Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Những chiêu trò mới của Việt Tân

 


Sau khi bị các cơ quan chức năng đấu tranh quyết liệt, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch phát triển lực lượng vào trong nước, “Việt Tân” đã chuyển hướng hoạt động bằng phương thức “diễn biến hòa bình”, “đấu tranh bất bạo động”, tiếp tục nuôi ảo vọng lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...

Một trong những phương thức, thủ đoạn hoạt động của Việt Tân là kích động biểu tình phá rối an ninh, tập dượt cho “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Theo đó, Việt Tân triệt để lợi dụng tâm lý bất bình của quần chúng nhân dân về một số vụ việc tiêu cực trong nước, các sự kiện nóng liên quan chủ quyền lãnh thổ…, để kích động thanh niên, sinh viên tham gia các cuộc tuần hành, biểu tình. Chúng đưa người thâm nhập vào số đi khiếu kiện, thậm chí tài trợ tiền đề kích động họ tham gia các hoạt động do Việt Tân tổ chức, hòng biến những vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai thành các cuộc biểu tình quy mô lớn; xây dựng và tán phát kịch bản “lật đổ chế độ tại Việt Nam”. Đồng thời, chỉ đạo các đối tượng ở trong nước vẽ sơ đồ, quay phim, chụp ảnh các mục tiêu trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội…, phục vụ cho các mưu đồ chống phá.
Gần đây, các vụ biểu tình, tụ tập đông người phá rối an ninh do Việt Tân kích động không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về tính chất và mức độ nguy hiểm. Số cầm đầu Việt Tân đánh giá “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”.

Có thể nêu lên một vài vụ điển hình như: Vụ Nguyễn Hữu Thiên An (Khánh Hòa) âm mưu đặt bom đánh phá tại quận 1, TP Hồ Chí Minh; Trần Thị Nga (Hà Nam) tán phát hàng nghìn bài viết, hàng chục video clip trên internet tuyên truyền, xuyên tạc, kích động quần chúng nhân dân biểu tình nhưng đã bị cơ quan Công an kịp thời phát hiện, đấu tranh, bắt giữ và xử lý. Vụ việc khác đã bị lực lượng an ninh phát hiện và xử lý xảy ra ngày 17-4-2012, Việt Tân chỉ đạo Nguyễn Quốc Quân, “Ủy viên Trung ương Việt Tân” sử dụng tên Nguyen Richard nhập cảnh vào Việt Nam mang theo máy tính xách tay, sử dụng nhiều tài liệu và tiền với ý đồ kích động biểu tình, tổ chức rải truyền đơn phá hoại dịp lễ 30-4, tổ chức thông tin ra bên ngoài để tuyên truyền, xuyên tạc chống Nhà nước Việt Nam như lần nhập cảnh vào Hà Nội tháng 7-2011.

Cũng vào dịp lễ kỷ niệm ngày thống nhất đất nước năm 2019, Việt Tân âm mưu cử các thành viên nhập cảnh vào Việt Nam, thực hiện rải truyền đơn phản động tại TP Hồ Chí Minh và khu vực chùa Ba Vàng, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, nhưng toàn bộ hoạt động của chúng đều nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan an ninh khiến số đối tượng bên ngoài không thể xâm nhập về nước, số cơ sở trong nước hoang mang không dám thực hiện.

Không chỉ dừng lại ở đó, tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại.

Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của Việt Tân nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Sự ăn theo Việt Tân, nhiều hội, nhóm trá hình đã được thành lập như: Hội cựu lao động Đài Loan do Trần Thị Nga thành lập theo chỉ đạo của Nguyễn Văn Hùng, thành viên Việt Tân ở Đài Loan; Hội nhóm dân oan Hà Nam do Trần Thị Nga thành lập tháng 12-2013; Công đoàn doanh nhân, trí thức Thái Hà do Lê Quốc Quân, Nguyễn Hữu Vinh và Trần Thị Hường và một số đối tượng khác cầm đầu; Văn phòng truyền thông Công giáo và Quỹ Trái tim yêu thương, thành lập năm 2014.

Để dễ bề chỉ đạo số đối tượng trong nước, Việt Tân đưa người tham gia, tài trợ tiền cho các hội, nhóm để chi phối hoạt động. Điển hình như “Hội anh em dân chủ” có Nguyễn Văn Đài và Nguyễn Bắc Truyển thường xuyên nhận tài trợ của Việt Tân. Đồng thời, là đầu mối tuyển chọn người cho Việt Tân đưa ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện. Trong số các thành viên được Việt Tân huấn luyện có thể kể đến như Lê Thu Hà, Hoàng Chí Hiếu. Đầu năm 2015, được sự giúp đỡ của Việt Tân, Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) cùng một số đối tượng đã khôi phục “Câu lạc bộ nhà báo tự do” thành một tổ chức phi chính chủ để triển khai hoạt động chống phá Việt Nam với cơ cấu gồm Ban giám đốc, ban biên tập, bộ phận xây dựng website, truyền thông (do Phạm Đắc Hồng Thuận phụ trách), giao tiếp cộng đồng, thủ quỹ. Ngoài ra còn có “Phong trào chống tham nhũng” có Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Anh Tuấn (Thái Bình)..., đều là cơ sở của Việt Tân. 

Lợi dụng nhu cầu muốn ra nước ngoài học tập của người dân, Việt Tân núp dưới danh nghĩa tài trợ học bổng, từ thiện, mời tham dự hội thảo, du lịch..., để móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, luật sư, phóng viên, người khiếu kiện... ra nước ngoài. Sau đó, dùng thủ đoạn lừa mị, khống chế, bắt điền đơn gia nhập tổ chức, tiến hành huấn luyện kỹ năng hoạt động, bảo mật máy tính, cách chế tạo bom xăng..., rồi tung về nước rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng, gây hoang mang trong nhân dân.

Năm 2019, dưới danh nghĩa từ thiện, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân là VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment) - “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại”, thông qua cái gọi là “Học bổng xã hội dân sự VOICE” mời gọi thanh niên tham gia và cam kết “giúp các học viên trở thành những công dân tích cực, giàu tinh thần cộng đồng, và được trang bị các kiến thức nền tảng để có thể tham gia vào các hoạt động xã hội”. Vậy nhưng đằng sau những lời tuyên bố đầy tốt đẹp lại là những hoạt động chống đối nguy hiểm. Trong khoá đào tạo của mình, trước hết VOICE truyền bá những cách nhìn nhận sai lệch về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam, hình thành tư tưởng chống đối chính quyền cho học viên. Sau đó, VOICE tiến hành tập huấn, trang bị, huấn luyện cho học viên các nội dung về đấu tranh bất bạo động đối với chính quyền, đặc biệt là việc sử dụng chiêu bài tự do, nhân quyền để tiến hành chống phá. Ngoài ra, VOICE còn tổ chức cho học viên tiếp xúc với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị để học hỏi phương thức hoạt động, thậm chí là cả cách ứng phó với cơ quan chức năng. Các “sản phẩm” sau đào tạo được tung về nước, trở thành hạt nhân tập trung lực lượng tiến hành chống phá chính quyền. Và cũng chính VOICE từng thông qua một số tổ chức phi chính phủ lấy danh nghĩa từ thiện để tài trợ 30 ngàn đô la Canada để mua 100 chiếc xe lăn trao tặng cho số thương, phế binh quân đội Việt Nam cộng hòa. Đáng chú ý, tổ chức này và “Hội đồng liên tôn” còn thành lập các “Chi hội thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” nhằm tập hợp số thương, phế binh thuộc chế độ ngụy quyền Sài Gòn vào các “Chi hội Tôn giáo”, chờ “cơ hội” để “xuống đường đấu tranh” chống chính quyền.

Một thủ đoạn nham hiểm khác của Việt Tân là sử dụng các đối tượng chống đối trong nước làm bằng chứng sống, cung cấp những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam cho chính giới một số nước; một số hãng thông tin quốc tế, xuyên tạc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đồng thời khuếch trương thanh thế, chứng tỏ thực lực của Việt Tân ở nước ngoài, gây dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam.

Những đối tượng thường được Việt Tân nhắm tới là số thân nhân đặc biệt như luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ, giảng viên một số trường đại học trong nước, số cốt cán của các hội, nhóm chống đối trong nước; thân nhân đối tượng đang bị bắt; các blogger thường xuyên viết bài chống Đảng, Nhà nước và số chức sắc, tín đồ chống đối trong tôn giáo. Đồng thời, Việt Tân sử dụng danh nghĩa của một số tổ chức nước ngoài mời các đối tượng trong nước; chỉ đạo số trong nước xuất cảnh sang Campuchia hoặc Thái Lan bằng đường bộ, sau đó mới xin thị thực nhập cảnh vào nước thứ ba.

Việt Tân còn triệt để lợi dụng sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Với chiêu bài “phản biện xã hội”, đấu tranh vì “dân chủ”, “nhân quyền”, xây dựng “xã hội dân sự”, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ… nhưng thực chất là để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch của thanh niên, sinh viên với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức.

Việt Tân đã cho lập mới hơn 300 tài khoản và nhiều diễn đàn kín, kết hợp với những diễn đàn trước đó như “Canh Tân”, “Bạn của Việt Tân”, “Bạn của Nguyễn Quốc Quân”... duy trì gần 1.000 tài khoản mạng xã hội, đăng tải, chia sẻ những bài viết, thông tin tiêu cực trong xã hội để thổi phồng, phá hoại tư tưởng. Ý đồ của chúng là biến mỗi thành viên, cảm tình viên của tổ chức trở thành một tuyên truyền viên, một kênh thông tin hữu hiệu để tuyên truyền, lan tỏa những “thông điệp” của Việt Tân trong cộng đồng người thân và bạn bè của đối tượng. Từ đó, tác động tư tưởng, phát hiện đầu mối giới thiệu cho tổ chức thông qua các trang facebook.

Việt Tân đồng thời duy trì các trang web, đài phát thanh và lập bản tin..., cung cấp tài chính, phương tiện cho số đối tượng trong nội địa của chúng thu thập thông tin, viết bài công kích trực tiếp lãnh đạo Đảng Nhà nước; khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tập trung khai thác những sự kiện được dư luận quan tâm như vụ cây xanh tại Hà Nội, vấn đề Biển Đông, sự kiện công nhân đình công..., lồng ghép thông tin xuyên tạc tình hình, bôi nhọ, vu cáo các cơ quan chức năng của ta. Bằng cách liên kết với các đối tượng như Đoàn Viết Hoạt (cầm đầu Họp mặt dân chủ) và Nguyễn Văn Đài (cầm đầu Hội anh em dân chủ), từ tháng 10-2014 đến nay, Việt Tân đã tổ chức các khóa học với trên 55 đối tượng tham dự vào các tối thứ 4 và thứ 7 hằng tuần. Chúng lập ra nhóm học tập dân chủ online; tổ chức huấn luyện 15 nội dung liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền như: Dân chủ là mục tiêu hàng đầu của đấu tranh; từ độc tài đến dân chủ trên thế giới..., điều hành nhóm là số cầm đầu “cốt cán” của Việt Tân như Hoàng Cơ Định, Nguyễn Quốc Quân, Đỗ Đăng Liêu, Nguyễn Đỗ Thanh Phong đều là “ủy viên trung ương”.

Không dừng lại ở đó, chúng liên kết, tài trợ cho Dòng chúa cứu thế mở các văn phòng truyền thông công giáo tại ba miền Bắc, Trung, Nam để tuyên truyền chống chế độ; mở chiến dịch tiếp cận internet tại các vùng ở Tây Nguyên, Tây Bắc nhằm trang bị kiến thức, huấn luyện cách thức sử dụng Internet cho đồng bào dân tộc để dễ dàng tuyên truyền, phát triển lực lượng và kích động họ tham gia các hoạt động tụ tập, gây rối an ninh trật tự tại địa phương, tạo ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Từ bên ngoài, năm 2015, đúng dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các đối tượng đã soạn thảo và tán phát vào trong nước “bản tuyên bố” có tựa đề “40 năm đã qua” và bộ phim tài liệu “Những ngày cuối cùng ở Việt Nam” với nội dung xuyên tạc, phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đồng thời kêu gọi số chống đối tham gia ký tên và tán phát rộng rãi trong cả nước.

Ngang nhiên và liều lĩnh hơn, các đối tượng còn phát động trên mạng Internet phong trào “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”; cuộc thi “Cộng sản và tôi”; tổ chức các buổi “hội luận” trên mạng Internet với sự tham gia của số cầm đầu như Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm và số đối tượng trong nước. Việt Tân còn chỉ đạo các đối tượng trong nước vận động mọi người trong nước tham gia các buổi “tưởng niệm”, xuyên tạc lịch sử năm 1975.

Hiện nay, Việt Tân đang ráo riêng kích động các hoạt động chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XV, hậu thuẫn các đối tượng phản động, cơ hội chính trị tự ứng cử để phá hoại bầu cử. Các vị trí chủ chốt của Việt Tân đều có nguồn gốc liên quan đến dòng họ của Hoàng Cơ Minh. Sau khi Hoàng Cơ Minh chết tại Lào, cái gọi là “Mặt trận” giải tán, Hoàng Cơ Định chính là người nắm quỹ tài chính, điều hành hoạt động của Việt Tân từ đó đến nay. Hoàng Tứ Duy – kẻ xưng là người phát ngôn chính thức của Việt Tân lại chính là con trai của Hoàng Cơ Định. Đỗ Hoàng Điềm - kẻ tự xưng là Chủ tịch Việt Tân là cháu vợ của Hoàng Cơ Định...

Mặc dù Việt Tân và các thế lực thù địch luôn tìm cách chối bỏ bản chất khủng bố, chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhưng theo các quy định của pháp luật Việt Nam và quốc tế, đủ cơ sở khẳng định Việt Tân chính là tổ chức khủng bố.

Bộ Công an đã khẳng định: Việt Tân là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Phản bác luận điệu “Chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế tại Đại hội XIII của Đảng chỉ là lý thuyết, phi thực tế”


Những thành tựu của Việt Nam sau 35 năm đổi mới, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là những luận cứ xác đáng để phản bác những quan điểm sai trái về chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế tại Đại hội XIII của Đảng.

Đại hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp nhưng các thế lực thù địch vẫn đưa ra rất nhiều luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc đường lối của Đảng, tạo ra sự nghi ngờ trong nhân dân về con đường mà chúng ta đang thực hiện. Cụ thể, chúng cho rằng chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế tại Đại hội XIII của Đảng là lý thuyết, phi thực tế. Chúng ngụy biện không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế; đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ. Đồng thời, chúng còn cho rằng, thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; với một Đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Nhìn lại lịch sử phát triển chính sách đối ngoại của nước ta, đặc biệt những thành tựu sau 35 năm đổi mới, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn sẽ là những luận cứ xác đáng để phản bác những quan điểm sai trái đó.

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất rõ. Đây chính là cơ sở để phát triển chính sách đối ngoại Việt Nam trong suốt những năm đổi mới vừa qua. Một trong các bài học được rút ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực. Trong phần những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Cương lĩnh cũng nêu rõ: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. 

Rõ ràng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất cụ thể trong cương lĩnh của Đảng. Mối quan hệ này còn được thể hiện trong các nội dung của chính sách đối ngoại nói chung và được cụ thể hoá nội hàm của nó trong từng nội dung và điều kiện cụ thể. Đây là cơ sở, nền tảng xây dựng chính sách đối ngoại của đất nước chúng ta trong suốt những năm sau này.

 Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII, XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Trong Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Đồng thời, Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta được thể hiện qua cương lĩnh và các văn kiện, Nghị quyết của Đảng đều khẳng định quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Đảng là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Quá trình này đã thu được những kết quả hết sức to lớn, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Điều đó cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và nhà nước ta. Trong quá trình triển khai, chính sách đối ngoại với mục tiêu bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được quán triệt xuyên suốt trong mọi chính sách và hành động. Kết quả là ta đã từng bước hội nhập một cách sâu rộng vào khu vực và thế giới.

Năm 1990, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên minh châu Âu, năm 1995 chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung hợp tác với Liên minh châu Âu và làm đơn gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Việc ký Hiệp định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đầu tư, thương mại và tang trưởng của nền kinh tế nước ta. Đến năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới.

Cùng với quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng đã tăng cường hợp tác song phương, triển khai mạnh mẽ quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng, nhất là xây dựng khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Nhìn chung, các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện mà Việt Nam ký kết đều là những đối tác quan trọng với lợi ích cả về kinh tế, chính trị và đối ngoại nói chung. Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7 và 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu, 76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Cơ sở quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện đã ký kết đã góp phần củng cố môi trường hoà bình, hữu nghị hợp tác với các đối tác quan trọng, đặc biệt là với các nước lớn, với các nước láng giềng chung biên giới. Đồng thời, việc thiết lập quan hệ đối tác với các nước lớn, có vai trò quan trọng góp phần giúp Việt Nam xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, đưa hợp tác trở thành chủ đạo, đồng thời tạo cơ chế và kênh trao đổi giảm thiểu sự khác biệt trong quan hệ với các nước này, tạo điều kiện để tăng cường lòng tin. Thông qua các quan hệ song phương đã được thiết lập đã tạo ra sự đan xen lợi ích, giúp Việt Nam tranh thủ được nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước. Ngoài ra, thông qua các đối tác quan trọng này, đã góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, thể hiện thông qua vị trí của ta trong chính sách đối ngoại của các nước cũng như trong các khuôn khổ hợp tác đa phương.

Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng. Chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ hội nhập của Việt Nam với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược. Từ một nước bị bao vây cấm vận, với chính sách đối ngoại đúng đắn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới. Trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, chúng ta đã chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực quan trọng. Hợp tác đa phương theo phương châm chủ động, tích cực tham gia, nhất là vào quá trình xây dựng và định hình các quy tắc và luật lệ mới, phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương. Việc tham gia các cơ chế đa phương một cách tích cực chủ động là để trực tiếp bảo đảm các lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của đất nước. Năm 2020 Việt Nam với vai trò là Chủ tịch ASEAN và là Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt Nam đã thể hiện rất tốt vai trò của mình, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Với thế và lực trong nước tăng lên cùng với chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và hiệu quả vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế.

Đến nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Độ mở của nền kinh tế nước ta hiện nay vào loại cao nhất thế giới với tỷ trọng xuất khẩu trên GDP là hơn 200%. Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các hiệp định đa phương thế hệ mới. Với các kết quả hội nhập kinh tế sâu, rộng như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới cả về chiều rộng, chiều sâu và toàn diện. Với những Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết có tính toàn diện, quy mô rộng, mức độ cam kết cao, điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực, trong đó bao hàm nhiều nội dung mới như thương mại điện tử, phát triển bền vững, các biện pháp sau biên giới, đồng bộ chính sách, giải quyết chính sách giữa nhà đầu tư và nhà nước đem lại rất nhiều cơ hội cho phát triển, đồng thời đòi hỏi những nỗ lực trong nước rất cao để có thể đem lại kết quả như mong muốn. Thông qua hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta tăng rất nhanh, từ 1,74 tỷ USD năm 1986 lên 10 tỷ USD năm 1996, 45 tỷ USD năm 2006 và 287,8 tỷ USD năm 2020. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần phát huy nội lực, tranh thủ được nguồn lực nước ngoài, đặc biệt là công nghệ và quản trị hiện đại. Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn, góp phần bổ sung nguồn lực trong nước. Nguồn vốn FDI thu hút vào nước ta tăng rất nhanh, từ 428,5 triệu USD năm 1991 lên 4 tỷ USD năm 2006 và 20 tỷ USD năm 2020. Năm 2020, đã có 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó, dẫn đầu là Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng là áp lực giúp đẩy mạnh cải cách mạnh mẽ trong nước để bảo đảm điều kiện hội nhập thành công và hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam, góp phần đưa kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục trong nhiều năm qua, góp phần chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng chất lượng hơn.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế cũng cho thấy cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, qua những cuộc khủng hoảng, hoặc những biến động của thế giới cho thấy để hội nhập thành công phải có nội lực mạnh, đồng thời phải đa phương hoá, đa dạng hoá các đối tác, các thị trường để tránh những rủi ro và lệ thuộc. Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài cũng cho thấy cần phải nhận thức sâu sắc hiệu quả của thu hút đầu tư, nhất là giai đoạn hiện nay, phải bảo đảm thu hút được công nghệ cao, công nghệ sạch và làm tốt việc chuyển giao công nghệ cũng như gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Cùng với sự hội nhập nhanh, sâu rộng và toàn diện trong lĩnh vực kinh tế, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng có những bước phát triển quan trọng. Hội nhập với tốc độ cao hơn, toàn diện hơn, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác và chất lượng hội nhập ngày càng nâng cao. Việt Nam đã ký hơn 100 thoả thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hoá, đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều. Các hình thức giao lưu văn hoá, phim ảnh, thời trang… của Việt Nam với quốc tế ngày càng nhiều.

Hội nhập văn hoá cũng là cơ hội để Việt Nam quảng bá đất nước, con người, văn hoá Việt Nam và tiếp thu giá trị văn hoá các nước. Nhờ có hội nhập mạnh mẽ về văn hoá mà bạn bè quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều. Trong suốt nhiều năm vừa qua, khách du lịch đến Việt Nam đều tăng với tốc độ cao, góp phần cả về phát triển kinh tế và văn hoá, xã hội. Cũng từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hoá tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hoá tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới. Từ đó, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hoá- xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng tạo công ăn việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Sau 35 năm đổi mới và hội nhập, tỷ lệ nghèo giảm mạnh. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ gần 60% vào năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, xuống còn 13,4% năm 2008 và đến năm 2016 chỉ còn 5,8%.

Thực hiện chính sách hội nhập quốc tế toàn diện, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng an ninh cũng không ngừng được phát triển và mở rộng. Hội nhập quốc phòng - an ninh vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước vừa góp phần bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới. Việt Nam đã chuyển từ chủ trương tham dự, sang phát huy vai trò thành viên có trách nhiệm trên nhiều diễn đàn khu vực và toàn cầu. Nội dung hội nhập quốc tế để giữ nước từ xa, từ sớm, giữ nước từ khi “nước còn chưa nguy”. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực. Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện các cơ chế đối thoại Quốc phòng - An ninh, giao lưu biên phòng với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, trao đổi hữu nghị của tàu hải quân được đẩy mạnh. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tuỳ viên quân sự tại hơn 30 nước và hơn 40 nước có văn phòng tuỳ viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh quân sự toàn cầu. Việt Nam cũng đã tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Việt Nam đã gửi các sỹ quan thông tin đến các Phái bộ gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc tại Cộng hoà Trung Phi, Nam Xu Đăng và tiếp theo đó đã triển khai các bệnh viện dã chiến cấp 2 và công binh. Như vậy, Việt Nam không chỉ giữ vững độc lập chủ quyền của Tổ quốc mà còn chủ động, tích cực đóng góp vào việc duy trì hoà bình, an ninh quốc tế.

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Về mặt lý luận đây là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, bất kỳ quốc gia nào muốn hội nhập quốc tế thành công đều phải vận dụng hợp lý mối quan hệ này. Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong suốt những năm đổi mới vừa qua đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn phù hợp với bối cảnh nhất định. Đó cũng là quá trình phát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực tiễn triển khai và kết quả đạt được sau 35 năm đổi mới cho thấy chính sách đối ngoại trên là hoàn toàn đúng đắn và khoa học. Hội nhập quốc tế của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, xây dựng đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có nhiều nước lớn, có vị trí và tầm ảnh hưởng quan trọng của thế giới và khu vực. Việt Nam cũng tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng và thực sự có nhiều đóng góp quan trọng và có trách nhiệm trong những tổ chức này. Quá trình đó, Việt Nam cũng đã từng bước hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh. Trong đó hội nhập kinh tế là nòng cốt, là cơ sở, hội nhập trong các lĩnh vực khác là toàn diện và bổ sung cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn có ý lịch sử của đất nước trong 35 đổi mới vừa qua.

Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung thực sự là những luận cứ xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực này.


Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng

 


Hiện nay, Việt Tân thường núp dưới vỏ bọc dân chủ, nhân quyền, tổ chức khủng bố Việt Tân thông qua các phương tiện truyền thông thù địch ở nước ngoài và các trang mạng xã hội đang đẩy mạnh nhiều chiến dịch kích động, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước, nhằm thực hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “cách mạng màu” tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân tại Việt Nam. Các cuộc biểu tình phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình năm 2016, 2017; các cuộc biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và dự thảo Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh… năm 2018, đều có bàn tay xúi giục, kích động của Việt Tân.

Vừa qua, cái gọi là tổ chức nhân quyền Safeguard Defenders công bố xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt với mục đích hướng dẫn áp dụng Luật Magnitsky của Hoa Kỳ để trừng phạt “vi phạm nhân quyền” ở Việt Nam. Có thể nói, đây là hành động không thể chấp nhận vì đã can thiệp thô bạo, tinh vi vào nội bộ tình hình Việt Nam, tiếp tay cho những thế lực thù địch, chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Chính vì vậy, để có thể phát huy được trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt là thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tích cực tuyên truyền; giáo dục, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên; có cơ chế, chính sách trong việc huy động thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. 

Thiết nghĩ, hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm cho cuộc sống của mình, đồng thời kịch liệt phản đối việc Tổ chức Freedom House tự cho mình cái quyền được "chấm điểm" để xếp hạng về "quyền tự do" ở Việt Nam. Một tổ chức phi chính phủ hay một quốc gia dù lớn mạnh cỡ nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét về tình hình tự do, nhân quyền một cách thiếu trách nhiệm. Ở Việt Nam không có cái gọi là "tù nhân lương tâm", không có việc đàn áp, bỏ tù những người bất đồng chính kiến, mà chỉ có việc điều tra, xét xử những công dân vi phạm pháp luật.

Vạch trần cái gọi là “gương sáng vì cộng đồng” của Trần Quyết Thắng- một phần tử câu kết chặt chẽ với tổ chức phản động VOICE, Báo Hà Tĩnh số ra ngày 25-3 viết, sau khi được VOICE móc nối đưa sang Philippines đào tạo, lợi dụng sự cố môi trường biển, Trần Quyết Thắng đã móc nối với một số đối tượng phản động nhóm NOUFC Hà Nội, liên kết với một số linh mục tiến hành kích động, biểu tình gây rối nhiều lần tại Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa. Trần Quyết Thắng cùng một số đối tượng thường xuyên kích động biểu tình, trực tiếp quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn người dân sau sự cố môi trường biển, lũ lụt trên địa bàn Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình. Trên Facebook cá nhân Trần Quyết Thắng thể hiện sự cổ suý cho các vi phạm của các đối tượng trong vụ án tại xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội cũng như hoạt động biểu tình của giới trẻ Hồng Kông. Thời gian gần đây, Trần Quyết Thắng kêu gọi và thực hiện dự án phục hồi xe đạp cũ với tên “R4K”, thu hơn 200 triệu đồng tiền ủng hộ và hàng trăm chiếc xe đạp cũ từ khắp cả nước. VOICE rất quan tâm đến dự án này. Một số đối tượng chống đối cũng đã “ngửi mùi”, cổ suý cho các hoạt động dự án mang tính chất “xã hội dân sự” do đối tượng này tiến hành.

Từ những hành vi của Trần Quyết Thắng, chúng ta cần tuyên truyền và  khuyến cáo người dân cần cảnh giác với các dự án của tổ chức phản động VOICE và các thành viên của chúng.

Thời gian qua, một số báo điện tử nước ngoài (BBC, VOA, RFA, RFI,…) và một số trang Web, trang mạng xã hội chống cộng, phi pháp, thiếu thiện ý với Việt Nam trong các bài viết, nói về Việt Nam, thường có cụm từ “tù nhân lương tâm”, nhằm tố cáo “Chính quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền”.

Đây là luận điệu xuyên tạc, vu cáo tình hình nhân quyền ở những quốc gia có quan điểm, thể chế chính trị không đi theo “tiêu chuẩn nhân quyền” của phương Tây. Ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”! Ở Việt Nam, mọi tổ chức, cá nhân đều phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, nếu ai vi phạm đều bị cơ quan chức năng bắt giữ, điều tra, xử lý theo quy định. Cho nên việc Nhà nước Việt Nam xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật là việc làm theo đúng luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế. Đây cũng là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân, quốc gia dân tộc và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Bên cạnh đó, chiêu bài đòi loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi cơ chế bầu cử theo hướng tự do như các nước Tư bản chủ nghĩa. Mưu toan của chúng là cài cắm vào các cơ quan của Quốc hội và HĐND những “mầm mống dân chủ” để từng bước biến nghị trường thành diễn đàn nhằm thực hiện những âm mưu, thủ đoạn chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hòng làm ta suy yếu từ bên trong.

Rồi gần đây, lợi dụng tình hình phức tạp ở Myanmar, các trang tin, tài khoản đội lốt “đấu tranh dân chủ” để công khai kích động bạo loạn tại Việt Nam. Ví dụ như trang nhanquyenvn.org là một điển hình, đây là thủ đoạn chống phá về chính trị vô cùng nguy hiểm. Đằng sau những lời lẽ tưởng chừng như thúc đẩy sự phát triển về dân chủ, nhân quyền của đất nước chính là chiếc bẫy để lôi kéo, mua chuộc, kích động người trẻ tham gia vào các hoạt động chống phá đất nước.

Phản bác luận điệu của một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí cho rằng “mọi cuộc tụ họp đều trở nên bất hợp pháp”, “mọi quan hệ dân sự đều bị hình sự hóa”. Với mục tiêu phát triển con người, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lập hội.

Về luận điệu vu khống, chính quyền Việt Nam đã hình sự hóa quan hệ dân sự, hòng bao biện cho những kẻ vi phạm pháp luật trong vụ án “Giết người”, “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại thôn Hoành (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội), đây vụ án hình sự nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bất chấp pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, đặc biệt là những người đang thi hành công vụ, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Vụ án đã gây nên sự bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân. Phiên tòa xét xử đảm bảo công minh, nghiêm khắc và tính nhân văn cao, những kẻ phạm tội đã phải cúi đầu và nhận những bản án thích đáng, kết quả xét xử được đa số người dân ủng hộ và đồng tình.

Hiểu đúng về quyền ứng cử

 

Cứ mỗi dịp bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND), các phần tử chống phá đều ráo riết thực hiện chiêu trò tự ứng cử. Khi biết chắc không đạt được mục đích, chúng dùng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc công tác bầu cử nhằm làm giảm niềm tin của cử tri, phá hoại bầu cử. Để lật tẩy những chiêu trò đội lốt “tự ứng cử” của những phần tử phản động, mỗi người dân cần hiểu đúng về quyền ứng cử.

Quyền ứng cử là quy định của pháp luật về việc công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử ĐBQH, ứng cử đại biểu HĐND.

Từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND (Điều 18, Hiến pháp năm 1946; Điều 23, Hiến pháp năm 1959; Điều 57, Hiến pháp năm 1980; Điều 54, Hiến pháp năm 1992; Điều 27, Hiến pháp năm 2013).

Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cũng quy định công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Luật quy định rõ: “Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại Ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên” (điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND).

Chỉ thị số 45-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 cũng nêu rõ: “Bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.

Những trường hợp không được ứng cử quy định tại Điều 37, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của tòa án; người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn).

Theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Do vậy, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trên danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử sau hội nghị hiệp thương lần thứ 3. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH/đại biểu HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để MTTQ Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.


NGÀY 19/5, NGHĨ VỀ CÔNG LAO CỦA NGƯỜI...

 Ngày 19/5, ngày hết sức đặc biệt khi tròn 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày này, trên khắp cả nước đã diễn ra sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Bác. Trong không khí thiêng liêng, trang trọng này người dân càng tưởng nhớ về Bác; nghĩ về công lao của Người…

Có dịp về thăm quê Bác, được đến thăm nhiều cụm di tích đặc biệt tại quê hương Bác Hồ, được tận mắt chứng kiến ngôi nhà ba gian, mái lợp lá, xung quanh che phên tại Làng Hoàng Trù ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi mà cách nay đúng 131 năm cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên Bác Hồ lúc còn nhỏ) cất tiếng khóc chào đời… Qua lời kể của người thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác, những hy sinh hạnh phúc riêng tư của Bác,… mà lòng không khỏi dâng trào cảm xúc.

Bác Hồ là người đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta, cùng Nhân dân ta viết nên trang sử vẻ vang, chói lọi, hào hùng của dân tộc. Khi quê hương còn chìm trong bóng đêm bị đô hộ, áp bức bóc lột, chưa tìm được con đường giải phóng cho mình thì Bác đã quyết tâm lên đường bôn ba khắp năm châu, bốn biển, quyết tìm bằng được con đường giải phóng dân tộc khi chỉ với hai bàn tay trắng. Với ý chí sắt đá, lòng yêu nước nồng nàn, vượt qua bao khó khăn, gian khổ Bác cũng đã tìm được ánh sáng soi đường cách mạng Việt Nam, đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Từ thực tiễn cuộc sống và trải qua bao gian khổ đấu tranh khốc liệt đã toát lên vẻ đẹp sáng ngời từ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác. Bác đã trở thành biểu tượng cho ý chí, nghị lực phi thường, lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình, hòa hiếu với tất cả bạn bè các nước của người dân Việt Nam. Bác là tấm gương mà mỗi người cần phải suốt đời phấn đấu học tập, noi theo và thực hành để tự rèn luyện bản thân mình mỗi ngày tốt hơn.

Bác Hồ ra đi về cõi vĩnh hằng khi tròn 79 mùa Xuân, nhưng những thành quả cách mạng mà Người để lại cho dân tộc ta vô cùng to lớn, không có gì có thể sánh ví được. Lời kêu gọi của Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” cũng chính là mục tiêu cuối cùng mà trọn cuộc đời Người đã đấu tranh, mong muốn đem lại cho Nhân dân ta.

Những cống hiến trọn đời của Bác cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và những đóng góp to lớn về văn hóa, tư tưởng của Bác đã được quốc tế công nhận, được bạn bè trên thế giới đánh giá cao và tôn vinh. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh Bác là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Khi nghĩ về Bác, lại nhớ vào ngày 8/5/1963, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa II, khi Quốc hội muốn trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của nước ta, Bác Hồ đã từ chối. Bác nói: “…Tôi xin phép Quốc hội cho phép tôi chưa nhận Huân chương ấy. Vì sao? Vì Huân chương là để tặng thưởng người có công huân, nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội… Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, đồng bào miền Nam đang hàng ngày hàng giờ hy sinh xương máu, anh dũng đấu tranh, kiên quyết chống bọn cướp nước hại dân. Miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” và xứng đáng được tặng Huân chương cao quý nhất. Vì những lẽ đó, tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”.

Ngày nay, khi đất nước ta đã hòa bình độc lập, vị thế, uy tín của đất nước ta không ngừng được nâng lên trên trường quốc tế, Nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thì chúng ta không thể không biết ơn, không thể không nghĩ tới, không nhớ về công lao trời biển của Bác. Đảng và Nhà nước ta đã làm được những gì Bác hằng mong, đưa đất nước đến thống nhất, giải phóng dân tộc nhưng thế hệ tiếp nối sự nghiệp cách mạng của Bác đã không còn cơ hội trang trọng trao tận tay Bác chiếc Huân chương Sao vàng cao quý ấy.

Sự hy sinh, tài năng, đạo đức của Bác chính là tài sản tinh thần vô giá không phải chỉ của người dân Việt Nam… Kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Bác, cuộc sống đổi thay, nhiều thứ sẽ thay đổi nhưng những thành tựu, sự nghiệp mà Bác để lại cho dân tộc ta là vô giá, những lời dạy của Bác, nhân cách của Bác sẽ mãi còn nguyên giá trị, trường tồn cùng dân tộc./.

Hải Đăng ST

 THA HÓA QUYỀN LỰC-NGUYÊN NHÂN QUAN TRỌNG DẪN ĐẾN THA HÓA ĐẠO ĐỨC

Quyền lực và tha hoá quyền lực
Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay - dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”, hiểu khái quát đó là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy.
Còn tha hóa là:
1. Trở nên khác đi, biến thành cái khác…
2. Trở thành người mất phẩm chất đạo đức, một cán bộ bị tha hóa”. Hiểu theo nghĩa chung nhất, đó chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác, là hiện tượng làm biến tướng bản chất hoặc mục đích của sự vật, hiện tượng.
Tha hóa quyền lực là căn bệnh của những người có chức, có quyền, vì thế cần phải phòng và chống sự tha hóa quyền lực bằng cách: “1. Kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định… 2. Đặt trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm”
Tiếp cận từ góc độ “phạm vi quyền hành và trách nhiệm”, có thể nhận dạng sự tha hóa quyền lực ở một số biểu hiện cơ bản như sau:
1) Lạm quyền: chủ thể nắm quyền tự cho mình thêm những quyền mà họ không có được khi được trao quyền. Sự “tạo thêm” này là “dạng vượt quá giới hạn”, làm biến dạng quyền lực.
2) Lộng quyền: là sự liều của chủ thể của quyền lực khi “làm” mà không cần biết hậu quả xảy ra thế nào và cũng không sợ trách nhiệm mình phải gánh chịu.
3) Trục lợi từ quyền: hình thành dần trong quá trình thực thi quyền lực, do các chủ thể quyền lực có thể “tranh thủ” chi phối đối tượng để đòi hỏi các lợi ích vật chất và tinh thần cho mình.
4) Độc đoán, chuyên quyền: người được xã hội trao quyền muốn thâu tóm, khống chế quyền lực bằng một cơ chế tập trung quyền lực cao độ về mình; trấn áp tất cả các thế lực chống đối để tuyệt đối hóa quyền lực của mình.
5) Quan liêu: biểu hiện người nắm quyền không bám sát thực tế, không dựa trên những cơ sở thực tế để thực thi quyền lực công mà chỉ nhằm bảo vệ lợi ích ích kỷ của mình, nhóm mình, địa phương mình,v.v..
6) Tuỳ tiện: người nắm quyền hoặc không biết rõ quyền lực của mình đến đâu hoặc cẩu thả trong thực thi quyền được trao mà không ý thức được hậu quả mình gây ra.
7) Tiếm quyền: là biểu hiện người nhận được quyền lực một cách không hợp pháp mà là sự “đoạt được” địa vị của người có quyền lực hợp pháp.
😎 Vô trách nhiệm: là thờ ơ hoặc buông xuôi trước trước yêu cầu của việc thực thi quyền lực được trao; thường gây thiệt hại cho xã hội và cho chính người trao quyền.
9) Bất lực: thể hiện trong việc người nắm quyền lực dần mất đi thực quyền hoặc kém khả năng quyết đoán; chỉ có danh mà không có sức mạnh để thực thi ý chí của mình; thường bị thao túng bởi một thế lực nào đó.
10) Tham quyền cố vị: là biểu hiện người có quyền lực bằng mọi cách giữ lại địa vị vốn có mà không từ một thủ đoạn nào để loại trừ đối thủ.
11) Phân tán quyền lực: là sự biến tướng dưới dạng cục bộ địa phương, lợi ích cá nhân, chia bè kéo cánh; làm mất đi tính thống nhất về quyền lực nhà nước cũng như lợi ích của quốc gia, dân tộc,v.v..
Với một chính đảng đã cầm quyền, việc thực thi quyền lực và yêu cầu phải phòng, chống sự tha hóa quyền lực đối với tổ chức đảng, nhất là với các cán bộ, đảng viên được trao quyền giữ các chức vụ trọng yếu trong Đảng, các cơ quan công quyền, các tổ chức chính trị xã hội là nhằm đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành được vận hành hiệu lực, hiệu quả; đồng thời, ngăn ngừa và phòng, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Đảng cầm quyền ở đây hiểu theo nghĩa là Đảng lãnh đạo Nhà nước và “lãnh đạo” thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ những trọng trách trong tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, hệ thống chính trị.
Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng.
Do có quyền lực, người được trao quyền lực dễ bị tha hóa bởi tự coi mình trở thành “hiện thân” của quyền lực - đặt mình lên trên các nguyên tắc tổ chức của Đảng, dẫn đến từng bước vô hiệu hóa vai trò của tổ chức, làm mất đi tính tiên phong của Đảng cách mạng.
Theo đó, người được trao quyền đã vượt quá "phạm vi quyền hành và trách nhiệm" của mình; đã sử dụng quyền lực để chiếm đoạt các giá trị vật chất, tinh thần của xã hội, xâm phạm tới lợi ích của các thành viên khác nhằm mưu cầu cho mình, người thân,v.v..
Tha hóa quyền lực biểu hiện ở nhiều sự việc: từ sự nhũng nhiễu, hạch sách, vòi vĩnh để “tham nhũng vặt” người dân; quan liêu, thờ ơ trước yêu cầu, bức xúc của nhân dân, chậm giải quyết các thủ tục hằng ngày cho người dân ở địa bàn cơ sở,v.v.. đến việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực công vụ để mưu lợi ích, tham ô, “tham nhũng lớn” cho cá nhân, nhóm lợi ích…
Ở chiều cạnh này, sự tha hóa quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ phản ánh sự suy thoái về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên mà còn phản ánh thực chất mức độ sự suy thoái quyền lực nhà nước mà đảng đang cầm quyền.
Đặc biệt quan tâm vấn xây dựng Đảng, Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Phải thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

  LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA (09/5/1954)


“Dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, từ thấp đến cao. Không tham nhiều, không nhồi sọ. Dạy một cách thiết thực. Lý luận gắn chặt với thực hành”.

Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giáo dục chi bộ và cốt cán ở nông thôn, năm 1954.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc hơn 80 năm thực dân Pháp đô hộ và tiến hành việc cải cách ruộng đất. Do vậy, yêu cầu đặt ra phải sớm xây dựng những cán bộ cốt cán gương mẫu, nhất là ở nông thôn để làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đạt được nguyện vọng của quần chúng. Phương pháp giáo dục dạy dần dần từ ít đến nhiều, từ dễ đến khó, lí luận gắn với thực hành của Người thực sự đem lại hiệu quả tích cực, không gây áp lực, mang đến sự hào hứng và nhu cầu học tập thiết thực cho người học, để hiểu biết thêm, nâng cao thêm trình độ, gắn lý thuyết đã học vào giải quyết các công việc do thực tiễn đặt ra. Lời Bác dạy, là những chỉ dẫn quan trọng về phương pháp trong giáo dục, huấn luyện cán bộ, coi trọng cán bộ cấp huyện, xã, góp phần không nhỏ vào việc đào tạo một đội ngũ cán bộ cốt cán, thạo việc, tư tưởng thông, lập trường vững, giải quyết tốt các công việc mà Đảng và Nhà nước giao phó và các vấn đề phát sinh từ thực tiến…
Thấm nhuần lời dạy của Bác, trong giai đoạn đổi mới hiện nay, công tác giáo dục, nhất là giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên ở cơ sở, chi bộ, được cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, địa phương coi là công việc thường xuyên, gắn với chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ… đã có nhiều chuyển biến quan trọng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện trong Quân đội được Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong toàn quân quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, khoa học, sáng tạo, đã tích cực đổi mới huấn luyện theo hướng “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu ở các cấp, huấn luyện cơ bản cho các đối tượng, trên tất cả các nội dung, theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ phân đoạn đến tổng hợp, từ luyện tập tổng hợp đến diễn tập vòng tổng hợp có bắn chiến đấu; kết hợp huấn luyện lý thuyết với thực hành, lấy huấn luyện thực hành làm chính; kết hợp huấn luyện với rèn luyện, huấn luyện chính khóa với huấn luyện ngoại khóa… đã trực tiếp nâng cao trình độ tổ chức, chỉ huy tác chiến của cán bộ, khả năng làm chủ vũ khí trang bị của bộ đội, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ chiến đấu của đơn vị, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ - KỲ TÍCH CỦA THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

Chiều 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, anh dũng của quân, dân ta và là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam.
<<"Kế hoạch Nava” - Âm mưu thoát ra khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương trong danh dự>>
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, thực dân Pháp dã tâm dùng vũ lực hòng đặt lại ách thống trị trên đất nước ta một lần nữa. Thực hiện lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Hồ Chủ tịch và đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và ý chí "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", toàn thể nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với niềm tin tất thắng.
Bằng tinh thần "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của thực dân Pháp. Vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, chính quyền nhân dân được củng cố. Sau hơn 7 năm kháng chiến, ta càng đánh càng mạnh, còn thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động.
Từ năm 1953, tình hình chiến trường Đông Dương có nhiều thay đổi bất lợi cho thực dân Pháp. Lợi dụng lúc thực dân Pháp gặp khó khăn, Mỹ đã tìm cách nhảy vào Việt Nam, tăng cường viện trợ.
Tháng 7/1953 “Kế hoạch Nava” được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua hòng “tìm cách thoát ra khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương trong danh dự” trong vòng 18 tháng. Điểm mấu chốt của kế hoạch là tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ, lúc cao điểm lên đến 44 tiểu đoàn, nhằm giành lại sự chủ động chiến lược xoay chuyển tình thế trên chiến trường Đông Dương, thực hiện đòn tiến công mang tính quyết định khi có điều kiện. Được sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
<<Xóa sổ Tập đoàn cứ điểm “bất khả chiến bại”>>
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đầu tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến “Đánh nhanh thắng nhanh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đây là một chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao rất quan trọng. Người căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy, kiêm Tư lệnh Mặt trận: “Trận này chắc thắng thì đánh, không chắc thắng không đánh”.
Với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thấy phương án "Đánh nhanh thắng nhanh" mang nhiều yếu tố chủ quan, không đánh giá đúng tình hình thực lực của hai bên, không thể đảm bảo chắc thắng. Cuối cùng, Đại tướng quyết định dừng trận đánh, kéo pháo ra, chuyển phương án từ “đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc”.
Ngày 17/3/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn, quân ta tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ một trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh. Piroth, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ đã dùng lựu đạn tự sát vì bất lực trước pháo binh của ta.
Ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ hai, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.
Ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, ta chiếm Sở chỉ huy của địch, tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tấn công, phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào. Đến 24 giờ cùng ngày, toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
Như vậy, sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị Chiến dịch và trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, ngày 7/5/1954, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu”. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xem là “bất khả chiến bại” đã bị quân và dân ta đánh bại.
<<Vững bước trên hành trình mới>>
Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, đó “là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”; là bản anh hùng ca bất tử của cuộc chiến tranh nhân dân, “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”.
Người chỉ rõ: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một một nước thực dân hùng mạnh. Đó là, một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi vẻ vang của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Thắng lợi này đã trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương; tạo cơ sở và điều kiện để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào năm 1975. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
67 năm đã trôi qua kể từ ngày lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Kể từ chiến thắng “chấn động địa cầu, lẫy lừng năm châu”, đất nước qua bao biến cố lịch sử, vỹ tuyến 17 đã không còn là giới tuyến chia đôi bờ Nam, đất Bắc. Và sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện; thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước được nâng lên; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới được nâng cao.
Dân tộc Việt Nam đang tiếp tục đi lên trên những hành trình mới. Nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, đặc biệt là tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trong chiến dịch lịch sử này sẽ mãi là một biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Mốc son đó trở thành bài học kinh nghiệm mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đang được chắt lọc và vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, tiến lên thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.