dụng vị thế là “chủ tài khoản” nên đối với ngân sách công thì chi tiêu “bạo tay”, không ngại ngần cắt xén, bòn rút kinh phí cơ quan, đơn vị để đi biếu xén cấp trên nhằm giải quyết công việc có lợi cho bản thân mình; trong khi đó “một đồng bạc lẻ” của cá nhân họ cũng không bao giờ… sứt mẻ. Cái kiểu sống vun vén, vơ vào như vậy, người ta gọi đó là những kẻ “Hào phóng của chùa, ki bo của bọ”! Lại có những quan chức lợi dụng sự hoạt ngôn, lợi khẩu, đi đâu, chỗ nào, nhất là trên đăng đàn, hội nghị, khi tiếp xúc, trò chuyện với nhân dân, thì bao giờ cũng nói hay, diễn giỏi, hùng biện tốt cốt để lấy lòng người nghe, mà thực chất là “mị dân”; nhưng bản thân họ thì nói không đi đôi với làm, thậm chí nói một đằng, làm một nẻo. Người ta gọi đó là những kẻ “No nói, đói làm”! Nhưng đáng nói hơn là những kẻ uốn éo, lươn lẹo, thực dụng, cơ hội, không ngại bất cứ mưu mô nào để lôi kéo lợi lộc về cho bản thân; ngấm ngầm chèn ép người giỏi, đố kỵ người tài, nói xấu sau lưng đồng chí, đồng nghiệp, tìm mọi cách để tâng bốc người này, hạ bệ người nọ; nhưng bề ngoài thì vẫn tỏ vẻ ta đây là người thiện chí, niềm nở, chan hòa. Người ta gọi đó là những kẻ “Năng lực có hạn, thủ đoạn vô biên”! - Ngôn ngữ bao giờ cũng ít nhiều phản ánh từ hiện thực đời sống. Vậy sự ra đời của những “thành ngữ” đó muốn nói lên điều gì? - tôi hỏi. Bằng cách nói thâm thúy và hóm hỉnh, vị tiến sĩ ngôn ngữ trả lời: - Những nơi “Thừa biên chế, thiếu ghế ngồi” giống như đứa trẻ lớn lên “to đầu, béo bụng” trên một đôi chân teo tóp nên khó mà đi đứng vững chắc. Những nơi “Thừa người yếu, thiếu người giỏi” thì lại chẳng khác mấy đứa trẻ có đôi chân to lớn kềnh càng, nhưng cái đầu lại nhỏ con nên cũng khó phát triển suôn sẻ, hanh thông. Còn đối với những kẻ “Hào phóng của chùa, ki bo của bọ”, “No nói, đói làm”, “Năng lực có hạn, thủ đoạn vô biên” vẫn có thể tinh vi ẩn náu, tồn tại ở nơi này, nơi khác và trong một thời gian nhất định nào đó, nhưng theo quy luật “Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra” thì sớm hay muộn, những “chân tướng” đó sẽ bị “bóc mẽ” trước sự quang minh chính đại của nhân tâm và đạo lý, pháp luật./.

Âm mưu thúc đẩy đa nguyên, đối lập .

Thời gian qua, một số cá nhân hoặc đại diện cho những tổ chức bất hợp pháp đã viết bài trên mạng xã hội và thực hiện một số hoạt động nhằm tuyên truyền phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, xuyên tạc rằng công đoàn đã "bắt tay với giới chủ, đã từ bỏ đấu tranh giai cấp, không còn bảo vệ cho quyền lợi của công nhân, người lao động". . Từ đó, họ kêu gọi thành lập các nghiệp đoàn độc lập, tự do tách ra khỏi công đoàn, với lý do là "để bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của công nhân, người lao động". Đáng chú ý là các nghiệp đoàn độc lập này được xúi bẩy để nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đối lập với Nhà nước và mưu đồ thành lập một lực lượng chính trị đối lập ở Việt Nam. MƯU ĐỒ XẤU ĐẰNG SAU NHỮNG TỪ "TỰ DO", "ĐỘC LẬP" Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn. Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động. “Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam? Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó! KHÔNG CÓ CHUYỆN CÔNG ĐOÀN NÉ ĐẤU TRANH Ý kiến cho rằng, công đoàn hiện nay "không còn đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động" là hết sức xằng bậy. Việc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động được tổ chức công đoàn các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục, từ việc đấu tranh trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đến tham gia và có tiếng nói mạnh mẽ ở Hội đồng tiền lương quốc gia cho tới những sự vụ thương lượng, đối thoại đấu tranh trực tiếp với người sử dụng lao động để đòi quyền lợi cho người lao động tại từng doanh nghiệp. Chúng tôi đã có mặt tại TP Bắc Ninh ngày 22-4-2021 để chứng kiến lễ ký kết Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc. Tham gia lễ ký có nhóm 7 doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc (ban đầu có 13 doanh nghiệp tham gia) đang hoạt động tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó có các doanh nghiệp thuộc tổ hợp Samsung Việt Nam. Thỏa ước lao động tập thể này được ký kết sau thời gian dài thương lượng với nhiều phiên họp hết sức gay cấn, mang lại lợi ích cho khoảng 80.000 công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp nói trên. Thỏa ước lao động tập thể này có 19 điều, trong đó quy định cụ thể từ lương thử việc, các chế độ phúc lợi với người lao động, các hình thức trợ cấp, hỗ trợ người lao động với mức hơn hẳn so với các quy định cũ. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Bắc Ninh, để ký được Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp này, LĐLĐ tỉnh đã phải kiên trì tiếp xúc, thương lượng, thuyết phục lãnh đạo các doanh nghiệp trong hơn một năm trời. “Đơn giản nhất như, để thuyết phục được 7 doanh nghiệp nói trên hỗ trợ tiền ăn ca chính lên tối thiểu 20.000 đồng/người là không hề dễ dàng, mặc dù phần lớn các doanh nghiệp đã hỗ trợ tiền ăn ca chính là 18.000 đồng/người. Bởi chi thêm 2000 đồng/người/bữa ăn cho hàng vạn lao động thì số tiền sẽ bị tăng lên rất lớn”, bà Nguyễn Thị Vân Hà chia sẻ. Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, Tổng LĐLĐ Việt Nam rất khuyến khích LĐLĐ các tỉnh, thành phố ký kết với các doanh nghiệp các thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp như trên. Vì điều này sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho cả người lao động và doanh nghiệp như: Tạo mặt sàn cơ bản về lợi ích nhưng xu hướng chung là người lao động được hưởng các chế độ phúc lợi theo quy định của doanh nghiệp tốt nhất trong nhóm. Doanh nghiệp sẽ tránh được nguy cơ dịch chuyển lao động, ổn định được sản xuất. Trong giai đoạn 2018-2020 của nhiệm kỳ Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn đã ký mới được 6.113 bản TƯLĐTT doanh nghiệp, gấp 4,6 lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XI, nâng tổng số TƯLĐTT đã ký kết lên 34.989 bản. Nội dung của các bản thỏa ước tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động như vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, thực hiện chính sách bình đẳng giới... Cùng với đó, theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong giai đoạn 2018-2020, các cấp công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn đã có hơn 300 văn bản tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về quyền lợi của người lao động. Nếu công đoàn không đấu tranh cho người lao động thì làm sao có Bộ luật Lao động 2019 với nhiều điểm rất có lợi cho người lao động, mà để đạt được điều đó đại diện công đoàn đã nhiều lần phát biểu rất mạnh mẽ, thấu tình, đạt lý để góp ý cho dự thảo Bộ luật. Theo đó, trong Bộ luật Lao động 2019, khung giờ làm thêm được giữ nguyên như quy định hiện hành là 300 giờ/năm, để bảo đảm sức khỏe và đời sống của người lao động, mặc dù trước đó ý kiến của các doanh nghiệp muốn tăng giờ làm thêm lên tối đa tới 400 giờ/năm, thậm chí có hiệp hội đề nghị tăng lên 600 giờ/năm. Đồng thời, cũng trong bộ luật này, người lao động sẽ có thêm một ngày nghỉ lễ nữa trong dịp Quốc khách 2-9 hằng năm. Cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm giảm giờ làm chính thức cho người lao động tuy chưa được chính thức hóa thành quy định của bộ luật nhưng với kiến nghị quyết liệt, mạnh mẽ từ phía Tổng Liên đoàn, Quốc hội đã đưa vào Nghị quyết kỳ họp, yêu cầu “Căn cứ tình hình phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu đề xuất giảm giờ làm việc bình thường đối với người lao động thấp hơn 48 giờ/tuần và báo cáo Quốc hội vào thời điểm thích hợp”. Nếu công đoàn không đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì liệu lương tối thiểu vùng có được tăng đều đặn các năm, để trong giai đoạn 2015-2020 đã tăng 51,4%? Trong các phiên họp của Hội đồng tiền lương quốc gia, các thành viên từ Công đoàn Việt Nam đã rất quyết liệt, kiên trì, đưa ra nhiều lập luận mang tính thuyết phục cao, đôi khi là những tranh luận gay gắt với giới sử dụng lao động, khi mà nhiều thành viên khăng khăng với việc không tăng lương, để rồi sau đó hằng năm lương tối thiểu đều tăng từ 5,3% đến 14%, góp phần cải thiện đời sống công đoàn viên, người lao động, thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu. NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ LÃNH ĐẠO DOANH NGHIỆP ĐỀU TIN TƯỞNG CÔNG ĐOÀN Điều hành một tổ hợp sản xuất công nghiệp lớn với 130.000 lao động, ông Choi Joo Ho, Tổng giám đốc Samsung Việt Nam, đánh giá rất cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho công nhân cũng như giữ một môi trường làm việc ổn định, hài hòa tại doanh nghiệp. “Tổ chức công đoàn đã tham gia phát triển các hoạt động phong trào nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động đến chăm lo xây dựng phong phú đời sống tinh thần của người lao động trong và ngoài giờ làm việc. Sự ghi nhận và tin tưởng của chính người lao động cũng như ban lãnh đạo công ty đã thể hiện uy tín của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp. Công đoàn đã thực hiện rất tốt vai trò phối hợp và trực tiếp tham gia vào các hoạt động của công ty", ông Choi Joo Ho nói. Ông cho hay, 100% các ý kiến, kiến nghị của công đoàn công ty đều được lãnh đạo Samsung Việt Nam tiếp nhận và giải quyết triệt để. “Các ý kiến của nhân viên cùng nội dung phản hồi từ bộ phận chuyên trách đều được dịch sang tiếng Hàn và báo cáo hằng ngày giúp ban lãnh đạo công ty có thể hiểu được chính xác tiếng nói và nguyện vọng của nhân viên. Ban lãnh đạo công ty cũng như ban chấp hành công đoàn cũng chủ động tìm hiểu các vấn đề cần giải quyết, nhằm giảm tối đa các ý kiến phát sinh”, ông Choi Joo Ho cho biết. Cũng nhờ sự phối hợp, đề xuất của công đoàn mà khi tới các nhà máy trong Tổ hợp Samsung Việt Nam, có thể thấy những phúc lợi rất tốt cho công nhân như: Hệ thống xe buýt chất lượng cao làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, công nhân viên đi làm hằng ngày; ký túc xá dành cho nhân viên cung cấp khoảng 30.000 chỗ ở tiện nghi; mỗi nhà máy đều có trạm y tế đạt chuẩn khám bệnh, đồng thời xây dựng mô hình trung tâm khám sức khỏe liên kết với bệnh viện quốc tế thực hiện thăm khám và tư vấn sức khỏe định kỳ cho toàn thể nhân viên; xây dựng nhiều câu lạc bộ tại mỗi nhà máy, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn nghệ, thể thao, nghệ thuật cho toàn thể nhân viên. Với tỷ lệ nhân viên nữ chiếm hơn 70%, Samsung Việt Nam luôn chú trọng đưa ra những chính sách đặc biệt chăm sóc cho nhân viên nữ, nhất là đối tượng nhân viên nữ mang thai và nuôi con nhỏ... Đặc biệt, trong thời gian diễn ra dịch Covid-19, Samsung Việt Nam vẫn luôn bảo đảm để không một nhân viên nào bị mất việc làm và nghỉ không lương./.

Để Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu

Kế thừa tinh thần các kỳ đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng rất quan tâm đến phát triển giáo dục và đào tạo. NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT Thứ nhất, về đề mục, các văn kiện lần này, như trong Báo cáo Chính trị tập trung đề cập đến giáo dục và đào tạo ở mục V, so với Đại hội XII, tên đề mục đã thay cụm từ “phát triển” bằng cụm từ “nâng cao” chất lượng nguồn nhân lực và thêm cụm từ “phát triển con người”. Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2021-2030,vấn đề này được đề cập ở tiểu mục 3, phần V, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế- xã hội, với tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Theo đó, Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2021-2030 đã trực tiếp đề cập đến giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, đối chiếu với trước đây chỉ nhấn mạnh “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”. Thứ hai, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo, yêu cầu phải “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước”[1]. Trước đây chỉ đề cập phương hướng chung: “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Văn kiện lần này yêu cầu xác định rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và “Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ ba, nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo thích ứng với Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Nếu như trước đây chỉ đề cập:“chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”, thì Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỉ lệ lao động khu vực phi chính thức. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động. Thứ tư, cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, sắp xếp lại hệ thống trường học, phát triển hài hoà giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học trong điều kiện mới, tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi, để mỗi người dân đều được thụ hưởng một cách công bằng thành quả của nền giáo dục. Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời. Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục. Thực hiện cơ chế tự chủ đối với đào tạo bậc đại học phù hợp với xu thế chung của thế giới. Có chính sách đột phá phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học. “Có cơ chế hỗ trợ xây dựng một số trường đại học lớn và đại học sư phạm trở thành những trung tâm đào tạo có uy tín trong khu vực và thế giới” [2]. Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thứ năm, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo, như: thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc. Đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu, chú trọng xây dựng nền tảng kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Giảm tỉ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo. Nghiên cứu để hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua Internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. ”Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế”[3]. Thứ sáu, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, “Lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo. Xây dựng và triển khai thực hiện lộ trình tiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông, trước hết là đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở” [4]. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của Việt Nam trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội và các giá trị cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhấn mạnh hơn yêu cầu thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục và đào tạo. Tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ một số trường phổ thông tại các đô thị lớn, các nơi có điều kiện; thí điểm cơ chế cho thuê một số cơ sở giáo dục sẵn có theo nguyên tắc bảo đảm tất cả học sinh được đến trường. Thứ bảy, tiếp tục hoàn thiện các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý và quản trị nghiệp vụ chuyên môn trong giáo dục và đào tạo, từng bước thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục và đào tạo. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, ngăn ngừa và xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục và đào tạo. Hoàn thiện và thực hiện ổn định các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo, thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo. Thứ tám, đặt ra mục tiêu Việt Nam tham gia thị trường đào tạo nhân lực quốc tế, vì vậy yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục và đào tạo. ‘Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh“[5]. Thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, cần đổi mới mạnh mẽ chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt, sắp xếp, đổi mới căn bản hệ thống các cơ sở đào tạo sư phạm, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Tiếp tục khẳng định “Giáo dục và đào tạo có vị trí then chốt”, những điểm mới về giáo dục, đào tạo trong các văn kiện Đại hội XIII thể hiện rõ ý nghĩa sâu sắc. Khẳng định tính kế thừa, sự nhất quán trong quan điểm của Đảng ta, luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, thực hiện khát vọng phát triển đất nước trong thời gian tới. Thể hiện sự nhanh nhạy của Đảng, Nhà nước Việt Nam, thích ứng với xu thế thời đại, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, thành tựu của giáo dục và đào tạo trên thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Bên cạnh đó, tiếp tục làm sáng tỏ hệ thống lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có lộ trình và bước đi phù hợp, lấy con người là trung tâm, trên nền tảng của sự phát triển giáo dục và đào tạo./.

Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo. Ở nước ta, bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị. . Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của công dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó. Đây là cơ chế phổ biến được các nền dân chủ hiện áp dụng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, đôi khi cả ở bộ máy hành pháp, tư pháp và ở chính quyền địa phương. Bầu cử là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực của Nhà nước. Trong văn bản pháp luật, thuật ngữ “bầu cử” được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước. Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) nhằm bầu ra một đại biểu (chức danh) với điều kiện phải có từ hai ứng cử viên trở lên. Định nghĩa trên cho phép phân biệt bầu cử với phương pháp khác trong việc thành lập cơ quan nhà nước, như bổ nhiệm, chỉ định. Ngoài những cuộc bầu cử mang tính chất chính trị (thành lập cơ quan nhà nước), bầu cử còn được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị, như các đảng chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng… Bầu cử cũng thường được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức thương mại và tư nhân, từ các câu lạc bộ cho đến các hội từ thiện và các tập đoàn,... Khác với cuộc bầu cử được áp dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cuộc bầu cử thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật do Nhà nước ban hành. Thông thường, cơ quan đại diện của chính quyền địa phương được thành lập bằng con đường bầu cử. Ở một số nước, các cơ quan nhà nước khác như Tổng thống, Chính phủ, Tòa án cũng được thành lập thông qua bầu cử. Bầu cử cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những "công bộc" chính quyền cho chính họ. Điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rõ rằng, để Nhà nước có được quyền hợp pháp, thực sự là Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", thì phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị. Cần phân biệt giữa bầu cử với chế độ bầu cử, theo đó, chế định bầu cử là một tổng thể gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử cùng những quan hệ được hình thành trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử: từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu cử đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử. Đó là tổng thể các quan hệ xã hội hợp thành trình tự bầu cử. Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt “bầu cử” với “quyền bầu cử”. Quyền bầu cử được hiểu là khả năng của công dân được Nhà nước bảo đảm tham gia vào quá trình thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương. Quyền bầu cử là tổng thể những quy định cụ thể cho công dân. Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định 4 nguyên tắc bầu cử: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc trực tiếp và nguyên tắc bỏ phiếu kín. Nguyên tắc phổ thông Pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: - Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; - Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); - Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; - Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; - Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn. Nguyên tắc bình đẳng Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Nội dung nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; Mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng. Nguyên tắc trực tiếp Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu. Trái với nguyên tắc bầu cử trực tiếp là nguyên tắc bầu cử gián tiếp. Theo nguyên tắc này, cử tri không trực tiếp bầu ra người đại diện cho mình, mà bầu ra thành viên của tuyển cử đoàn, sau đó tuyển cử đoàn mới bầu ra cơ quan đại diện hay chức danh nhà nước. Bầu cử gián tiếp có thể qua hai cấp, như bầu Tổng thống Mỹ (cử tri bầu ra Đại cử tri đoàn), Thượng nghị viện Pháp; hoặc bầu qua ba cấp, như bầu Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc). Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín. Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu. Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Có nguyên tắc được quy định rõ trong một quy định, có nguyên tắc được thể hiện bằng nhiều quy phạm pháp luật khác nhau. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Tóm lại, bầu cử là biểu hiện quan trọng của dân chủ trong xây dựng chính quyền nhà nước. Chế độ bầu cử là nền tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc kiến tạo chế độ dân chủ. Chế độ bầu cử là một trong những trụ cột trong cấu trúc dân chủ ở bất cứ nhà nước nào, bất cứ tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nào. Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng. Ở đâu có bầu cử tự do và trung thực, thì ở đó một chế độ dân chủ được nảy nở và phát triển. Dân chủ có nghĩa là nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước; các cơ quan quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Bầu cử là một định chế quan trọng của dân chủ, nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên thuộc hệ thống chính trị, trong đó có Đảng Cộng sản cầm quyền. Việc thiết kế, thực thi chế độ bầu cử tiến bộ, phù hợp, thực sự dân chủ là công việc quan trọng hàng đầu đối với bất cứ cơ quan chính quyền nhà nước, cũng như đối với tất cả các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. /.