Những thành tựu của Việt Nam sau 35 năm đổi mới, cả
trên phương diện lý luận và thực tiễn là những luận cứ xác đáng để phản bác
những quan điểm sai trái về chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong
hội nhập quốc tế tại Đại hội XIII của Đảng.
Đại
hội XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp nhưng các thế lực thù địch vẫn đưa
ra rất nhiều luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc đường lối của Đảng, tạo ra sự
nghi ngờ trong nhân dân về con đường mà chúng ta đang thực hiện. Cụ thể, chúng
cho rằng chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế
tại Đại hội XIII của Đảng là lý thuyết, phi thực tế. Chúng ngụy biện không thể
có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế; đã độc lập, tự chủ thì không thể hội
nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự
chủ. Đồng thời, chúng còn cho rằng, thể chế chính trị của Việt Nam là khác
biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế; với một Đảng duy nhất cầm
quyền càng không thể hội nhập quốc tế. Nhìn lại lịch sử phát triển chính sách
đối ngoại của nước ta, đặc biệt những thành tựu sau 35 năm đổi mới, cả trên
phương diện lý luận và thực tiễn sẽ là những luận cứ xác đáng để phản bác những
quan điểm sai trái đó.
Độc
lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan,
tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn
kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc
tế được thể hiện rất rõ. Đây chính là cơ sở để phát triển chính sách đối ngoại
Việt Nam trong suốt những năm đổi mới vừa qua. Một trong các bài học được rút
ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: Kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc
tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao
tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại
lực. Trong phần những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại, Cương lĩnh cũng nêu rõ: Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương
hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị
thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội trên thế giới.
Rõ
ràng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất cụ
thể trong cương lĩnh của Đảng. Mối quan hệ này còn được thể hiện trong các nội
dung của chính sách đối ngoại nói chung và được cụ thể hoá nội hàm của nó trong
từng nội dung và điều kiện cụ thể. Đây là cơ sở, nền tảng xây dựng chính sách
đối ngoại của đất nước chúng ta trong suốt những năm sau này.
Báo
cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam
thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội
dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp
tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng
xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và
phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII,
XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ
độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Trong
Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia -
dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt
Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế”. Đồng thời, Báo cáo chính trị cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh
đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các
hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với
nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt
Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác
tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn
đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và
điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với
các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các
đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự
chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu
quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.
Đường
lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta được thể hiện qua cương lĩnh và các văn
kiện, Nghị quyết của Đảng đều khẳng định quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong
chính sách đối ngoại của Đảng là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và
hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển
của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của
nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế
luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây
dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân
chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và
thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực
khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa
tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu.
Từ
khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu
rộng vào khu vực và thế giới. Quá trình này đã thu được những kết quả hết sức
to lớn, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.
Điều đó cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động tích cực hội nhập quốc tế của
Đảng và nhà nước ta. Trong quá trình triển khai, chính sách đối ngoại với mục
tiêu bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ
bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Mối quan hệ giữa độc lập
tự chủ và hội nhập quốc tế được quán triệt xuyên suốt trong mọi chính sách và
hành động. Kết quả là ta đã từng bước hội nhập một cách sâu rộng vào khu vực và
thế giới.
Năm
1990, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên minh châu Âu, năm 1995
chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung
hợp tác với Liên minh châu Âu và làm đơn gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Việc ký Hiệp
định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
đầu tư, thương mại và tang trưởng của nền kinh tế nước ta. Đến năm 2007, Việt
Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới.
Cùng
với quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng đã tăng cường hợp tác
song phương, triển khai mạnh mẽ quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng,
nhất là xây dựng khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Nhìn chung,
các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện mà Việt Nam ký kết đều là những đối
tác quan trọng với lợi ích cả về kinh tế, chính trị và đối ngoại nói chung.
Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ đối tác chiến lược
và đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7 và 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN.
Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị
xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu,
76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam. Cơ sở quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện đã ký kết đã
góp phần củng cố môi trường hoà bình, hữu nghị hợp tác với các đối tác quan
trọng, đặc biệt là với các nước lớn, với các nước láng giềng chung biên giới.
Đồng thời, việc thiết lập quan hệ đối tác với các nước lớn, có vai trò quan
trọng góp phần giúp Việt Nam xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, đưa hợp tác
trở thành chủ đạo, đồng thời tạo cơ chế và kênh trao đổi giảm thiểu sự khác
biệt trong quan hệ với các nước này, tạo điều kiện để tăng cường lòng tin.
Thông qua các quan hệ song phương đã được thiết lập đã tạo ra sự đan xen lợi
ích, giúp Việt Nam tranh thủ được nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước.
Ngoài ra, thông qua các đối tác quan trọng này, đã góp phần nâng cao vị thế của
đất nước trên trường quốc tế, thể hiện thông qua vị trí của ta trong chính sách
đối ngoại của các nước cũng như trong các khuôn khổ hợp tác đa phương.
Hội
nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng. Chính sách
đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam là bạn là đối
tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm đã tạo ra sự phát triển
mạnh mẽ hội nhập của Việt Nam với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược.
Từ một nước bị bao vây cấm vận, với chính sách đối ngoại đúng đắn, giải quyết
tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã nhanh
chóng thiết lập quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế và khu vực
quan trọng. Chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên
thế giới. Trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau. Đồng thời, chúng ta đã chủ động tham gia và phát huy vai
trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức
khu vực quan trọng. Hợp tác đa phương theo phương châm chủ động, tích cực tham
gia, nhất là vào quá trình xây dựng và định hình các quy tắc và luật lệ mới,
phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương. Việc tham gia các cơ
chế đa phương một cách tích cực chủ động là để trực tiếp bảo đảm các lợi ích an
ninh, phát triển và vị thế của đất nước. Năm 2020 Việt Nam với vai trò là Chủ
tịch ASEAN và là Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt
Nam đã thể hiện rất tốt vai trò của mình, có đóng góp quan trọng vào sự phát
triển chung của khu vực và thế giới. Với thế và lực trong nước tăng lên cùng
với chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và hiệu quả vị thế của Việt Nam
được nâng cao trên trường quốc tế.
Đến
nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu và
đạt được nhiều kết quả quan trọng. Độ mở của nền kinh tế nước ta hiện nay vào
loại cao nhất thế giới với tỷ trọng xuất khẩu trên GDP là hơn 200%. Việt Nam đã
tham gia vào hầu hết các hiệp định đa phương thế hệ mới. Với các kết quả hội
nhập kinh tế sâu, rộng như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
của Việt Nam mở rộng thị trường, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới cả về chiều rộng, chiều sâu và toàn
diện. Với những Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết có tính
toàn diện, quy mô rộng, mức độ cam kết cao, điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực,
trong đó bao hàm nhiều nội dung mới như thương mại điện tử, phát triển bền
vững, các biện pháp sau biên giới, đồng bộ chính sách, giải quyết chính sách
giữa nhà đầu tư và nhà nước đem lại rất nhiều cơ hội cho phát triển, đồng thời
đòi hỏi những nỗ lực trong nước rất cao để có thể đem lại kết quả như mong
muốn. Thông qua hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta
tăng rất nhanh, từ 1,74 tỷ USD năm 1986 lên 10 tỷ USD năm 1996, 45 tỷ USD năm
2006 và 287,8 tỷ USD năm 2020. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần phát huy
nội lực, tranh thủ được nguồn lực nước ngoài, đặc biệt là công nghệ và quản trị
hiện đại. Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài lớn, góp phần bổ sung nguồn lực trong nước. Nguồn vốn FDI
thu hút vào nước ta tăng rất nhanh, từ 428,5 triệu USD năm 1991 lên 4 tỷ USD
năm 2006 và 20 tỷ USD năm 2020. Năm 2020, đã có 112 quốc gia và vùng lãnh thổ
đầu tư tại Việt Nam, trong đó, dẫn đầu là Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và
Nhật Bản. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng là áp lực giúp đẩy mạnh cải cách
mạnh mẽ trong nước để bảo đảm điều kiện hội nhập thành công và hiệu quả. Hội
nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam,
góp phần đưa kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục trong nhiều năm qua, góp
phần chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng chất lượng hơn.
Tuy
nhiên, quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế cũng cho thấy cần phải giải quyết
tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, qua những
cuộc khủng hoảng, hoặc những biến động của thế giới cho thấy để hội nhập thành
công phải có nội lực mạnh, đồng thời phải đa phương hoá, đa dạng hoá các đối
tác, các thị trường để tránh những rủi ro và lệ thuộc. Kinh nghiệm thu hút đầu
tư nước ngoài cũng cho thấy cần phải nhận thức sâu sắc hiệu quả của thu hút đầu
tư, nhất là giai đoạn hiện nay, phải bảo đảm thu hút được công nghệ cao, công nghệ
sạch và làm tốt việc chuyển giao công nghệ cũng như gắn kết giữa doanh nghiệp
trong nước với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
Cùng
với sự hội nhập nhanh, sâu rộng và toàn diện trong lĩnh vực kinh tế, hội nhập
quốc tế trong lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng có những bước phát triển quan
trọng. Hội nhập với tốc độ cao hơn, toàn diện hơn, đa dạng về hình thức, phương
thức, đối tác và chất lượng hội nhập ngày càng nâng cao. Việt Nam đã ký hơn 100
thoả thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hoá, đã thu hút bạn bè
quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều. Các hình thức giao lưu văn hoá, phim
ảnh, thời trang… của Việt Nam với quốc tế ngày càng nhiều.
Hội
nhập văn hoá cũng là cơ hội để Việt Nam quảng bá đất nước, con người, văn hoá
Việt Nam và tiếp thu giá trị văn hoá các nước. Nhờ có hội nhập mạnh mẽ về văn
hoá mà bạn bè quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều. Trong suốt nhiều năm vừa
qua, khách du lịch đến Việt Nam đều tăng với tốc độ cao, góp phần cả về phát
triển kinh tế và văn hoá, xã hội. Cũng từ thành công của hội nhập trong lĩnh
vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hoá tại Việt
Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội
tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hoá tiêu biểu của nhiều quốc gia trên
thế giới. Từ đó, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao
lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hoá- xã hội được tăng
cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt
Nam. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng tạo công ăn việc làm, góp phần giảm nghèo
bền vững ở Việt Nam. Sau 35 năm đổi mới và hội nhập, tỷ lệ nghèo giảm mạnh.
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ gần 60% vào năm 1993 xuống còn
37,4% năm 1998, xuống còn 13,4% năm 2008 và đến năm 2016 chỉ còn 5,8%.
Thực
hiện chính sách hội nhập quốc tế toàn diện, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực
quốc phòng an ninh cũng không ngừng được phát triển và mở rộng. Hội nhập quốc
phòng - an ninh vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước vừa góp phần bảo
vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới. Việt Nam đã chuyển
từ chủ trương tham dự, sang phát huy vai trò thành viên có trách nhiệm trên
nhiều diễn đàn khu vực và toàn cầu. Nội dung hội nhập quốc tế để giữ nước từ xa,
từ sớm, giữ nước từ khi “nước còn chưa nguy”. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp
tác quốc phòng - an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực. Việt Nam
đã đẩy mạnh thực hiện các cơ chế đối thoại Quốc phòng - An ninh, giao lưu biên
phòng với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, trao đổi hữu nghị
của tàu hải quân được đẩy mạnh. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng
chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tuỳ viên quân sự tại hơn 30 nước và
hơn 40 nước có văn phòng tuỳ viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham
gia tích cực vào các diễn đàn an ninh quốc phòng khu vực và từng bước tham gia
vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh quân sự toàn cầu. Việt Nam cũng đã
tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Việt Nam đã gửi các
sỹ quan thông tin đến các Phái bộ gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc tại Cộng
hoà Trung Phi, Nam Xu Đăng và tiếp theo đó đã triển khai các bệnh viện dã chiến
cấp 2 và công binh. Như vậy, Việt Nam không chỉ giữ vững độc lập chủ quyền của
Tổ quốc mà còn chủ động, tích cực đóng góp vào việc duy trì hoà bình, an ninh
quốc tế.
Chính
sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán
trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Về mặt lý luận đây là mối
quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, bất kỳ quốc gia nào muốn hội nhập quốc
tế thành công đều phải vận dụng hợp lý mối quan hệ này. Chính sách đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta trong suốt những năm đổi mới vừa qua đã thể hiện nhất
quán và từng bước cụ thể nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ
trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn phù hợp với bối cảnh nhất định. Đó
cũng là quá trình phát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt
Nam.
Thực
tiễn triển khai và kết quả đạt được sau 35 năm đổi mới cho thấy chính sách đối
ngoại trên là hoàn toàn đúng đắn và khoa học. Hội nhập quốc tế của Việt Nam đã
phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đến nay, Việt Nam đã
thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, xây dựng đối
tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có nhiều nước lớn,
có vị trí và tầm ảnh hưởng quan trọng của thế giới và khu vực. Việt Nam cũng
tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng và thực sự có
nhiều đóng góp quan trọng và có trách nhiệm trong những tổ chức này. Quá trình
đó, Việt Nam cũng đã từng bước hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực như
chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh. Trong đó hội nhập
kinh tế là nòng cốt, là cơ sở, hội nhập trong các lĩnh vực khác là toàn diện và
bổ sung cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng
vào những thành tựu to lớn có ý lịch sử của đất nước trong 35 đổi mới vừa qua.
Những
thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của
Việt Nam nói chung thực sự là những luận cứ xác đáng nhất để bác bỏ những luận
điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực này.
Chúng ta phải đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động
Trả lờiXóa