Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

 

LÀM GÌ ĐỂ MIỄN NHIỄM TRƯỚC SẢN PHẨM VĂN HÓA ĐỘC HẠI?

 Các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội nếu thâm nhập vào các cơ quan, đơn vị trong quân đội sẽ gây tác hại khôn lường. Nó làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ta bị vẩn đục; làm xói mòn niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nghi ngờ về sự thành công của đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thậm chí làm hoen ố phẩm giá, nhân cách con người Việt Nam, phai mờ hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt bạn bè quốc tế, gây dư luận xấu trong lòng xã hội ta, là cơ sở “ươm mầm”, “nảy nở” mọi thói hư, tật xấu, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Và chính nó sẽ là nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Lây nhiễm lối sống phương Tây, đề cao thái quá đời sống vật chất, sùng bái đồng tiền, vì tiền; coi thường nhân nghĩa, đạo lý, vi phạm pháp luật, kỷ luật rất nghiêm trọng. Phải chăng, việc phạm pháp, thoái hóa, biến chất, mất nhân cách ở một số cán bộ, chiến sĩ có nguyên nhân sâu xa từ sự “lây nhiễm” các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động, các tệ nạn xã hội thẩm lậu vào các cơ quan, đơn vị không được kiểm soát, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi?

Thấy rõ sự nguy hại đặc biệt nghiêm trọng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động và các tệ nạn xã hội đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ; lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp trong hệ thống chính trị ở nước ta và lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực như xác định đúng và trúng mục tiêu, mô hình, nội dung, tiêu chuẩn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh; duy trì liên tục phong trào thi đua quyết thắng gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới nội dung, hình thức giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; đưa ra và thực hiện nhiều quy chế, quy định trong quản lý kiểm duyệt, sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, các xuất bản phẩm, các nội dung sinh hoạt văn hóa, văn nghệ…; kiện toàn hệ thống thiết chế văn hóa, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa; chủ động ngăn chặn sự thâm nhập, ảnh hưởng của các sản phẩm văn hóa độc hại, phản văn hóa, phản động như băng nhạc, đĩa hình, sách báo, phim ảnh “đen”, nghiêm cấm sử dụng các xuất sản phẩm văn hóa “ngoài luồng” có nội dung thiếu lành mạnh như kích dục, kích động bạo lực, các tệ nạn xã hội: hút, hít, buôn bán, tàng trữ ma túy, cờ bạc, rượu chè tại các cơ quan, đơn vị. Nhờ đó đã góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục có hiệu quả những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa phẩm đồi trụy; không để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; giữ vững, nuôi dưỡng và phát huy tốt vai trò, bản lĩnh, nhân cách cán bộ, đảng viên là “công bộc” của dân, là “đày tớ của nhân dân”; xây dựng môi trường văn hóa trong sạch lành mạnh; làm cho đời sống văn hóa, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ ngày càng tốt hơn theo hướng chân, thiện, mỹ./.

 

 

ĐẨY MẠNH TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật phát triển của Đảng, nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Đây là việc làm cấp bách, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định.

Có thể nhận thấy, chưa bao giờ vấn đề đấu tranh chống tham nhũng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên lại nóng bỏng như hiện nay. Kể từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đến nay, Đảng ta đã phát hiện và thi hành kỷ luật hàng vạn cán bộ, đảng viên, trong số đó có nhiều người thuộc diện Trung ương quản lý. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng nhằm làm trong sạch bộ máy, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa..

Nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có cả khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình đang trở thành yêu cầu cấp thiết để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.

Để tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đạt hiệu quả thiết thực, cần tập trung thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Nêu ưu điểm, vạch rõ khuyết điểm của tổ chức đảng, cấp ủy và cán bộ, đảng viên, qua đó tìm biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp tổ chức và mỗi người tiến bộ.

Thực chất tự phê bình và phê bình chính là giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc và Điều lệ của Đảng, trong mối quan hệ của những người đồng chí cùng mục đích, lý tưởng. Tự phê bình và phê bình vừa mang tính cách mạng, khoa học, vừa mang tính nhân văn, thúc đẩy con người vươn tới sự hoàn thiện. Do đó, tự phê bình và phê bình đòi hỏi tính đảng, tính nguyên tắc cao, phải khách quan, trung thực, thẳng thắn, chân thành, công khai, có lý, có tình, nhằm trực tiếp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng. Hiện nay, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”. Bởi vậy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình là vấn đề cấp bách, đòi hỏi cấp ủy, chi bộ cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên nắm vững các chế độ, quy định, trách nhiệm của đảng viên trong thực hiện tự phê bình và phê bình, nhất là những nội dung biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã nêu ra.

 Hai là, duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Đây là biện pháp rất quan trọng, vấn đề có tính nguyên tắc trong hoạt động của tổ chức đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải thực hiện nghiêm, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình để đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, đánh giá đúng sự thật, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để công kích, nói xấu, hạ uy tín của đồng chí, đồng đội. Phương châm tiến hành là: cấp trên phải gương mẫu tự phê bình trước, cấp dưới làm sau; tập thể làm trước, cá nhân làm sau, “cấp ủy cấp trên chủ động gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân ở những nơi có vấn để phức tạp, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi trọng kiểm tra việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm”; cấp trên gương mẫu, nghiêm túc tự phê bình và phê bình cho cấp dưới noi theo. Người đứng đầu phải công minh, không để công tư lẫn lộn, không dung túng, bao che; phải tạo được chỗ dựa tin cậy, khơi dậy được không khí dân chủ, thẳng thắn; không để tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ. Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành trong hoạt động của tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị; không tùy tiện gặp đâu nói đó, việc bé xé ra to. Sau phê bình phải có biện pháp cụ thể, sát thực để khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; kết hợp giữa “xây” với “chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm nhất trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đồng thời, thực hiện tốt việc gắn tuyên truyền, biểu dương gương “người tốt, việc tốt” với công tác phát hiện, phê phán, lên án các hành vi sai trái, nhận thức lệch lạc của cán bộ, đảng viên.

Ba là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình. Nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình phải bám sát định hướng của Đảng, những vấn đề nổi cộm, bức xúc, những hạn chế, yếu kém trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Trong tình hình hiện nay, nội dung cần tập trung hướng vào những vấn đề cấp bách, nổi cộm, như: đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để làm trong sạch nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng, coi đó “là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất”.

Hình thức tự phê bình và phê bình cần đa dạng, phong phú, như: thông qua các cuộc họp, hội nghị, các đợt sinh hoạt được tổ chức ở cơ quan, đơn vị và khu dân cư. Các cơ quan, đoàn thể, tổ chức cần thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, như: nghe thời sự chuyên đề, học tập lý luận chính trị,... để nâng cao ý thức chính trị, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Qua đó, giúp họ nâng cao ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong việc tự phê bình và phê bình, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

 Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định đến việc rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tấm gương mẫu mực về tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực, tự giác: “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”. Bên cạnh đó, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu của mình trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao, tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong công tác, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, quy luật phát triển; đồng thời, là chế độ thường xuyên trong sinh hoạt đảng của cán bộ, đảng viên. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực, chủ động, tự giác chấp hành nghiêm các chế độ, nền nếp sinh hoạt đảng, nhất là tự phê bình và phê bình, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng ta thật là đạo đức, văn minh./.


 

NHẬN DIỆN HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC

THÙ ĐỊCH VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM THÔNG QUA TÔN GIÁO

                                 Vấn đề “tự do tôn giáo” luôn là hướng ưu tiên chính trong chính sách đối với Việt Nam của các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước. Quốc hội Mỹ đã từng ra một số nghị quyết và tổ chức nhiều cuộc điều trần về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam; xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia “đàn áp tôn giáo”.

Các cơ quan đại diện chính thức của một số nước lớn tại Việt Nam có nhiều hoạt động công khai, trắng trợn nhằm ủng hộ cho các đối tượng cực đoan, phản động trong các tôn giáo. Đại sứ quán của họ tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán tại thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên cử người đi các tỉnh, thành phố của Việt Nam để nắm tình hình của các tôn giáo, nhưng thực chất là nhằm trực tiếp tiếp xúc, kích động các chức sắc và tín đồ tôn giáo gây áp lực đòi thả những tên đội lốt tôn giáo hoạt động chống phá bị ta bắt; “tiếp sức” cho các đối tượng đang có hoạt động chống đối. Thông qua một số chức sắc tôn giáo cực đoan ra các “lời kêu gọi” phản động để “nắn gân” Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhóm thiên chúa giáo cực đoan liên tục lợi dụng tranh chấp đất đai để hoạt động đấu tranh chống chính quyền. Đặc biệt, ở một số địa phương có tranh chấp đất đai, chúng lợi dụng người cầm đầu tổ chức tôn giáo ở đó để kích động, xô đẩy giáo dân vào cuộc đấu tranh mang màu sắc chính trị, gây mất ổn định chính trị, tạo cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp.

Các thế lực thù địch đã chỉ đạo cho một số đối tượng cực đoan, núp dưới danh nghĩa những nhà truyền đạo, như “mục sư”, “tình nguyện viên”... để đi sâu vào nội bộ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, xúi giục, kích động các tín đồ bỏ lao động sản xuất để tham gia hoạt động biểu tình chống đối chính quyền. Được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hậu thuẫn, bọn phản động trong các tôn giáo ở Tây Nguyên ra sức lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ra chủ trương xoá các tổ chức Tin Lành trái phép để vu cáo chính quyền Nhà nước Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo” đồng thời kích động các hoạt động chống đối.

          Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ gia tang các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam thông qua vấn đề tôn giáo. Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải có ý thức cảnh giác cách mạng, làm tốt công tác dân vận, mỗi cán bộ đảng viên là một tuyên truyền viên, tích cực tuyên truyền để quần chúng nhân dân, nhất là nhân dân ở các dân tộc ít người, đồng bào theo đạo thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, từ đó đấu tranh làm thất bại ý đồ của chúng đối với cách mạng Việt Nam.  

 

TÔN GIÁO LÀ MŨI NHỌN ĐỂ CÁC THẾ LỰC

THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

                                     Các thế lực thù địch luôn xác định tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, tín đồ tôn giáo là lực lượng xã hội dễ bị kích động và bị lừa bịp để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối. Thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch đã ra sức mua chuộc, lôi kéo các giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị phản động chống phá cách mạng nước ta.

Trong quá khứ, khi rút khỏi Việt Nam, viên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn - Polga -  nói rằng: “Sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì lực lượng đấu tranh với cộng sản, chủ yếu là tôn giáo...”. Những năm đầu của công cuộc đổi mới, chúng đã triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo để thực hiện “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang còn mạnh, chưa thể chuyển hoá ngay được. Vì vậy, để làm cho Cộng sản Việt Nam suy yếu, biện pháp hữu hiệu nhất là dùng vấn đề tôn giáo và dân tộc để phá hoại an ninh, làm cho Việt Nam suy yếu...”.

Các thế lực thù địch cho rằng tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và ra sức hậu thuẫn mọi mặt cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo cả về tinh thần và vật chất, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Chính sự hậu thuẫn này là nhân tố giúp bọn phản động lợi dụng tôn giáo trong nước, nhất là số cực đoan, quá khích trong công giáo, lợi dụng những diễn biến phức tạp tình hình trong nước, câu kết với các thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo, tập hợp tín đồ để kích động tập trung, gây rối, tạo cớ cho bên ngoài can thiệp.

          Thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển, truyền đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch./.   

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM

     Quá trình lãnh đạo cách mang, Đảng ta luôn khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Đây là kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng và của cách mạng Việt Nam, là một quyết định có tầm lịch sử quan trọng thể hiện bước tiến trong tư duy lý luận của Đảng ta.

Trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của nước ta, các thế lực thù địch không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”… bằng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư… thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội. Chúng tiến hành chống phá trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

Chúng cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chỉ thích hợp với nền văn minh công nghiệp, còn thế kỷ XXI là thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa nên đã lỗi thời, đã bị lịch sử vượt qua; hoặc cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước lạc hậu như Việt Nam, rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Hoặc cho rằng, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chứng tỏ “chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, sai lầm từ trong bản chất chứ không phải do nhận thức và vận dụng sai”.

Nhìn lại lịch sử, trước khi chủ nghĩa Mác- Lênin xuất hiện ở Việt Nam. Những phong trào giải phóng dân tộc như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học đều thất bại. Nhưng kể từ khi Bác Hồ đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc bước sang trang mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh nước ta đã giành lại được chính quyền và tuyên bố thành lập nước Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tiếp theo là chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm 1954 trước thực dân Pháp sau khi Pháp trở lại Đông Dương năm 1946. Sau đó là cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước.

Thực tế đã và đang khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài thuyết trình, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã viết: “…Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác-Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

 Đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Đảng ta tiếp tục kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đối với nước ta, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin được thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua việc truyền bá, vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn, làm cho học thuyết này luôn tràn đầy sức sống trên mảnh đất hiện thực Việt Nam.

Ngày nay, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Có được những thành tựu đó là nhờ cách mạng Việt Nam được dẫn dắt và được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Có thể khẳng định rằng, cho dù các thế lực thù địch có chống phá như thế nào đi nữa, thì đó đều chỉ là những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc để nhằm phục vụ cho ý đồ xấu xa của chúng. Thế nhưng, nhân dân ta sẽ không bao giờ tin chúng, và sẽ không ngừng đấu tranh để làm thất bại ý đồ của chúng. Bởi vì, chúng ta tin tưởng và luôn kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn đuốc sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

 

 

Kết quả chủ yếu 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và diện mạo đất nước sau 35 năm đổi mới

 Kết quả chủ yếu trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020: Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm và cải thiện đáng kể. Tăng trưởng kinh tế đạt khá cao trong bối cảnh thế giới, khu vực gặp nhiều khó khăn; chất lượng được nâng lên, năng suất lao động được cải thiện rõ nét. Thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực. Quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế được cải thiện. Phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt được những kết quả quan trọng. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được bảo đảm, có cải thiện. Xây dựng nông thôn mới hoàn thành sớm gần 2 năm so với mục tiêu Chiến lược đề ra. Đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng trong các lĩnh vực giảm nghèo, y tế, dân số, giáo dục và đang tích cực triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai được tăng cường. Hệ thống pháp luật được hoàn thiện một bước căn bản, nhất là pháp luật về kinh tế khá đầy đủ. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực. Xử lý nghiêm nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, xã hội quan tâm, góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân. Quốc phòng, an ninh được tăng cường; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh, đi vào chiều sâu, thực chất hơn, đạt kết quả quan trọng nhiều mặt.

Diện mạo đất nước sau 35 năm thực hiện công cuộc đối mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Với những thành tích đã đạt được trong 10 năm phát triển kinh tế - xã hội và 35 năm đổi mới đất nước, tin tưởng rằng đó sẽ là động lực cơ bản tiếp tục cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

 

Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh

 “Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12 tháng 10 năm 1945. Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ… Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc… đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

 

Phát huy vai trò tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay

 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau". Người khẳng định: tự phê bình và phê bình có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải xem tự phê bình và phê bình như mỗi ngày soi gương, rửa mặt, để làm cho sạch sẽ cơ thể.

Để thực hiện hiệu quả tự phê bình và phê bình chúng ta cần: Trước hết, phải nhận thức đúng mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn bộ hệ thống chính trị thấy và sửa chữa những khuyết điểm, làm cho tốt hơn, đúng hơn; để mọi người học ưu điểm của nhau, cùng giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình có vai trò hết sức quan trọng là xây dựng mối đoàn kết, tăng sức mạnh trong Đảng. Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình phải gắn với các nội dung liên quan đến tư cách của người đảng viên, gắn với trách nhiệm, quyền hạn của cá nhân, đơn vị, địa phương mình phụ trách; chỉ rõ những vấn đề làm được, chưa làm được, nguyên nhân và phương hướng khắc phục. Thứ ba, phương pháp tự phê bình và phê bình là nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của mình trước và nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm của đồng chí mình sau; kiểm điểm, phê bình phải trên tinh thần xây dựng, yêu thương, giúp đỡ đồng chí mình tiến bộ. Thứ tư,  người đứng đầu phải gương mẫu tự phê bình và khuyến khích người khác phê bình mình. Do vậy, khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải tuyệt đối tránh thái độ quy chụp, trù dập, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền.
Hiện nay, tình hình trong nước và quốc tế còn nhiều diễn biến phức tạp, thuận lợi - thách thức, thời cơ - nguy cơ đan xen nhau... đang đặt ra cho Đảng ta và toàn bộ hệ thống chính trị nhiệm vụ ngày càng nặng nề. Chính vì vậy, đẩy mạnh thực hiện tự phê bình và phê bình vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, bởi lẽ nguyên tắc này là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, là vũ khí sắc bén để xây dựng Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhằm củng cố khối đại đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

 

Hậu Covid-19, nhiều người gặp vấn đề tâm thần

TP HCMThùy Liên, 25 tuổi, được người thân đưa đến Phòng khám Tâm lý Bệnh viện Đại học Y Dược trong tình trạng liên tục gào khóc, cào cấu khắp người, muốn tự sát. Liên sống cùng người yêu tại quận 10, TP HCM, đã dự định kết hôn nhưng phải hoãn lại nhiều lần do Covid-19 diễn biến phức tạp. Giãn cách xã hội dài ngày đã khiến công việc của cô gặp nhiều khó khăn, thu nhập giảm, đồng thời phát sinh mâu thuẫn khó hàn gắn với chồng sắp cưới trong bối cảnh phải ở trong nhà quá lâu. Lâu dần, cô không làm chủ được cảm xúc, thường xuyên gào khóc, thậm chí muốn cắt, rạch tay chân để tự sát. Tiếp nhận thông tin, bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Hiếu Minh (Phòng khám Tâm lý Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM) căn cứ vào nguyên nhân và dạng rối loạn của bệnh nhân để cho thuốc, trị liệu tâm lý. "Khó khăn về kinh tế, quan hệ tình cảm đổ vỡ khiến cô ấy bị sang chấn tâm lý, căng thẳng. Nguyên nhân một phần do tác động từ đại dịch", bác sĩ Minh nói. Thuỳ Liên là một trong những người tìm đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM khám tâm lý trong những ngày gần đây. Lúc trước, một buổi có khoảng 5 bệnh nhân thì hiện nay số người đến khám tăng lên 10, một số đăng ký trễ phải về, chờ hôm sau quay lại. 95% trong số họ ở tuổi 25-50. Theo bác sĩ Minh, có 3 nhóm bệnh nhân đến khám sau giãn cách xã hội. Nhóm một là người từng có vấn đề về tâm lý, sức khỏe tâm thần đã điều trị khỏi, hiện tái phát do ảnh hưởng của Covid-19. Nhóm hai là bệnh nhân mới, bị căng thẳng bởi các yếu tố kinh tế xã hội tác động từ đại dịch như phá sản, thất nghiệp, bế tắc trong cuộc sống... Nhóm ba có người thân là F0, hoặc bản thân là F0, chịu nhiều đau thương mất mát sau đại dịch... "Vấn đề đa số bệnh nhân gặp phải là rối loạn lo âu. Hội chứng này tác động nặng nề lên cả cơ thể lẫn tinh thần", bác sĩ Minh cho biết. Về mặt cơ thể, người bệnh sẽ bị hồi hộp, tim đập nhanh, đau dạ dày, mệt mỏi... Về tinh thần, bệnh nhân bị rối loạn cảm xúc, tình trạng này chiếm 50% số ca đến khám. "Nhiều người có biểu hiện tự hủy hoại bản thân (self-harm), muốn cắt tay cắt chân, có ý định tự sát sau thời gian ở nhà quá lâu", bác sĩ Minh chia sẻ. Lượng bệnh nhân tìm đến Khoa Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện E Hà Nội, cũng tăng đáng kể từ nửa tháng nay. Trong đó, Nguyễn Hoa (18 tuổi) có hành vi tự hủy hoại bản thân, được gia đình đưa đến khám trong tình trạng mệt mỏi, đau bụng, ít nói, ngại tiếp xúc với người lạ. Bác sĩ Nguyễn Viết Chung (Khoa Sức khỏe Tâm thần) cho biết, ban đầu cô gái bị đau bụng kéo dài, đã xét nghiệm, nội soi nhưng không tìm ra bệnh. Về sau, bác sĩ phát hiện Hoa có biểu hiện trầm cảm nặng, đã dùng dao dọc giấy rạch lên cơ thể, mỗi vết dài 2-3 cm nhưng gia đình không hay. Hiện, dưới hai cánh tay cô có khoảng 30 vết cắt chằng chịt. Chưa kể, trong thời gian nằm viện, bệnh nhân có ý định tự sát. Tìm hiểu từ gia đình, bạn bè của cô, bác sĩ Chung được biết, Hoa học giỏi nhiều năm liền nhưng sống tách biệt với gia đình, thu mình, ít bạn bè, tâm trạng luôn nặng nề với áp lực thành tích. Gần 3 tháng ở trong phòng không trò chuyện cùng ai khiến nữ sinh ngày càng bí bách và u uất, dẫn đến hành vị tự hủy hoại bản thân. "Sau mỗi lần làm tổn hại mình, bệnh nhân thấy tâm trạng thoải mái hơn, nên có xu hướng tái diễn hành động để giải phóng sự ức chế", bác sĩ Chung nói. Phương pháp điều trị cho Hoa là thuốc kết hợp tư vấn tâm lý. Ngoài lo lắng và căng thẳng, đa số các bệnh nhân Khoa Sức khỏe Tâm thần tiếp nhận có tư tưởng chống đối, bất cần, bỏ ăn, rối loạn giấc ngủ... Nhóm bệnh này thường là nữ, tuổi từ 12 đến 20, gia đình khá giả nhưng bố mẹ ít quan tâm. Các bác sĩ cho rằng, những sang chấn tâm lý, căng thẳng này nếu kéo dài có thể gây hậu quả khác lên thần kinh, tim mạch, tiêu hóa và cả cảm xúc, hành vi cá nhân. "Người bệnh giảm khả năng tự chăm sóc bản thân, suy nghĩ hoặc hành vi tiêu cực, thậm chí có thể gây nguy hiểm cho người khác", bác sĩ Chung phân tích. Do đó, các thành viên trong gia đình cần quan tâm đến người bệnh nhiều hơn. Với người có xu hướng rối loạn tâm lý cần đưa đi gặp bác sĩ. Ngoài ra, người dân có thể dùng liệu pháp ngâm chân nước nóng trước khi ngủ, tập thiền, yoga, sinh hoạt và ngủ nghỉ một cách khoa học... Hiện có nhiều chương trình tư vấn miễn phí về tâm lý qua hình thức trực tuyến, nếu thấy người thân có biểu hiện bất thường nhưng ngại đưa đến bệnh viện khám, các gia đình có thể liên hệ đến tổng đài để được hỗ trợ. "Việc chịu đựng các triệu chứng dai dẳng, âm ỉ rồi mới tới gặp bác sĩ sẽ khiến căn bệnh trở nên nghiêm trọng, có thể không kịp cứu vãn", các bác sĩ khuyến cáo. Covid-19 đã làm trầm trọng thêm vấn đề sức khỏe tinh thần, khiến các ca trầm cảm tăng lên. Theo Covid-19 Blues, một cuộc khảo sát trực tuyến được thực hiện bởi Tổ chức Phòng chống tự tử Ấn Độ có trụ sở tại Bangalore, số người có ý định tự tử, hành vi ngược đãi bản thân hoặc tái phát bệnh đều tăng mạnh. Từ đó, các bác sĩ tư ghi nhận số khách hàng nhiều hơn trong những tháng gần đây, với các nguyên nhân gây bệnh bao gồm bị cách ly, virus, bất ổn tài chính, thất nghiệp, bạo lực gia đình và căng thẳng. Một khảo sát do Bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện tại Bệnh viện Hồi sức Covid-19 TP Thủ Đức từ tháng 9 cũng cho thấy 53,3% bệnh nhân tại đây bị rối loạn lo âu, 16,7% stress và 20% trầm cảm. Đặc biệt, những bệnh nhân từng thở HFNC, thở oxy qua mặt nạ, hoặc thở máy, tỷ lệ trầm cảm và rối loạn lo âu lên tới 66,7%. Khoảng 67% bệnh nhân mong muốn được tư vấn, hỗ trợ tâm lý trong điều trị và sau khi xuất viện. Tương tự, theo kết quả một cuộc khảo sát của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ, Covid-19 khiến 63% người 18-24 tuổi lo âu hoặc trầm cảm, 25% số đó dùng chất kích thích nhiều hơn và khoảng 25% nghĩ đến việc tự sát.

Chương hợp tác mới, có ý nghĩa lịch sử ASEAN - Australia

 

Chương hợp tác mới, có ý nghĩa lịch sử ASEAN - Australia

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh Hội nghị Cấp cao ASEAN -Australia thường niên lần đầu tiên, đánh dấu một chương hợp tác mới, có ý nghĩa lịch sử. Thủ tướng bày tỏ ủng hộ nâng cấp quan hệ ASEAN - Australia lên thành đối tác chiến lược toàn diện.

Trưa 27/10, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự Hội nghị trực tuyến Cấp cao ASEAN - Australia thường niên lần thứ nhất. Lãnh đạo các nước ASEAN, Thủ tướng Australia Scott Morrison và Tổng Thư ký ASEAN cùng dự Hội nghị.

Tại Hội nghị, các Lãnh đạo đánh giá cao những tiến triển tích cực trong quan hệ đối tác ASEAN-Australia. Các nước khẳng định Australia luôn là một đối tác kinh tế quan trọng của ASEAN với tổng kim ngạch thương mại hai bên đạt hơn 100 tỷ đô-la Australia (AUD) trong năm 2020.

Các nước ASEAN đánh giá cao những hỗ trợ kịp thời của Australia trong phòng chống và kiểm soát dịch bệnh, trong đó có đóng góp 1 triệu AUD cho Quỹ ASEAN Ứng phó COVID-19 và 21 triệu AUD cho Trung tâm ASEAN ứng phó tình huống y tế công cộng khẩn cấp và dịch bệnh nhiễm mới nổi (AC-PHEED). Bên cạnh đó, ASEAN cũng mong Australia tiếp tục hợp tác hiệu quả trong phòng, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, môi trường, biến đổi khí hậu, quản lý thiên tai, hợp tác phát triển tiểu vùng và thu hẹp khoảng cách phát triển…

Thủ tướng Scott Morrison khẳng định coi trọng quan hệ với ASEAN, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực và Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AOIP), cam kết tham gia hiệu quả vào các cơ chế đối thoại và hợp tác do ASEAN chủ trì trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thúc đẩy trật tự khu vực dựa trên luật lệ, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định và phát triển tại khu vực.

Thủ tướng Australia thông báo đến nay đã cung cấp khoảng 4 triệu liều vaccine phòng COVID-19 cho các nước trong khu vực và thêm 10 triệu liều nữa đến giữa năm 2022. Đồng thời, Thủ tướng Australia cũng cho biết nước này đang tích cực triển khai chương trình tiếp cận vaccine cho khu vực trị giá 523 triệu AUD, và gói 500 triệu AUD hỗ trợ thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng khu vực. Nhân dịp này, Thủ tướng Scott Morrison đề xuất sáng kiến Australia vì Tương lai ASEAN và công bố hỗ trợ thêm 124 triệu AUD hỗ trợ các dự án hợp tác ứng phó với các thách thức nảy sinh.

Các nước đã trao đổi quan điểm về tác động của thỏa thuận giữa lãnh đạo của Australia, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ (AUKUS) đối với khu vực. Thủ tướng Australia tái khẳng định cam kết ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, thúc đẩy hòa bình, ổn định và an ninh khu vực trên cơ sở Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và các nghĩa vụ quy định trong Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Hội nghị khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Thủ tướng Australia khẳng định ủng hộ lập trường của ASEAN, phát huy vai trò thúc đẩy đối thoại và tăng cường xây dựng lòng tin, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC, xây dựng Bộ Quy tắc COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Australia hoan nghênh và khẳng định ủng hộ vai trò của ASEAN thúc đẩy đối thoại, hòa giải, hỗ trợ Myanmar tìm giải pháp ổn định tình hình.

Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh Hội nghị Cấp cao ASEAN - Australia thường niên lần đầu tiên, đánh dấu một chương hợp tác mới, có ý nghĩa lịch sử. Thủ tướng bày tỏ ủng hộ nâng cấp quan hệ ASEAN - Australia lên thành đối tác chiến lược toàn diện.

Thủ tướng đánh giá cao sự trợ giúp của Australia dành cho khu vực và các nước ASEAN ứng phó dịch bệnh COVID-19, cảm ơn Australia đã hỗ trợ vaccine, vật tư y tế cho các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Thủ tướng đề nghị Australia đẩy mạnh hỗ trợ ASEAN nâng cao năng lực dự phòng, ứng phó chủ động trước các tình huống y tế khẩn cấp và dịch bệnh truyền nhiễm trong tương lai, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững.

Thủ tướng nhấn mạnh hai bên cần nỗ lực nối lại các dòng chảy thương mại - đầu tư bị tác động bởi COVID-19, khuyến khích và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận trở lại thị trường của nhau, tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, thúc đẩy hợp tác hạ tầng số, hạ tầng chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các nước ASEAN và giao lưu nhân dân giữa hai bên. Thủ tướng mong muốn Australia tiếp tục ủng hộ nỗ lực của ASEAN trong tiến trình xây dựng Cộng đồng, thúc đẩy thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối các tiểu vùng trong ASEAN và khu vực, trong đó có tiểu vùng Mekong thông qua khuôn khổ Đối tác Mekong - Australia.

Thủ tướng hoan nghênh Australia chủ động và tham gia đóng góp trách nhiệm vào các vấn đề liên quan tới hoà bình, ổn định của khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Trên cơ sở đó, Thủ tướng bày tỏ mong muốn Australia tiếp tục ủng hộ nỗ lực của ASEAN gìn giữ hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông, đề cao tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, thông qua tiến trình ngoại giao, thúc đẩy kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình.

Kết thúc Hội nghị, Lãnh đạo ASEAN và Australia nhất trí nâng cấp quan hệ ASEAN -  Australia lên Đối tác Chiến lược Toàn diện.

 

Mỹ điều máy bay, tàu chiến thực hiện 2.000 lượt giám sát Trung Quốc

 

Mỹ điều máy bay, tàu chiến thực hiện 2.000 lượt giám sát Trung Quốc

Theo một nhà phân tích quân sự Trung Quốc, các tàu chiến và máy bay của Mỹ đã thực hiện hơn 2.000 hoạt động do thám nhằm vào Trung Quốc trong năm nay. Theo Cao Yanzhong, nhà nghiên cứu tại Học viện Khoa học quân sự thuộc quân đội Trung Quốc, mục tiêu hoạt động giám sát của tàu chiến và máy bay quân sự Mỹ hướng đến là các đảo, đá ngầm mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cũng như khu vực ven biển của nước này.

“Tần suất cao của các hoạt động trinh sát liên tục như vậy gây nguy hiểm cho an ninh, làm gia tăng căng thẳng khu vực. Điều này chắc chắn sẽ gây ra sự phản đối kiên quyết từ Trung Quốc và làm tăng nguy cơ đấu đối đầu”, ông Cao Yanzhong nói.

Ông Cao Yanzhong cho rằng “nhiệm vụ cấp bách nhất lúc này là Mỹ phải ngừng hoạt động trinh sát thường xuyên để giảm khả năng xảy ra đối đầu”.

Vị chuyên gia này cũng cho hay, Mỹ đã thực hiện một loạt hành động thách thức chủ quyền và an ninh Trung Quốc, cũng như đang cố gắng ngăn chặn Bắc Kinh trong các lĩnh vực thương mại, khoa học và công nghệ.

Theo ông Cao Yanzhong, Bắc Kinh buộc phải thực hiện các biện pháp đối phó, song điều này chắc chắn sẽ cản trở khả năng hợp tác giữa hai bên trong vấn đề như kiểm soát vũ khí và an ninh khu vực.

Ông Cao Yanzhong cho trằng, dù có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách liên lạc tốt hơn và tuân theo các quy tắc ứng xử an toàn giữa hai bên, song Mỹ nên thực hiện các điều chỉnh cơ bản đối trong chính sách với Trung Quốc, đồng thời ngừng coi Bắc Kinh là mối đe dọa.

Khi căng thẳng giữa hai bên ngày càng leo thang, Trung Quốc đã lên án sự gia tăng tần suất hoạt động do thám của máy bay và tàu chiến Mỹ. Ngoài việc thực hiện các “hoạt động tự do hàng hải”, máy bay trinh sát, tàu chiến và tàu ngầm của Washington cũng tiến hành nhiều hoạt động giám sát các căn cứ không quân và hải quân trên các đảo và gần bờ biển Trung Quốc.

Trung Quốc cũng cáo buộc Mỹ ngụy trang máy bay chiến đấu thành máy bay dân sự để thực hiện các nhiệm vụ trinh sát gần bờ. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Uông Văn Bân mô tả là "thủ đoạn phổ biến" mà không quân Mỹ đã thực hiện ít nhất 100 lần trong năm ngoái.

Tháng 8 năm ngoái, Bộ Quốc phòng Trung Quốc phản đối việc một máy bay giám sát của Mỹ đã đi vào vùng cấm bay ở biển Hoàng Hải trong một cuộc tập trận của quân đội nước này. Bắc Kinh mô tả hành động đó "vi phạm nghiêm trọng" các quy tắc ứng xử an toàn.

Trong tháng này, Bắc Kinh bày tỏ lo ngại về khả năng rò rỉ hạt nhân sau vụ việc tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân USS Connecticut va chạm với một vật thể không xác định ở Biển Đông và yêu cầu Washington cung cấp chi tiết. Tuy nhiên, Mỹ không công bố thêm thông tin về vụ việc.