Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

Đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

 

Bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị. Đảng ta thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, thực hiện các giải pháp mạnh mẽ nhằm đẩy lùi các căn bệnh này, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước.

1. Nhận diện bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi, đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung. Quan liêu xa rời quần chúng, không đi sâu đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Sợ phê bình và tự phê bình”(1). Người chỉ rõ sở thích của những cán bộ mắc bệnh quan liêu là thích dùng mệnh lệnh, “thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(2); “ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hành hơn hết thảy, định đoạt mọi công việc, ở địa phương nào thì coi đó là một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích của toàn cục”(3). Người nhấn mạnh: “Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình có quyền sống xa hoa, hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(4).

Như vậy, có thể hiểu: quan liêu là cách lãnh đạo thoát ly thực tế, đại khái, chung chung, chuộng hình thức, nặng về giấy tờ, ít kiểm tra, thiếu dân chủ, thích dùng mệnh lệnh hành chính, xa nhân dân, coi thường nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo thủ, hách dịch, chuyên quyền, độc đoán, thậm chí ức hiếp cán bộ cấp dưới và nhân dân.

“Chủ nghĩa cá nhân” là thế giới quan dựa trên cơ sở đối lập quyền lợi cá nhân riêng lẻ với quyền lợi của xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, những người mắc vào chủ nghĩa cá nhân “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”... ngại khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”(6). Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đường lối chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(7).

“Lối sống” là toàn bộ lề thói, cách thức cư xử, ăn, ở của một người, một tập thể người trong xã hội, thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người.

Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng nhất định, họ phải tuân thủ những quy tắc nhất định của cộng đồng, dần dần thành thói quen và trở thành lối sống cá nhân. Lối sống cộng đồng là những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong một cộng đồng người nào đó, được mọi thành viên tuân thủ gần như vô điều kiện và trở thành đương nhiên. Như vậy, lối sống là một thói quen có định hướng, thể hiện những đặc trưng văn hóa của mỗi người hay một cộng đồng.

Lối sống có sự thay đổi theo các điều kiện sống, sự thay đổi đó không phải lúc nào cũng mang tính tích cực, có không ít lối sống thay đổi theo hướng tiêu cực.

Lối sống quan hệ mật thiết với lẽ sống. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “lẽ” là điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lí(8). “Lẽ sống” chính là lối sống của cá nhân hay một cộng đồng người hợp đạo lý, hợp quy luật, là lối sống tiến bộ, được duy trì, phát triển cùng với sự phát triển, tiến bộ của con người và xã hội.

Như vậy, lẽ sống là nhân lõi của lối sống, quy định ý thức, tình cảm và mục tiêu của lối sống. Bởi vậy, để xây dựng lối sống tốt đẹp trong xã hội phải đặc biệt quan tâm xây dựng lẽ sống đúng đắn, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, giữ gìn lối sống tốt, loại bỏ lối sống xấu.

Lối sống tốt đẹp của con người là lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, vì tập thể, vì mọi người, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích tập thể và đất nước... Người có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm là người có lập trường tư tưởng không vững vàng, bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc, say mê quyền lực, địa vị, khéo luồn lách, nịnh bợ, kéo bè, kết cánh, “móc ngoặc” trên dưới, trong ngoài để đạt mục đích cá nhân. V.I.Lênin chỉ rõ, những người cơ hội là những người lừng chừng về chính trị, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”(9).

Lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái là biểu hiện của suy thoái đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Đây là biểu hiện thứ nhất trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

“Lợi ích nhóm” là biểu hiện của suy thoái về đạo đức, lối sống.

Quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là các tệ nạn nguy hiểm đối với Đảng và chế độ. Những tệ nạn này có mối quan hệ với nhau và liên quan đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm cho các tệ nạn này không còn khả năng phát triển, giảm dần, hạn chế và bị loại trừ.

2. Những biểu hiện của bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng chỉ rõ: “Trong Đảng có một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động, mất lòng tin, trong đó một số chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cơ hội, xét lại, muốn đưa đất nước đi theo con đường khác; thậm chí đã có người phản bội, đầu hàng. Không ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân, thực dụng cuốn hút, trở nên thoái hóa, hư hỏng..., ăn chơi vung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài”(10).

Nghị quyết còn nhấn mạnh: “Bệnh quan liêu xa thực tế, xa quần chúng rất nặng. Nhiều cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, sống xa dân, thậm chí cách biệt với cuộc sống của người lao động”(11). Xuất hiện ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nhiều tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ sở, nơi gần gũi, tiếp xúc nhiều nhất và trực tiếp giải quyết công việc của nhân dân.

Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh: “Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng; còn biểu hiện quan liêu... Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức...”(12). Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, chỉ rõ: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng bộc lộ một số yếu kém: ... tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”(13).

Đại hội IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến”(14). Đại hội X của Đảng nhận định: Đáng lo ngại là “một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội” “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống ... trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi...”(15).

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về..., đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”(16). Đại hội XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”(17).

Lợi ích nhóm đã xuất hiện trong các giai đoạn trước đây, song từ sau Đại hội VI của Đảng đã phát triển đến mức phức tạp, gây hậu quả rất nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Qua kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đại hội XII nhận định: “Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ nghiêm trọng... như tình trạng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm”(18). Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống...”, chỉ rõ một biểu hiện rất nguy hiểm của lợi ích nhóm: “... lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”(19).

Như vậy, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và có xu hướng nghiêm trọng ở nhiều nơi, ở các ngành, các cấp, lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và trong nhân dân, cần kiên quyết đấu tranh với quyết tâm chính trị cao và có hệ thống giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, khả thi.

3. Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống quan liêu

Thứ nhất, giải pháp về kinh tế - xã hội. Đề cao và tăng cường tính tự chủ, tự quản về kinh tế, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đạt chất lượng hiệu quả; xác định cụ thể, rõ ràng hơn sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu sự can thiệp mang tính hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh việc xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, nhất là những lĩnh vực dịch vụ công liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân; đẩy mạnh việc phân cấp hợp lý cho địa phương.

Thứ hai, giải pháp về công tác chính trị, tư tưởng. Mở rộng và tăng cường dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đặc biệt là dân chủ trực tiếp; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân.

Thứ ba, giải pháp về công tác tổ chức cán bộ. Đẩy mạnh việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là các cơ quan quản lý hành chính, các tổ chức chính trị - xã hội; phân định cụ thể, rõ ràng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, việc tự quản của nhân dân; xây dựng quy chế làm việc và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc; xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng; đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước; xây dựng cơ chế phản biện xã hội đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể nhân dân trong chống quan liêu.

Thứ năm, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của nhân dân, cán bộ, đảng viên đối với cán bộ, tổ chức đảng, chính quyền mắc bệnh quan liêu; xử lý nghiêm minh những cán bộ, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị mắc bệnh quan liêu gây hậu quả nghiêm trọng, khen thưởng kịp thời các tổ chức và cá nhân có thành tích chống tệ quan liêu. Coi trọng sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về chống quan liêu.

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cấp ủy các cấp, đội ngũ đảng viên về chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Thứ hai, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, thực sự là nơi trực tiếp chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

Thứ năm, mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, trước hết, tự tu dưỡng rèn luyện để tự tránh sa vào những suy thoái nêu trên.

Thứ sáu, đề cao trách nhiệm và có các hình thức, phương pháp hiệu quả để tổ chức, động viên nhân dân tham gia chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái trong cán bộ, đảng viên, trước hết ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống “lợi ích nhóm”

Một là, nâng cao chất lượng việc xây dựng, thảo luận, quyết định và ban hành các quyết sách chính trị của Đảng, các văn bản pháp luật và dưới luật, hạn chế các kẽ hở pháp luật. Công khai, minh bạch những hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, nhất là về các hoạt động phê duyệt dự án, đề án, đấu thầu các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao chất lượng ngay từ khâu chuẩn bị và hình thành dự thảo các quyết sách chính trị, văn bản pháp luật, dưới luật; dân chủ thảo luận, lấy ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng, các nhà khoa học và nhân dân. Thực hiện nghiêm quy trình thảo luận các văn bản đó. Chỉ đạo chặt chẽ việc cụ thể hóa các văn bản, vì đây là khâu dễ xuất hiện các sơ hở để lợi dụng, hình thành và phát triển “lợi ích nhóm”.

Quan tâm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu của cấp ủy, chính quyền các cấp nhằm chống lại việc lợi dụng sơ sở trong các quyết sách chính trị, pháp luật.

Hai là, tiếp tục thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, duy trì thành nền nếp thường xuyên việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ba là, xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thực hiện làm việc và quyết định mọi vấn đề theo nguyên tắc tập thể, dân chủ, quyết định theo đa số; gắn chặt quyền hạn với trách nhiệm của các bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt...

Bốn là, thực hiện đồng bộ các giải pháp đối với công tác cán bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp, nhất là về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần cảnh giác trước các thủ đoạn của các phần tử xấu.

Năm là, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.

Tập trung nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, cán bộ và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhất là về giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức. Thực hiện nghiêm quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội. Coi trọng việc tham gia giám sát trực tiếp của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức và đảng viên.

Sáu là, tăng cường hoạt động của các cơ quan kiểm tra của cấp ủy, thanh tra Nhà nước và các cơ quan tư pháp để điều tra, xác minh và xử lý nghiêm minh, kịp thời theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước những cán bộ, đảng viên sa vào “lợi ích nhóm”.

Phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 

 Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thông qua các phương tiện truyền thông, các thế lực phản động thiếu thiện chí, thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị đã tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, qua đó hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ. Bài viết phân tích, luận giải và phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng được đề cập trong các văn kiện của Đảng như: Cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, là cơ sở chính trị trong công tác phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các bộ luật, luật, nghị định, thông tư..., tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần hoàn thiện từng bước cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được người dân đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật trên 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Mặc dù vậy, kết quả đấu tranh chống tham nhũng cũng là chủ đề mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ nhằm thực hiện các mưu đồ “diễn biến hòa bình”. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, như:

Chúng xuyên tạc rằng: Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xử theo lệnh của Đảng không thể chống được tham nhũng. Hoặc bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đẻ ra tham nhũng này đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng; bởi không bao giờ đốt hết được cả(2).

Nghiên cứu về tham nhũng cho thấy, khi nào xã hội còn tư hữu và tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, các giai cấp khác nhau thì tham nhũng còn xuất hiện, tồn tại ở những mức độ và tính chất nhất định. Ở đâu có quyền lực, có tổ chức nhà nước mà bị tha hóa, không kiểm soát được quyền lực, minh bạch hoạt động thì nguy cơ tham nhũng đều có thể xảy ra. Do đó, dù là hình thức nhà nước nào, thể chế chính trị nào, tham nhũng đều tồn tại. Thực tế, tham nhũng có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và các nước đều đặc biệt quan tâm tìm cách thức để phòng ngừa, xây dựng thiết chế ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi.

Việt Nam đã chuyển từ mô hình nhà nước tập quyền XHCN sang mô hình nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là bước đổi mới trong tư duy lý luận về xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước của Đảng. Sự đổi mới này dựa trên nhận thức đúng đắn về những hạn chế của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trước đây cũng như những giá trị đã được thừa nhận chung của nhân loại về nhà nước pháp quyền. Đảng đã tiếp thu chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại về nhà nước pháp quyền và quản trị nhà nước hiện đại. Việc lựa chọn mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước XHCN, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và những giá trị tiến bộ, phù hợp với lý luận về nhà nước pháp quyền của nhân loại. Về tổ chức quyền lực nhà nước, chúng ta chủ trương tổ chức theo nguyên tắc: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Điều này hoàn toàn phù hợp với thể chế chính trị của nước ta và đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

Luận điệu cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam” là một sự quy chụp, xuyên tạc, vô căn cứ. Nhà nước pháp quyền XHCN là thống nhất, trong đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân cấp, phân quyền với chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Tòa án xét xử dựa trên hành vi, chứng cứ phạm tội, chứ không phải “xét xử theo lệnh của Đảng” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực chất luận điệu xuyên tạc này nhằm tuyên truyền, cổ xúy cho nhà nước tam quyền phân lập.

Trong khi Đảng và Nhà nước thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì các thế lực thù địch lại đưa ra những giọng điệu xuyên tạc rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, “là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam”(3).

Việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tất yếu, khách quan, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn rõ ràng và đầy đủ. Bởi lẽ, việc không kiểm soát được quyền lực sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, sự “tha hóa quyền lực” và sự lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ thường đi liền với tham nhũng. Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XIV, nhiều đại biểu đã chỉ rõ: Phòng, chống tham nhũng trong tuyển dụng công chức, bổ nhiệm cán bộ rất khó, nhưng đây lại là “nguyên nhân mấu chốt” và tham nhũng cũng từ đây mà ra. Đặc biệt, tham nhũng trong công tác cán bộ là dạng tham nhũng phổ biến nhất và cũng khó chống nhất. Dạng tham nhũng này vô cùng nguy hiểm, nó có thể phá hoại đường lối, chiến lược của Đảng về công tác cán bộ, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Nếu không có giải pháp kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng hữu hiệu thì hệ quả sẽ hết sức nghiêm trọng, sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục ruỗng hệ thống chính trị, thậm chí đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã xác định: kiểm soát chặt chẽ quyền lực là một nội dung trọng tâm, khâu đột phá trong công tác cán bộ. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, cơ chế kiểm soát quyền lực đối với những cán bộ có chức, có quyền phải được thực hiện với sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vai trò giám sát và phản biện xã hội của các đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân. Nghị quyết yêu cầu: “mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ”.

Công tác phòng, chống tham nhũng không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Với quan điểm rõ ràng, cụ thể đó, luận điệu: “Phòng chống tham nhũng đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”... là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ.

Việc xử lý cán bộ, công chức, đảng viên tham nhũng, vi phạm pháp luật là hết sức cần thiết, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Phương châm phòng, chống tham nhũng mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, hay bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng; tạo bước chuyển biến rõ rệt nhằm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.

Quy định về xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, đã xem xét cả đơn thư nặc danh, như vậy, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh phòng, chống tham nhũng hoàn toàn không phải là cuộc thanh trừng nội bộ, gây mất đoàn kết, mà nhằm bảo đảm lợi ích nhân dân, giữ vững sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ XHCN.

Trên không gian mạng, các thế lực phản động ra sức tuyên truyền rằng: “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do một đảng lãnh đạo, đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”(5). Thực tế, chúng muốn lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời, cổ xúy cho tham nhũng, lợi ích nhóm. Chúng xuyên tạc nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm suy giảm ý chí, lòng tin của nhân dân; giảm ý nghĩa thắng lợi công cuộc phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân do chưa hiểu đúng, hiểu rõ về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước nên hoài nghi, có những phát ngôn lệch lạc, làm ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay.

Phòng, chống tham nhũng là vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ, do đó là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, vì lợi ích của Đảng, của đất nước và mỗi người dân. Đây là “mặt trận” phức tạp, gay gắt, quyết liệt, trực tiếp đấu tranh với sự chống đối “vô hình” của những người đi ngược lại lợi ích chung của Đảng và đất nước. Nhận thức rõ nguy cơ tham nhũng, Đảng ta đã đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống, tham nhũng, gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Nhà nước đã ban hành nhiều đạo luật để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Bộ luật Hình sự,... Thí dụ, cụ thể hóa quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có hạ cánh an toàn...”, Bộ luật Hình sự Việt Nam đã quy định không có thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm tham nhũng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cất lên những tiếng nói lạc lõng, cố tình xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch vấn đề, định hướng dư luận với mục đích xấu. Do đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi đó, giữ vững quyết tâm cao trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi và không còn cơ hội để tồn tại. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc hoạt động ngoại giao của Việt Nam

 

Nhân chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đến Cuba từ ngày 18-21/9/2021 và tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao khóa 76 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ), một số đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng mạng xã hội đăng tải các bài viết nhằm xuyên tạc, hạ thấp vai trò của chuyến thăm, cho rằng lãnh đạo Nhà nước đi “van nài” Cuba và quốc tế hỗ trợ vắc xin trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Vậy thực hư của vấn đề này như thế nào?

Thứ nhất, phải khẳng định ngay chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng ta được xác định tại Đại hội XIII: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp, khó lường, Đảng ta xác định cần phải đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, xem trọng mối quan hệ với các nước láng giềng, đối tác bạn bè truyền thống. Chuyến thăm chính thức Cuba thể hiện chủ trương thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với các đối tác ưu tiên, các nước bạn bè truyền thống. Là dịp để Việt Nam khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Cuba trong giai đoạn nhiều thách thức; thể hiện rõ bản sắc ngoại giao chân tình, thủy chung của Việt Nam với các nước bạn bè, anh em; chuyến thăm của đoàn đại biểu cấp cao nước ta càng có ý nghĩa đặc biệt khi đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn, ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động trao đổi cấp cao trực tiếp gần hai năm qua.

Thứ hai, chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đến Cuba là sự tiếp nối mối quan hệ truyền thống anh em giữa hai nước, như lời của cố Chủ tịch Fidel Castro, lãnh tụ cách mạng Cuba đã nhận xét: quan hệ Việt Nam - Cuba là quan hệ mẫu mực trong thế giới hiện đại. Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Cuba luôn là chỗ dựa cả về tinh thần lẫn vật chất cho Việt Nam, ủng hộ Việt Nam như ủng hộ chính sự nghiệp của Cuba, dành hết tất cả những gì quý báu nhất mà Việt Nam cần, Cuba luôn sẵn sàng. Điều này được thể hiện qua câu nói bất hủ “Vì Việt Nam, Cuba luôn sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Trong điều kiện hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 gây ra những khó khăn to lớn cho Nhân dân hai nước, mối quan hệ đoàn kết gắn bó đó lại được khẳng định trong gian khổ, thật cảm động khi nước bạn vẫn đang trong hoàn cảnh khó khăn, tỷ lệ tiêm chủng vẫn chưa cao thì những người bạn Cuba nói rằng “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng chia sẻ vắc xin của mình”, đáp lại tình cảm chân thành đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định “Quan hệ Việt Nam - Cuba là tài sản vô giá của hai đảng, hai dân tộc. Đó là tình đồng chí, tình anh em trường tồn, là cầu nối từ trái tim tới trái tim”. Việt Nam và Cuba dù xa xôi cách trở và còn nhiều khó khăn. Nhưng dù thế nào, hai nước vẫn luôn kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi. Việt Nam làm tất cả những gì có thể, bằng cả trái tim của mình để góp một phần nhỏ bé cùng Cuba vượt qua thử thách. Việt Nam đã dành cho nhân dân Cuba những món quà quý giá với hơn 6000 tấn gạo, 100 tấn ngô lai và nhiều trang thiết bị, vật tư y tế, thể hiện sự chia ngọt, sẻ bùi, cùng bạn vượt qua đại dịch. Việt Nam - Cuba đến với nhau trong hoạn nạn, tất cả những điều đó đã vượt qua mối quan hệ bang giao thông thường, chỉ có thể mô tả bằng tình cảm hữu nghị anh em đặc biệt.

Thứ ba, việc tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng LHQ khóa 76 và trao đổi với các lãnh đạo cao nhất của LHQ là dịp để Việt Nam gửi đi thông điệp mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam tự cường, có khát vọng và tầm nhìn phát triển, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở, đã, đang và tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, và cũng tại diễn đàn quan trọng này Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định tình đoàn kết với Nhân dân Cuba khi lên án chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, cũng như ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Palestine. Cuối cùng, việc tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng LHQ khóa 76 của Chủ tich nước Nguyễn Xuân Phúc cũng là cơ hội để nước ta gửi lời tri ân đến các nước trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021, đó cũng là thể hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc, tô thắm thêm hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trọn tình vẹn nghĩa.

Chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, khẳng định vị thế uy tín của nước ta trên trường quốc tế, nắm chắc đường lối của Đảng, hiểu về mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam-Cuba sẽ là cơ sở, tiền đề để mỗi người nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Ngăn group chat thành “thiên đường” phát tán tin giả

 

Cùng với sự phát triển của mạng xã hội cũng như những ứng dụng gọi điện, nhắn tin miễn phí như Zalo, Viber… là sự ra đời của những group chat (nhóm những người trong cùng một nền tảng ứng dụng có thể tương tác và trò chuyện với nhau).


Gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, khi nhiều địa phương phải giãn cách xã hội nghiêm ngặt, ai ở đâu thì ở yên đó, hình thức giao tiếp thông qua group chat càng bùng nổ. Hiện nay, việc một cá nhân sở hữu từ vài nhóm đến hàng chục, thậm chí hàng trăm group chat khắp các ứng dụng là chuyện bình thường. Có group chat chỉ vài người nhưng cũng có group chat đến hàng chục, hàng ngàn người, nhất là trong những cộng đồng dân cư tập trung như khu chung cư.

Bên cạnh rất nhiều ưu điểm như tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết tình nghĩa cộng đồng khu dân cư…, những group chat nói trên cũng trở thành “thiên đường” để phát tán, lan truyền những tin tức giả, độc hại. Nói không ngoa, group chat đã trở thành những “xóm nhà lá” thời 4.0. Qua lan truyền người này sang người kia, từ nhóm này đến nhóm kia theo dạng “nghe nói”, “nghe đồn”, từ một thông tin không rõ nguồn gốc, dần dà trở thành những cơn “địa chấn” dẫn dắt cảm xúc, gây hoang mang, thậm chí phẫn nộ trong cộng đồng.

Những ngày qua, nhan nhản những tin nhắn hoặc hình ảnh chụp màn hình một tin nhắn nào đó đại loại “người nhà đang ở ABC cho biết chuyện XYZ (đa phần đều mang tính tiêu cực hoặc mang tính cảnh báo nguy hiểm không đúng sự thật) được gửi tràn lan trong các group chat như thế. Quản trị viên một nhóm cư dân trên ứng dụng Zalo tại một khu căn hộ cho biết, mặc dù đã đưa vào nội quy và thường xuyên nhắc đi nhắc lại nhưng mỗi ngày anh xóa không biết bao nhiêu những tin nhắn lan truyền không có kiểm chứng như thế từ cư dân. Điều nguy hiểm là dạng lan truyền này tạo nên ảnh hưởng rất lớn bởi được chia sẻ từ những mối quan hệ quen biết thân tình nên thường tạo ra sự tin cậy rất cao.

Do vậy, dù mức độ ảnh hưởng không hề kém việc phát tán, lan truyền trên các trang mạng xã hội nhưng việc lan truyền, phát tán thông tin, nhất là tin độc hại, tin giả trong các group chat, rất khó để cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nếu không nói gần như không thể! Do tính khó phát hiện, khó xử lý này mà hình thức group chat hiện đang được không ít phần tử phản động, các hội nhóm mang màu sắc tâm linh sử dụng triệt để nhằm tuyên truyền sai lệch, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Rõ ràng, dù biết rằng với không gian mạng mở vô tận như hiện nay, việc kiểm soát triệt để những thông tin xấu, độc hại phát tán trên các nền tảng mạng xã hội nói chung cũng như group chat nói riêng là rất khó nhưng cũng cần nhận diện một cách nghiêm túc mặt trái của nó để từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả có thể mang đến cho cộng đồng và xã hội. Đặc biệt, ý thức của mỗi cá nhân chính là “phòng tuyến” cực kỳ quan trọng trước vấn nạn tin giả, tin độc hại ngày càng tràn lan như hiện nay. Hãy tỉnh táo và có trách nhiệm trước mỗi thông tin muốn chia sẻ. Đừng lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là những thông tin góp phần gây hoang mang, hoảng loạn cho cộng đồng.

Giữa những ngày cả nước, nhất là TPHCM chúng ta, phải hứng chịu sự tổn thương đến gần như quỵ ngã bởi đại dịch Covid-19, hãy lan tỏa cho nhau niềm tin, động lực để cùng nỗ lực vượt qua thời đoạn khắc nghiệt và khốc liệt này.

Cảnh giác quan điểm “liên minh” trong giải quyết tranh chấp chủ quyền

 

Lợi dụng chuyến thăm của phái đoàn cấp cao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 8/2020, đặc biệt là lời tuyên bố của Phó Tổng thống K. Harris về việc Hoa Kỳ mong muốn nâng tầm mối quan hệ đối tác toàn diện hiện nay giữa hai nước lên đối tác chiến lược. Trên mạng xã hội tràn ngập những lời kêu gọi Đảng, Nhà nước ta thiết lập liên minh với Hoa Kỳ, để họ giúp ta bảo vệ chủ quyền, đồng thời lên án chính sách “4 không” về quốc phòng ở nước ta. Các đối tượng cho rằng chính sách “ 4 không” như trên là “tự trói tay chân mình”, đồng thời hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.

Chính sách đối ngoại của Đảng ta là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, với chủ trương nhất quán là “đa dạng hóa và đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Xét về chính sách quốc phòng, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “bốn không”, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự với bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng nói trên là phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử giữ nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được thực hiện xuyên suốt và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn vong của dân tộc. Xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bàn về chính sách quốc phòng của Việt Nam, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ. Về mặt lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường luôn là nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Nội dung đó đã thấm nhuần vào trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tinh thần “tự lực tự cường” trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong buổi đầu tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mặc dù rất khâm phục các sĩ phu yêu nước, nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra những hạn chế trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Như cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật giúp nước ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Do vậy, ý thức tự lực tự cường phải đước đặt lên hàng đầu, xuyên suốt, đặc biệt là trong thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp, lợi ích đan xen như hiện nay.

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn của các khối liên minh và các mối quan hệ liên minh trên thế giới hiện nay. Sự kiện ba nước Mỹ, Úc và Anh công bố quan hệ đối tác 3 bên (AUKUS) đã gây ra những chia rẻ sâu sắc đến với các quốc gia được xem là “đồng minh”. Theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc sở hữu hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Hiệp định AUKUS có nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó ai cũng hiểu là để kiềm chế Trung Quốc là mục tiêu chính. Thế nhưng, không phải Trung Quốc mà Pháp lại đang là nước phản ứng rất mạnh mẽ, bởi một hợp đồng kinh tế hàng chục tỷ đô la của Pháp đã bị “cướp” trắng bởi những đồng minh thân thiết nhất. Ngoại trưởng Drian tuyên bố một cách giận dữ “Việc từ bỏ dự án tàu ngầm... là hành vi không thể chấp nhận được giữa các đồng minh và đối tác". Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là một hợp đồng béo bở bị mất vào phút chót. Đó là việc nước Pháp bị “đâm sau lưng” bởi các quốc gia đồng minh có cùng lợi ích. Từ sự việc trên, có thể thấy mối quan hệ giữa các “đồng minh” cũng sẽ bị lung lay bởi nhiều yếu tố khác. Do vậy, việc hi vọng và đặt hết niềm tin vào “Đồng minh” đó là một canh bạc mạo hiểm, mà hậu quả nhiều khi phải đánh đổi bằng lợi ích, chủ quyền quốc gia dân tộc.

Hay sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough cũng để lại nhiều bài học sâu sắc cho việc giải quyết mối quan hệ với các nước lớn và các tranh chấp. Philippines có Hiệp ước các lực lượng thăm viếng với Mỹ, hiệp định này cho phép hàng ngàn quân Mỹ tới Philippines tập trận, bên cạnh đó là những lời hứa bảo đảm an ninh, chủ quyền cho Philippines, nhưng khi Trung Quốc có hành động xâm chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012, Mỹ không giữ lời hứa gây áp lực buộc Trung Quốc rời khỏi bãi cạn mà làm ngơ để trung Quốc chiếm trọn và Tổng thống Philippines, Duterte đe dọa hủy Hiệp ước với Mỹ và yêu cầu Mỹ giải thích lý do để Philippines “mất lãnh thổ vào tay Trung Quốc”.

Thứ ba, những luận điệu cho rằng có thể dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông có lẽ họ đã quên đi quá khứ cay đắng khi Mỹ đã cố ý phớt lờ để mặc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Ngoại trưởng Mỹ Kissinger khi đó đã lật lọng tuyên bố “Mỹ không có lập trường trong việc tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”. Bản chất của chủ nghĩa đế quốc sẽ không bao giờ thay đổi dù được che lấp bởi nhiều mỹ từ, hay biểu hiện ở hình thức này hay hình thức khác.

Bàn về mối quan hệ giữa các nước, Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng nói: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Quan điểm đó gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ nghiêm túc về đường lối ngoại giao giữa các nước trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, hai nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, gần đây là quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, không vì vậy mà khi quan hệ với Mỹ, chúng ta mơ hồ, ảo tưởng, dựa dẫm. Trên các diễn đàn quốc tế có vẻ như Mỹ có thái độ ủng hộ Việt Nam, tuy nhiên phải hiểu đây chiến thuật trong quan hệ ngoại giao mà thôi. Mỹ vẫn đang nuôi dưỡng và cưu mang những đối tượng phản động gốc Việt tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, chúng ta cần xây dựng bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, không dao động trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, tin tưởng tuyệt đối vào chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước.

Chủ động đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Diễn biến hòa bình” là chiến lược phản động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Để đạt được mục tiêu trên, các thế lực thù địch đã sử dụng những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực tư tưởng văn hóa được coi là mũi nhọn mà chúng đã và đang tập trung chống phá quyết liệt.


Chúng đẩy mạnh tuyên truyền những luận điệu nhằm phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Thâm độc hơn, chúng ra sức truyền bá văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy cho lối sống thực dụng, sùng bái văn hóa ngoại lai nhằm làm phai nhạt truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc và băng hoại đạo đức xã hội.
Đối với Quân đội, chúng đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc lịch sử truyền thống và bản chất cách mạng của Quân đội ta, bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội với Nhân dân. Chúng rêu rao và cổ xúy cho luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu và lý tưởng chiến đấu cao cả của mình.

Những âm mưu, thủ đoạn thâm độc trên nếu để len lỏi vào từng đơn vị cơ sở trong Quân đội có thể dẫn tới những hệ lụy hết sức nguy hại như: cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở dao động tư tưởng, thoái thác nhiệm vụ; không chịu học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ; nói xấu cấp trên, bôi nhọ cấp dưới, nói một đằng, làm một nẻo, gây mất đoàn kết; học theo lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, tâm lý hưởng thụ; ở mức độ cao hơn, đó là biểu hiện nghe và tin theo thông tin sai trái, phản động, chống đối tổ chức, nói xấu chế độ.
Chính vì thế, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Quân đội nói chung và từng đơn vị cơ sở nói riêng cần phải xây dựng được “tấm khiên an toàn” và tìm ra được “phương thuốc đặc trị” nhằm đấu tranh ngăn ngừa và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tác động của “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở đơn vị cơ sở, các cơ quan, đơn vị cần quan tâm cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp như sau:

Thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, trọng tâm là giáo dục về chính trị tư tưởng nhằm nâng cao bản lĩnh, củng cố niềm tin, lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Tích cực tuyên truyền đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng. Thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ trong đơn vị; rà soát, kiểm soát, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các biểu hiện tư tưởng lệch lạc, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức ở đơn vị cơ sở trong việc nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả những luận điệu chống phá của các thế lực phản động nhằm đảm bảo ổn định về chính trị tư tưởng trong đơn vị.
Phát huy vai trò nêu gương, nhân rộng cách làm hay, sáng tạo và coi trọng việc rút kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống tác động của “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở đơn vị cơ sở. Các cơ quan, đơn vị cần nhân rộng những cách làm hay, sáng tạo trong giải quyết tư tưởng bộ đội, tiếp tục vận dụng thực hiện tốt “5 chủ động” trong tiến hành công tác tư tưởng, đó là: chủ động “dự báo”, chủ động “nắm bắt”, chủ động “ngăn ngừa” tư tưởng lệch lạc, chủ động “giải quyết và xử lý” và chủ động “đấu tranh” về tư tưởng; đẩy mạnh thực hiện mô hình đơn vị điểm, mẫu mực, tiêu biểu về “xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh”.

Chữa “bệnh” xa dân

 

 

Gắn bó mật thiết với nhân dân là phẩm chất cốt lõi thể hiện bản chất, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành.

Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng

 

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Tự phê bình và phê bình - "vũ khí" sắc bén

 


Nguyên tắc tự phê bình và phê bình (TPB&PB) được đưa vào Điều lệ Đảng từ Đại hội II của Đảng năm 1951.

“Pháp bảo” của đội tiên phong

 

 

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng ta, là một trong những nội dung chủ yếu quy định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Giáo sư Bùi Phan Kỳ từng ví nguyên tắc này như là “pháp bảo” của Đảng để loại bỏ các khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chẳng những các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tấn công mà ngay trong nội bộ của Đảng, một số đảng viên, trong đó có cả những người từng là lãnh đạo cấp cao đặt vấn đề đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Một bộ phận đảng viên, tuy thừa nhận nguyên tắc nhưng thực tế sinh hoạt lại vi phạm nguyên tắc.

Công tác kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

 

 

Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Kiên định đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa

 

 

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bản chất của cái gọi là “Quốc gia hóa Quân đội”

 

Cùng với việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được xác định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang ra sức truyền bá quan điểm đòi “quốc gia hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, cho rằng: “Quân đội bao giờ cũng là của quốc gia, không phải là của một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”, “Quân đội chỉ trung thành với Hiến pháp” và yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây... Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận về quan điểm này, cho rằng đã có lúc quân đội ta là “Quân đội quốc gia”. 

Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. 

Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1). 

Ở các nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, các đảng có thể cầm quyền về thực chất là những hình thái tổ chức khác nhau đại diện cho các “tập đoàn lợi ích” khác nhau của giai cấp tư sản. Thực tiễn cho thấy, ở các nước tư bản, các đảng phái có thể thay nhau cầm quyền, song bộ máy Nhà nước cũng như quân đội đều được tổ chức và hoạt động theo thể chế chính trị của xã hội tư bản, đều phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Quân đội tư sản không chỉ được sử dụng để bảo vệ lợi ích quốc gia, mà còn để đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động bị áp bức. Hiện ở Mỹ có “quân đội tư nhân” lớn nhất thế giới là đội quân đánh thuê của Công ty Blackwater do tỷ phú Erick Prince lập ra, với quân số hàng trăm ngàn, có cả máy bay, tàu chiến và vũ khí hạng nặng, được coi là lực lượng thiện chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và có “khả năng lật đổ” nhiều chính phủ trên thế giới. Tuy nhân danh là “Bảo vệ lợi ích và giá trị Mỹ”, nhưng về thực chất, hoạt động của đội quân đó do các ông trùm tư bản điều khiển và bảo vệ thể chế chính trị của xã hội tư bản. 

Cách mạng Tháng Mười năm 1917 là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN, gắn liền với sự ra đời của quân đội kiểu mới - quân đội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V. I. Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới. 

Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những thuộc tính bản chất của quân đội kiểu mới được thể hiện tập trung rõ nét ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH; ở chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; ở cơ sở chính trị-xã hội luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy mang tính cách mạng và khoa học; trong đó vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với bản chất và sức mạnh chiến đấu của quân đội là nguyên tắc và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 

Đúng là có lúc Đảng ta rút vào hoạt động bí mật, trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện kế sách nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, BCHTW Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy để tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (lúc đó là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.

Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.

Sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và phải trả ngay những giá rất đắt nếu ngộ nhận về quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết cho chúng ta bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, đáng chú ý là khi ông M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Chỉ trong khoảng hai năm từ 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do “tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ”(!). Chính Nguyên soái Sa-pô-xni-cốp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng đã trực tiếp tham gia khởi xướng và thực thi việc “phi đảng hóa” Quân đội Liên Xô. Ngày 23-8-1991, ông ta đã trở cờ, tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và tiếp đó buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng. Ngày 29-8-1991, M.Goóc-ba-chốp ra lệnh giải tán các cơ quan chính trị và từ 1-9-1991 chấm dứt mọi hoạt động của Đảng trong Quân đội Liên Xô. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.

Từ những bài học sâu sắc được đúc kết trong thực tiễn, trước những diễn biến phức tạp của tình hình và sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, với bản lĩnh và trí tuệ được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong đấu tranh cách mạng, chúng ta không thể chấp nhận quan điểm “quốc gia hóa quân đội”; trái lại càng phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đây là một vấn đề chiến lược và mang tính cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước và sự sống còn của chế độ XHCN.

 

NGƯỜI DÂN CẦN TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG BỘ PHIM TRUYỀN HÌNH CỦA TRUNG QUỐC

 



Những ngày qua, sau khi mạng xã hội Baidu của Trung Quốc công chiếu trailer phim “Quân đội Vương Bài” và đặc biệt là đoạn “quảng cáo” mang tính xuyên tạc lịch sử về cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta, chúng biến họ từ một kẻ đi xâm lược thành người bị xâm lược và phải đứng lên tự vệ. Những nội dung đó đã xuyên tạc hoàn toàn lịch sử, gây bất bình trong quần chúng nhân dân những ngày vừa qua.

Theo như phần quảng cáo cho bộ phim “Quân đội Vương Bài” thì: “Phim Vương Bài lấy bối cảnh phim là những năm 1980, khi lực lượng quân sự của Việt Nam mạnh lên không ngừng, họ cũng bắt đầu có ý nghĩ xấu đối với lãnh thổ của Trung Quốc và phát động một loạt cuộc quấy rối và xâm phạm biên giới của Trung Quốc…”, cho thấy, rõ ràng bộ phim này là một kiểu “tuyên truyền tâm lý chiến”, xuyên tạc lịch sử và xâm phạm trực tiếp đến “thể diện” quốc gia của chúng ta. Đây không còn là ý đồ mà là một chiến lược “thực thi quyền lực mềm văn hoá” rất quen thuộc của Trung Quốc đối với các quốc gia khác. Nói thẳng, bộ phim “Quân đội Vương Bài” là một sự “dựng chuyện” có mục đích lợi ích quốc gia rõ ràng của nhà sản xuất phim Trung Quốc. Điều này là không thể chấp nhận được.

Trước Quân đội vương bài, hàng loạt phim Trung Quốc đã góp phần quảng bá cho sức mạnh của Trung Quốc, khiến dư luận phẫn nộ vì cài cắm " đường lưỡi bò", vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam như các bộ phim “Nhất sinh nhất thế”, “Em là niềm kiêu hãnh của anh”, “Em là thành trì doanh lũy của anh”, “Lấy danh nghĩa người nhà”, “Gửi thời thành xuân ấm áp của chúng ta”, “Everest – Người tuyết bé nhỏ” và nhiều bộ phim khác. Những bộ phim này nếu không được cấm chiếu tại Việt Nam thì đây sẽ là hình thức truyền bá “đường lưỡi bò” của Trung Quốc rất hiệu quả.

Bên cạnh nhiều luồn dư luận chỉ trích những bộ phim xuyên tạc lịch sử, chủ quyền của đất nước ta thì vẫn còn nhiều bạn trẻ là fan cuồng của những diễn viên nổi tiếng tham gia đóng phim vẫn đứng ra ủng hộ thần tượng, ủng hộ bộ phim. Đối với những bạn trẻ này thì việc ủng hộ diễn viên thần tượng tham gia phim là dễ hiểu nhưng những thông điệp của bộ phim cần phải chấm dứt vì chúng rất nhạy cảm, xuyên tạc trắng trợn lịch sử và có thể tác động rất lớn tới nhận thức của thế hệ trẻ.

Việc Trung Quốc cho sản xuất và phát hành những bộ phim trên không có gì là xa lạ với chiến lược tuyên truyền của họ. Còn đối với chúng ta thì những bộ phim xuyên tạc lịch sử, thực hiện chiến lược tuyên truyền cho chính sách “bá quyền” như “Quân đội Vương Bài” cần bị cấm chiếu ở tất cả các nền tảng xã hội, cũng như ở tất cả các quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần có kiến nghị lên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để có phương án ngăn chặn “kịp thời”.

Còn với khán giả Việt Nam, việc lựa chọn tiếng nói “phản bác” lại luận điệu tuyên truyền của bộ phim trên cũng chính là thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước. Ngoài việc báo cáo lên nhà cung cấp các nền tảng xã hội, việc không xem bộ phim trên cũng là cách chúng ta không để lọt loại “virus văn hoá độc hại” này xâm nhập và lây lan sâu trong “bầu khí quyển lịch sử trong lành” của chúng ta. Chúng ta không cần và không nên vì “lợi ích ngoại giao hình thức” mà làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, sự tự tôn dân tộc. Độc lập chủ quyền và thể diện quốc gia là những điều bất khả xâm phạm.

Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường sản xuất những bộ phim phản ánh trung thực lịch sử về các cuộc chiến tranh mà nhân dân, đất nước Việt Nam từng chịu nhiều đau thương mới có được. Đây chính là “liều vaccine” hữu hiệu nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, không chỉ trên thực tế mà còn là ở trong “lập trường tư tưởng”, trong sự kiên định chân lý đối với lợi ích quốc gia, tự hào dân tộc. Độc lập chủ quyền và toàn vẹn đất nước không chỉ có ở trên lãnh thổ, mà độc lập chủ quyền và toàn vẹn đất nước còn nằm ở “không phận” văn hoá. Mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức, cảnh giác và lên án trước âm mưu sử dụng các sản phẩm điện ảnh để xuyên tạc lịch sử, truyền bá văn hóa xấu, độc của Trung Quốc để bảo vệ nên văn hóa, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ mà ông cha ta đã mất bao sương máu để bảo vệ.

 

SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN

 

Một trong những bài học xương máu sau chính biến ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là việc giữ được niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng Cộng sản. Vì vậy, giáo dục niềm tin đã trở thành một biện pháp quan trọng nhằm góp phần xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.


Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để lại cho chúng ta một bài học xương máu: “Mất niềm tin là mất tất cả”. Chính vì mất niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng cộng sản và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ sau một đêm, toàn bộ thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị xóa sạch ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Hậu quả của nó thật khủng khiếp: Đảng cộng sản bị giải tán, đất nước rơi vào khủng hoảng mất phương hướng. Nhớ lại tấn bi kịch này, nhiều chính khách và nhiều trí thức lớn ở Nga đã bày tỏ sự thất vọng và họ tự thấy ấy ân hận, mắc tội về sự tan rã của Liên Xô.


Những biến động đổ vỡ trên đây đã ảnh hưởng rất lớn đến bối cảnh chính trị toàn cầu, trong đó có Việt Nam, khiến cho không ít người rơi vào hoang mang, dao động. Tuy nhiên, vượt lên mọi sóng gió, với chủ trương đổi mới đúng đắn, được sự ủng hộ của nhân dân, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Song, những bài học đau đớn của lịch sử vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở những người cộng sản Việt Nam không được ngủ quên trong chiến thắng. Bên ngoài, các thế lực thù địch chưa hề từ bỏ mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện “diễn biến hòa bình”, kích động lật đổ. Trong nước, một bộ phận không nhỏ đảng viên có biểu hiện suy thoái, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nhận thức được những nguy cơ làm “chệch hướng”, “đổi màu”, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VII Đảng ta đã đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Mục đích quan trọng nhất của chỉnh đốn Đảng là làm trong sạch Đảng, tăng cường sức mạnh của Đảng và lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, coi sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng là sự nghiệp cách mạng của nhân dân, thấu triệt nguyên tắc: do dân và vì dân. Từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta nhận thức một cách sâu sắc rằng, sự thành bại của sự nghiệp cách mạng luôn luôn gắn liền với niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn dân tin Đảng, Đảng phải coi lợi ích của nhân dân, của đất nước là mục tiêu phấn đấu của mình.


Niềm tin là một phạm trù triết học và là đối tượng nghiên cứu của thần học. Trong Ki-tô giáo, niềm tin gắn liền với ý Chúa và thiên đường. Trong Phật giáo, niềm tin gắn với sức mạnh và sự che chở của Đức Phật toàn năng. Trong tín ngưỡng, niềm tin gắn với sức mạnh siêu nhiên giúp con người vượt lên sợ hãi, đẩy lùi tai họa, hướng tới an yên. Cho dù mỗi tôn giáo, tín ngưỡng có những cách tạo dựng niềm tin riêng, nhưng điểm chung là hướng con người về những niềm tin hư ảo. Tuy nhiên, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, niềm tin tôn giáo vẫn tồn tại bởi trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với nhiều trớ trêu, nghịch cảnh, và niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên chính là nơi con người bấu víu để vượt qua tâm lý sợ hãi, bất lực. Về bản chất, đó là thứ niềm tin mang tính chủ quan, không có cơ sở thực tiễn và không được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Trái ngược với niềm tin tôn giáo, triết học Mác  - Lê-nin đề cao lý tính, coi trọng thực tiễn, coi tri thức của con người là nhân tố cơ bản của niềm tin. Niềm tin ấy có tính khách quan vì đó là niềm tin gắn liền với quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Bởi thế, niềm tin trong triết học Mác khác hẳn với niềm tin tôn giáo. Vì xuất phát từ thực tiễn, được tạo dựng từ thực tiễn nên niềm tin mác-xít gắn liền với lý tưởng cao đẹp và mang tính hiện thực. Nó khác với thái độ cuồng tín, bất chấp thực tiễn. Bản chất của nó là dù gặp phải bất cứ gian nan nguy hiểm nào, vẫn kiên định phấn đấu, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng đã chọn lựa. Vì thế, niềm tin luôn gắn với lý tưởng, trở thành niềm tin lý tưởng. Lý tưởng ở đây là lý tưởng cách mạng, gắn liền với đấu tranh vì hạnh phúc của con người. Niềm tin lý tưởng, trong điều kiện lịch sử cụ thể, chuyển hóa thành niềm tin đối với người lãnh đạo, tổ chức lãnh đạo và học thuyết cách mạng. Đó phải là học thuyết cách mạng nhất và nhân văn nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, muốn giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, trước hết phải tìm thấy lý tưởng và kim chỉ nam hành động. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, tại Pa-ri, Người đã tìm thấy con đường ấy khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề giải phóng dân tộc và thuộc địa. Người cho rằng, muốn làm cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng chân chính nắm vai trò lãnh đạo. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.


Thực tiễn gần 90 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy,  Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự đã quy tụ được niềm tin của giai cấp công nhân, của nhân dân Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân hết sức quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Tất nhiên, để đạt được những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, hướng tới một xã hội tốt đẹp, không có bóc lột, áp bức, bất công là một quá trình hết sức lâu dài và gian khổ. Con đường ấy không bao giờ bằng phẳng mà khúc khuỷu, gập ghềnh. Muốn hoàn thành sứ mệnh của mình, chủ nghĩa xã hội phải thường xuyên tự đổi mới, tự phát triển, tự hoàn thiện;  và với tư cách là người tổ chức, dẫn đường, Đảng phải luôn là người tiên phong, chiếm được niềm tin tuyệt đối của nhân dân, lãnh đạo cách mạng vận hành theo quy luật khách quan. Ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, khi chủ nghĩa xã hội thoái trào thì mỗi đảng viên phải là một tấm gương sáng, kiên định lập trường, giữ vững niềm tin cách mạng. Chỉ có như thế nhân dân mới thực sự tin Đảng.


Nhìn lại lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong gần chín thập niên qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là Đảng tin dân và dân tin Đảng. Trong những năm đất nước nằm dưới ách nô lệ, dân chính là người che chở, bảo vệ Đảng bởi tin rằng, Đảng là người sẽ đưa dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ cách mạng đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng non sông đất nước. Và niềm tin ấy cũng là tiền đề quan trọng để cả nước bắt tay xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Niềm tin của quần chúng nhân dân dành cho Đảng biểu hiện hết sức cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, trong sản xuất, chiến đấu, trong khó khăn, hoạn nạn... Nó được biểu hiện qua các mối quan hệ gần gũi, tin cậy lẫn nhau, trong đó người đảng viên luôn chiếm được tình cảm quý mến, trân trọng của nhân dân. Đặc biệt, vẻ đẹp và sức mạnh của niềm tin lý tưởng được thể hiện hết sức tập trung và sinh động trong văn học, nghệ thuật. Người chiến sĩ cộng sản với tinh thần sẵn sàng xả thân cho lý tưởng, dám quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với người dân Việt Nam trong suốt hơn một thế kỷ qua. Mối quan hệ giữa dân với Đảng là mối quan hệ cá - nước, gắn bó bền chặt thành “ý Đảng lòng dân”.


Có thể nói, mọi vẻ đẹp cao cả nhất của người cộng sản chân chính được kết tụ rõ nét nhất trong hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người trở thành niềm cảm hứng bất tận cho âm nhạc, văn học, mỹ thuật, hội họa, kiến trúc,... Hình tượng người cộng sản Hồ Chí Minh trong văn học, nghệ thuật đã đem lại những cảm xúc mạnh mẽ cho công chúng tiếp nhận nghệ thuật, tạo sức lan tỏa lớn trong cộng đồng. Đó là câu chuyện về một huyền thoại giữa đời thường bởi Người lúc nào cũng gần gũi với nhân dân, gắn bó với vận mệnh của dân tộc và nhân dân.


Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới với cả những thuận lợi lớn, thách thức lớn. Về khách quan, tình hình chính trị thế giới vẫn biến động hết sức phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chia rẽ sự đoàn kết thống nhất giữa dân với Đảng. Về chủ quan, thực tiễn đổi mới xuất hiện nhiều vấn đề mới, trong đó đáng chú ý là vấn đề đổi mới thể chế và phương thức lãnh đạo của Đảng, vấn đề mối quan hệ giữa Đảng với dân. Trong các nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng hiện nay Đảng ta đã chỉ rõ nhiều nguy cơ, trong đó, đáng chú ý là nguy cơ “nội xâm” mà biểu hiện của nó là tệ tham nhũng, quan liêu, vô cảm, xa dân... Gần đây, hiện tượng “lợi ích nhóm”, thậm chí là sự manh nha của loại tư bản thân hữu đã được cảnh báo. Đây là nguy cơ từ bên trong, rất nguy hiểm, trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nó rất dễ làm chệch hướng cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước nếu không sớm bị phát hiện và kiên quyết loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: giành độc lập cho nước mà không đem lại hạnh phúc cho dân thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nguy cơ “nội xâm” sẽ là nguy cơ tạo sự bất ổn từ bên trong, từng bước làm suy yếu và tan rã Đảng Cộng sản, cuối cùng là “đổi màu” chế độ, đưa đất nước rơi vào khủng hoảng, sụp đổ.


Trong bối cảnh lịch sử hiện nay, sự phát triển ở Việt Nam đương đại là sự thay đổi mang tính bước ngoặt, vì thế, về văn hóa phát triển, đòi hỏi Việt Nam phải giải quyết hợp lý hàng loạt vấn đề: mối tương quan giữa giá trị mới và giá trị cũ, giữa văn hóa dân tộc và sự ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, giữa lý tưởng và hiện thực, giữa cống hiến và hưởng thụ... Tất cả những vấn đề trên đây có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức, định hướng giá trị, hành vi, lối sống của cá nhân và cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Đối mặt với những thay đổi này, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động thích ứng với bối cảnh mới của thời đại, xây dựng hệ giá trị mới mang bản sắc Việt Nam, làm sao để mỗi người Việt Nam đều mang trong mình khát vọng cống hiến cho sự phát triển của đất nước, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới. Việc trau dồi lý tưởng sống tốt đẹp sẽ giúp cho mọi người có định hướng đúng đắn trong quá trình nhận thức các giá trị và hoàn thiện bản thân. Coi giáo dục niềm tin là vấn đề quan trọng, chúng ta cần giáo dục cho con người tình yêu quê hương đất nước, giá trị truyền thống của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng; có niềm tin vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Niềm tin lý tưởng của người cách mạng Việt Nam hiện nay chính là niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản. Đây cũng là hai giai đoạn của phát triển mà nhân loại sẽ hướng tới. Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải nhận thức đúng cách mạng Việt Nam đang ở giai đoạn nào thật cụ thể, để từ đó có chiến lược và phương thức phát triển hợp lý, tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Vì đốt cháy giai đoạn thực chất là biểu hiện của duy ý chí, bất chấp thực tiễn lịch sử. Vì thế, cần tránh hai quan niệm thiên lệch: một là, không xác định rõ tình hình hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chứ chưa phải đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta dùng những tiêu chí của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để soi vào thực tiễn hiện nay, từ đó đề ra các chính sách kinh tế, văn hóa quá tầm mức là nóng vội, bất chấp hiện thực lịch sử, hệ thống chính sách sẽ phản tác dụng, làm nhân dân chán nản vì sự không phù hợp giữa chính sách và thực tiễn, giữa mục đích và phương thức; hai là, thấy chủ nghĩa cộng sản là hình ảnh quá xa vời, chưa qua kiểm nghiệm thực tiễn, từ đó chủ trương không cần giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chú trọng những thành quả vật chất có được. Thái độ này tất sẽ dẫn đến tình trạng sùng bái hưởng thụ, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bỏ quên cái lợi lâu dài. Điều đó trước hết đòi hỏi cần phải thay đổi quan niệm về niềm tin và cách tạo dựng niềm tin trên cơ sở đổi mới về tư tưởng, bám sát thực tiễn, quán triệt đường lối của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ. Cương lĩnh của Đảng đã nêu rất rõ về mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mục tiêu trước mắt là tiếp tục cuộc đổi mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thành công những mục tiêu trên, cần phải kiên định niềm tin vào lý tưởng cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Sức thuyết phục của Cương lĩnh và sự đúng đắn trong đường lối đổi mới là ở chỗ luôn gắn với thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Về thực chất, đó cũng chính là sự cụ thể hóa lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Mặt khác, cần phải tỉnh táo nhận thức rằng, chủ nghĩa cộng sản tuyệt nhiên không phải là sản phẩm của một phán đoán giá trị giản đơn mà nó là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã xác định rõ những bước đi cụ thể của cách mạng Việt Nam, và tương ứng với mỗi giai đoạn cụ thể là việc đưa ra chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu của giai đoạn ấy. Chỉ có chiến lược và sách lược phù hợp thì cách mạng mới thành công, còn nếu lầm tưởng rằng nhiệm vụ cụ thể và cương lĩnh trong giai đoạn hiện nay chính là toàn bộ nhiệm vụ và mục tiêu cuối cùng của Đảng, thì đúng như V.  I. Lê-nin nói, chúng ta đang chỉ nhìn thấy lợi ích tạm thời mà hy sinh tương lai của phong trào cách mạng. Một khi nhận thức rõ bản chất của vấn đề, chúng ta mới duy trì được niềm tin vào tương lai lâu dài là chủ nghĩa cộng sản trong quần chúng nhân dân lao động. Chủ nghĩa cộng sản không phải là thiên đường như tôn giáo đã vẽ ra cho các tín đồ mà là sản phẩm do chính con người tạo ra vì hạnh phúc của nhân loại. Vì thế, điều quan trọng là toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ, vừa phải quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa nhận thức được rằng đó mới chỉ là một bước đi trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ để vững niềm tin vào mục đích cuối cùng của cách mạng chính là chủ nghĩa cộng sản.

 

PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN LÚC CẦN PHẢI TỎA SÁNG

PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 

Trong lịch sử, hiếm có quân đội nào trên thế giới luôn gắn bó máu thịt, không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng xả thân bảo vệ nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh như Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ta luôn được khẳng định là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong mọi nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngay từ khi xuất hiện những ca lây nhiễm đầu tiên, Bộ Quốc phòng đã tổ chức diễn tập và kích hoạt toàn bộ hệ thống phòng, chống dịch trong toàn quân nhằm bảo đảm ứng phó kịp thời với mọi tình huống, kể cả cấp độ cao nhất. Toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với phương châm “sớm hơn và nhanh hơn một bước”.

Bộ Quốc phòng đã chủ động, quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, sát thực tế. Trên cơ sở đó, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân xung kích, đi đầu trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh, góp phần quan trọng ngăn chặn, khống chế không để dịch Covid-19 lan rộng trong cộng đồng. Những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong tham gia phòng, chống dịch chính là kết quả sự kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống, bản chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó được khẳng định qua lời biểu dương của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: “Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là trụ cột của quốc gia, đặc biệt là khi đất nước lâm nguy thì vai trò của Quân đội càng được phát huy mạnh mẽ. Quân đội nhân dân Việt Nam là Quân đội anh hùng; hiện đang đứng mũi, chịu sào nơi đầu sóng, ngọn gió trong trận tuyến phòng, chống Covid-19”.

Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, với khả năng, lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, các lực lượng tham gia phòng, chống dịch của Quân đội đã sát cánh cùng nhân dân cả nước trên tất cả các mặt công tác phòng, chống dịch, góp phần quan trọng ngăn chặn, không để dịch bệnh lan nhanh, phát tán rộng trong cộng đồng. Toàn quân tăng cường tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch trong Quân đội đạt hiệu quả, thiết thực. Sự quyết liệt trong triển khai và thực hiện đồng bộ các mặt công tác của Quân đội trên các trận tuyến phòng, chống dịch Covid-19 là minh chứng sinh động truyền thống đồng sức, đồng lòng, đồng cam cộng khổ của dân tộc Việt Nam, đồng thời, khẳng định tinh thần sắt son, quân với dân một ý chí.

Trong thời gian tới, với quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi và chiến thắng đại dịch của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân để bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng nhân dân, sớm ổn định các mặt đời sống xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, toàn quân đang ra sức thực hiện tốt yêu cầu “Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quân đội cũng phải thể hiện là lực lượng xung kích, đi đầu, nhất là trong nhiệm vụ phòng chống dịch Covid-19 hiện nay”. Tiếp tục khắc phục khó khăn, quyết tâm khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trong cuộc chiến chống đại dịch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần làm lan tỏa hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng danh là đội quân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng trong thời kỳ mới.