Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021

Xuyên tạc lịch sử - dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch

 Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta nhận thức sai lệch về lịch sử dân tộc, từ đó dao động, nghi ngờ, thiếu lòng tin vào Đảng và chế độ.

Lịch sử dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam được ghi dấu bằng lớp lớp những chiến công oanh liệt, hiển hách và những thành tựu to lớn trên con đường xây dựng, phát triển. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử dân tộc được viết tiếp bằng thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược - đó là những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dân tộc, mang tầm vóc quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

Những thắng lợi đó đã được lịch sử ghi nhận, khẳng định, nhưng với dã tâm thâm độc, lòng thù hận, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử; khoét sâu, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm, nhằm tuyên truyền sai lệch, làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ hoài nghi, phai nhạt niềm tin đối với Đảng, chia rẽ  Đảng với Nhân dân, làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những ngày gần đây, một số trang mạng xã hội, như: “Tivi tuần san”, “Tiếng dân”, “KTV”,… thông qua các hình thức bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử để xuyên tạc các sự kiện lịch sử dân tộc, hòng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng lật lại những thông tin, sự kiện cũ, nhưng lại suy diễn, xuyên tạc bằng “cái nhìn mới” để kích thích người nghe, người xem; trong đó, tập trung vào sự kiện Hiệp định Genève (1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Hội nghị Genève về Đông Dương (1954) bắt đầu diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đang ở giai đoạn cuối; thế và lực của quân và dân ta không ngừng lớn mạnh, đẩy quân đội Pháp vào thế bị động, liên tiếp thất bại. Lập trường xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Genève là: Hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nước Pháp phải công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam, Lào và Campuchia. Vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài, v.v.. Theo đó, Hiệp định được ký kết với các thỏa thuận: Hòa bình được lập lại, chấm dứt sự hiện diện của quân đội và chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương. Nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền qua vĩ tuyến 17, song các bên tham dự Hội nghị nhấn mạnh rằng: dù bất cứ trường hợp nào, không thể coi đó là biên giới chính trị hay lãnh thổ. Sự chia cắt đó chỉ là tạm thời. Hai miền phải thống nhất trước tháng 7/1956 bằng tổng tuyển cử “tự do và dân chủ”.

Tuy nhiên, Mỹ và Chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm biết rằng, nếu tổng tuyển cử tự do thì đa số nhân dân sẽ ủng hộ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nên chúng ra sức phá hoại Hiệp định; thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đẩy mạnh đàn áp tôn giáo. Mặt khác, Mỹ ngày càng bộc lộ rõ dã tâm xâm lược bằng các hành động hậu thuẫn cho chính quyền Việt Nam cộng hòa và trực tiếp đưa quân vào Việt Nam. Vì thế, không còn con đường nào khác, chúng ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để thực hiện khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam là: hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, với chân lý “Nước Việt Nam là một - Dân tộc Việt Nam là một”.

Vậy mà, các trang mạng xã hội phản động nhắc lại Hiệp định Genève và la lối rằng: việc đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân sâu xa của chiến tranh ở Việt Nam; cuộc kháng chiến chống Mỹ chẳng qua là “Chiến tranh ý thức hệ”, “Chiến tranh ủy nhiệm”. Chúng còn ra sức xuyên tạc: cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một sai lầm, “không có bên thắng, bên thua” mà tất cả cùng thua, có nhất thiết phải chiến tranh mới giành được độc lập không? (!)

Những luận điệu trên hoàn toàn xuyên tạc, ngụy biện, nhằm phá hoại tư tưởng, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Tiếc rằng, một bộ phận quần chúng vì lý do thiếu hiểu biết lịch sử, mơ hồ về chính trị và động cơ cá nhân cố tình hùa theo những luận điệu đó, tiếp tay cho mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch. Thực tiễn đã khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Vì vậy, Đảng ta đã phát huy được truyền thống, sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết lòng ủng hộ. Quân và dân ta đã đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đặc biệt, từ khi thực hiện đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đó là câu trả lời đích đáng nhất cho những luận điệu xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin của các thế lực thù địch. Dù dã tâm của chúng có hiểm độc đến đâu thì sự thật vẫn không thể bị lu mờ.

MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NHẬN THỨC PHẢI CHÍN, TƯ TƯỞNG PHẢI THÔNG, QUYẾT TÂM PHẢI LỚN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHẢI ĐÚNG TRONG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

 Ngày 7 tháng 10 năm 2021, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thành công tốt đẹp, Hội nghị đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận sôi nổi, đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết và quan trọng vào các báo cáo và đề án. Phát biểu tại Hội nghị Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã kế thừa, phát huy tốt những thành tựu, kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và bình tĩnh, tỉnh táo xử lý kịp thời, đúng đắn những vấn đề khó, chưa có tiền lệ... Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” của dân tộc ta lại tiếp tục được phát huy cao độ”.

Ban Chấp hành Trung ương khẳng định, hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, đồng bộ, trong đó nhấn mạnh phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hành vi tham nhũng, tiêu cực và những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, cái mới của lần này là Trung ương đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Đồng thời, bổ sung, làm rõ hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, "tự diễn biến," "tự chuyển hóa," "tiêu cực" sát hợp tình hình mới.

Về nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Trung ương thống nhất cao phải tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa nhiều công việc cụ thể, thiết thực, tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã đề ra. Đồng thời bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm. Theo đó, phải chú trọng nêu gương những người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái; đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ vụ lợi, "lợi ích nhóm"; rà soát, hoàn thiện, thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của báo chí, của công luận.

Để Nghị quyết và Kết luận này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, đất nước, trước Đảng để tự giác, gương mẫu thực hiện. “Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn,” Tổng Bí thư nói.

Hội nghị đã thống nhất cao ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm; coi đây là căn cứ, cơ sở quan trọng để xem xét, xử lý các vi phạm của cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Để thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần này thì nhận thức của chúng ta phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng, góp phần làm chuyển biến tình hình thật sự, có kết quả rõ ràng, cụ thể. Tôi đề nghị, mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương, trên cương vị công tác của mình, hãy phát huy tốt hơn nữa vai trò trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung ương”./.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Quá trình lãnh đạo cách mang, Đảng ta luôn khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng và của cách mạng Việt Nam, là một quyết định có tầm lịch sử quan trọng thể hiện bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng ta.

Trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của nước ta, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”… bằng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư… thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội. Chúng tiến hành chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn thế kỷ XXI là thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam, rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Hoặc cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”.

Nhìn lại lịch sử, trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở Việt Nam. Những phong trào giải phóng dân tộc như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại. Nhưng kể từ khi Bác Hồ đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc bước sang trang mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh nước ta đã giành lại được chính quyền và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khi Pháp trở lại Đông Dương năm 1946. Sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước.

Thực tế đã và đang khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài thuyết trình, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã viết: “…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác-Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

 Đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Đảng ta tiếp tục kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đối với nước ta, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin được thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua việc truyền bá, vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn, làm cho học thuyết này luôn tràn đầy sức sống trên mảnh đất hiện thực Việt Nam.

Ngày nay, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Có được những thành tựu đó là nhờ cách mạng Việt Nam được dẫn dắt và được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Có thể khẳng định rằng, cho dù các thế lực thù địch có chống phá như thế nào đi nữa, thì đó đều chỉ là những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc để nhằm phục vụ cho ý đồ xấu xa của chúng. Thế nhưng, nhân dân ta sẽ không bao giờ tin chúng, và sẽ không ngừng đấu tranh để làm thất bại ý đồ của chúng. Bởi vì, chúng ta tin tưởng và luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn đuốc sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

SỰ XUYÊN TẠC CHIẾN LƯỢC VACXIN CỦA CHÍNH PHỦ

 Với chủ trương tiêm vắc xin phòng Covid-19 miễn phí cho toàn dân, Việt Nam đang thực hiện chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử. Tính đến 11h ngày 7/10/2021, Việt Nam đã tiêm chủng được 49,967,935 liều vaccine COVID-19, từ nay đến hết năm 2021 và nửa đầu năm 2022 sẽ tiếp cận khoảng 150 triệu liều. Nhờ đó, công tác phòng, chống dịch bệnh của đất nước đã đạt được những kết quả theo chiều hướng tích cực.

Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội, nhất là facebook Việt Tân đã đăng tải các bài viết xuyên tạc các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 mà Đảng, Nhà nước ta và chính quyền các cấp đang tiến hành, đặc biệt là kích động, xuyên tạc chiến dịch tiêm vắc xin phòng Covid-19 đang được tiến hành trên diện rộng để nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh, đưa đất nước ta vào trạng thái bình thường mới. Cụ thể trong bài viết: “Tiêm vắc xin là quyền, không là nghĩa vụ”, các phần tử cơ hội chính trị xuyên tạc rằng: “Chính quyền sẽ vi hiến nghiêm trọng nếu ép buộc người dân phải tiêm vắc xin trái với ý muốn của họ. Đấy là hành vi giết người nếu cơ thể họ không thích hợp để tiêm vắc xin hoặc vắc xin kém chất lượng dẫn đến tính mạng của họ bị đe doạ”.

Chúng ta có thể nhận thấy, đây là những giọng điệu lạc lõng, đầy sự hằn học, thiếu trách nhiệm, không có lương tâm, nó không chỉ phản ánh sự vô cảm mà còn tỏ rõ hành vi xuyên tạc, kích động, “chọc gậy bánh xe”. Những việc làm này cần phải lên án, kiên quyết đấu tranh loại bỏ ra khỏi cộng đồng, làm sạch môi trường sống.

Hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với đợt dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư với biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 có khả năng lây lan nhanh và rộng. Do đó, cùng với thực hiện nghiêm thông điệp 5K thì việc tiêm vắc xin là một chủ trương, giải pháp hoàn toàn đúng đắn, rất hợp lòng dân của Đảng, Nhà nước ta, có ý nghĩa thiết thực nhằm đạt được mục tiêu “miễn dịch cộng đồng”. Vắc xin có tác dụng phòng Covid-19 rất hữu hiệu, và trong trường hợp có mắc bệnh nhưng khi có kháng thể thì bệnh sẽ ở thể nhẹ, tránh được nguy cơ phải nhập viện, tử vong.

Tìm hiểu trong các văn bản luật, nghị định của Chính phủ đã quy định rất rõ về công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm. Tại Quyết định số 447/QĐ-TTg, ngày 01/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: Tính chất, mức độ nguy hiểm của dịch Covid-19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A. Theo đó, Khoản 1, Điều 29, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm 2007, quy định: Người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch và đến vùng có dịch bắt buộc phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với các bệnh có vắc xin, sinh phẩm y tế phòng bệnh.

Bên cạnh đó, tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9, Nghị định số 117/2020/NĐ-CP, ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, chỉ rõ: Không sử dụng hoặc cản trở việc sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế đối với các bệnh có vắc xin, sinh phẩm y tế phòng bệnh trong trường hợp có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch hoặc đến vùng có dịch theo yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, ngoại trừ những lý do chính đáng (phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, người có sức khỏe không đảm bảo để được tiêm...) sẽ bị xử phạt hành chính từ 01 - 03 triệu đồng. Trường hợp không chịu tiêm vắc xin Covid-19 dẫn đến bị nhiễm bệnh rồi lây nhiễm cho người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 240, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đối với tội danh này, khung hình phạt thấp nhất là bị phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng hoặc có thể bị phạt tù từ 01 - 05 năm.

Thực tế trên thế giới đã có trường hợp tử vong vì mắc Covid-19 (trước đó đã từ chối tiêm vắc xin), như trường hợp hai mẹ con bà Maddern (ở Bắc Ireland) tử vong ngày 11/9 do mắc Covid-19, điều đáng nói là cả hai mẹ con bà đều làm nhân viên chăm sóc y tế thuộc diện đủ điều kiện tiêm vắc xin từ tháng 1/2021 nhưng lại từ chối tiêm. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ cho thấy người chưa được tiêm chủng nguy cơ tử vong do Covid-19 cao hơn 11 lần so với người đã được tiêm.

Hiện nay, mặc dù lượng vắc xin chưa đáp ứng đủ, song Chính phủ Việt Nam đã và đang tiếp tục nỗ lực tìm kiếm, thu xếp, cũng như phân bổ tối ưu nhất để tiêm cho các đối tượng theo quy định; các cơ quan chức năng vẫn đang thực hiện khuyến khích người dân đi tiêm để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng. Vắc xin tốt nhất là vắc xin được tiêm sớm nhất; cần khắc phục ngay tình trạng kén chọn, chờ đợi trong khi vắc xin khan hiếm và dịch bệnh đang lây lan nhanh, làm nhiều người tử vong. 

Những luận cứ trên đã bác bỏ hoàn toàn những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, vu khống trắng trợn của các phần tử cơ hội chính trị, phản động. Tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân đối với cộng đồng. Mỗi người dân hãy nêu cao tinh thần cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, dụ dỗ, kích động tẩy chay hoặc lựa chọn vắc xin. Vì thế, đừng vì lý do này lý do khác để từ chối tiêm vắc xin. Vì việc làm đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức, trách nhiệm với cộng đồng.

SAU ĐẠI DỊCH NGƯỜI DÂN VIỆT NAM NHẬN DIỆN RÕ HƠN BỘ MẶT GHÊ TỞM CỦA ĐÁM PHẢN ĐỘNG

 Khi người dân vừa tạm thở phào khi dịch bệnh tạm thời “hạ nhiệt” thì tổ chức phản động Việt Tân và một số tên phản động lưu vong lại gào lên rằng, “Covid-19 phơi bày tất cả sự thật về Đất nước đáng sống”.

Trong bài viết, Việt Tân đã trực diện công kích, bôi nhọ, xuyên tạc về thành quả chống dịch của Việt Nam. “Xấu xa, độc ác, giả tạo, phát xít, độc tài” là những từ mà một tổ chức khủng bố này đã sử dụng để nói về một đất nước đang kiên cường chống dịch; Một đất nước nỗ lực, dốc toàn sức ngoại giao để mang vaccine về cho dân; Một đất nước có những người lính gác súng để đi chợ hộ dân; Một đất nước mà có hàng vạn các y bác sĩ, công an, quân đội bỏ gia đình phía sau, bất chấp sự nguy hiểm của tính mạng sẵn sàng bước vào ổ dịch cứu chữa bệnh cho người dân;…

Có đất nước nào “xấu xa” mà dù điều kiện kinh tế vẫn hạn chế nhưng đã nỗ lực phủ vaccine cho người dân một cách nhanh nhất. Ngay cả với lao động nước ngoài đang ở tại Việt Nam. Cho đến nay, tổng số người ở Việt Nam đã tiêm với tổng số liều vaccine đã được tiêm là 50.558.288 liều, trong đó tiêm 1 mũi là 36.901.468 liều, tiêm mũi 2 là 13.656.820 liều.

Có đất nước nào “độc ác” mà lãnh đạo ngày đêm phải điện đàm, công du để tranh thủ đem về từng liều vaccine cho người dân. Có đất nước nào “độc tài”, “phát xít” mà người lính đi phân phát nhu yếu phẩm cho từng hộ gia đình? Có đất nước “độc tài” nào mà cảnh sát giao thông dừng xe, phát gạo, phát xăng, dẫn đường cho người dân về quê? Có đất nước nào “xấu xa” mà lập đường dây nóng để tổ chức phương tiện đưa nhân dân về quê ?

Dịch bệnh kéo dài, không chỉ Việt Nam mà toàn thế giới bị ảnh hưởng. Đại dịch đã làm suy giảm kinh tế toàn cầu, gây thiệt hại và thương vong lớn. Theo số liệu thống kê của trang mạng worldometers.info, cập nhật đến 6 giờ sáng 7/10 (giờ Việt Nam), tổng số ca mắc COVID-19 trên toàn cầu là 237.920.170 ca, trong đó có 4.855.262 người tử vong

Và Mỹ vẫn là quốc gia đứng đầu danh sách về số ca tử vong 731 nghìn người, trong tổng số 45.109.804 ca. Tiếp đó là Ấn Độ với 450.277 ca tử vong trong số 33.922.917 ca. Brazil đứng thứ 3 với 600.425 ca tử vong trong số 21.532.558 ca mắc.

Là một đất nước có nền kinh tế và hệ thống y tế đang phát triển, Việt Nam vẫn đang nỗ lực, làm tất cả những gì có thể để bảo vệ người dân. Những nỗ lực của Việt Nam thể hiện ở từng hành động, từng quyết sách, từng ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình. Như vừa mới đây, lực lượng chức năng đã cố gắng sắp xếp phương tiện để đưa người dân có nhu cầu về quê một cách an toàn nhất. Đây chỉ là những hành động rất nhỏ trong vô vàn hành động khác với phương châm tính mạng của người dân là mục tiêu được đặt lên hàng đầu.

Đúng, đại dịch đã thêm một lần nữa giúp toàn dân Việt Nam “sáng mắt”, “sáng lòng”. Nhờ đại dịch mà người dân hiểu thêm được những sự hy sinh thầm lặng, những mất mát lớn lao mà có lẽ khi bình yên quá chúng ta không nhận ra được. Nhờ đại dịch mà người dân lại cảm nhận được sự thấm đượm nghĩa tình từ hai tiếng “đồng bào”. Nhờ đại dịch mà người dân Việt Nam đã chứng kiến những điều vượt qua giới hạn bình thường từ các y bác sĩ, từ cán bộ chiến sĩ, từ Chính phủ…

Và cũng “sáng mắt” để nhìn lại những hành động phá hoại Việt Nam của một tổ chức khủng bố. Liên tục xuyên tạc, công kích chính quyền; Lợi dụng khó khăn của người dân để xúi giục, kích động họ bạo loạn, xuống đường biểu tình, gây nguy hiểm cho tính mạng của người dân và khó khăn trong công tác chống dịch; Và bây giờ là vô ơn, phủ nhận trắng trợn công sức chống dịch của toàn dân.

Trái ngược với luận điệu “choáng váng” và “run rẩy” mà Việt Tân lu loa, Việt Nam vẫn và tiếp tục kiên cường, vững vàng trước đại dịch. Dù có nhiều trường hợp xảy ra, người dân vẫn cùng nhau đoàn kết, vững tin. Không chỉ chiến thắng đại dịch mà còn chiến thắng âm mưu kích động, “chọc gậy bánh xe” của các đối tượng.

Đám Việt Tân và những tên phản động lưu vong nếu còn một chút lương tri thì hãy tôn trọng sự thật, bỏ trò xuyên tạc, bôi đen đi mà làm người. 

Nâng cao cảnh giác trước thủ đoạn chống phá công tác phòng, chống dịch Covid-19

 Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, thời gian qua công tác phòng, chống dịch (PCD) Covid-19 luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt các biện pháp với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19 và  các ban, bộ, ngành, địa phương thường xuyên có mặt tại những địa bàn tâm dịch để chỉ đạo công tác PCD; thăm hỏi, động viên, tặng quà, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khỏe nhân dân với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, “tính mạng con người là trên hết, trước hết và quý giá nhất”.

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đã siết chặt giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ quyết định thực hiện nghiêm ngặt hơn, thực chất hơn việc giãn cách xã hội với tinh thần “ai ở đâu, ở yên đó”, mỗi phường, xã là một “pháo đài” chống dịch.

Thực hiện nghiêm giãn cách xã hội để PCD Covid-19 cũng là cụ thể hóa Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta đã cố gắng càng cố gắng hơn nữa; đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa; đã quyết tâm càng quyết tâm cao hơn nữa; toàn dân tộc muôn người như một, đồng lòng cùng Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành tìm mọi cách quyết ngăn chặn, đẩy lùi bằng được, không để dịch lan rộng, bùng phát trong cộng đồng”. 

Lời kêu gọi của Tổng Bí thư là lời hịch non sông, lời hiệu triệu trăm triệu con tim, khối óc. Cả nước đã có hàng chục nghìn lượt y, bác sĩ, nhân viên y tế, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên, thanh niên tình nguyện… cùng với nguồn vắc xin, vật tư, trang thiết bị y tế, lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu vào các địa phương giãn cách xã hội, vào tận các vùng tâm dịch để bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an ninh, an toàn và an sinh xã hội, chung tay, góp sức cùng các địa phương trong cuộc chiến chống Covid-19.

Trong khó khăn, dịch bệnh, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, tình đồng chí, nghĩa đồng bào, truyền thống “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách”… với những tấm lòng vàng, những nghĩa cử cao đẹp được nhân lên gấp bội, khẳng định sâu sắc bản chất tốt đẹp, nhân văn của chế độ và giá trị truyền thống quý báu của dân tộc đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử.

Tuy nhiên, lợi dụng tình hình dịch diễn biến phức tạp, một số đối tượng, tổ chức phản động, các thế lực thù địch trong và ngoài nước gia tăng các hoạt động tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng như: Xuyên tạc, tung tin sai sự thật về tình hình dịch Covid-19, về trang thiết bị, vật tư y tế PCD, xuyên tạc chính sách phân bổ vắc xin của Bộ Y tế; bịa đặt thông tin về công dụng, hiệu quả của vắc xin Covid-19; nham hiểm hơn là chúng bài xích quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số quốc gia; công kích, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp trong công tác PCD; xúc phạm nhân phẩm, danh dự những người làm nhiệm vụ nơi tuyến đầu PCD; kích động, kêu gọi người dân tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn và khuyến cáo 5K + vắc xin của Bộ Y tế…

Nhân việc Chính phủ quyết định việc thực hiện giãn cách xã hội để PCD ở mức độ cao hơn, thực chất hơn, chúng đã lập tức tập trung khai thác, công kích vào chủ trương, biện pháp, cách thức PCD và công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chính quyền địa phương trong nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Chúng xuyên tạc việc thực hiện siết chặt giãn cách ở thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”…

Trái với luận điệu trên, thực tế đã chứng minh việc áp dụng giãn cách xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệụ để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh được hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới áp dụng trong PCD Covid-19. Ở nước ta, qua các đợt dịch trước, việc áp dụng giãn cách xã hội và thưc hiện 5K được xác định là cách thức khoa học, là biện pháp đúng đắn được các cấp chính quyền quyết liệt thực hiện, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Việc thực hiện giãn cách xã hội để PCD đã đạt được “mục tiêu kép” đạt được hiệu quả tối đa trong việc phát hiện, khống chế sự lây lan dịch bệnh trong cộng đồng, đồng thời cũng là biện pháp hữu hiệu nhất trong quản lý địa bàn, nắm chắc từng nhóm đối tượng để chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần, ăn ở, sinh hoạt cho nhân dân, bảo đảm cho nhân dân yên tâm PCD…

Rõ ràng, lợi dụng tình hình dịch bệnh để thông tin sai trái, xuyên tạc, kích động, gây hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD chính là “biến chủng Delta” độc hại, nguy hiểm, là thủ đoạn nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và công tác PCD của nước ta hiện nay.

Cùng với thực hiện tốt thông điệp 5K “Khẩu trang – Khử khuẩn – Khoảng cách – Không tập trung – Khai báo y tế” trong PCD của Bộ Y tế, hơn lúc nào hết, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác thực hiện 5K trên môi trường không gian mạng “Không tin ngay – Không vội nhấn nút thích – Không thêm thắt – Không kích động – Không vội chia sẻ”; nhận diện “vùng xanh”, đồng thời kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, chung sức, đồng lòng cùng cả nước nhanh chóng đẩy lùi và chiến thắng đại dịch Covid-19, đưa đất nước trở về trạng thái bình thường mới.

Việt Nam - một quốc gia đáng sống

 Theo bảng xếp hạng Expat Explorer 2021, Việt Nam hiện xếp ở vị trí thứ 19 trong top những quốc gia đáng sống và làm việc nhất trên thế giới năm 2021, top 5 quốc gia đáng sống và làm việc nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Báo cáo cũng dự báo rằng, triển vọng trong tương lai của Việt Nam có thể được nâng lên vị trí thứ 11.

          Bảng xếp hạng Expat Explorer là một khảo sát được tiến hành trên toàn cầu với sự tham gia của hơn 20.000 người đang sống và làm việc ở nước ngoài. Trong bảng khảo sát cũng cho biết rằng, gần 2/3 (65%) chuyên gia nước ngoài cảm thấy lạc quan về tương lai trong vòng một năm sắp tới bất chấp những biến động khó lường trong 18 tháng vừa qua.

          Cụ thể, 83% chuyên gia nước ngoài ở Việt Nam cảm thấy lạc quan về cuộc sống tại đây trong 12 tháng tới. Tỷ lệ này tương đương với các nước New Zealand và Úc. Trong bảng xếp hạng những quốc gia đứng đầu để sống và làm việc trong năm 2021, Việt Nam đứng thứ 2 ở khu vực Đông Nam Á (sau Singapore). Nếu chỉ tính riêng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam lọt vào top 5 quốc gia đáng sống và làm việc nhất năm 2021. Báo cáo cũng cho biết, với 71%, châu Á được xem là khu vực có cộng động người nước ngoài lạc quan nhất về cuộc sống trong vòng 1 năm.

          Theo báo cáo, bất chấp một năm đầy thử thách, nhưng cộng đồng người nước ngoài trên thế giới vẫn cảm thấy lạc quan và hiện không có kế hoạch chuyển về quê hương trong tương lai. Cụ thể, 67% những người sống ở nước ngoài tin rằng chất lượng cuộc sống của họ hiện tại tốt hơn ở quê nhà. Ngoài ra, hơn một nửa số người nước ngoài (61%) nói rằng họ ít phải thay đổi công việc của mình do tác động của Covid-19.

          Việt Nam là một quốc gia đáng sống thực sự. Tại Việt Nam ngày nay, "tất cả công dân có quyền bình đẳng, mọi người đều có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc". Chính phhủ và nhân dân Việt Nam luôn dang rộng vòng tay, chào đón các bạn bè trên khắp năm châu đến du lịch, tham quan và làm ăn sinh sống tại Việt Nam.

Kẻ địch dùng mọi cách để bôi xấu Chủ nghĩa xã hội

 Để đạt được mục đích của mình, các thế lực thù địch tìm cách bôi xấu những ưu việt chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của chúng là rất rõ ràng. Đó là, nếu chưa thể xóa bỏ được chủ nghĩa xã hội, lái nước ta đi theo con đường khác - con đường tư bản chủ nghĩa, thì cũng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

          Để thực hiện bôi xấu hình ảnh chủ nghĩa xã hội, chúng thường vin vào tình trạng tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên rồi lu loa và vơ đũa cả nắm rằng: Người lãnh đạo trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ chuyên đi ăn chặn của dân, chuyên tham nhũng để làm giàu cho bản thân, gia đình mình, mặc cho dân đói khổ. Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, có hiện tượng đó, nhưng chỉ là số ít. Những cán bộ thoái hóa, biến chất đó đã được Đảng ta kỷ luật nghiêm minh, với những hình phạt thích đáng. Có cán bộ nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị cũng phải chịu án tù.

          Chúng cũng cũng rêu rao rằng, chế độ xã hội chủ nghĩa đâu có chuyện tham nhũng thế này. Nhưng đâu phải chỉ Việt Nam mới có nạn tham nhũng. Đây là vấn nạn chung ở nhiều quốc gia, có thể chế chính trị và con đường phát triển khác nhau. Cũng xin nhấn mạnh thêm, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Đảng ta triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, "nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai". Bên cạnh đó, thay vì chờ đầy đủ chứng cứ mới xử những người vi phạm thì hiện nay với quan điểm phát hiện sai phạm đến đâu, xử lý đến đó nên nhiều vụ án đã được khẩn trương xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, kiên quyết không để chìm xuồng.

          Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội là không thể phủ nhận. Tuy rằng thực tế cũng có một bộ phận cán bộ lãnh đạo có biểu hiện quan cách mạng, thậm chí "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ đã được Đảng xác định là then chốt của then chốt. Công tác cán bộ là công tác con người. Mà đã là con người thì hôm nay tốt nhưng ngày mai có thể sẽ bị sa ngã. Dám nhìn thẳng vào sự thật để xử lý cán bộ, Đảng viên sa ngã từ đó củng cố công tác đào tạo, rèn luyện cán bộ để Đảng trong sạch, vững mạnh chính là con đường mà Đảng đã lựa chọn.

 


THỦ ĐOẠN ‘VẤY MỰC’ HÌNH ẢNH NGƯỜI CHIẾN SỸ GIÚP DÂN TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

 Những ngày qua, làn sóng thứ 4 của dịch COVID – 19 đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống vật chất, tinh thần của người dân Việt Nam. Từ tháng 4/2021 đến nay, đại dịch COVID – 19 đã xuất hiện ở nhiều địa phương trên cả nước như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương…

Trong tình hình dịch bệnh, điều khó khăn hơn cả là trong số những người cách ly tập trung và cách ly tại nhà lại là những lao động chính trong gia đình, họ là những người trực tiếp tham gia vào các hoạt động sản xuất tại các xí nghiệp hoặc ở ruộng đồng. Rõ ràng, nếu như khi đến mùa vụ thu hoạch lúa, vải thiều, dưa hấu… mà không kịp thu hoạch, chỉ chậm ít ngày thì tất cả các sản phẩm đó có thể hư hỏng, dẫn đến thiệt hại lớn đến nguồn thu của bà con.

Trong khi lực lượng Quân đội đang nỗ lực chống dịch, hỗ trợ cho người dân hạn chế những thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra bằng những hành động thiết thực như vậy thì có không ít đối tượng phản động, chống đối đã đăng tải các bài viết, đưa ra các bình luận tiêu cực về công tác phòng, chống dịch. Họ đưa ra các bài viết, bình luận bôi nhọ hình ảnh người chiến sỹ, cho rằng các bộ đội đang “diễn kịch gặt lúa”, “diễn kịch hái vải thiều”…

Không chỉ riêng những blogger mà nhiều trang mạng phản động cũng vào hùa để ăn theo những hình ảnh mang tính vu cáo cán bộ, chiến sĩ. Nhiều tài khoản mạng xã hội vào a dua, ăn theo nói leo, đưa ra những bình luận khiếm nhã, thiếu tôn trọng lực lượng đang ngày đêm làm công tác phòng, chống dịch.Việc sử dụng các hình ảnh rồi bôi nhọ Quân đội không phải là một chiêu trò mới lạ của thế lực chống đối, thù địch. Tuy nhiên, với phương châm “bình mới, rượu cũ”, các thế lực thù địch, phản động vẫn gây ra sự hoang mang, dao động đối với một bộ phận người xem thiếu hiểu biết, gây nên các tâm lý hoài nghi, không tôn trọng sự thật khách quan. Nhiều đối tượng còn sử dụng video, hình ảnh được cắt ghép, sai sự thật nhưng quảng bá là ảnh thật, người thật nhằm đánh lừa người xem. Mục đích của những chiêu trò này là từng bước tác động nhằm thay đổi nhận thức tư tưởng của người dân tham gia mạng xã hội, là những bước cơ bản để tiến hành chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân.

Với những luận điệu trên, lật ngược lại vấn đề, thử hỏi những người đang xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, họ đã làm được gì để hỗ trợ cho nhân dân vùng dịch, cho đất nước khống chế dịch bệnh hay chưa? Với mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội, hãy là người dùng mạng tỉnh táo, không tiếp nhận, lan truyền thông tin xấu độc trong tình hình diễn biến dịch COVID – 19 hết sức phức tạp như hiện nay. Đặc biệt là không tin, nghe và không chia sẻ, bình luận, lan truyền những luận xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ hình ảnh lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Sự cần thiết của tư duy dám nghĩ, dám làm

 Trong điều kiện tình hình cách mạng nước ta hiện nay, kinh nghiệm chống dịch vừa rồi, có rất nhiều tình huống đòi hỏi người cán bộ phải linh hoạt, sáng tạo, trên cơ sở phải có kinh nghiệm dám nghĩ, dám làm phong phú  thì mới có thể giải quyết được những vấn đề nảy sinh khó khăn và phức tạp.

          Tư duy năng động, dám nghĩ, dám làm hoạt động bao giờ cũng là mảnh đất hiện thực cho sự hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách, trí tuệ, tài năng của mỗi con người. Chính thông qua dám nghĩ, dám làm, người cộng sản có điều kiện áp dụng tri thức đã tiếp thu, tích luỹ kinh nghiệm, vốn sống nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị. Mặt khác, thông qua dám nghĩ, dám làm họ bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình, biểu lộ thái độ, hành vi, ý chí cá nhân trước sự kiện, khó khăn thử thách.

          Bằng tư duy dám nghĩ dám làm, thông qua thực tiễn, họ mới tự kiểm tra, đánh giá được trình độ nhận thức, tình cảm và ý chí của họ so với cái chuẩn, từ đó hình thành ý thức rèn luyện, tu dưỡng. V.I.Lê-nin vạch rõ: Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những tư tưởng, tình cảm thực của cá nhân có thực, tất nhiên căn cứ ấy chỉ có thể là những hoạt động của cá nhân ấy. Như vậy, Lê Nin đã rất đề cao vai trò của thực tiến, của tư duy dám nghĩ dám làm. Những vấn đề được V.I.Lê-nin nêu ra cách đây gần một thế kỷ chính là những chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: Học lý luận cốt là để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách. Với ý nghĩa đó, giáo dục lý tưởng cộng sản phụ thuộc rất lớn vào khả năng và mức độ dám nghĩ, dám làm của họ. Tư tưởng của Người vẫn luôn còn đúng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng.

          Như vậy, dù trong cương vị công tác nào, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn tích cực tu dưỡng, rèn luyện tư duy dám nghĩ, dám làm để có đủ bản lĩnh và năng lực hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng giao phó./.

Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho công nhân các khu công nghiệp

 Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp công  nhân ngày càng đóng góp vai trò quan trọng. Trước tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, cộng với những hiệu ứng hai mặt của không gian mạng, công nhân trong các khu công nghiệp trên địa bàn cả nước là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để truyền bá các tư tưởng chống đối. Do vậy, đối với nước ta hiện nay, giáo dục đạo đức cách mạng vừa là một nội dung cơ bản trong giáo dục chính trị, tư tưởng vừa là một giải pháp quan trọng trong nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho công nhân các khu công nghiệp.

          Phẩm chất, đạo đức cách mạng là một trong những yêu cầu cơ bản của nhân cách, là yếu tố tạo nên tình cảm cách mạng của người cách mạng. Không thể có niềm tin, lý tưởng cộng sản nếu ở con người không có sự hội tụ của giá trị đạo đức cách mạng, của lối sống XHCN. Nói cách khác, sự sa sút, tha hoá về đạo đức, lối sống ở con người chính là cơ sơ để giảm sút, sói mòn niềm tin, lý tưởng cộng sản. Nghị quyết Đại hội XI nhấn mạnh: Đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng. Theo chúng tôi, giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống XHCN cho công nhân để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cần tập trung theo hướng: Các giá trị đạo đức được định hướng, giáo dục phải được xác lập trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống các giá trị định hướng giáo dục để nâng cao đạo đức cách mạng, lối sống XHCN phải trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

          Triển khai thực hiện tốt công tác rèn luyện đạo đức cách mạng cho công nhân các khu công nghiệp sẽ thực hiện được mục tiêu kép, vừa bảo vệ cho lực lượng công nhân các khu công nghiệp trước những cám dỗ của cơ chế thị trường vừa làm cho những công nhân các khu công nghiệp này thành những chiến sỹ kiên trung chống lại những đối tượng thù địch, phản động.

Những kẻ ngây ngô học đòi bình luận

 Đã từ lâu đời, người Việt Nam có câu “nghe hơi nồi chõ” để chỉ những người mới nghe thông tin loáng thoáng đâu đó, không thèm kiểm chứng, đã vội tin ngay, để rồi tự làm khổ mình, khổ người thân. Lại có những người thích làm “thầy bói xem voi”, biết được một chút nhưng lại cứ tưởng mình biết tuốt, vội phán ngay như đúng rồi. Hai tính cách này mà kết hợp với nhau trong 1 người thì đúng là thảm họa. Thảm họa như cái cách mà một số kẻ mới đây ngô nghê bình luận về kinh tế.

          Chẳng hiểu họ suy nghĩ thế nào lại đem ghép 2 cái câu chẳng ăn nhập vào nhau để giật một cái tít rồi hả hê. Câu thứ nhất là của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nói vào ngày 12/10 trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về kế hoạch cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2021-2025. Nguyên văn câu này nói đến việc tiền trong dân còn nhiều có ý nghĩa là làm sao tạo ra các chính sách tốt để huy động nguồn lực xã hội, nguồn lực trong dân vào những lĩnh vực sản xuất mang lại hiệu quả cao để thúc đẩy nền kinh tế. Tiền trong dân là của dân chứ liên quan gì đến việc làm ăn lỗ hay lãi của các doanh nghiệp nhà nước? Ai có nhận thức tối thiểu cũng thừa hiểu, tiền người dân có chi ra thì cũng là để phục vụ cho lợi ích của chính họ, Nhà nước chỉ có thể tạo ra các chính sách tốt để làm sao lợi ích của người dân cũng đồng thời mang lại lợi ích chung cho tổng thể cả nền kinh tế.

          Có lẽ sự ngây ngô nhất của những kẻ này được bộc lộ khi xoáy sâu vào câu chuyện Nhà nước hỗ trợ 12.000 nghìn tỷ đồng cho Hãng hàng không Quốc gia Vietnam Airline (VNA) trong mùa dịch COVID-19. Khi dịch bệnh xảy ra, các nước đều áp đặt lệnh giãn cách, hạn chế di chuyển, các hãng hàng không buộc phải tạm dừng hoạt động vì không có khách, không có doanh thu. Trong khi đó, chi phí mà các hãng này phải chi ra để duy trì hoạt động là không hề nhỏ, từ tiền lương cho đội ngũ nhân viên khổng lồ, tiền lãi vay ngân hàng, tiền thuê máy bay, thuê chỗ đỗ… Với tình cảnh như vậy không chỉ VNA mà tất cả các hãng hàng không trên toàn thế giới đều bị ảnh hưởng. Năm 2020, chính phủ Thái Lan phải chi 770 triệu USD (tương đương gần 23 nghìn tỷ VND) kèm theo các gói giảm thuê để cứu trợ các hãng hàng không giá rẻ nội địa với yêu cầu họ giữ lại 20 nghìn nhân viên trong suốt mùa dịch. Theo ước tính của Hiệp hội Hàng không quốc tế (IATA), ước tính đại dịch COVID-19 đã khiến ngành hàng không toàn cầu thiệt hại khoảng 250 tỷ USD trong năm 2020. Tổ chức này đã gửi thư tới lãnh đạo 18 nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương đề nghị hỗ trợ khẩn cấp. Ngày 24/3, để hỗ trợ cho ngành hàng không của mình, Thượng viện Mỹ đã thông qua gói cứu trợ trị giá 58 tỷ USD, trong đó 1/2 số tiền trên sẽ được sử dụng dưới dạng hỗ trợ để trả lương cho khoảng 750.000 nhân viên hàng không nước này.

          Sự ngô nghê hay cố tình của những người này đã rõ. Muốn chống phá, muốn chê bai thì cũng phải có kiến thức. Còn những kẻ ngây ngô, bi bô học đòi, “thầy bói xem voi” kiêm “nghe hơi nồi chõ” thì chỉ khiến mọi người ngán ngẩm mà thôi.

Những góc nhìn tốt đẹp về Việt Nam của bạn bè quốc tế

 Những thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong thời gian qua đã chiếm được cảm tình sâu sắc của bạn bè quốc tế. Điều đó thể hiện trong các trang báo quốc tế uy tín như:

          Trang The armchair trader của Anh vừa có bài viết nhận định Việt Nam là quốc gia có nền tảng kinh tế rất mạnh và sẽ ngày càng tốt lên, đặc biệt Việt Nam chính là câu chuyện thành công điển hình tại Châu Á. Theo The armchair trader, Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á có khả năng chống chọi tốt với đại dịch Covid-19 và cũng có thể hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng trong khu vực.Trích ý kiến từ Vietnam Holding, quỹ đầu tư niêm yết tại London chuyên đầu tư vào các công ty tăng trưởng cao có trụ sở tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam là một trong những thị trường mới nổi tốt nhất trên thế giới khi đại dịch qua đi.

          Trang The armchair trader còn đặc biệt nhấn mạnh, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một trong những thị trường hoạt động tốt nhất ở châu Á, tăng hơn 23% trong năm nay. Dynam Capital Management, quản lý Quỹ Vietnam Holding Limited, cho biết dù nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn rút khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2020-2021, song sự tham gia của các nhà đầu tư bán lẻ đã hỗ trợ đáng kể cho thị trường. Việt Nam hiện có hơn 4 triệu tài khoản giao dịch chứng khoán, chiếm khoảng 3% dân số cả nước.

          Hơn nữa, Dynam Capital cũng lạc quan về dịch vụ tài chính tại Việt Nam, cho rằng dịch vụ tài chính vẫn là lĩnh vực phân bổ lớn nhất. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên trước sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực này ở Việt Nam trong thập kỷ qua. Trong khi đó, theo Vietnam Holding, đây vẫn sẽ là xu hướng trong thời gian tới tại Việt Nam. Việt Nam vẫn là nền kinh tế châu Á phát triển nhanh chóng và không phải đối mặt với các vấn đề đại dịch như một số quốc gia khác. Tăng trưởng GDP vững chắc và dân số đông đã tiếp sức cho Việt Nam cạnh tranh hiệu quả với các nước trong khu vực trong lĩnh vực sản xuất và công nghiệp nặng, trang The armchair trader cho biết. Tháng 7/2021, trong Báo cáo đầu tư 2021 của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), với số vốn FDI 16 tỷ USD năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam lọt top 20 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất thế giới.

          Những thành tựu đó ngày càng chứng tỏ sự đúng đắn, ưu việt của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã sáng suốt lựa chọn.

Miệng lưỡi của những kẻ ác ý

 Dưới sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chính phủ, cùng sự hoà đồng, nhất trí của nhân dân, tình hình dịch bệnh trên cả nước đi từ chỗ vô cùng bi đát đến nay đã được kiểm soát cơ bản. Những người dân trước đây đã về quê tránh dịch nay lại nối đuôi nhau quay trở lại thành phố để tiếp tục làm ăn sinh sống. Vậy mà nhiều kẻ ác ý lại cố tình xuyên tạc, bịa đặt với những ý đồ xấu xa, ác độc.

          Giọng điệu của chúng là “dòng người đó chỉ có vài trăm chứ không phải vài nghìn”, rồi là “không có công nhân mà toàn người có nhà và có việc văn phòng thành phố nên quay lại”. Nếu có nhà ở thành phố thì ai lại giữa mùa dịch rời phố về quê để rồi giờ phải vất vả đi xe máy cả ngày mà quay lại thành phố?

          Khôi hài hơn, chúng còn dựng lên ví dụ “chị bạn T.V”. Chị T.V” được cho là cũng trong đoàn người quay lại, chị quay lại thành phố để chuẩn bị bay sang Canada sinh sống vì ở Việt Nam “chị bị “bóc lột khổ sở” quá. Vâng, chị có tiền mua chiếc vé máy bay 20 triệu sang Canada, có tiền để chuẩn bị sinh sống ở một trong những quốc gia đắt đỏ nhất thế giới nhưng chị lại không có tiền đi ô tô, mà phải mặc áo mưa, leo lên chiếc xe máy cọc cạch phi trên đường chịu nắng mưa suốt cả ngày mới đến được thành phố! Không biết có ai tin được cái câu chuyện hoang đường này?

          Rồi theo lời “chị T.V” – mà thật ra là miệng lưỡi của những kẻ ác độc – xung quanh chị bạn bè ai cũng sắp đi nước ngoài hoặc cho con đi nước ngoài hết đến nơi, chẳng còn ai muốn ở lại nữa. Thời đại bây giờ chỉ việc bỏ tiền mua cái vé xin visa là ra nước ngoài, mà không hiểu sao đến giờ này “chị” và “bạn bè chị” vẫn ở nhà đi xe máy rồi kể chuyện tấu hài cho chúng nghe.

          Đất nước ngày một phát triển, đời sống người dân ngày một được cải thiện. Ngay khi TP.HCM và Bình Dương hoạt động bình thường trở lại là người dân từ nhiều nơi lại tụ hội về. Dẫu có cay cú xuyên tạc hay phản đối thì những kẻ ác độc đó cũng chẳng thay đổi được một sự thật đã rõ như ban ngày. Có lẽ vì vậy, mà những kẻ chỉ còn cách tìm kiếm một giấc ngủ giữa ban ngày để tìm đến một giấc mơ hoang tưởng nào đó.

Cảnh giác luận điệu của Việt Tân “Chúng ta đang sống trong xã hội vô lương và mất nhân tính”

 Gần đây, Việt Tân một tổ chức phản động đã đăng nhiều bài viết cố tình bịa đặt, xuyên tạc về dân chủ và tình hình thực thi pháp luật ở Việt Nam. Thủ đoạn của chúng là bôi nhọ hình ảnh xã hội tươi đẹp của nhân dân ta đang sống trở thành  xã hội “vô lương và mất nhân tính”.

          Trải qua các hình thái xã hội, pháp luật luôn song hành cùng sự tồn tại của Nhà nước. Nhà nước dùng pháp luật và đạo đức để duy trì xã hội. Xã hội hiện nay của chúng ta cũng vậy, mọi người phải có trách nhiệm tuân thủ pháp luật. Việc thi hành các bản án là một phần của việc tuân thủ pháp luật mà cũng là thực hiện công bằng xã hội. Ưu việt hơn cả các xã hội khác, xã hội Việt Nam hiện tại còn luôn phát huy cao nhất yếu tố đạo đức để duy trì xã hội. Trong đó đặc biệt là chính sách nhân văn, nhân nghĩa với những người đã vi phạm pháp luật, nhất là với những tội phạm chính trị.

          Mọi phạm nhân bao gồm những đối tượng phạm nhân đội lốt dân chủ như chúng đều được chăm sóc sức khoẻ theo đúng quy định. Vậy mà chúng lại viết rằng người dân chỉ cần bị bắt nhốt vào đồn Công an là bỗng dưng lăn đùng ra chết rồi được thông báo là họ tình nguyện “tự tử chết”. Thật vô lý và nực cười! Dẫn chứng cụ thể là đối tượng Trần Huỳnh Duy Thức đã từng đòi tuyệt thực, nhưng sau một thời gian ở tù thì lại tăng cân, da dẻ hồng hào. Hay là các đối tượng Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Văn Hải (Điếu cày) được chứng minh sống khá khoẻ trong tù.

          Truyền thống yêu thương đồng bào của con cháu Lạc Hồng chúng ta luôn được gìn giữ và phát huy cho đến tận mai sau. Chẳng ai có thể dửng dưng, im lặng và quay lưng trước lời khẩn cầu và kêu cứu của người khác? Xã hội của chúng ta còn đó tình thương, lòng trắc ẩn, chẳng qua những đối tượng phản động kia cố tình không thấy mà thôi. Bọn chúng tìm đâu cho ra hình ảnh ngược đãi, đối xử ác độc còn tệ hơn cả súc vật trong xã hội này mà chúng đã bịa ra.

          Để được sống trong cuộc sống như ngày hôm nay, thật không dễ dàng mà có được. Còn đó hình ảnh Nhân dân ta đoàn kết vượt qua dịch bệnh, thiên tai, còn đó hình ảnh nhân dân đùm bọc yêu thương lẫn nhau. Đừng để những bài viết của Việt Tân xuyên tạc, làm ảnh hưởng đến cuộc sống tươi đẹp của chúng ta.

KỶ NIỆM NGÀY SINH CỐ THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG MINH THẢO TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH TÂY. NGUYÊN (25/10/1921-25/10/2021)!

Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh: Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là Tư lệnh chiến dịch.

Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) chỉ trong 55 ngày.

Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây Nguyên.

Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng – trang 126: “Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất, là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".

Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.

Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku – Kon Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam Bắc (tức Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh: “Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.

Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ, những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập tắt.

Ngày 14-3-1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này ngay tại thị xã Tuy Hòa.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên – nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam. 

Môi Trường ST.

Giải phóng phụ nữ - giá trị nhân văn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

 Không phải ngẫu nhiên mà ngoài ngày Quốc tế phụ nữ mùng 8 tháng 3, Việt Nam ta có riêng một ngày Phụ nữ Việt Nam 20 tháng 10. Tinh thần tôn trọng và giải phóng phụ nữ đã tồn tại trong tư tưởng của Bác Hồ, người cha gia dân tộc ngay từ từ rất sớm. Đó là một trong những giá trị nhân văn to lớn trong tư tưởng của Người.

          Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chứng kiến nhiều cảnh phụ nữ ở các nước, nhất là các thuộc địa, bị đối xử bất công, bị bóc lột, chà đạp một cách tàn nhẫn. Khi đến đất nước của tượng Nữ thần tự do, Người đã nhận thấy sự cách biệt về quyền con người ở Mỹ: Ánh sáng trên đầu tượng Nữ thần Tự do tỏa trên bầu trời xanh, còn dưới chân tượng Nữ thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen mới có sự bình đẳng với người da trắng, bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới. Hồ Chí Minh nung nấu hoài bão làm sao để phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng thoát khỏi áp bức, bất công của chế độ thuộc địa. Chỉ có giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người triệt để mới mang lại quyền tự do thật sự cho con người, tạo tiền đề thực hiện bình đẳng nam nữ và mang lại sự tiến bộ cho phụ nữ. Vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Tiến sỹ M.At-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương khẳng định: “Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động”.

          Hồ Chí Minh cho rằng, phụ nữ có quyền tham gia mọi hoạt động chính trị một cách bình đẳng như nam giới, có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do ngôn luận, đi lại, cư trú và quyền bình đẳng trước pháp luật. Điều 6 Hiến pháp năm 1946 do Người là Trưởng Ban soạn thảo ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa”. Cụ thể hơn về quyền lợi, Điều 9 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập… phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”(4). Bình đẳng với nam giới về mọi phương diện, Hiến pháp năm 1946 mở ra cho phụ nữ một thời đại mới - thời đại người phụ nữ được làm chủ cuộc sống của mình, được tham gia các hoạt động xây dựng và kiến thiết đất nước - những quyền và nghĩa vụ mà người phụ nữ chưa từng được thừa hưởng trong các chế độ xã hội trước. Những quyền bình đẳng đó tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1959. Song song với việc ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trên các mặt của đời sống xã hội, Hiến pháp năm 1959 đã quy định các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện quyền bình đẳng trên thực tế và nhấn mạnh đến quyền bình đẳng về việc hưởng thụ các thành quả của phát triển.

          Những quy định về quyền bình đẳng nam nữ được ghi trong Hiến pháp, pháp luật đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam và thể hiện tính nhân văn, tầm nhìn vượt thời đại, tư duy chính trị sắc sảo của Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Từ đây, người phụ nữ có cơ sở pháp lý để đấu tranh đòi bảo đảm những quyền bình đẳng này trong cuộc sống của mình.

          Cùng với sự phát triển của đất nước, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ ngày càng được quan tâm và coi trọng. Điều đó đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền bình đẳng giới, tạo ra một bước chuyển biến mới trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Việt Nam. Đó chính là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

Những bất cập, hạn chế trong xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta thời gian qua

 

   Thứ nhất, cơ chế, chính sách, pháp luật về xây dựng, bảo vệ môi trường văn hóa vẫn còn những hạn chế, bất cập: Một số cơ chế, chính sách chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm. Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về xây dựng môi trường văn hóa tuy đã ban hành kịp thời, song vẫn còn thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, quy chuẩn, tính ổn định chưa cao; vẫn còn tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung, từ đó hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

   Thứ hai, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tuy đã đạt được những kết quả tích cực song chất lượng phong trào chưa bền vững. Việc tổ chức thực hiện các cuộc vận động trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” có nơi còn chạy theo thành tích và số lượng, chưa chú ý nâng cao chất lượng. Chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, thôn, ấp, bản, buôn văn hóa chưa vững chắc và đồng đều giữa các vùng. Chất lượng các danh hiệu văn hóa, như gia đình văn hóa, làng văn hóa, thôn, ấp, bản văn hóa ở nhiều nơi còn hạn chế; chưa phát huy hiệu quả và hấp dẫn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

   Thứ ba, xây dựng và thực hiện nếp sống văn hóa vẫn còn một số bất cập. Công tác quản lý và tổ chức một số lễ hội còn bộc lộ những yếu kém. Có biểu hiện thương mại hóa trong lễ hội, lợi dụng lễ hội để trục lợi, xuất hiện hiện tượng phản cảm, tranh cướp, chen lấn, xô đẩy, tranh giành, đeo bám khách làm mất trật tự, an ninh; lợi dụng tổ chức các trò chơi biến tướng sang đánh bạc còn diễn ra ở một số lễ hội, vẫn còn hiện tượng đốt nhiều vàng mã gây tốn kém, tiềm ẩn nguy cơ cháy, nổ; tình trạng xả rác bừa bãi vẫn còn diễn ra trong một số lễ hội làm ảnh hưởng không gian tổ chức lễ hội. Trong việc hiếu, hỉ, vẫn còn hiện tượng tổ chức đám cưới linh đình, tốn kém; tổ chức đám tang trong nhiều ngày gây ô nhiễm môi trường; lối sống, nếp sống văn hóa truyền thống tốt đẹp đang có biểu hiện suy giảm.

   Vẫn còn biểu hiện xuống cấp, suy thoái về đạo đức, lối sống. Đạo đức nghề nghiệp của một số ngành, nghề, nhất là những ngành, nghề vốn nhân văn, cao quý, như ngành giáo dục - đào tạo, có biểu hiện xuống cấp, gây nên những bức xúc, tạo hệ lụy xấu trong đời sống xã hội. Văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên còn nhiều hạn chế, khiến môi trường sinh thái bị xâm hại. Đó là hiện tượng khai thác cạn kiệt nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, như chặt phá rừng, sử dụng nguồn nước ngầm thái quá... đã phá vỡ các quy luật vốn có của tự nhiên dẫn đến hệ quả xấu. Môi trường thiên nhiên bị hủy hoại ngày càng tác động tiêu cực trở lại đến đời sống của con người, như hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, triều cường, nước biển dâng, sạt lở núi, đồi, sạt lở ven sông, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

   Việc xây dựng mối quan hệ giữa con người với con người cũng chưa được chú ý đúng mức. Lối sống vì mình, quên người; vì lợi, bỏ nghĩa có nguy cơ lan rộng và bào mòn nhân tính của con người. Quan hệ giữa người và người dễ bị lấn át, che khuất trong các mối quan hệ trao đổi hàng - tiền, tiền - tiền, tiền và vật chất,... đã vô tình tạo ra cách nhìn nhận và đánh giá con người thông qua giá trị của cải vật chất, mà không phải là giá trị tình cảm trong sáng, nhân văn vốn là vốn quý trong đạo đức, lối sống truyền thống mà cha ông ta đã để lại.

   Tệ nạn xã hội gia tăng, gây hậu quả nghiêm trọng. Tính chất và số lượng các vụ án ma túy, mại dâm, cướp bóc, trấn lột, giết người... vẫn đang diễn ra ngày càng tinh vi, phức tạp. Tỷ lệ thanh thiếu niên gây ra các vụ án ngày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng. Tình trạng bạo hành gia đình, bạo lực học đường, xâm phạm trẻ em... vẫn là những vấn đề nóng trong xã hội. Đặc biệt, ở một số vùng nông thôn, phụ nữ và trẻ em vẫn là những đối tượng chính trong các vụ án mua bán người. Các tệ nạn xã hội, như cờ bạc, buôn lậu, mua bán trái phép chất ma túy, cá độ, tín dụng đen, cho vay nặng lãi... hoạt động ngày một tinh vi và thách thức cán bộ quản lý, gây nên những bức xúc trong xã hội. Vẫn còn hiện tượng du nhập, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, hoạt động thiếu lành mạnh thông qua các cơ sở dịch vụ văn hóa, như vũ trường, karaoke, in-tơ-nét công cộng...

   Thứ tư, tính ổn định, bền vững của những giá trị truyền thống tích cực trong đời sống văn hóa chưa cao. Tốc độ đô thị hóa, xu thế nông thôn hóa thành thị đang phá vỡ nền tảng văn hóa truyền thống, nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị xói mòn hoặc bị phá vỡ như giá trị văn hóa làng, xã. Sự bền vững của nền tảng gia đình truyền thống bị lay chuyển, bản sắc văn hóa có nguy cơ suy giảm; các giá trị văn hóa trong gia đình, dòng họ, làng, xã có biểu hiện ngày càng đi xuống; từ đó, ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng và rèn nhân cách con người. Sự phân cực giàu nghèo, biến đổi khí hậu, tình trạng ô nhiễm môi trường sống vẫn tồn tại đã và đang làm biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, khiến cho cuộc sống thường ngày của người dân bị ảnh hưởng. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa gặp nhiều khó khăn, bấp cập; nhiều di sản văn hóa bị xuống cấp, xâm phạm, ảnh hưởng tới sự tôn nghiêm của di sản. Nhiều phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của các dân tộc bị ảnh hưởng do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa làm mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc, vùng, miền. Một số phong tục, tập quán cũ không còn phù hợp, trong khi đó các giá trị văn hóa mới chậm hình thành, chưa được khẳng định trong đời sống xã hội hiện nay; một số hình thức văn hóa, lối sống không lành mạnh thâm nhập về nông thôn, làm mất đi nét đẹp mang tính văn hóa truyền thống làng, xã ở nông thôn.

   Thứ năm, các thiết chế văn hóa, chưa phát huy được hết chức năng, chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Một số nhà văn hóa, trung tâm văn hóa chỉ tồn tại mang tính hình thức, mà không có hoạt động văn hóa, sinh hoạt văn hóa thực chất, chưa thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia; một số hoạt động cầm chừng, trang thiết bị, sách, báo còn thiếu nhiều,...

   Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trên, chủ yếu ở mấy điểm sau đây:

   - Nhận thức về xây dựng môi trường văn hóa chưa đầy đủ, toàn diện và thấu đáo: Một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ nên chưa có sự quan tâm đúng mức trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, chưa cụ thể hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình, thậm chí có tình trạng buông lỏng trong quản lý và tổ chức các hoạt động văn hóa.

   - Công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả tối ưu: Công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về xây dựng đời sống văn hóa nói riêng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh nói chung chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản, dẫn đến chưa phát huy được ý thức tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng trong việc tham gia xây dựng môi trường văn hóa. Các hình thức tuyên truyền, giáo dục chưa phong phú và ít hiệu quả, còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào thực chất. Các hoạt động văn hóa chưa thực sự thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

   - Xã hội hóa trong xây dựng môi trường văn hóa đạt hiệu quả thấp: Xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa là công việc của toàn xã hội. Việc thực hiện xã hội hóa trong xây dựng nếp sống, lối sống văn hóa và môi trường văn hóa tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa thu hút được sự tham gia đông đảo của các tổ chức, cá nhân và các tầng lớp nhân dân; vì vậy, các phong trào, các hoạt động văn hóa chưa phát triển bền vững, còn mang tính hình thức; chưa thực sự gắn kết với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái gắn với xây dựng môi trường văn hóa.

   - Công tác nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu thực tiễn đang đặt ra: Mặc dù công tác nghiên cứu khoa học về văn hóa và môi trường văn hóa đã được quan tâm, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu có giá trị về lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng, kiến giải cho những hiện tượng, vấn đề mới đang phát sinh trong môi trường văn hóa, để trên cơ sở đó, định hướng cho công tác quản lý và tổ chức thực hiện xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay.

     Giải pháp xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh

   Trên cơ sở các thành tựu đã đạt được và những bất cập, yếu kém cần khắc phục, từ thực tiễn môi trường văn hóa trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, cần thực hiện một số giải pháp sau:

   Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của môi trường văn hóa trong sự phát triển bền vững, cũng như nội dung của xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh.

   Thứ hai, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện, xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách: Để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiến bộ, là nền tảng tinh thần của xã hội, nhất thiết phải có hệ thống pháp luật hướng tới việc bảo vệ các giá trị, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa tốt đẹp, bảo vệ, tôn trọng quyền làm chủ của người khác, của cộng đồng. Thông qua vai trò quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, dùng luật pháp để điều chỉnh hành vi con người cho phù hợp, nhằm dần trở thành ý thức tự giác của mỗi người, hướng tới thực hiện chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa.

   Thứ ba, quan tâm đầu tư, đào tạo nguồn lực xây dựng môi trường văn hóa: Phải có cơ chế, chính sách đầu tư, đào tạo nguồn lực, trước tiên là củng cố bộ máy cơ quan nhà nước đủ mạnh để tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Có chính sách phát triển văn hóa tương ứng với phát triển kinh tế, đầu tư về nguồn lực con người, nguồn lực tài chính nhằm hoàn thiện các thể chế, thiết chế văn hóa phục vụ xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.

   Thứ tư, nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện chế độ tôn vinh khen thưởng kịp thời: Đặc biệt chú trọng các phong trào hạt nhân, như phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa và phong trào thi đua người tốt, việc tốt và các điển hình tiên tiến. Thường xuyên chú trọng công tác tôn vinh, khen thưởng những điển hình tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Tiếp tục đẩy mạnh việc nêu gương người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống.

   Thứ năm, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng môi trường văn hóa gắn với xây dựng môi trường kinh tế - xã hội: Sự kết hợp giữa môi trường văn hóa và môi trường kinh tế - xã hội đều nhằm đạt tới sự lành mạnh, tiến bộ, phát triển cho con người và xã hội. Do đó, cần phải thực hiện nghiên cứu khoa học, kiểm kê, đánh giá tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, nếp sống truyền thống, để trên cơ sở đó, cái gì tốt thì kế thừa, cái gì xấu, cản trở sự phát triển phải loại ra khỏi đời sống thực tiễn. Ngày nay, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, để xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tiếp thu những giá trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, văn minh tiến bộ của các dân tộc; đồng thời, phải chống lại những yếu tố phản động, đồi trụy, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc đang tác động vào môi trường văn hóa của chúng ta./.