Thứ Hai, 26 tháng 4, 2021

Quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền

 


Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại  diện - cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "... ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.

Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. 

Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài "đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội. Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét, tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội. 

Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. 

Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật, nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 21-26.

 

 

Không thế lực nào có thể ngăn cản khát vọng vươn lên của toàn dân tộc

 


Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại.

Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông. Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Với định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045, sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta.

 

Tham gia bầu cử là thể hiện ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN


Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ra sau 35 năm thực hiện đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chiến tranh công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhân tố gây bất ổn đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục tìm mọi cách chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Trước tình hình đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân phải ra sức phấn đấu, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đã đặt ra.

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam công tác chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành rất khẩn trương. Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã và đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá cuộc bầu cử với tính chất hết sức quyết liệt, manh động. Thông qua việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những luận điệu sai trái, thiếu trung thực, phiến diện, quy chụp với mục đích hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, gieo rắc nhận thức lệch lạc, sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử ở nước ta. Trong đó, có quan điểm cho rằng: bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là nghĩa vụ chứ không phải quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc, thiếu chính xác của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của chúng.

Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử được quy định cụ thể tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946; và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (Điều 54). Hiến pháp năm 2013 và quyền của công dân luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân.

Bên cạnh đó, tiếp thu tinh thần chỉ đạo của  Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, Hướng dẫn số 36-HD/BCHTW ngày 20/01/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về quy trình nhân sự theo hướng việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2015 Việt Nam không hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân, nếu họ đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi công dân; bản thân mỗi cử tri có vai trò quyết định trong việc lựa chọn cho mình những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

 


Sự thật khách quan không thể bác bỏ


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã được tiến hành 35 năm và đạt “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, đất nước ta chưa bao giờ có “cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế” như hiện nay. Vì vậy, Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045. Các văn kiện Đại hội, theo đó, phải vừa đề ra quan điểm chỉ đạo mang tính tổng kết thực tiễn, khái quát, hệ thống hóa lý luận; vừa cụ thể hóa thành các chủ trương, giải pháp phát triển đất nước trong từng giai đoạn, trên từng vấn đề...

Tuy nhiên, sau khi Đại hội diễn ra thành công rất tốt đẹp, các văn kiện Đại hội được thông qua và công bố, thì những thế lực thù địch và thành phần bất mãn, ấu trĩ lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, rằng các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII đưa ra “dày như gai mít”, chồng chéo, cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được. Vậy, bản chất của luận điệu này là gì?
Xét về logic hình thức, luận điểm phản động trên chỉ nhìn nhận một vài lát cắt của vấn đề, đi vào từng ý tiểu tiết, cố tình cô lập với chỉnh thể, vi phạm phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử. Chẳng hạn, khi cho rằng các quan điểm và giải pháp mà Đại hội đưa ra là dày đặc, chồng chéo, họ chỉ mới xem xét trên từng vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng - an ninh, từng nội dung, giải pháp cho mỗi vấn đề đó mà chưa đồng thời đặt trong tính toàn diện, hệ thống, tính lịch sử - quá trình của toàn bộ các quan điểm, vấn đề cần xem xét. Muốn đúc rút kinh nghiệm của 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII (2006-2021), nhận định, dự báo về tình hình, xu thế hiện tại và tương lai phát triển của đất nước, tất yếu phải đánh giá thành tựu và hạn chế của giai đoạn này. Tiếp đó, khi đề ra quan điểm, chủ trương, giải pháp phát triển của giai đoạn 5 năm 2021-2026, định hướng đến 2030, tầm nhìn đến 2045, đương nhiên cần kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm, chủ trương, giải pháp đã có. Tương tự như vậy, quan điểm, chủ trương, giải pháp trên từng lĩnh vực phải vừa phù hợp với nhận thức về vấn đề chung, khái quát là mô hình và con đường quá độ lên CNXH của đất nước, vừa phải thể hiện tính kế thừa, phát triển trong tư duy của Đảng ở mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử.

Xét về nội dung, luận điệu “các quan điểm và giải pháp của Đại hội XIII cái nọ cản trở cái kia nên không thể thực hiện được” đang giải thích sai hoặc cố tình đánh tráo luận đề về một số vấn đề cơ bản trong các văn kiện của Đại hội. Điển hình là việc họ cho rằng đã “kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn”, tức là con đường độc lập dân tộc gắn với CNXH thì không thể áp dụng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bởi đó là sản phẩm đặc thù, là “con đẻ” của chủ nghĩa tư bản. Họ cho rằng, “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một mô hình “không giống ai” khi kết hợp khiên cưỡng, bằng cách áp đặt chủ quan ý chí của Nhà nước Việt Nam vào quá trình hình thành, vận động và phát triển của kinh tế thị trường - vốn phải hoàn toàn tuân thủ các quy luật kinh tế…(!).

Trên cơ sở thực tiễn lịch sử nhân loại và kinh nghiệm của chính Việt Nam, Đảng ta đã đúc rút những kết luận hết sức quan trọng: Việt Nam quá độ lên CNXH “bỏ qua” hình thái kinh tế - xã hội TBCN “tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Kinh tế thị trường vốn không phải là sản phẩm riêng có của CNTB mà là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường thực chất là kinh tế hàng hóa ở trình độ phát triển cao, có mầm mống từ giai đoạn cuối của xã hội chiếm hữu nô lệ; CNTB phát triển kinh tế thị trường lên trình độ cao chứ không sinh ra nó. Như vậy, để xây dựng thành công CNXH, Đảng xác định quan điểm phát triển “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện tư duy biện chứng, kế thừa, đổi mới và phát triển. Đồng thời, từ quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là tại Đại hội XIII, Đảng cũng đã dần bổ sung, phát triển nhận thức về “định hướng XHCN” trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; chỉ ra hệ thống chủ trương, giải pháp để từng bước hiện thực hóa, phát huy tác dụng của mô hình kinh tế ấy.

Các quan điểm, chủ trương, giải pháp được Văn kiện Đại hội trình bày theo phương pháp chủ yếu là lịch sử kết hợp với logic, bảo đảm tính khoa học, phù hợp thực tiễn. Nội dung được chia tách thành từng mảng vấn đề bám sát lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình, con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Điều này khiến người đọc, người nghiên cứu nhận thức rõ sự “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” trong đường lối của Đảng và dễ theo dõi, quán triệt, thực hiện… Sau khi trình bày mục tiêu, quan điểm, định hướng phát triển khái quát trên tất cả các lĩnh vực của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Báo cáo đi vào phân tích chủ trương, giải pháp trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội. Đó là các thành tố thuộc từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng: từ mô hình tăng trưởng đến thể chế kinh tế; từ giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và văn hóa, xã hội, trong đó chú trọng vấn đề tài nguyên, môi trường đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại; từ củng cố, phát huy nền tảng, động lực của hệ thống chính trị là khối đại đoàn kết toàn dân tộc đến xây dựng, hoàn thiện các thiết chế của hệ thống chính trị là Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên… Cuối cùng, Báo cáo chính trị chốt lại “Những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIII” để cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nắm vững và chú trọng thực hiện.


KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN VỚI DỊCH COVID-19

 

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 81/TB-VPCP thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19 diễn ra vào sáng 26-4.

Thông báo kết luận nêu rõ, dịch Covid-19 trên thế giới hiện đang rất phức tạp, tiếp tục gia tăng về lượng người mắc bệnh, số người vào bệnh viện, số người chết và dịch bùng phát trở lại tại nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có nước láng giềng có chung đường biên giới phía Tây Nam. Trong nước đang tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh bùng phát trở lại rất cao. Việc thực hiện “mục tiêu kép” vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm yêu cầu phòng, chống dịch là một nhiệm vụ rất khó khăn. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo Quốc gia Phòng, chống dịch Covid-19 đã rất quan tâm, thường xuyên chỉ đạo quyết liệt. Tuy nhiên, thực tế gần đây cho thấy, trong xã hội đang xuất hiện tâm lý chủ quan, lơ là, một số nơi chưa nghiêm túc thực hiện đúng các yêu cầu về phòng, chống dịch.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, đơn vị và từng người dân tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, nêu cao ý thức, trách nhiệm vì sức khỏe cộng đồng và cá nhân, tập trung thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch đã đề ra, trong đó lưu ý: Thủ trưởng các bộ, ngành, cơ quan và người đứng đầu các cấp ở địa phương chỉ đạo chủ động phối hợp, cập nhật tình hình trong nước và thế giới, rà soát để không ngừng hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm các giải pháp phòng, chống dịch trong phạm vi quản lý cho phù hợp với tình hình dịch bệnh và yêu cầu thực tế; không để bị động trong các kịch bản bùng phát dịch có thể xảy ra; bảo đảm chặt chẽ, đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, dễ thực hiện, dễ giám sát, dễ kiểm tra và rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân. Các cá nhân phải thực hiện nghiêm thông điệp 5K, đặc biệt là đeo khẩu trang. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức phải thực hiện nghiêm các yêu cầu về an toàn phòng Covid-19; thường xuyên tự kiểm tra và cập nhật kết quả thực hiện trên bản đồ phòng, chống dịch Covid-19. Các cơ quan chức năng cần kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, UBND cấp tỉnh, các bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm tăng cường giám sát, kiểm tra việc tuân thủ các quy trình, thủ tục và quy định về cách ly bắt buộc tại các khu cách ly tập trung, các cơ sở lưu trú, doanh nghiệp; hạn chế các sự kiện tập trung đông người; trường hợp cần thiết phải tổ chức thì cơ quan, đơn vị chủ trì tổ chức sự kiện chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nghiêm các yêu cầu, điều kiện quy định về bảo đảm an toàn phòng, chống dịch. Chủ tịch UBND tỉnh/TP trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo với cấp ủy cùng cấp để thống nhất chỉ đạo và huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch trên địa bàn; bảo đảm việc tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch đối với tổ chức, cá nhân; trường hợp để xảy ra lây nhiễm dịch trong cộng đồng trên địa bàn thì tùy mức độ sẽ bị xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định.

Các địa phương có đường biên giới, nhất là biên giới Tây Nam, cần chủ động phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng để tăng cường tuần tra, kiểm soát hoạt động nhập cảnh qua đường bộ và đường biển; kiên quyết kiểm soát, ngăn chặn, xử lý nghiêm theo pháp luật hoạt động nhập cảnh trái phép. Bộ Y tế cần chủ động hơn trong hợp tác quốc tế để mở rộng phạm vi tiếp cận các nguồn vaccine phòng dịch Covid-19, công nghệ xét nghiệm nhanh và tăng cường chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để sản xuất vaccine trong nước.

Tuyên truyền và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng

     Không gian mạng có đặc điểm là dung lượng thông tin lớn, tốc độ truyền tải nhanh, vừa có độ bao phủ rộng khắp, vừa tương tác thông tin mạnh, tức thời. Sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ liên tục những ranh giới, những biên giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh, chính vì vậy nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay.

          Do không gian mạng có tính mở với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xoá nhoà ranh giới giữa thực và ảo, giữa vật lý và hiện thực, vì vậy không gian mạng mang đến những thách thức to lớn đối với nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong khi đó, không gian mạng với tính chất đa dạng, phi tập trung, tự chủ và tương tác đã tác động mạnh mẽ và thách thức to lớn đến cách giáo dục tư tưởng truyền thống. Không gian mạng với phương thức giao tiếp ngang hàng, tương tác hai chiều và đa chiều, đã tạo ra một bước nhảy vọt về chất trong phương thức tiếp cận thông tin và trao đổi ý kiến, đồng thời cung cấp cho cư dân mạng cơ hội giao tiếp bình đẳng và một nền tảng để chia sẻ quan điểm một cách tự do. Việc tuyên truyền, phổ biến các luận điểm trên không gian mạng có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng và tính thẩm thấu mạnh đã có ảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát, quyền khống chế của Đảng đối với mặt trận tư tưởng - văn hóa.

          Trong vài năm trở lại đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng, là một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, đối với chế, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

          Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng đòi hỏi phải đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn cụ thể, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn, đúc rút và khái quát lý luận là yêu cầu đầu tiên. Thực hiện tốt việc này cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến.

          Bên cạnh đó, trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều; quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng lên. Nội dung thể hiện luận điểm của những người tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, tiến hành truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích của không chỉ đảng viên, mà cả của người dân, đặc biệt là giới trẻ, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại ngày nay./.

BÀI HỌC TỪ CÁC VỤ BIỂU TÌNH, BẠO LOẠN Ở MYANMAR VÀ GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH

     Những cuộc biểu tình, bạo loạn, phá hoại tại Myanmar vẫn chưa có chiều hướng suy giảm, sau khi hàng loạt những người quá khích đã kéo nhau đập phá một số nhà máy, công ty của Trung Quốc để phản đối.

Nhìn những thảm cảnh đập phá tại tại Myanmar chúng ta lại thấy giống với chiêu trò kích động biểu tình, đập pháp nhà máy TQ ở Việt Nam như năm 2014 (sau khi TQ đưa dàn khoan HD 981 vào khu vực thềm lục địa của Việt Nam) và 2018 (sau khi Quốc hội đưa ra dự thảo Luật Đặc khu kinh tế) tại Bình Thuận, Đồng Nai... gây biết bao thiệt hại về của cải, vật chất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị và môi trường đầu tư, phát triển của Việt Nam. Sau những bài học đó, chúng ta cùng nhìn lại và soi chiếu vào những gì đang xảy ra tương tự tại Myanmar. Những người đập phá, cướp bóc chỉ thỏa mãn sự tức giận của họ khi đã bị kích động, còn nhân dân Myanmar mới là những người đang chịu nhiều thiệt hại do đảo chính khi đằng sau hành động đó là việc họ đã, đang đập đổ công ăn việc làm, bát cơm của chính người dân Myanmar vốn đang rất vất vả. Công ty bị đập phá dẫn đến mất việc làm, mất thu nhập của hàng vạn công nhân và gia đình họ. Sau đó thì sao? đương nhiên chính quyền Myanmar phải đền bù những thiệt hại mà họ gây ra, mà tiền đền bù lấy từ đâu? Lấy từ chính tiền thuế của nhân dân, từ mô hôi nước mắt của họ chứ lấy đâu ra nữa.

Đặc biệt, như đã phân tích ở trên, một vấn đề hậu biểu tình, bạo loạn là hình ảnh đất nước, môi trường đầu tư bị ảnh hưởng, thử hỏi sau những sự việc đốt phá thì các công ty nước ngoài có dám mạo hiểm đầu tư vào đất nước bạo loạn, người dân coi thường pháp luật như vậy hay không? Những bài học đó đang sờ sờ ngay trước mặt vậy mà ở trên mạng xã hội, đám “dân chủ cuội” và các thế lực phản động vẫn đang không ngừng rêu rao mơ tưởng Việt Nam sẽ có biểu tình như ở Myanmar. Phải chăng, thước đo về dân chủ, tự do trong mắt các “nhà dân chủ cuội”, “nhà đấu tranh vì nhân quyền” là bom bay đạn lạc, là máu chảy vô ích, là bạo loạn liên miên? Nếu vậy, người Việt Nam xin từ chối nhận “món quà dân chủ” này. Do đó, chẳng khó khăn gì khi lang thang trên mạng xã hội và bắt gặp những bài viết của đám “cò mồi dân chủ”, “con buôn dân chủ” đang cố tình đơm đặt, dựng chuyện, xuyên tạc, hướng lái thông tin để tạo cớ công kích, chống phá Việt Nam. Thậm chí, những kẻ này còn cho rằng Myanmar là “hình mẫu” về đấu tranh vì dân chủ mà người Việt Nam phải học theo; rêu rao rằng những gì đang diễn ra tại Myanmar sẽ tạo ra các “thông điệp dân chủ” cho Việt Nam. Thậm chí, có một số kẻ tại “tự nhục” và đặt câu hỏi rằng “bài toán dân chủ tại Việt Nam chừng nào mới có giải đáp?”. Đây là những luận điệu hết sức phi lý, cho thấy rõ ràng bản chất cơ hội chính trị, thù địch của những kẻ “giả danh dân chủ”. Từ khi chính biến diễn ra tại Myanmar, họ đã liên tục lợi dụng, coi đây là một cái cớ để tấn công chống phá chính quyền. Núp dưới vỏ bọc đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, những kẻ xấu gieo rắc các quan điểm, tư tưởng, nhận thức sai lệch về tình hình trong nước; so sánh một cách khập khiễng vấn đề Myanmar với Việt Nam từ đó kích động bạo loạn, chống đối; vu khống, bôi nhọ quan điểm của Việt Nam trong vấn đề tại Myanmar… Thực chất đây là âm mưu của những kẻ phá hoại đất nước. Giấc mơ về các cuộc biểu tình chẳng qua mong muốn biến đất nước ta thành bãi chiến trường của các cuộc cách mạng màu, cách mạng đường phố. Bài học từ những biểu hiện của cái gọi là cách mạng màu diễn ra ở các nước Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi dẫn tới việc các quốc gia này rơi vào khủng hoảng chính trị, nội chiến, chết chóc và sự bất ổn. Cho nên, biểu tình chỉ là cái cớ để dẫn đến các cuộc bạo loạn phá hoại làm suy yếu sức mạnh của chính quyền, làm giảm hiệu lực của pháp luật.

Đất nước Việt Nam chúng ta đã trải qua mấy chục năm chiến tranh đau thương, mất mát. Chúng ta đã giành được hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất non sông như hôm nay, phải đánh đổi bằng bao xương máu của thế hệ cha anh. Vậy thì, không có một lý do gì để chúng ta lại làm cho hình ảnh đất nước bị tổn thương, tình hình xã hội thêm phức tạp chỉ vì những lời dụ dỗ, lôi kéo, kích động bởi những âm mưu phá hoại. Trước những thông tin khác lạ, hoài nghi, trước những lời tuyên truyền “mị dân” của các phần tử xấu, mỗi người dân cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo nhận diện để không bị mắc mưu, “sập bẫy” bởi kẻ xấu. Hãy biết trân trọng lịch sử cách mạng của ông cha ta, hãy biết nâng niu những giá trị hòa bình mà chúng ta đang có, khi cần thiết hãy bày tỏ tình yêu quê hương đất nước bằng những thái độ, hành vi ứng xử chuẩn mực, hợp đạo lý, đúng pháp luật, đấy chính là thể hiện văn hóa yêu nước sâu sắc, thông minh nhất để thiết thực đóng góp công sức của mình tiếp tục giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự an ninh, an toàn xã hội để phát triển đất nước theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn./.

 

ĐIỀU GÌ QUAN TRỌNG NHẤT VỚI MỘT QUỐC GIA?

     Sau các chiêu trò kích động, mỉa mai “tuổi trẻ Myanmar là đấu tranh nhân quyền, còn tuổi trẻ Việt Nam đang làm gì”, hòng khiêu khích người trẻ Việt Nam tham vào đường dây chống phá đất nước bất thành, thì các đài chống phá hải ngoại tiếp tục dồn dập phát loa bôi bác, diễn tả tuổi trẻ Việt Nam không khác gì thiểu năng, đến trường chỉ biết “lắng nghe lời giảng” không biết gì là “đấu tranh – dân chủ”.

Bài viết gần đây “Có phải xã hội Việt Nam đang chỉ cần tiền hơn là nhân quyền và dân chủ”, được tung ra bởi đài BBC, từ trong con chữ đã thể hiện rõ sự “bế tắt”, sự thất bại hoàn toàn trong chiến dịch lôi kéo người trẻ ở Việt Nam thực hiện cái gọi là đấu tranh dân chủ, nhân quyền: “Không thấy thế hệ X, Y, Z, những người trẻ ở Việt Nam đấu tranh cho dân chủ. Nhà hoạt động “dân chủ” trụ cột, có ảnh hưởng ở Việt Nam hiện nay phần đông lớn tuổi”. Ngoài ra, trong con chữ trên, cũng cho thấy rõ nỗi lo của đài BBC và các thành phần chống phá ở hải ngoại – chúng lo sợ cái nghề nhân danh đấu tranh dân chủ sẽ lụi bại ở Việt Nam, khi những “dân chủ cuội” qua đời và không có thế hệ kế thừa?

Vì sao người dân Việt Nam hôm nay, đặc biệt là người trẻ, dù ở độ tuổi vị thành niên hay thanh thiếu niên đều không dễ gì bị lôi kéo vào những trò mèo, được thực hiện bởi những bàn tay nhám nhúa của các thành phần khủng bố, phản động nhân danh đấu tranh “dân chủ”? Đơn giản vì người dân Việt Nam có đủ thông tin và đủ tỉnh táo để nhận diện, sau cái gọi là “Mùa xuân Ả Rập” thì các quốc gia: Lybia, Iraq, Syria đã tan hoang như thế nào? Bạo động khiến chính phủ bị lật đổ, xã hội hỗn loạn và chìm trong nội chiến, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác. Hạnh phúc gì khi chạy theo cái gọi là “dân chủ – nhân quyền” như thế này?

Rồi ngày hôm nay, đất nước Myanmar biến thành nội chiến, an ninh bị phá vỡ, ngoại bang nhúng tay kích động, bạo loạn, đốt phá xí nghiệp nước ngoài đang làm ăn trên đất nước Myanmar diễn ra như cơm bữa. Thậm chí, nhiều kẻ nhân danh “dân chủ” tuyên bố sởn người “cứ một người biểu tình bị chết, một xí nghiệp Trung Quốc sẽ bị đốt” – cả vùng trời tang tóc, khói lửa diễn ra, chưa có hồi kết, đất nước không thấy được ngày mai. Hậu quả của cái gọi là đấu tranh dân chủ, đa đảng là toàn dân chia cắt, không làm chủ được đất nước, đẩy quốc gia vào cảnh loạn lạc. Nguy hại hơn, là sau đó liệu doanh nghiệp nước ngoài nào sẽ liều lĩnh đến đây mở phân xưởng, công ty, xí nghiệp? Người dân lao động đất nước này sống bằng nghề gì, an sinh xã hội sẽ ra sao, hẳn là ai cũng hình dung được cái tương lai xám xịt. Thế thì sung sướng gì với cái gọi là đấu tranh dân chủ, dưới sự hà hơi, tiếp sức từ ngoại bang?

Điều quan trọng hơn hết là, Việt Nam cũng đã từng xảy ra sự kích động, vào năm 2014 trong sự kiện phản đối HD-981, một số người dân Việt Nam vì thiếu hiểu biết đã tiếp tay cho các thành phần chống phá, đập phá. Sau đó hậu quả như thế nào, chính người dân Việt Nam, tuổi trẻ Việt Nam nhận diện rõ nhất, quá trình khắc phục hậu quả diễn ra trong vất vả. Khi đã nhận diện được rồi, thì lời kêu gọi của các thành phần phản động, chống phá dù mỹ miều cỡ nào, người trẻ Việt Nam cũng nhận ra! Các phiên tòa án kết án các đối tượng là “tay chân” của tổ chức khủng bố Việt Tân bao giờ cũng nhận được sự ủng hộ rất cao của nhân dân, thậm chí, không ít ý kiến bày tỏ phải xử mức án cao nhất, đủ tính răn đe với các đối tượng âm mưu lật đổ chính quyền của nhân dân. Thái độ đó đã nói lên tất cả về lòng dân của người Việt Nam, về sự quý trọng cuộc sống bình yên trên đất nước này.

Nói về dân chủ, nhân quyền, Việt Nam có đầy đủ, điều đó được thể hiện rõ ràng và nhất quán từ trong lịch sử, ở mỗi cột mốc dựng nước, giữ nước. Đấu tranh đẩy lùi giặc phương Bắc, phương Tây, phát xít là dẫn chứng cụ thể nhất về tinh thần đấu tranh dân chủ, vì độc lập, tự do cho dân tộc. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trước toàn thể nhân dân và thế giới, ngày 2-9-1945, tinh thần hòa bình, tự do, độc lập ấy đã được khẳng định rõ: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Và cho đến ngày hôm nay, nhân quyền và dân chủ của Việt Nam ngày càng được nâng lên tầm cao mới, chất lượng hơn, đẳng cấp, và tiến bộ hơn các quốc gia đang nắm hữu danh “dân chủ, nhân quyền” rất nhiều. Dân chủ, nhân quyền theo cách của Việt Nam được đo bằng hành động chính quyền lấy việc bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, lấy hạnh phúc của số đông người dân và sự phát triển của đất nước là thước đo. Trên đất nước Việt Nam, đại đa số người lao động cần cù, chân chính, siêng năng – ai cũng có cơm ăn, áo mặc. Đất nước cho người dân mái ấm bình yên, để khi biến cố, có nơi an toàn để trở về – điều này thấy rõ nhất, xuyên suốt trong đợt dịch Covid vừa qua, người dân đang làm việc khắp địa cầu luôn muốn quay về.

Bất kể là người nhiễm Covid hay có nguy cơ cao, trở về từ vùng dịch, Chính phủ Việt Nam luôn dang rộng vòng tay, đón những người con về với quê hương. Trong thời điểm bùng phát dịch toàn cầu, để một chuyến bay diễn ra là cả một vấn đề khó khăn, nhiều ban ngành của Chính phủ, từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Y tế phải vào cuộc, thực hiện biết bao cuộc đàm phán. Trong hoàn cảnh khó khăn vô cùng, khi nhiều người nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ gào thét trong tuyệt vọng vì bị bỏ rơi, không được hưởng chính sách tốt, không được chính quyền chăm lo sinh mạng, thì không một công dân nào của Việt Nam bị bỏ lại phía sau, Chính phủ luôn tìm đủ mọi cách – đó là thứ đáng giá nhất trong thời khắc sinh tử, không có quốc gia nào ở phương Tây làm được như Việt Nam, dù là dân chủ được ca tụng là số 1. Nói đến đây, hẳn là mọi người sẽ liên tưởng nhiều hơn đến câu nói “hữu danh vô thực” có nghĩa như thế nào!

Và trong hoàn cảnh này, câu nói đúc kết “Nhà nghèo mới hay con thảo” mới có ý nghĩa làm sao. Trong khó khăn ai cũng đều thấy Chính phủ, chính quyền – những người đầy tớ của dân đã phục vụ tận tụy cho dân của mình! Có “đốt đuốc” ngàn đêm cũng không tìm đâu ra chính quyền, quốc gia giàu có nào dù lắm tiền nhiều của, quân sự thuộc top đầu thế giới có thể vì nhân dân, tận tụy hết mình, làm được như chính quyền Việt Nam!

Qua hàng loạt các sự kiện, biến cố, nhìn lại ứng xử và hành động của các quốc gia, người thông minh sẽ phải đặt câu hỏi: Dân chủ để làm gì khi dân mình không có cơm ăn, dân chủ để làm gì khi hạnh phúc tối thiểu của người dân không được Chính phủ quan tâm, đặt lên hàng đầu?

Cuộc sống bình yên, hạnh phúc của người dân Việt Nam

Trên trái đất này, mỗi quốc gia dù khác nhau về địa lý, thổ nhưỡng và có thể không giống nhau về thể chế chính trị, nhưng mỗi hành động điều không đi ra ngoài chân lý: Đấu tranh cho điều gì cũng vậy, cuối cùng mọi việc mà chúng ta làm cũng đều chỉ vì có cuộc sống tốt hơn, thoải mái hơn. Trong khi Việt Nam đã và đang có, hưởng thụ những điều hạnh phúc, tốt đẹp trên, thì không bất cứ quốc gia nào, hay những kẻ quay lưng với Tổ quốc dạy đời về cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”. Trên thế giới này, chả có người nghèo nào đi dạy người giàu cách kiếm tiền, cũng chẳng có sự ngược ngạo nào bằng việc người không có mái ấm, không có gia đình, không có tình thương lại đủ tầm đi dạy người đang có hạnh phúc, có gia đình, có Tổ quốc, có cuộc sống bình yên về cái triết lý kiến tạo hạnh phúc. Có chăng chỉ là lời xúi giục, để kéo người đang có tất cả rơi vào con đường cùn, lúng xuống ao bùn, để giống như mình – kẻ phá hoại, bên lề xã hội.

Trên cuộc đời, chẳng có người khôn nào đi đạp đổ nồi cơm và cuộc sống tốt đẹp, để ra bãi rác tìm thức ăn, và khen đó là “bữa ăn ngon” cả! Sự lựa chọn khác nhau đưa con người ta đến chất lượng cuộc sống khác nhau. Cuộc sống bình yên của người dân Việt Nam hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của Việt Nam hiện nay, so với những thành phần lưu vong, phản động, chống phá khác nhau một trời, một vực đã thể hiện rõ nét những quy luật trên và cả trên bình diện thực tế!

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG CHIÊU TRÒ PHÁ HOẠI BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

     Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch nước ngoài và cơ hội chính trị trong nước ra sức chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng Nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 với những thủ đoạn trắng trợn, thâm độc và lan rộng trên mạng xã hội. Một trong những nội dung mà các đối tượng hướng tới là phát động phong trào “không biết không bầu”. Đây là chiêu thức cũ, vẫn lấy cảm hứng từ những câu chuyện dân chủ phương tây, mà chính những xã hội đó đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hố sâu ngăn cách các bộ phận nhân dân như những vết thương không được cầm máu.

Chúng ta đều biết, bầu cử là một biểu hiện tính dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền so với các chế độ chính trị đã có trong lịch sử như phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND là một hình thức thể hiện quyền làm chủ của công dân cao nhất, để cử tri bầu ra những vị đại diện cho lòng yêu nước, có bản lĩnh chính trị kiên định, đủ phẩm chất, uy tín, năng lực và trình độ, có khả năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri để lập pháp, giám sát sự lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước của Chính phủ. Thế nên, ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND được xem trọng và được ví như ngày hội thực sự. Quyền và nghĩa vụ bầu cử của công dân Việt Nam chỉ có được sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do.

Bất chấp ý nghĩa tốt đẹp về bầu cử đã được quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, thời gian qua, trên mạng xã hội, một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước đã phát động phong trào “không biết không bầu”. Cuối tháng 2 vừa qua, một đối tượng ở Hà Nội đã viết trên Facebook cá nhân về cái gọi là “không biết không bầu”. Ông ta khẳng định, việc các cơ quan Trung ương giới thiệu nhân sự bầu đại biểu Quốc hội về các địa phương để ứng cử là một biểu hiện của “Đảng cử, dân bầu”.Những đại biểu ứng cử có chương trình nhưng không thuyết trình và tổ chức vận động tranh cử để nhân dân địa phương biết thì sẽ không bầu. Việc cử tri bầu những người này chỉ là hình thức. Họ không đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri mà chỉ bảo vệ lợi ích cho Đảng, nhằm đàn áp, thống trị nhân dân... Qua những lời ngụy biện ở trên, đối tượng này đã lợi dụng tính lan tỏa của mạng xã hội, kêu gọi cử tri thực hiện phong trào tự phát “không biết không bầu”.

Phong trào kêu gọi “không biết không bầu” là rất thâm hiểm. Nó không chỉ cổ vũ cho chủ nghĩa tự do tùy tiện và chủ nghĩa dân túy vốn đang là ác mộng của nhiều nước trên thế giới mà nó còn liên quan đến lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền với những ưu việt đã được khẳng định. 

Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn xây dựng đất nước, trong các văn kiện của Đảng ta lâu nay đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đó là nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nhà nước tôn trọng và thực hiện bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tất cả những mục tiêu này được hiện hữu thông qua việc xây dựng bộ máy lãnh đạo, lập pháp, hành pháp và tư pháp đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành mà bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND là một biểu hiện cao nhất.

Nêu cao cảnh giác trước những chiêu bài phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2021-2026 là yêu cầu cấp bách với nhân dân nói chung và mỗi cử tri nói riêng. Vì vậy, mỗi cử tri cần cẩn trọng khi tiếp xúc với mạng xã hội, không chia sẻ, bình luận những thông tin từ những tài khoản chứa đựng những nội dung có dụng ý xấu. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những kẻ cơ hội, vạch rõ âm mưu xấu bẩn của chúng. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cũng là một chiến sĩ dân vận, trước tiên vận động người thân trong gia đình và những người xung quanh làm tròn trách nhiệm công dân, trách nhiệm cử tri trong ngày hội lớn của đất nước.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

     Như chúng ta đã biết, sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ những ranh giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều hơn, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh. Chính vì vậy, nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Cho dù trong những năm gần đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng thông qua việc đấu tranh phản bác lại những quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Để hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đạt hiệu quả hơn nữa, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng; Trên mặt trận tư tưởng vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến này.

Để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án giải quyết các vấn đề của đất nước một cách đúng đắn, hiệu quả; từ đó mới có thể nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Thứ hai, Bài học lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên môi trường không gian mạng; Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta. Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là môi trường này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đối với cư dân mạng. Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên.

Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.

Thứ ba, đổi mới phương pháp truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn và hấp dẫn hơn; Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều. Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng nhanh.

Ngày nay, nội dung thể hiện luận điểm của những cá nhân tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn như trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà cả với người dân, đặc biệt là giới trẻ hiện nay.

Để có được những chiến dịch truyền thông tư tưởng trên không gian mạng được người dân đón nhận và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cùng tham gia vào các hoạt động tư tưởng, lý luận trên môi trường không gian mạng./.

Phòng, chống “tự suy thoái” trong đảng viên không gương mẫu

 Đảng Cộng sản Việt Nam được Nhân dân tin yêu gọi là “Đảng ta”. Bởi, trong mọi điều kiện hoàn cảnh, dù khó khăn gian khổ đến đâu thì đảng viên của Đảng đều nêu cao tinh thần gương mẫu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, gây bức xúc trong Nhân dân. Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do những cán bộ, đảng viên này không gương mẫu, dẫn đến “tự suy thoái”. Để tăng cường trách nhiệm nêu gương, đẩy lùi nguy cơ “tự suy thoái” của cán bộ, đảng viên hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác, tự nguyện nêu gương mọi lúc, mọi nơi, phải coi nêu gương là một biện pháp cơ bản để củng cố lòng tin của Nhân dân và đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm của bản thân; trước hết, phải nêu gương về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đó là phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, việc gì có lợi cho Nhân dân thì phải ra sức làm, việc gì có hại cho Nhân dân phải hết sức tránh. Thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, gần gũi quần chúng, “ít lòng ham muốn về vật chất” như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải ra sức học tập và làm theo tác phong nêu gương của Người, nêu gương trong mối quan hệ với mình, với người, với việc; tiến hành thường xuyên, liên tục; thực chất chứ không hình thức. Đó là yêu cầu cơ bản để việc nêu gương phát huy tác dụng trong công tác và cuộc sống, chiếm được lòng tin yêu của nhân dân. Đồng thời, phải động viên, nhắc nhở người thân của mình thực hiện, như vậy mới không sợ “há miệng mắc quai” và nhân dân mới tin tưởng.

Hai là, kiên quyết, kiên trì thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương theo Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Việc thực hiện các quy định về nêu gương cần gắn liền với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Ba là, thường xuyên thực hiện tốt tự phê bình và phê bình; tuyên truyền nhân rộng gương “người tốt, việc tốt” như phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên; kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên thực hiện tốt các quy định về nêu gương. Đồng thời, phát hiện, xử lý nghiêm những người thiếu gương mẫu, vi phạm các quy định, kỷ luật của Đảng, của tổ chức, đoàn thể, kiên quyết không có vùng cấm để răn đe, cảnh tỉnh những cán bộ, đảng viên khác. Duy trì chặt chẽ chế độ tự phê bình và phê bình, gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Gắn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, đảng viên và nhận xét, đánh giá, sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ với kiểm điểm tự phê bình và phê bình việc phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác “tự soi”, “tự sửa” thường xuyên trong công việc hằng ngày, mọi lúc, mọi nơi, từ tư tưởng, nhận thức đến hành động, từ việc lớn đến việc nhỏ,… qua đó kịp thời thấy rõ và khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, ngày càng hoàn thiện bản thân.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên nhằm phát huy được ưu điểm, phát hiện và ngăn ngừa hạn chế, khuyết điểm, không để cho hạn chế, khuyết điểm kéo dài, gây hại cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm cho bộ máy luôn trong sạch. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát. Nội dung phải toàn diện, song cần có kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là sự gương mẫu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thái độ, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, v.v. Phát phát huy vai trò của cấp ủy, chi bộ, ủy ban kiểm tra các cấp, của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội, Mặt trận Tổ quốc các cấp và Nhân dân đối với việc nêu gương của cán bộ, đảng viên.

TMT

Nhặt được bọc tiền vàng trị giá gần nửa tỷ đồng, nữ sinh đứng giữa đường chờ người trả lại

 


Trên đường đi học về, Dung nhặt được túi bóng màu đen. Mở ra, nữ sinh thấy có nhiều tiền, vàng nên đứng chờ người đánh rơi quay lại để trả.

Công đoàn và sứ mệnh đấu tranh cho tiến bộ

Có ý kiến cho rằng, hiện nay Công đoàn Việt Nam do bị lệ thuộc tài chính vào giới chủ doanh nghiệp nên luôn hạn chế tổ chức đình công và đấu tranh để đòi quyền lợi cho công nhân, lao động. Và theo họ, chỉ có tổ chức đình công thì mới bảo vệ được quyền lợi công nhân. Vậy sự thật vấn đề này là như thế nào? “Công đoàn đã làm hết sức mình để bảo vệ quyền lợi cho người lao động” Đó là nhận định của ông Chang Hee Lee, Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (ILO Việt Nam) khi nói về Công đoàn Việt Nam (CĐVN). Thực tế cho thấy, CĐVN ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động và khẳng định vị thế trong đối thoại, thương lượng với chủ doanh nghiệp để mang lại quyền lợi cho người lao động, trên cơ sở những tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế. Điều này đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Giám đốc ILO Việt Nam cho rằng, trong 10-20 năm qua, CĐVN đã có nhiều đổi mới quan trọng, tập trung vào việc thực hiện chức năng cơ bản của mình. Đó là: Thứ nhất, công đoàn kết nạp đoàn viên theo phương thức mới, được gọi là phương thức kết nạp “từ dưới lên”. Khoảng 20 năm trước, có thể sẽ có việc liên đoàn lao động tỉnh, huyện đến gặp các doanh nghiệp và hỏi người sử dụng lao động xem có cho phép thành lập công đoàn không. Khi người sử dụng lao động đồng ý, liên đoàn lao động tỉnh, huyện sẽ để người sử dụng lao động tự thành lập và “quản lý” công đoàn. Nhưng hiện nay, theo phương thức kết nạp từ dưới lên, liên đoàn lao động tỉnh, huyện sẽ đến gặp và nói chuyện với người lao động trước tiên, điều này dẫn tới mối liên kết chặt chẽ giữa người lao động, công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên. Theo ông Chang Hee Lee, đây là một sự thay đổi rất quan trọng, bởi theo phương pháp kết nạp đoàn viên "từ trên xuống" (nghĩa là để người sử dụng lao động tự thành lập và "quản lý" công đoàn) thì công đoàn rất dễ bị chi phối bởi người sử dụng lao động. Còn với cách tiếp cận từ dưới lên, công đoàn nhiều khả năng trở thành tổ chức thực sự vì người lao động và do người lao động. Thứ hai, nếu nhìn vào thỏa ước lao động tập thể khoảng 10-20 năm trước, đó chỉ đơn thuần là việc ký kết các thỏa thuận mà không có thảo luận thực chất giữa người lao động và người sử dụng lao động. “Nhưng giờ đây, chúng ta có thể thấy quá trình thương lượng thực chất giữa hai bên, dù chưa phải ở tất cả nhưng đã ở khá nhiều doanh nghiệp”, ông Chang Hee Lee nói. Cũng theo ông Chang Hee Lee, trước kia, thỏa ước lao động tập thể chỉ được thỏa thuận ở cấp doanh nghiệp. Nhưng hiện nay, tại nhiều địa phương đã có thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp. Điều kiện lao động trong cùng một ngành và ở cùng một địa phương tương đối giống nhau, không có lý do gì chúng ta phải đàm phán tại từng doanh nghiệp, mất rất nhiều công sức. Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp là một bước tiến, một điểm đổi mới quan trọng của CĐVN. “Theo tôi, đây là sự phát triển đúng hướng. Nếu CĐVN thực hiện nhanh hơn và một cách có hệ thống hơn theo hướng này, điều đó sẽ tốt hơn không chỉ cho người lao động Việt Nam, mà còn cho cả xã hội Việt Nam, bởi nó đóng góp cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội”, ông Chang Hee Lee nói. Bài 2: Công đoàn và sứ mệnh đấu tranh cho tiến bộ (tiếp theo và hết) Công đoàn không bị lệ thuộc vào doanh nghiệp Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động Quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Bộ luật Lao động 2019 đã nội luật hóa các nội dung của công ước này. Công ước số 98 có 16 điều, gồm ba nội dung cơ bản: (i) bảo vệ người lao động và cán bộ công đoàn trước hành vi phân biệt đối xử chống công đoàn của người sử dụng lao động; (ii) bảo vệ tổ chức của người lao động không bị can thiệp, thao túng bởi người sử dụng lao động; (iii) những biện pháp thúc đẩy thương lượng tập thể tự nguyện, thiện chí. Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 đã quy định nhiều điều khoản chặt chẽ hơn để phòng, chống các hành vi không công bằng trong lao động (như can thiệp, phân biệt đối xử với cán bộ công đoàn...). Ngoài ra, Bộ luật không cho phép nhân sự quản lý cấp cao tham gia tổ chức công đoàn, vì như vậy, họ thuộc về phía chủ sử dụng lao động, nên nhiều lúc khó có thể lên tiếng vì người lao động. Có ý kiến cho rằng, tại Việt Nam, công đoàn bị lệ thuộc về tài chính vào chủ doanh nghiệp nên không thể đấu tranh cho công nhân và người lao động, vì “ăn cây nào, rào cây ấy”. Đây là ý kiến phiến diện, cố tình không hiểu bản chất của vấn đề. Theo Điều 26, Luật Công đoàn 2012, hiện nay, tài chính công đoàn bao gồm các nguồn thu là: 1-Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam; 2-Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; 3-Ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ; 4-Nguồn thu khác từ hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động kinh tế của công đoàn; từ đề án, dự án do Nhà nước giao; từ viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Trong đó, khoản kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng (là nghĩa vụ đã được pháp luật quy định), sẽ nộp về một tài khoản chung của Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam, trở thành tài sản thuộc sở hữu của Tổng Liên đoàn. Đây là nghĩa vụ của từng doanh nghiệp đối với CĐVN nói chung, không phải là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với công đoàn cơ sở tại chính doanh nghiệp mình. Sau đó, Tổng Liên đoàn phân bổ lại cho các cấp công đoàn địa phương, ngành. Như vậy, rõ ràng công đoàn cơ sở không bị ràng buộc, bị lệ thuộc về khoản kinh phí do doanh nghiệp đóng. Mục tiêu là xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ Những người cố tình muốn phủ nhận vai trò của CĐVN cho rằng, do công đoàn không tổ chức đình công nên không thể hiện được vai trò trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động. Từ nhiều năm qua, Bộ luật Lao động đã quy định về quyền đình công của người lao động và quyền lãnh đạo, tổ chức đình công của tổ chức Công đoàn. Theo ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, đình công là vũ khí của tổ chức công đoàn, nhưng công đoàn chỉ sử dụng vũ khí này khi cần thiết. Đảng và Nhà nước ta (kể cả người sử dụng lao động và người lao động) mong muốn, theo đuổi mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp. Quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước bảo đảm hài hòa, không thiên lệch mới thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững. "Khi có bất đồng, mâu thuẫn xảy ra giữa các bên, chúng tôi lấy đối thoại, thương lượng làm đầu. Chúng tôi bảo vệ quyền lợi người lao động thông qua thương lượng, đấu tranh bằng thương lượng. Điều này giữ được quan hệ tốt đẹp giữa các bên", ông Ngọ Duy Hiểu nói. Cũng theo ông Ngọ Duy Hiểu, thực tế cho thấy hầu hết các cuộc đình công sẽ gây ra tổn thất cho doanh nghiệp, sâu xa cũng là gây tổn thất cho công nhân và cho xã hội. Do đó, hiện nay công đoàn các cấp chủ yếu sử dụng phương thức đối thoại, thương lượng với người sử dụng lao động và khởi kiện làm chính. Tất nhiên, khi không thể thương lượng, đối thoại được, công đoàn có thể lãnh đạo, tổ chức đình công theo quy định. Không đình công, không có nghĩa là không đấu tranh bảo vệ quyền lợi người lao động. "Cách bảo vệ thông minh là bảo vệ ít tốn kém, ít mất mát, hướng tới phát triển bền vững. Công đoàn nhiều nước trên thế giới nhiều năm liền không có một cuộc đình công, nhưng họ vẫn bảo vệ được quyền lợi của người lao động", ông Ngọ Duy Hiểu nhấn mạnh. Ở nhiều địa phương, công đoàn các cấp đã thể hiện thái độ rất cứng rắn với chủ doanh nghiệp có dấu hiệu xâm phạm lợi ích của công nhân, người lao động nhưng không bằng đình công. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bắc Ninh, có doanh nghiệp có 3.000 công nhân, 3 năm liên tiếp vừa qua có dấu hiệu cứ gần Tết là công nhân lại ngừng việc hàng loạt. Tìm hiểu kỹ, LĐLĐ tỉnh phát hiện ra đây là một chiêu trò của doanh nghiệp nhằm tạo cớ để thải loại bớt công nhân, nhất là công nhân có thâm niên, để không phải trả lương cao. Cụ thể, doanh nghiệp cố tình chi thưởng tiền Tết rất ít là 200.000 đồng/người, dẫn tới người lao động bức xúc ngừng việc tập thể, từ đó doanh nghiệp có cớ để đuổi việc một số công nhân. Nắm được nguyên nhân sâu xa nói trên, đích thân Chủ tịch LĐLĐ tỉnh đã vào đối thoại với doanh nghiệp và khẳng định nếu doanh nghiệp không đáp ứng tăng tiền thưởng Tết sẽ tổ chức cho công nhân đình công. Vì vậy, doanh nghiệp đã phải chấp thuận nâng tiền thưởng Tết cho công nhân gấp 10 lần, lên 2 triệu đồng/người. “Chúng tôi đấu tranh vì quyền lợi người lao động nhưng luôn có tinh thần phối hợp, hỗ trợ doanh nghiệp. Doanh nghiệp có phát triển thì công nhân mới có việc làm, thu nhập. Tuy nhiên, chúng tôi cũng rất cương quyết với những hành vi xâm phạm lợi ích công nhân, người lao động”, bà Nguyễn Thị Vân Hà nói. Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, ông Chang Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam cũng nhắc nhiều tới phương pháp thương lượng giữa công đoàn và người sử dụng lao động. Ông cho rằng, Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2018 về cải cách chính sách tiền lương, là một nghị quyết đặc biệt quan trọng đóng vai trò hướng dẫn các bên tham gia vào quan hệ lao động trong việc quyết định tiền lương và các điều kiện lao động khác. Có 3 điểm quan trọng trong nghị quyết này. Thứ nhất, nghị quyết ghi rõ Nhà nước không tham gia vào quá trình xác lập tiền lương ở cấp doanh nghiệp. Thứ hai, nghị quyết ghi nhận vai trò quan trọng của lương tối thiểu, nhưng đồng thời nêu rõ hạn chế của lương tối thiểu là chỉ để bảo vệ những người lao động dễ bị tổn thương nhất trên thị trường lao động. Không thể dùng lương tối thiểu để quyết định tiền lương thực tế của mọi người lao động. Thứ ba, nghị quyết khuyến khích công đoàn và người sử dụng lao động xác lập tiền lương thực tế thông qua thương lượng tập thể. “Nghị quyết 27 đưa ra hướng dẫn rõ ràng về phương thức xác lập, điều chỉnh tiền lương và hoàn toàn tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO”, ông Chang Hee Lee nói. Để nâng cao năng lực thương lượng, đối thoại cho cán bộ công đoàn để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam đang rất quan tâm đào tạo về kiến thức pháp luật và kỹ năng thương lượng cho đội ngũ cán bộ làm công tác thương lượng tập thể, nhất là chủ tịch công đoàn cơ sở. Tổng Liên đoàn đã xây dựng quy trình và hướng dẫn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ký kết 10 bản thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp với 106 doanh nghiệp tham gia, 53.572 lao động được hưởng lợi. Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy đối thoại, thương lương tại doanh nghiệp theo quy định mới của Bộ luật Lao động 2019 và là tiền đề cho các TƯLĐTT nhóm doanh nghiệp và TƯLĐTT ngành thực chất hơn trong thời gian tới. Với truyền thống vẻ vang 92 năm hình thành và phát triển, CĐVN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động. Được Hiến pháp quy định về vị trí, vai trò, sứ mệnh, với số lượng đoàn viên công đoàn hơn 10,5 triệu người và sẽ tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới, có thể nói, CĐVN là tổ chức hội tụ đủ những điều kiện, tư cách để đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho công nhân, viên chức, người lao động. Chắc chắn người lao động Việt Nam sẽ mãi mãi tin yêu, gắn bó và ra sức xây dựng CĐVN lớn mạnh. Mưu đồ lợi dụng danh nghĩa bảo vệ quyền lợi của người lao động để phủ nhận sạch trơn vai trò của CĐVN nhằm dọn đường cho những tổ chức bất hợp pháp ra đời ở Việt Nam chỉ là mưu đồ hão huyền của một số người và chắc chắn sẽ thất bại.