Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021
Ghi nhớ hay ném vào sọt rác
Ông Ngô Đình Diệm là người “… yêu nước theo cách của ông ấy” – như ông Hồ Chí Minh nói với vị Đại sứ Ba Lan trong Ủy ban Quốc tế giám sát Hiệp nghị Giơnevơ (Geneve) về thực hiện đình chiến ở Đông Dương (1954), đã chết bi thảm gần 60 năm qua bởi viên đạn của chính những kẻ từng là thuộc cấp. Càng nhục nhã hơn, cái chết của vị Tổng thống “nền đệ nhất cộng hòa” nằm trong kịch bản “thay ngựa giữa dòng” của “đồng minh Mỹ”. Tại sao “thay ngựa giữa dòng”? Có gì đâu, thân phận tay sai ngoại bang, một khi không còn được việc thì coi như rẻ rách vậy.
Không có chuyện Việt Nam dựa vào Hoa Kỳ để bảo vệ chủ quyền quốc gia ở biển Đông
RFA-Đài châu Á tự do vừa qua đã đăng tải một bài viết về quan hệ Việt-Mỹ liên quan đến Biể Đông. Tác giả của bài viết nhắc lại ý kiến của cựu Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius ở Việt Nam: “Tranh chấp ở Biển Đông là trọng tâm trong mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam”, chính “hành vi bắt nạt các nước láng giềng của Trung Quốc đã giúp làm sâu sắc thêm mối quan hệ này”.
ĐÔI LỜI VỚI ANH NGUYỄN MẠNH HÀ, NGUYÊN VIỆN TRƯỞNG VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG!
“Đôi lời cùng anh Nguyễn Mạnh Hà , nguyên Viện trưởng Viện lịch sử Đảng thuộc Học viện chính trị quốc gia HCM .
Hôm qua dù bận việc tôi cũng cố xem cơ bản gần hết clip anh trao đổi tại CLB Cà phê số . Là người quen biết với anh tôi định gọi điện để trao đổi , song khi một người đã từng quen biết mà đã có thái độ khi nói về mình thiếu thân thiện thì chắc anh cũng không còn nhớ anh em mình đã từng nhiều lần ngồi bên nhau. Do vậy tôi dùng trang viết này để trao đổi công khai cùng anh và cộng đồng cư dân mạng cùng rõ về những quan điểm của anh khi phát biểu được đăng báo và dù anh nhắc không đăng báo song cái clip này vẫn được công khai trên mạng xã hội .
Trước hết tôi có vài dòng nói về tôi trong mối quan hệ phê phán quan điểm xét lại lịch sử này . Tôi vào Đảng trong thời điểm chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất và vừa bước vào tuổi 18 , tuổi chớm đủ tiêu chuẩn để được kết nạp vào Đảng Nhân dân cách mạng VN , khi anh còn ngồi ghế nhà trường tôi đã là sĩ quan quân đội nhân dân VN (cả anh Võ Tiến Trung cũng vậy) , tôi cũng không có học hàm PGS, học vị Tiến sĩ như anh .. song cuộc sống luôn là như thế mình có thể hơn người này điểm này song cũng sẽ thua điểm khác đó là chuyện bình thường, tôi chưa bao giờ cho mình hơn người khác tất cả . Vài lời như vậy để chúng ta hiểu nhau .
Về những nội dung anh đề cập đến lịch sử giai đoạn 1945-1975 tôi thấy anh đã phạm nhiều sai sót thậm chí đó là những sai sót không thể chấp nhận được. Đó là:
Trước hết khi có người hỏi anh mối quan hệ giữa ông Phan Huy Quát nguyên Thủ tướng bù nhìn của chế độ ngụy ở Miền Nam VN thời điểm 1965 và sau đó là Chủ tịch cái gọi là Hội đồng liên tôn chống Cộng ở miền Nam với ông Phan Huy Lê như thế nào? Anh lại trả lời chỉ là họ hàng bà con. Trong khi lúc bình thường anh luôn một thầy, hai thầy Phan Huy Lê và trong nghiên cứu anh luôn lấy trước tác của ông làm kim chỉ nam cho nghiên cứu lịch sử của mình, anh lại không biết rằng ông PHL là em cùng cha khác mẹ với ông Phan Huy Quát, một kẽ suốt cả cuộc đời làm tay sai cho giặc phản dân, hại nước mà hầu hết ai cũng biết mối quan hệ này , nhất là sau khi bộ sử 15 tập lúc đầu do ông PHL làm TCB sau này chuyển lại cho ông TĐC thay thế đã có những nội dung đánh giá và đưa vào Bộ sử này , đã bị dư luận xã hội, báo chí nhất là báo mạng vạch rõ.
Thứ hai khi đề cập đên chế độ ngụy Sài Gòn , anh lại phạm sai lầm tiếp khi anh nói chế độ này ra đời theo nội dung của Hiệp định Giơ ne vơ. Thật buồn cho anh, với tư cách là nhà sử học giao cho làm chủ biện tập sử viết về giai đoạn này anh lại có thể trả lời như vậy, làm sao tráo trở đến mức cho rằng cái chính thể do Mỹ lật lọng xé toạc HĐĐ Giơ ne vơ đựng nên chính quyền bù nhìn này vào năm 1956 sau cái gọi là trưng cầu dân ý dưới họng súng, lưỡi lê và sự đàn áp đẫm màu đồng bào miền Nam. Anh có nghe tiếng khóc than tham thiết của hàng vạn gia đình có người thân bị Mỹ ngụy bắt bớ tù đày và giết hại dã man (Chợ Được, Vĩnh trinh, Phú Lợi...) trên khắp miền Nam hay không.
Anh hãy trả lời cho mọi người rõ chổ nào trong HD Giơ ne vơ có chổ cho sự ra đời hợp pháp cái chế độ phản dân hại nước này... Và từ cách lập luận đó anh đi đến nói rằng chế độ này tồn tại độc lập và không thể phủ nhận họ là một quốc gia, là nhà sử học sao anh có thể trả lời như vậy, anh là người CS và anh là thầy dạy về LSĐ, về HCM, anh quên mất hay cố bỏ đi lời tuyên bố bất hủ của Hồ Chí Minh “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi“ và vì chân lý đó dân tộc ta đã đổ bao máu xương để cao HĐĐ Giơ ne vơ , để đi đến thống nhất nước nhà.
Vậy ai phá hoại điều khoản Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Bắc - Nam trong HĐĐ này? Anh hãy trả lời cho nhân dân được rõ"./.
Yêu nước ST.
ĐỪNG LÚN SÂU VÀO"VŨNG BÙN" CỦA NHẬN THỨC SAI TRÁI!
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, những người thiếu thiện chí, cơ hội, bất mãn chính trị, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta đã mở chiến dịch công kích, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, đặc biệt là chĩa mũi nhọn vào chống phá lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vì sao họ lại cố tình bài xích, phủ nhận những vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là lý luận về đường lối đổi mới, về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta? Vì sao họ ra sức xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn?
Trong bối cảnh mới, việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, truyền cảm hứng và tạo sức lan tỏa bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động đổi mới, đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay.
1. Luận điệu sai trái cho rằng: Việt Nam cần phải lựa chọn con đường khác chứ không phải là tiếp tục đi theo con đường CNXH, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội như Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định. Thay đổi mục tiêu, con đường, định hướng phát triển lúc này là rất cần thiết, mới thật sự có sự đổi mới, người Việt Nam sẽ có điều kiện để hòa nhập, hội nhập quốc tế, mau chóng thực hiện được mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, trở thành con rồng ở châu Á.
Theo quan điểm của các phần tử cơ hội, bất mãn chính chị, đối lập: con đường “ngắn nhất, phù hợp nhất” đối với Việt Nam bây giờ là bắt tay “làm ăn” với các nước tư bản phát triển, nhờ sự giúp đỡ của các tập đoàn kinh tế, khoa học, công nghệ, tài chính lớn trên thế giới để phát triển đất nước. Những người tự xưng là “cấp tiến” này đưa ra nhiều luận cứ khác nhau để minh chứng cho luận điểm, rằng các nước trước đây đã từng là chủ nghĩa xã hội như Balan, Hunggari, Bungari… ở Đông Âu vì đã từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bắt tay với Mỹ, gia nhập NATO và được các tập đoàn kinh tế lớn trợ giúp nên đã “lột xác” phát triển thần tốc, đất nước họ đã mang bộ mặt hoàn toàn mới, người dân có cuộc sống sung sướng, tự do.
Từ đó họ khẳng định “đi theo con đường tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử”, là “sự thật khách quan”, “cách đi như vậy mới thực sự là đổi mới, hợp thời”, là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Một mặt, tránh được sự bao vây, phong tỏa, cấm vận của một số nước lớn, tạo được môi trường “hòa bình, ổn định” để mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. Nếu Việt Nam “tự lột xác” để đi theo con đường “phát triển đột phá ấy” chắc chắn Việt Nam sẽ nhanh chóng thu hút nguồn vốn đầu tư, phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và chuyên gia, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được tăng cường, không cần phải chờ đợi quá trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia và tích lũy vốn dài lâu. Đó là cách giúp Việt Nam sớm chuyển mình, phát triển, chấm dứt sự lạc hậu, yếu kém, theo đó, đất nước sẽ giàu có, phồn vinh, nhanh chóng vươn lên trở thành nước công nghiệp, có thu nhập cao.
Họ cho rằng với cách đi này, Việt Nam vừa không phải lo đối phó với thù trong giặc ngoài, giữ được Biển Đông, vừa có điều kiện để tăng tốc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước. Mặt khác, nếu Việt Nam bắt tay “làm ăn”, hợp tác với các nước lớn, gia nhập khối NATO thì đó là cơ hội, điều kiện tốt nhất để giảm chi phí đầu tư cho quốc phòng, an ninh, tập trung xây dựng Quân đội hùng mạnh mà không cần chờ đến năm 2030 mới xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại. Cùng hướng với quan điểm sai trái này là một số ý kiến cho rằng, Việt Nam tham gia khối NATO là cái đảm bảo chắc chắn nhất để có độc lập chủ quyền quốc gia - dân tộc. Thậm chí, sự lớn mạnh của đất nước là thứ vũ khí lợi hại nhất để uy hiếp và răn đe các nước có mưu đồ thôn tính Biển Đông, làm thui chột âm mưu xâm chiếm biển, đảo của Việt Nam, v.v..
Với những lập luận về “cái được”, “cái mất” nêu trên, những người có quan điểm “cấp tiến” đã gửi thư “tâm huyết” kiến nghị, yêu cầu Đảng, Nhà nước ta phải đổi mới tư duy và mạnh dạn huỷ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đẩy nhanh quá trình sớm kết thúc thời kỳ quá độ gián tiếp đầy “đau khổ” hiện nay. Khi những bức “tâm thư” không được Đảng, Nhà nước chấp nhận, những người có quan điểm đối lập đã quay lưng, trở mặt, nói xấu, xuyên tạc sự thật, cố tình bôi nhọ danh dự, hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng, Nhà nước, đưa ra các luận điệu phủ định thành quả và ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Tiếp tục phê phán, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng, giá trị và ý nghĩa, tính đúng đắn, sáng tạo của chủ nghĩa Mác Lê-nin , tư tưởng Hồ Chí Minh, về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trước âm mưu, thủ đoạn hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa của các thế lực cơ hội, phản động, trong quần chúng nhân dân, không phải tất cả mọi người đều nhận thức đầy đủ, sâu sắc và nhìn thấy thực chất vấn đề. Một số người đã mắc phải căn bệnh “cá nhân chủ nghĩa”, “lợi ích nhóm”, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí…; căn bệnh này đẻ ra mọi thói hư, tật xấu như lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, tham ô, không chỉ gây nguy hại, làm thoái hóa, biến chất con người và tổ chức, làm cho Đảng ta suy yếu, mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, dẫn đến tình trạng khinh thường, nhờn lý luận, phai nhạt lý tưởng, xa rời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, người mắc “bệnh chủ nghĩa cá nhân” cũng có nghĩa là đã bước ra khỏi đội ngũ của những người cộng sản, là đối tượng bị lôi kéo của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong thực hiện mưu đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Tình trạng này đã và đang diễn ra với nguy cơ đáng lo ngại, nếu không có biện pháp ngăn chặn, khắc phục, không được giáo dục, giải thích có cơ sở khoa học sẽ làm cho những người này ngày càng lún sâu vào “vũng bùn” của nhận thức sai lầm và những hành vi sai trái chống Đảng, Nhà nước; đồng thời, gây tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
2. Đối với Việt Nam, đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, làm cho mọi người dân được ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành tiến bộ, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chỉ có đi theo con đường chủ nghĩa xã hội thì mới xóa bỏ được tận gốc tệ nạn áp bức, bóc lột, thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, giải phóng con người, bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi người và mọi người.
Trong bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, việc xóa bỏ chế độ xã hội cũ đã lỗi thời, lạc hậu để xây dựng nên chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn không thể làm tức thời, mong muốn là có ngay kết quả, mà cần phải có thời gian nhất định, một thời kỳ quá độ để từng bước xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu còn rơi rớt lại; đồng thời, xây dựng và nuôi dưỡng những cái mới, cái tốt của chế độ xã hội mới.
Thực tiễn đã chứng minh, bài học về cái giá phải trả cho hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc ngày hôm nay được đánh đổi bằng sự hy sinh tuổi trẻ, xương máu của đồng chí đồng bào, của hàng vạn anh hùng, liệt sĩ và những đau thương, mất mát bởi giặc ngoại bang xâm lược, từ đó sẽ tự lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa. Việt Nam là một nước đất không rộng, người không đông, đời sống vật chất chưa thật giàu sang, sản xuất xã hội đang phát triển, song dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nước ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những chiến công hiển hách. Dân tộc Việt Nam ta đã ghi những mốc son chói lọi vào trang sử vàng của dân tộc đã khắc ghi dấu ấn vào thời đại mới là một dân tộc đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ là Pháp và Mỹ; đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thành công.
Trong hoàn cảnh hiện thời, (1) Việc đẩy mạnh tuyên truyền và lan tỏa, hưởng ứng, truyền cảm hứng bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở lý luận và khoa học để xây dựng, củng cố niềm tin tất thắng của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực hiện mục tiêu, lý tưởng đó, cần xác lập cho được ý thức đạo đức cộng sản chủ nghĩa: “mình vì mọi người và mọi người vì mình”. Đúng như điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa phải là người cách mạng, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng”. Đây là điều mấu chốt, mang ý nghĩa quyết định thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
(2) Giữ vững lập trường giai cấp công nhân, tỏ rõ thái độ kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững và thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội XIII của Đảng đã xác định, phấn đấu để nước ta sớm trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là lời kêu gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống; danh dự và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta trong giai đoạn cách mạng mới.
(3) Các cấp, các ngành, từng cán bộ, đảng viên phải làm cho quần chúng nhân dân, những người thân trong gia đình hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch. Đồng thời, giúp cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân nhận thức đúng bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn từ những năm đầu thế kỷ XX, vững vàng niềm tin trên con đường đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. (4) Trang bị những kiến thức lý luận – thực tiễn cần thiết để cho cán bộ, đảng viên và nhân dân “miễn dịch” trước các đòn tấn công ác hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch cả trong lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó, xây dựng niềm tin, chủ động và tích cực tham gia cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ cái đúng, cái tốt, cũng như bình tĩnh, khôn khéo và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, những cám dỗ vật chất, giữ sạch phẩm chất, thanh danh người cán bộ, đảng viên, nhất là trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19 hiện nay./.
Yêu nước ST.
Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Trần Huy Liệu, người chiến sĩ cách mạng, nhà văn hóa lớn của dân tộc.
Trần Huy Liệu sinh ngày 5 tháng 11 năm 1901 – 28
tháng 7 năm 1969
là một nhà văn, nhà hoạt động cách mạng, nhà sử học, nhà báo Việt Nam.
Ông từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo cấp cao (như Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền)
trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là chủ tịch
đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện
sĩ Viện Hàn lâm
Khoa học Đông Đức.
Ông quê ở làng Vân
Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản,
tỉnh Nam Định. Ông có bút danh chính là Nam Kiều và nhiều bút hiệu
khác như Đẩu Nam, Hải Khách, Côi Vị, Ẩm Hân Kiếm Bút.
Thuở nhỏ ông học
thầy Bùi Trình Khiêm ở Nam
Định, Hà Nội. Từ năm 1924, ông vào Nam công tác với các báo Nông cổ mín đàm, Rạng đông, làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo. Tháng 6 năm 1927 ông bị Pháp bắt,
kết án tù vì có chân trong các tổ chức yêu nước.
Năm 1928 ông thành
lập Cường học thư xã chuyên
xuất bản sách cổ võ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí. Cũng trong năm này,
ông tham gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng và tổ chức
đảng bộ trong Nam giữ cương vị Bí thư kỳ Nam bộ.
Rồi bị Pháp bắt vào
khoảng tháng 8 năm 1928, bị kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo.
Trong tù, vì tiếp xúc với người cộng sản ông tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, tuyên bố li khai Quốc dân
đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người cộng sản.
Năm 1935, ông ra tù,
bị trục xuất về miền Bắc.
Từ năm 1936, ông được
kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tích cực hoạt
động cho đảng.
Tháng 10 năm 1939 lại
bị bắt đày đi Sơn La, Bá Vân, Nghĩa Lộ.
Đến tháng 3 năm 1945, tham gia phá trại giam Nghĩa Lộ, vượt ngục trở về Hà Nội
làm công tác cách mạng.
Trong thời gian Cách
mạng Tháng Tám ông giữ những cương vị quan trọng mặc dù ông chưa bao giờ làm Ủy
viên Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 8 năm 1945, ông
dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào và
được bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng (có vai trò như Chính phủ
cách mạng lâm thời lúc đó). Ông là người soạn Quân lệnh số 1 phát lệnh Tổng
khởi nghĩa toàn quốc dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thắng lợi rồi làm Bộ trưởng Bộ
Tuyên truyền (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông trong
Chính phủ lâm thời.
Ngày 25 tháng 8 năm
1945 ông thay mặt Chính phủ cùng với Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào
kinh đô Huế chấp nhận sự thoái vị và nhận ấn tín của vua Bảo Đại
Sau đó, ông lần lượt
giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động (đổi tên từ Bộ Tuyên
truyền), Chính trị Cục trưởng trong Quân sự Ủy viên hội, Bí thư Tổng bộ
Việt Minh, Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc, Ủy viên thường trực Quốc hội, Phó chủ
nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam,
Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Trung.
Trong thời gian kháng
chiến chống Mỹ ông tham gia công tác Quốc hội, làm Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất
của Quốc hội.
Từ năm 1953, ông chuyển sang công tác nghiên cứu khoa
học, làm Trưởng ban Ban nghiên cứu Văn Sử Địa trực thuộc
Trung ương Đảng cho đến năm 1959.
Sau đó ông lần lượt đảm nhiệm
các chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.
Ông để lại 290 công trình
nghiên cứu và các bản hồi ký là một di sản đồ sộ, ông đã có những cống hiến
xuất sắc cho nền sử học đất nước, trong đó cuốn sách "Lịch sử 80
năm chống Pháp" đã đem lại vinh quang cho ông, tác phẩm được đưa
vào làm sách giáo khoa trong các trường Đại học. Ông được bầu làm Chủ tịch đầu
tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.
Ngày 28 tháng 7 năm 1969 ông
mất tại Hà Nội, thọ 68 tuổi, an táng tại khu A Nghĩa trang Văn Điển, Hà Nội.
Năm 1986 hài cốt của ông được chuyển về nghĩa trang Mai Dịch
Trần
Huy Liệu được bầu làm Viện sĩ Thông tấn do Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa dân
chủ Đức và được nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức tặng thưởng Huân
chương khoa học Humbold.
Năm 1996, các công trình về
Lịch sử của Trần Huy Liệu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên.
Tên của ông đặt cho một con
đường ở khu vực phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội; một con đường tại phường
Trường Thi, thành phố Nam Định; một con đường ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La và
một con đường tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh, một con đường tại Quận
Kiến An, Hải Phòng.
Cảnh giác với quan điểm “liên minh” trong giải quyết tranh chấp chủ quyền
Lợi dụng chuyến thăm của phái đoàn cấp cao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 8/2021, đặc biệt là lời tuyên bố của Phó Tổng thống K. Harris về việc Hoa Kỳ mong muốn nâng tầm mối quan hệ đối tác toàn diện hiện nay giữa hai nước lên đối tác chiến lược. Trên mạng xã hội tràn ngập những lời kêu gọi Đảng, Nhà nước ta thiết lập liên minh với Hoa Kỳ, để họ giúp ta bảo vệ chủ quyền, đồng thời lên án chính sách “4 không” về quốc phòng ở nước ta. Các đối tượng cho rằng chính sách “4 không” như trên là “tự trói tay chân mình”, các đối tượng tìm cách hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.
NHỮNG CON ĐƯỜNG PHẢN BỘI!
Nguyễn Quang Thiều mấy năm nay thể hiện rất rõ những quan điểm sai trái về chính trị xã hội, về lịch sử, về văn chương, nhưng lại được Đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam bầu làm Chủ tịch với số phiếu rất cao. Khi đắc cử, Nguyễn Quang Thiều đã ngang nhiên thể hiện con đường của mình khi chọn Inrasara, một kẻ có quan điểm văn chương sai trái và phản động, làm Chủ tịch Hội đồng Thơ; vinh danh và chọn đăng tác phẩm của Phạm Lưu Vũ, một kẻ viết những tác phẩm có tư tưởng phản động. Như vậy Hội Nhà Văn Việt Nam lại đi theo vết bánh xe đổ của Hội Nhà Văn Hà Nội từng bỏ phiếu bầu Phạm Xuân Nguyên nhiều lần làm chủ tịch, trong khi Phạm Xuân Nguyên luôn là một người lên tiếng ủng hộ những kẻ phạm pháp và sai trái, từ Lê Công Định, Phương Uyên, Nhã Thuyên cho đến Nguyễn Quang Lập; một nhà phê bình văn học lại cho trong cuộc kháng chiến giành lại nền độc lập của ta là “những người lính là những con người bị vất vào cuộc chiến, buộc phải bắn giết nhau”.
Nếu nền chính trị Việt Nam cũng bầu người như Nguyễn Quang Thiều, Phạm Xuân Nguyên làm người lãnh đạo cao nhất thì chắc chắn chế độ chính trị của nước ta sẽ bị phá hủy, sẽ như Liên Xô ngày nào bị sụp đổ, tan nát.
Thật tếu khi có bọn trí thức và nhà văn thao thức đêm đêm mong chế độ hiện tại của Việt Nam sụp đổ. Họ nghĩ Việt Nam ta chỉ cần thay Đảng lãnh đạo, thay chế độ là sẽ thành Phương Tây, thành Bắc Âu. Họ đã không hiểu Nguyên lý Lượng đổi thành Chất của triết học duy vật biện chứng, chỉ khi nào trình độ quản trị xã hội của thế chế Việt Nam và trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam đủ Lượng mới biến đổi được xã hội Việt Nam về Chất, không thể có chuyện một ông nông dân mặc áo, đeo kính của ông giáo sư là sẽ thành giáo sư. Xã hội Việt Nam dù còn nhiều yếu kém, sai trái, tệ nạn, nhưng tổng thể mặt tốt vẫn nhiều hơn mặt xấu, nên mới ổn định và phát triển như ngày nay. Nó là một quá trình từ từ, khó khăn, đúng theo Nguyên lý Lượng đổi thành Chất. Tất nhiên, ngược lại, nếu Lượng xấu của toàn xã hội phát triển mạnh hơn và chiếm đa số như Hội Nhà Văn Việt Nam hiện tại thì chế độ sẽ sụp đổ. Chúng ta cần phải biết Liên Xô là một nước hùng mạnh, khoa học Kỹ thuật tiên tiến. Hồi Đại chiến Thế giới, Liên Xô tự mình sản xuất xe tăng, máy bay, đạn dược, đánh tận sào huyệt Phát xít Đức, khiến Hít Le phải tự sát. Liên Xô tan vỡ, Nước Nga là một phần lớn cũng giàu tài nguyên khoáng sản, ý thức dân chúng thuần nhất không bị ngoại bang đô hộ, không phức tạp như nước ta, nên đã dần hồi phục. Còn Việt Nam ta nếu sụp đổ, như lịch sử đã nhiều lần lặp lại, sẽ là hỗn loạn, là giành giật cấu xé, là sự can thiệp của ngoại bang, sẽ lại có phe cứu nước, phe bán nước, lại nồi da xáo thịt, sẽ là bản sao dạng Pakistan, Afganistan, Irac, Lybia, Ai Cập, Syria…
Từ chuyện nhỏ bầu bán Phạm Xuân Nguyên ở Hội Nhà văn Hà Nội đến chuyện lớn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khóc nhận khuyết điểm của Bộ Chính trị trên diễn đàn, được chiếu trên VTV, tôi đã viết về Nguyên lý Tập trung Dân chủ.
Nguyên lý Tập trung dân chủ là khái niệm của nền chính trị Liên Xô thời Lê-nin. Theo tiếng Nga là Демократический централизм. Vậy Dân chủ là tính từ bổ nghĩa cho Tập trung, nếu dịch cho chính xác phải là: Nguyên lý tập trung có tính dân chủ. Vì vậy cái chính là tập trung, là mục đích, nghĩa là làm mọi chuyện phải có sự lãnh đạo. Tiến hành các đại hội, bầu cử nhân sự đều là việc đại sự, tối quan trọng, lại càng phải tuân theo nguyên lý tập trung này. Nhưng để thực hiện được sự tập trung tốt nhất, đúng nhất, lại phải tiến hành một cách dân chủ, mang tính dân chủ, để tránh sự độc đoán, sai trái. Việc Hội Nhà Văn Hà Nội từng bỏ phiếu bầu Phạm Xuân Nguyên làm chủ tịch là điển hình của việc không theo Nguyên lý Tập trung dân chủ, không có chỉ đạo, giám sát tiêu chuẩn các ứng cử viên, nên đã theo một thứ dân chủ tùy tiện, dân chủ bầy đàn, dân chủ chống đối, dân chủ lộn ngược. Theo Nguyên lý Tập trung dân chủ, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cấp trên phải giám sát những việc làm quan trọng của cấp dưới, những người không đủ tiêu chuẩn như Phạm Xuân Nguyên lẽ ra phải bị loại ngay trong danh sách ứng cử, như vậy thì làm sao có được cái kết quả dân chủ lộn ngược trên? Còn Nguyễn Quang Thiều theo Nhà Văn Trúc Phương, đã từng bỏ Đảng, từng sai phạm khi duyệt in sách, nhưng vẫn được đề cử, rồi trúng cử với số phiếu cao. Tiếc là công tác cán bộ ở nhiều lĩnh vực cũng đã có những vụ bầu bán sai Nguyên lý Tập trung dân chủ, nên mới có chuyện những người leo đến Ủy viên Bộ Chính trị cũng bị kỷ luật, vào tù.
Hôm nay vì thấy tình trạng Hội Nhà Văn Việt Nam có sự thoái hóa rất giống xã hội Liên Xô những ngày cuối cùng, tôi viết lại đôi nét sự tan vỡ của Liên Xô.
Báo Nhandan.online đã từng in loạt bài Những bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là sự xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Đảng.
Lê Nin, tháng 4-1906, trong Đại hội lần thứ 4 Đảng Bolshevik đã đề nghị thông qua điều lệ: Mọi tổ chức của Đảng đều được xây dựng trên Nguyên tắc Tập trung Dân chủ. Nhưng sau Cách mạng Tháng Mười, các thế lực thù địch phá hoại điên cuồng, Lê Nin đã tăng cường tính tập trung để giúp cho chính quyền Xô Viết non trẻ đứng vững. Nhưng điều này lại vi phạm dân chủ, dẫn đến khuynh hướng chuyên quyền, độc đoán. Vì thế Lê Nin đã cho thành lập Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ủy ban Giám sát Trung ương để đảm bảo cân bằng giữa sự tập trung và dân chủ. Nghiêng về tập trung sẽ thành độc tài, nghiên về dân chủ sẽ thành hỗn loạn. Nhưng kết quả cuối cùng mọi chuyện phải là sự tập trung, thống nhất, nhưng là sự tập trung thông qua dân chủ. Đến thời Stalin, tệ sùng bái làm cho Stalin trở thành độc đoán. Ủy ban Giám sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới và những người bất đồng ý kiến. Thời Brê-zơ-nev đã vứt hẳn giám sát trong Đảng. Cuối cùng đến thời Gooc-ba-chov, trong Đại hội 28, Gooc-ba-chov đã công khai phê phán và cho thông qua Điều lệ Đảng xóa bỏ luôn nguyên tắc tập trung dân chủ.
Từ việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến một chuỗi sai lầm trong công tác cán bộ. Khi lựa chọn cán bộ, tiêu chuẩn tài - đức bị thay thế bởi sự chạy chọt, quen thân, dẫn tới hiện tượng kéo bè, kéo cánh.
Khơ-rút-shov từng thông qua vợ của Stalin, bạn học của ông ta ở đại học, để thể hiện “sự trung thành của mình”. Mấy chục năm sau, Gooc-ba-chov cũng có một hồi ức tương tự: “Khi giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, Chernenko bảo tôi, “Bre-zơ-nev biết đồng chí đứng về phía đồng chí ấy, trung thành với đồng chí ấy. Đồng chí ấy rất coi trọng điều này”. Dưới thời Bre-zơ-nev, khi cân nhắc, đề bạt một ai đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là xem người đó có quan hệ tốt với phe của Bre-zơ-nev hay không? Tikhonov, một người bình thường, nhưng do là đồng hương kiêm bạn học của Bre-zơ-nev nên đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Bre-zơ-nev đã đặc biệt tâm đắc câu nói của Khơ-rút-shov: "Sự ổn định của đội ngũ cán bộ là sự bảo đảm cho thành công", đã phát triển thành chế độ chức vụ suốt đời. Các cán bộ cao cấp của Liên Xô như Bre-zơ-nev đều qua đời khi còn đương chức.
Khi Gooc-ba-chov lên nắm quyền, ông ta thẳng tay thay thế những cán bộ phản đối “cải tổ”, đề bạt những cán bộ ủng hộ chủ trương “Tây hóa”. Ông ta đã cài người vào các vị trí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, thay thế hơn 20 bộ trưởng và 92,5% bí thư khu ủy, thành ủy, tỉnh ủy, đã tạo ra sự hỗn loạn chưa từng có trong đội ngũ cán bộ ở Liên Xô, rơi vào tình thế không thể nào cứu vãn nổi.
Như vậy sự phản bội lý tưởng đã biến Nhà nước Liên Xô từ Xã hội Chủ nghĩa thành một Nhà nước Phong kiến trá hình. Chính cái nhà nước này đã đẻ ra tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, gây ra sự bất mãn sâu sắc trong xã hội Liên Xô. Dưới thời Gooc-ba-chov, tầng lớp đặc quyền còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có, để lại cho con cháu đời sau. Vì thế khi đất nước đứng trước nguy cơ tồn vong, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của CNTB để hợp thức hóa tài sản.
Sự phản bội thể hiện ngay từ thời trẻ khi Gooc-ba-chov hình thành thế giới quan chính là vào thời kỳ Khơ-rút-shov phủ định hoàn toàn Stalin, phủ định lịch sử của Liên Xô. Điều này đã làm sụp đổ niềm tin vào lý tưởng của Gooc-ba-chov. Gooc-ba-chov từng nói: “Thời trẻ chúng tôi tin theo Đảng, nhưng sau Đại hội 20, tư tưởng của chúng tôi bắt đầu có sự thay đổi”. Gooc-ba-chov còn cùng nhà hoạt động xã hội Nhật Bản Daisaku Ikeda xuất bản cuốn sách không chỉ chĩa mũi dùi vào Stalin mà còn chĩa thẳng vào Lê Nin. Gooc-ba-chov cho Liên Xô cần phải thực hiện một nền dân chủ không hạn chế, đưa ra phương án xây dựng mô hình “Chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo”, thực hiện đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đảng Cộng sản Liên Xô hoàn toàn mất quyền kiểm soát tình hình. Enxin đại diện cho “phe dân chủ” đòi đa đảng và được Gooc-ba-chov hoan nghênh. Ngày 12-3-1990, Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức Đại hội đại biểu bất thường, thông qua nghị quyết về lập chức tổng thống Liên Xô và luật bổ sung sửa đổi Hiến pháp Liên Xô. Lời đề tựa, trước hết xóa đi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Dường như đây chính là bài học cho nhóm 72 trí thức nước ta áp dụng khi họ đòi thay đổi Hiến Pháp Việt Nam. Đó chính là thời kỳ tôi viết nhiều nhất, tết rồi mà vẫn có người yêu cầu. Tôi bảo: “Tết rồi không viết nữa!” Vậy mà vẫn “Xin bác cho ý kiến!” 72 ông, mà đứng đầu là cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, gần như đã copy từng bước, từng hành động của những kẻ đã đập vỡ Liên Xô ngày nào. Từ việc nhân danh đấu tranh cho dân chủ, vin vào mọi cớ để quấy rối, đến việc đưa Kiến nghị thay thế Hiến Pháp, xóa bỏ sự hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, tách quân đội và công an khỏi Đảng, thay đổi chế độ! Thật e ngại khi có những khái niệm trở thành “mốt” của ngôn ngữ chính trị. Như chuyện phúc quyết toàn dân Dự thảo Hiện pháp từng được từ Dương Trung Quốc, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường đến cựu Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đều cho rằng Dự thảo Hiến pháp cần phải được phúc quyết toàn dân. Nhưng nhìn một cách thực tế, nếu như vậy, lá phiếu của các vị cũng chỉ có giá trị ngang với bà bán cá, bán rau không hiểu chữ Hiến pháp là gì. Như vậy liệu kết quả phúc quyết toàn dân sẽ là tốt và đúng đắn hơn chăng?
Sự tan rã của Liên Xô là do một loạt nguyên nhân sâu xa về lý luận và thực tiễn. Để rồi cuối cùng chính là việc Goóc-ba-chốp đã bị Enxin đánh bại.
Ngoài những nguyên nhân chính như trên, sự tan rã của Liên Xô cũng có sự góp sức không nhỏ của Phương Tây. Từ năm 1989, Gooc-ba-chov bắt đầu cải tổ làm tình hình kinh tế ngày càng xấu đi, ông ta đã phải quỳ gối cầu viện phương Tây, mở đường cho Phương Tây thực hiện mong ước xóa xổ Liên Xô bằng mồi nhử kinh tế. 5-1991, Gooc-ba-chov đã cử một nhà kinh tế đi Mỹ cùng các chuyên gia Mỹ lập kế hoạch Harvard. Theo đó, mỗi năm phương Tây sẽ viện trợ cho Liên Xô từ 30 tỷ - 50 tỷ USD, tổng cộng trong 5 năm là 150 -200 tỷ USD, đáp lại Liên Xô phải thực hiện cải tổ. Nhưng thực chất Tổng thống Nixon đã nói: “Lợi ích chiến lược lúc này không phải là cứu vớt Moscow về kinh tế mà là phá hủy chế độ XHCN ở Liên Xô”. Kết quả Liên Xô không nhận được một xu nào. Dù vậy, Gooc-ba-chov đã “đâm lao thì phải theo lao”, vẫn phải làm theo con đường phương Tây dẫn dụ. Nhờ đó, riêng Gooc-ba-chov đã được phương Tây trả công bằng giải Nobel hòa bình năm 1990 và rất nhiều tiền dưới hình thức nhuận bút và hình thức khác.
Dù vậy, khi trở thành kẻ bên lề lang thang, Gooc-ba-chov vẫn không thoát khỏi mặc cảm là tội phạm chủ chốt làm tan vỡ Liên Xô và đã phải thú nhận sự nghiệp chính trị của mình là thất bại.
Với Enxin, một người có bản chất chống đối thể chế Liên Xô, phương Tây cũng coi là đối tượng vận động trọng điểm để tìm cách phân hóa Liên Xô. Khi Enxin có được thế lực, đã được mời thăm Hoa Kỳ và được tiếp đón trọng thị. Enxin đã báo đáp ân huệ mà Hoa Kỳ dành cho mình bằng cách tháng 12-1991, trước khi mật bàn với lãnh đạo Ukraine về việc giải thể Liên Xô, ông đã ta thông báo việc này với Hoa Kỳ.
Như vậy, từ sai lầm và tham vọng, Gooc-ba-chov và Enxin đã làm tay sai cho Phương Tây phá nát chính Tổ Quốc của mình. Mục đích chính của Phương Tây chỉ là phá vỡ đối trọng chủ yếu trên bàn cờ thế giới, chứ không phải vì dân chủ tiến bộ cho người dân Liên Xô! Nên xong việc, những nước thuộc Liên Xô cũ chỉ như dạng chư hầu vương vãi của họ! Cuối cùng việc Liên Xô tan rã chỉ tạo điều kiện cho thế giới trở thành đơn cực nguy hiểm. Trong lịch sử, ta từng thấy quân Nguyên Mông muốn thống trị thế giới như thế nào, rồi bọn Phát xít từng thực hiện tham vọng “làm cỏ” thế giới như thế nào!
Sự tan rã Liên Xô chính là vì người ta nhu nhược không dám bắt giam Gooc-ba-chov, còn chuyện Gooc-ba-chov thua Enxin cũng chính là vì Gooc-ba-chov không dám bắt giam Enxin! Để rồi Tổng thống Nga Putin, người được hưởng lợi nhiều nhất từ sự tan rã của Liên Xô, vẫn phải chua xót nói: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết là một thảm họa địa chính trị lớn nhất của thể kỷ 20”. Đến cả Solzhenitsyn, tác giả đã kịch liệt phủ định Stalin khi suy ngẫm lại cũng phải thừa nhận “Tôi đã hại Tổ quốc Nga”. Còn cựu Tổng thống Ukraine Kravchuk, một trong ba nhân vật tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này cũng nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được cục diện đất nước sẽ phát triển đến như cục diện hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định”.
Con người luôn có phần con và phần người vì vậy các nhà tư tưởng, các nhà khoa học xã hội đã đặt ra các biện pháp để phát huy phần người và khống chế phần con, như nhà nước thì có luật pháp còn nền chính trị Liên Xô từng có nguyên tắc tập trung dân chủ. Hai vế của nguyên lý này luôn phải cân bằng và tùy thuộc vào thực tế, nếu không đều dẫn đến tai họa. Bài học từ sự tan rã Liên Xô thật đau đớn. Chỉ có con người xây dựng nhưng sự đập phá cũng chính từ bàn tay con người. Những kẻ dốt, ác nhưng lại tham vọng chính là những kẻ phá hoại. Những kẽ hở, những sai lầm của công tác cán bộ giúp chúng có vị trí và dần tạo được thế lực để rồi gây họa. Thật e ngại trước tình trạng ở ta cũng có không ít công chức cao cấp vào Đảng chỉ để cầu quyền lợi, hưu rồi không cần nữa thì trở mặt chống Đảng. Kỳ lạ hơn nữa là có cả một số hồi còn đương chức. Như trường hợp Phạm Xuân Nguyên chẳng hạn, là một trưởng phòng của Viện Văn, một Chủ tịch Hội Nhà Văn Thủ đô Hà Nội, nhưng một tay nhận Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng còn một tay lại ký tên trong Danh sách đòi lật Đảng! Tất nhiên không phải họ ngu dốt không phân biệt được tốt xấu, đúng sai, mà chính là họ đã bất chấp tất cả để trục lợi. Vì lĩnh vực truyền thông có không ít người mang danh nhà báo nhưng yếu kém về tri thức, về nhận thức chính trị, nên vẫn đưa tin và hình ảnh của Phạm Xuân Nguyên với tư cách là một nhà phê bình văn học uy tín. Phạm Xuân Nguyên hiện đã mất chức, nhưng lại xuất hiện Nguyễn Quang Thiều ở cấp cao hơn, có sức phá hủy nền văn chương chân chính mạnh hơn, và tác động xấu đến nền chính trị tư tưởng ghê gớm hơn.
Phải chăng vì bàng quan, vì vô cảm, hay vì xã hội ta không còn chuẩn mực của đạo lý nữa nên mới có tình trạng trắng đen lẫn lộn, thiện ác bất minh như vậy?
Môi Trường ST.
Chặn đứng sự lây lan của “diễn biến hòa bình”
Sử
dụng âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, cơ
hội chính trị và phản động đặt mục tiêu số một là chống phá Đảng, Nhà nước và
Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ đến quốc
phòng, an ninh và đối ngoại nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu
dài là xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu Nhà nước xã hội chủ nghĩa và
thành quả cách mạng; lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa có lợi cho
chúng.
Sự
lây lan của một loại vi rút độc hại – “diễn biến hòa bình” đã tràn sang lĩnh vực
mới: quân sự – quốc phòng – an ninh với sự tàn phá ghê gớm, tác hại khôn lường.
Đây là sự phái sinh, nảy nở, lây lan của những hận thù, sự tráo trở của loại vi
rút “phi nhân tính” cần nhận thức đúng bản chất, âm mưu, hành vi, hoạt động,
tác hại và cần phải đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ chúng, không để chúng gây “bệnh”,
hại người.
Âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng
nó được cải biên, cải cách, “đổ thêm hận thù”, “đổ dầu vào lửa”, sự cuồng vọng
vào các nội dung, hình thức mới với các chiêu trò chống phá tinh vi, xảo quyệt,
vô cùng nham hiểm và xảo trá, gây tác hại không thể lường hết nếu ai đó coi thường
hoặc mất cảnh giác.
Dưới các chiêu thức, chiêu trò và mỹ từ
“lộng ngôn, hào nhoáng” để che đậy “cái dã tâm đen tối” bên trong nhưng chúng
đã thất bại, bản chất, âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc và cuồng vọng của
chúng vẫn lộ ra, đang được phơi bầy nham nhở. Các thế lực thù địch đang tìm mọi
cách, bằng mọi phương thức, biện pháp, ý đồ; kể cả biện pháp đê tiện, hèn mọn,
bỉ ổi nhất để xóa bỏ bằng được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ
tiêu thành quả cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta
bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của mình qua hai cuộc kháng chiến thần thánh
chống kẻ thù xâm lược và hơn 35 năm “thắt lưng buộc bụng” tiến hành công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước để xây đắp nên cơ đồ, cuộc sống tốt đẹp ngày nay.
Việc cố tình tìm kiếm các chiêu trò, sử
dụng “trăm mưu, ngàn kế” để xoá bỏ nỗi ám ảnh về “hội chứng thua cuộc” đã đeo đẳng
bấy lâu nhằm rửa nỗi nhục “bại trận” và lấy lại ánh hào quang đã hoen ố, các thế
lực thù địch cho rằng “diễn biến hòa bình” là cách duy nhất, hiệu quả nhất để
cướp lại cái đã mất mà không cần súng đạn…, cho nên, sử dụng chiêu trò “diễn biến
hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ mà chúng đã áp dụng thành công trong việc
lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu để “xóa sổ Việt Nam” trên bản đồ thế giới là phương thức hữu
hiệu để thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đưa Việt Nam quay về “thời
kỳ đồ đá”, phụ thuộc chúng.
Một trong các chiêu thức được coi là mới
nhất, “bạo gan và cuồng vọng nhất”, hết sức nguy hiểm, độc ác là chúng tập
trung chĩa mũi nhọn đánh thẳng vào quân đội, công an – lực lượng chính trị tin
cậy, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, bằng cánh
thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an
ninh. Chúng xác định đây là một trong những mũi nhọn tiến công mang tính đột
phá để “hạ bệ “thần tượng” Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Bộ
đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Việt Nam.
Đánh vào Quân đội là “lĩnh vực bất khả
xâm phạm từ trước đến nay”, chúng hy vọng thực hiện được mục tiêu kép: vừa rửa
sạch mối hận thù trước đây, vừa thủ tiêu được công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng
chính trị tin cậy, tuyết đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bởi
theo chúng, một khi đã đánh gục, xóa bỏ và tước đi sức mạnh của lực lượng vũ
trang cách mạng – chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước thì xã hội Việt Nam sẽ rối
loạn, chung chiêng, chao đảo. Lợi dụng tình thế “đục nước béo cò”, chúng sẽ dễ
dàng thực hiện mục tiêu tiếp theo là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước và xã hội; đồng thời, thuận đà sẽ đánh đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta đang xây dựng, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – ngọn cơ tư tưởng của Cách mạng Việt Nam.
Âm
mưu thâm độc và xảo quyệt ấy chỉ có thể thực hiện “thành công” nhờ áp dụng kịch
bản “diễn biến hòa bình” – cuộc chiến trong thời bình, đánh vào lòng người, chiếm
đoạt xã hội không cần bom đạn, các loại vũ khí tối tân hiện đại, chúng triệt để
khai thác, sử dụng chiêu thức “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ
trang. Mưu đồ đen tối ấy đang được chúng tập trung tinh lực để đánh thẳng vào
trung tâm đầu não – bộ máy lãnh đạo của quân đội và công an; trong đó, xuyên tạc
bản chất, vai trò, uy tín, vị thể của Quân ủy Trung ương, các đồng chí lãnh đạo
Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, xuyên tạc Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của
Đảng bộ Quân đội; cố tình tung tin, xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc Quân đội
ta vào Thành phố Hồ Chí Minh giúp chính quyền và nhân dân Thành phố phòng, chống
đại dịch COVID-19 để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân
đội, giữa quân đội chủ lực và địa phương, giữa quân đội phía Bắc và phía Nam;
qua đó, chia rẽ cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, Nhà nước; so sánh quân đội với
công an để hạ thấp vai trò của quân đội là chiêu thức mới nhất, hèn mọn nhất của
chúng.
Đích
cuối cùng chúng muốn đi đến, đạt bằng được là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyết đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng ta đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, tách quân
đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đối lập quân đội với Đảng, với Nhà nước;
biến quân đội thành tổ chức dân sự, một lực lượng “trung lập”, “quân đội chỉ
làm theo pháp luật”, “chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế
độ xã hội chủ nghĩa”, v.v.. Đó là cái cách vô cùng thâm độc, tàn ác để chúng vô
hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội, biến quân đội thành đội quân vô dụng,
phản bội Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Bằng
mọi cách, chúng đang cố tình kích hoạt thực hiện âm mưu thâm độc này. Đích đến
của chúng là làm cho Quân đội ta bị “tê liệt”, bị “chệch hướng”, “lầm đường, lạc
lối”, mất sức chiến đấu; đến thời điểm đó, chúng hy vọng rằng quân đội ta tất yếu
sẽ trở thành đội quân vô dụng, tự đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính
nhân dân, tính dân tộc, trở thành một đội quân “ô hợp”, “vô tổ chức, vô chính
phủ”. Đúng vào chính thời điểm ấy, các thế lực thù địch thẳng tay “bóp chết” Đảng,
tiêu diệt Nhà nước; triệt phá thành quả cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của
Đảng; thao túng Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tổ chức chính trị – xã hội,
ép các tổ chức này phải phục tùng chúng, “ngoan ngoãn” đi theo quỹ đạo của
chúng đã “xếp đặt”, vẽ đường. Kịch bản “phi nhân tính” này chúng đã áp dụng
thành công ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu những năm 1990 của
thế kỷ XX sẽ được tái diễn ở Việt Nam. Một mưu đồ ngông cuồng, phiêu lưu, hết sức
mạo hiểm đang bày đặt trước mắt chúng ta, rất cần phải đề cao cảnh giác, không
thể xem thường.
Bài
học “xương máu” vô cùng đắt giá, vô cùng đau đớn mà quân đội Liên Xô và quân đội
của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã mắc mưu “diễn biến hòa bình”, đã bị
thao túng, rơi vào tình cảnh bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bị “phi chính
trị hóa”, dẫn đến thảm cảnh: “quân hùng, tướng mạnh” là thế, “có lịch sử hào
hùng, vẻ vang” là thế, có hàng triệu quân, đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại, được
nuôi dưỡng chu đáo, đào tạo rất cơ bản, công phu và được trang bị đầy đủ vũ khí
tối tân, hiện đại từ “đầu đến chân” thế mà mất sức chiến đấu, luôn nhắc nhở
chúng ta phải đề cao cảnh giác, không được mắc mưu bị “phi chính trị hóa”, “dân
sự hóa”.
Quân
đội nhân dân trong bất kỳ tình hưống nào cũng không được lơ là, sao nhãng việc
này; không để lâm vào tình trạng phản bội Đảng, vô ơn Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, mang tội với nhân dân, kéo lùi, cản trở sự phát triển tiến bộ của lịch sử;
trở nên một đội quân vô dụng; không thể bảo vệ được Đảng, Nhà nước; không bảo vệ
được thành quả cách mạng; không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống
hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Vì
vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc
phòng phải đạt được hiệu quả: không mắc mưu, bị lừa gạt để bị “phi chính trị
hóa”, “dân sự hóa” quân đội. Đây là vấn đề “sinh tử”, trực tiếp liên quan đến sự
“tồn vong” của quốc gia – dân tộc; có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây
cũng là một trong những nhiệm vụ đặc biệt hệ trọng, vô cùng cấp bách, liên quan
trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, quyền sống làm người, miếng cơm, manh áo của
gần 100 triệu dân Việt Nam hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau. Đồng thời,
là vấn đề tuyệt đối không thể xem nhẹ, coi thường, lơ là, mất cảnh giác.
Có
thể khẳng định đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” nói chung; phòng, chống
âm mưu, thủ đoạn và tác hại của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc
phòng nói riêng, là nhiệm vụ chính trị mới, đặc biệt hệ trọng của toàn Đảng,
toàn quân và toàn dân; là nhiệm vụ “số một” của nhiều nhiệm vụ cấp bách, khẩn cấp
để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong thời bình, từ khi đất nước chưa lâm nguy.
Để
góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch chống phá Việt Nam, trước hết (1) phải giữ sạch lĩnh vực quân sự, quốc
phòng, không được để sự lây nhiễm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”. Chúng ta cần
phải (2) nghiên cứu thật kỹ sự phái sinh, mức độ nảy nở, lây lan; sự tác động, ảnh
hưởng của hình thức này để tìm ra mô thức đấu tranh phòng, chống hiệu quả nhất.
Cùng toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (3) cần
phát huy tốt hơn nữa vai trò xung kích, nòng cốt, chủ động, tích cực hơn nữa
trong tham gia xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế
trận lòng dân” vững mạnh; góp phần (4) bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
(5) bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng; không
để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đó là quyền lợi, trách nhiệm
và nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới
CHÂN THIỆN MỸ
Trong
tuần vừa qua là 2 câu chuyện về tôn giáo mà khiến chúng ta phải suy ngẫm.
Trước
hết, đó là câu chuyện về sự hi sinh, cống hiến cho Phật pháp của Đại lão Hòa
thượng Thích Phổ Tuệ. Tại ngôi chùa đã hơn trăm tuổi ở giữa vùng chiêm trũng
nông thôn Bắc bộ, được coi là tổ đình của Phật giáo Việt Nam, hơn nửa thế kỷ
qua, nơi không có hòm công đức, không có cúng sao, đốt vàng mã, Đại lão hòa thượng
Thích Phổ Tuệ cùng sư tăng làm ruộng, trồng rau, trồng cây ăn quả tại vườn để tự
nuôi sống mình và tu tập, hành đạo, không hề phiền lụy đến chúng sinh. Ngài thường
nói với các đệ tử: “Trong chùa không nên có tiền, tôi không ở gần tiền được”.
Ông sống, cống hiến cho Phật pháp, một
đời chay tịnh, với tâm niệm "Sống được bao nhiêu năm không phải là thước
đo giá trị của đời người. Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi
ích gì cho đời, cho đạo". Chẳng cần phải sống trong những ngôi chùa xa
hoa, dát vàng, phật tử xe hơi nườm nượp kẻ đưa người đón, tung hô, nhưng ông vẫn
nhận được sự kính trọng của chúng sinh, của Phật tử. Đó mới thực sự là giá trị
chân thiện mỹ mà không chỉ Phật tử mà ngay cả các tăng ni, Đại đức của Phật
giáo phải học tập.
Trái ngược với câu chuyện hi sinh của Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, đó là những gì đáng xấu hổ của Tịnh Thất Bồng Lai với một kẻ nhơ bẩn nhưng khoác áo thầy tu Lê Tùng Vân. Sẽ thật khập khễnh đẽ so sánh giữa một Đại lão Hòa thượng và một kẻ giả danh như Lê Tùng Vân. Nhưng có thể thấy, những kẻ như Lê Tùng Vân không thiếu trong giới chức sắc tôn giáo hiện nay. Đam mê tửu sắc, ham mê vật chất, thích thú với danh vọng…. đó như một Trư Bát Giới trong giới tu hành. Chúng cấu kết với một đám truyền thông, tôn vinh nhau, sử dụng mạng xã hội để khuếch trương thanh thế, mục đích duy nhất để đánh lừa người dân và từ đó, kiếm lời bất chính từ những đồng tiền từ thiện của những mạnh thường quân, vốn bị che mắt bởi những chiêu trò giả dối.
Đáng tiếc, chúng ta đang mất dẫn những
người tu hành thực sự như Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ. Thay vào đó, những
kẻ như Lê Tùng Vân lại xuất hiện nhan nhản khắp nơi, khiến cho người ta bị lừa
bịp, u mê trong câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản: Thế nào là Chân Thiện Mỹ?
Nên nhớ, tôn giáo phải hướng người ta
đến những điều tốt đẹp, đừng coi tôn giáo là một nghề kiếm tiền.
CẢNH GIÁC VỚI KÊNH “N10TV” CHỨA NỘI DUNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC
Thời
gian qua, trên không gian mạng xuất hiện nhiều kênh Youtube với nội dung xuyên
tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước. Trong đó, nổi lên kênh “N10TV” – kênh Youtube
do Trương Quốc Huy lập ra, chứa nhiều nội dung tuyên truyền chống Nhà nước, thường
được các đối tượng bất mãn, chống đối chính trị chia sẻ rộng rãi trên không
gian mạng.
Trương Quốc Huy, sinh năm 1980 tại Tp.
Hồ Chí Minh. Huy học hết lớp 7, từng đi bộ đội nhưng bị trả về do nghiện ma
túy. Y đã từng 02 lần bị bắt, bị kết án 06 năm tù vì liên kết với Lisa Phạm (đối
tượng thuộc tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”) rải truyền
đơn chống Nhà nước để có tiền ăn chơi. Thời điểm năm 2005, Huy bị bắt về tội
“Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Khi được ra tù, tưởng đâu y sẽ ăn
năn hối cải, song ngựa quen đường cũ, Huy gia nhập “Khối 8406” do Nguyễn Văn Lý
khởi xướng nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, đòi đa nguyên, đa đảng chống lại Nhà
nước. Năm 2011, y trốn qua Thái Lan rồi sang Hoa Kỳ để tránh các chế tài pháp
luật của nước ta.
Sau khi sang Mỹ, Huy tham gia TỔ CHỨC
KHỦNG BỐ “Việt Tân”. Dưới sự chỉ đạo của tổ chức, Trương Quốc Huy lập kênh
“N10TV” trên Youtube, Facebook để tuyên truyền chống phá nhà nước. “N10TV” sử dụng
danh nghĩa cập nhật tin tức, tình hình trong nước cho người Việt Nam tại nước
ngoài nhưng thực chất là để chia rẽ sự đoàn kết của người dân Việt Nam với
chính quyền, kích động bạo lực, gây bất ổn trong nước và quan trọng hơn cả, là
để KIẾM TIỀN trên các nền tảng mạng xã hội.
Khi thành lập kênh “N10TV”, Huy tỏ vẻ
là người hiểu biết tình hình trong nước. Tuy nhiên, Trương Quốc Huy chỉ lợi dụng
các bài viết mà báo chí trong nước đã đăng để biên tập các video suy diễn các vấn
đề trên theo hướng xuyên tạc, gây hiểu lầm cho người dân, dẫn dắt người dân
theo hướng tiêu cực nhằm chống phá sự ổn định của đất nước. Từ khi dịch bệnh
Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam, với trí tưởng tượng phong phú của mình, Huy
thường xuyên sử dụng “N10TV” để đăng tải các video nói xấu hoạt động phòng, chống
dịch Việt Nam. Y phủ nhận hoàn toàn công tác chống dịch của Nhà nước, thậm chí
còn bịa đặt, vu cáo ngược lại. Trong khi bạn bè quốc tế ghi nhận thành tích chống
dịch của các cấp chính quyền và nhân dân thì Huy lại cố tình kích động, chia rẽ
khối đại đoàn kết dân tộc.
Những chiêu trò xuyên tạc của Trương
Quốc Huy đều dựa vào những “thuyết âm mưu” do y nghĩ ra. Huy cập nhật tin tức,
tình hình Việt Nam qua báo chí rồi “phỏng đoán” chứ không hề có một bằng chứng,
căn cứ xác thực nào. Cũng như các thành viên của tổ chức khủng bố “Việt Tân”,
Huy mang bản chất ngoan cố chống Nhà nước và Nhân dân Việt Nam bằng mọi cách. Y
lợi dụng các sai sót mang tính cá biệt, nhất thời; các thông tin chưa được kiểm
chứng hoặc thậm chí “nghe giang hồ đồn” để bịa đặt, xuyên tạc, thổi phồng để
“câu view” kiếm tiền. Trương Quốc Huy càng nói, dư luận trong nước càng căm tức,
bất bình vì nhân dân chính là người hiểu rõ nhất về hiện tình đất nước. Y không
quan tâm tin tức của mình là đúng hay sai, tốt hay xấu, y chỉ quan tâm các
video của mình hôm nay được bao nhiêu lượt xem, kiếm được bao nhiêu tiền.
Suy cho cùng, “N10TV” hay Trương Quốc
Huy đều là những kênh thông tin “lá cải”, nhằm để câu view, kiếm tiền. Những
thông tin được chia sẻ trên “N10TV” đều là những thông tin chưa được kiểm chứng,
bịa đặt nhằm xuyên tạc, chống phá Nhà nước ta.
Ngành chức năng khuyến cáo, các hành
vi chia sẻ, cổ súy cho kênh “N10TV” là hành vi vi phạm pháp luật, quy định tại
Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện,
công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; thậm chí có thể bị xử lý hình sự với
mức phạt tù.
Hiện
nay trên không gian mạng có nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt được
các đối tượng chống phá tô vẽ, thêm thắt; nếu người tiếp nhận không cẩn thận sẽ
mắc bẫy, nếu chia sẻ, tán phát thì vô tình đã tiếp tay cho kẻ xấu tán phát
thông tin vi phạm pháp luật.
Theo:
Pháp luật
BẢN LĨNH TRÍ TUỆ VIỆT NAM!
Ngay
đến cả Trung Quốc, một quốc gia với tiềm lực mạnh hơn, kinh tế mạnh hơn, khoa học
kỹ thuật nhỉnh hơn, cũng không thể tin được rằng Việt Nam dám làm, dám thực hiện
một dự án đầy tính mạo hiểm như vậy giữa lúc bộn bề khó khăn.
Một
số quốc gia ở Đông Nam Á cũng từng nghĩ vậy, người Việt chắc chắn không làm được,
không thể được. Vì lúc ấy Việt Nam đang là quốc gia hạ cấp ở một khu vực vũng
trũng của thế giới. Để triển khai các cụm nhà giàn như vậy là một điều phi lý
và chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Họ nghĩ rằng Việt Nam đang lãng phí lớn
cho một dự án đầy mạo hiểm và không khả thi.
Và rồi Việt Nam đã chứng minh những điều
ngược lại. Những công trình nhà giàn nhỏ bé mọc hiên ngang giữa Biển Đông đầy
bao la, bốn bề đều là biển cả. Màu xanh của biển và của mây trời, màu xanh của
áo lính.
Trong những năm cuối thập niên 80,
kinh tế nước ta còn nghèo nàn, bị cấm vận, khối Đông Âu và Liên Xô gặp khó
khăn, tình hình biên giới rất căng thẳng. Nhưng những nhà giàn như thế này, mọc
lên giữa biển khơi, đã chứng tỏ rằng: Thứ gì đã thuộc về chủ quyền dân tộc, dù
phải đánh đổi tất cả cũng vẫn phải giữ vững.
"Thực sự rất khủng khủng khiếp.
Mình từng được nghe kể các chiến sĩ ngoài nhà giàn khi bão đến phải tự lấy dây
thừng hoặc tương tự để buộc mình cố định vào vị trí nào đó để tránh bão cuốn
phăng đi. Không ít chiến sĩ đã hi sinh. Ở trong đất liền thực sự thấy biết ơn
các anh".
Chúng ta đã từng có những sự hi sinh ở
đây, đại đa phần chúng ta không hiểu rõ được những khó khăn mà người lính gặp
phải. Người ta nói: hi sinh giữa thời bình là như vậy. Ngay đến cả hiện tại, ở
ngoài đảo xa, vẫn có những chiến sĩ im lặng về với đất mẹ. Đặt ra một câu hỏi rằng:
Tại sao họ phải làm thế?
Dĩ nhiên là không phải là "nghĩa
vụ thuế" của mấy bạn đóng được vài đồng VAT hay phí môi trường. Đừng đem
sinh mạng của các chiến sĩ ra tính toán thiệt hơn.
"Tất nhiên là vất vả! Chúng mày rất
vất vả! Tao biết! Nhưng khổ nỗi đây lại là Tổ quốc, là đất đai hương hỏa của
ông cha, dù chỉ có đá sỏi gió cát thế này ta cũng phải canh giữ, một tấc không
đi, một li không rời, dẫu có phải đổi bằng xương máu…" - Đô đốc Giáp Văn
Cương
Trên mỗi nhà giàn, đều có lá cờ đỏ
hiên ngang, dòng chữ "CHXHCN Việt Nam" và những ánh đèn chiếu rọi..
Giữa biển khơi, mỗi người ngư dân khi nhìn thấy dấu hiệu này, họ hiểu rằng biển
cả là nhà, để những người trong đất liền có thể thấy rõ chủ quyền dân tộc giữa
biển khơi được gìn giữ như thế nào. Lá cờ tuy nhỏ, dòng chữ cũng không lớn,
thân người thì bé xíu.
Nhưng Tổ Quốc Việt Nam này, to lớn lắm
và vững chãi lắm.

