Chủ Nhật, 31 tháng 10, 2021

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Tỉnh táo trước các luận điệu “mê hoặc" dư luận về biên giới, lãnh thổ


          Cần kiên trì vạch trần, phản bác và bác bỏ các luận điệu sai trái biên giới, lãnh thổ.

          Trong cuộc trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân mới đây, TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, cho rằng chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là vấn đề nhạy cảm nên thường bị các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng nhằm phá hoại sự ổn định về chính trị-xã hội ở Việt Nam. Bởi vậy, cần kiên trì vạch trần, phản bác và bác bỏ các luận điệu sai trái về vấn đề này. 

          Phóng viên (PV): Từng nhiều năm làm việc liên quan đến vấn đề biên giới, lãnh thổ và đã tham gia các cuộc đàm phán hoạch định biên giới trên đất liền, đề nghị ông cho biết những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trên lĩnh vực này?

          TS Trần Công Trục: Đến nay, việc giải quyết vấn đề biên giới đất liền giữa Việt Nam với 3 nước láng giềng có chung đường biên giới là Lào, Trung Quốc và Campuchia thu được những thành quả rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa về chính trị trong quan hệ quốc tế hiện nay mà còn có giá trị pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh của quốc gia.

          Quá trình này được triển khai theo nguyên tắc pháp lý mà các bên đã thỏa thuận dùng làm căn cứ duy nhất để xử lý tất cả nội dung cần thực hiện trong các giai đoạn: Hoạch định biên giới, phân giới cắm mốc và quản lý biên giới, mốc quốc giới mới.

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền với Trung Quốc: Tháng 12-1999, Việt Nam và Trung Quốc chính thức ký Hiệp ước hoạch định biên giới, được Quốc hội hai nước phê chuẩn trong năm 2000.

          Dựa vào hiệp ước này, từ tháng 12-2001, hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc và đến cuối năm 2008, công tác phân giới, cắm mốc cơ bản hoàn thành.

          Kết quả, chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566km, trong đó có 383,914km đường biên giới đi theo sông, suối, cắm được 1.970 cột mốc, trong đó có 1.548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ.

          Sau khi hoàn thành việc phân giới, cắm mốc biên giới đất liền, để hợp tác bảo vệ, quản lý biên giới và mốc quốc giới, năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định quản lý biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc và Hiệp định về cửa khẩu và quy chế quản lý cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc; năm 2015, hai bên chính thức ký kết Hiệp định tàu thuyền đi lại tự do ở cửa sông Bắc Luân và Hiệp định hợp tác, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch thác Bản Giốc.

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền với Campuchia: Ngày 27-12-1985, hai bên ký chính thức Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và   Campuchia. Ngày 10-10-2005, hai bên ký chính thức Hiệp ước giữa Việt Nam và Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985.

Ngày 5-10-2019, tại Hà Nội, hai bên ký chính thức hai văn kiện nhằm ghi nhận khoảng 84% thành quả phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền.

          Như vậy, sau hơn 36 năm đàm phán, hai nước đã có khoảng 84% chiều dài đường biên giới được phân giới, cắm mốc và được ghi nhận rõ ràng trên hồ sơ pháp lý cũng như trên thực địa với một hệ thống mốc biên giới khang trang, chính quy, hiện đại và bền vững.

Lãnh thổ, biên giới quốc gia đã trở thành vấn đề thiêng liêng, rất nhạy cảm và luôn được quan tâm đặc biệt bởi mọi tầng lớp nhân dân. Ảnh minh họa:Tạp chí Cộng sản

          Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền Việt Nam-Lào: Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Việt Nam và Lào đã được ký kết ngày 18-7-1977.

          Đến tháng 6-1981, hai bên đã phân giới trên thực địa và cắm mốc xong 95% đường biên giới Việt Nam-Lào. Ngày 16-10-1987, hai bên đã ký Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kết quả công tác phân giới, cắm mốc theo Hiệp ước bổ sung, kèm theo toàn bộ các văn bản pháp lý của quá trình này, kết thúc quá trình phân giới, cắm mốc toàn bộ đường biên giới Việt Nam-Lào.

          Từ tháng 5-2008, hai nước chính thức triển khai Kế hoạch tổng thể thực hiện công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam-Lào nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống mốc quốc giới giữa hai nước theo hướng chính xác, hiện đại, bền vững và thống nhất trên toàn tuyến biên giới, trong đó ưu tiên cắm mốc ở khu vực có cửa khẩu và khu vực có đường giao thông thuận lợi đi qua nhằm tăng cường hợp tác, giao lưu phát triển kinh tế và ổn định trật tự an toàn xã hội vùng biên giới....

          Có được thành quả nói trên, yếu tố tiên quyết là Việt Nam đã cùng với các quốc gia láng giềng giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ hoàn toàn dựa theo các nguyên tắc hiện hành và phổ biến của luật pháp và thực tiễn quốc tế, theo phương thức đàm phán hòa bình đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc.

          PV: Vậy tại sao vẫn có những người thường xuyên đưa ra những “phán xét” nhằm phủ nhận hoặc cố tình làm sai lệch những thành quả ấy?

          TS Trần Công Trục: Giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia là vấn đề cực kỳ phức tạp, phụ thuộc vào quá trình hình thành các quốc gia theo sự biến động không ngừng của luật pháp và tập quán quốc tế, qua các giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại.

          Lãnh thổ, biên giới quốc gia đã trở thành vấn đề thiêng liêng, rất nhạy cảm và luôn được quan tâm đặc biệt bởi mọi tầng lớp nhân dân. Vì vậy, đây là một trong những nội dung thường được các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng nhằm rắp tâm phá hoại sự ổn định về chính trị-xã hội ở Việt Nam.

          Các đối tượng này đã và đang sử dụng nhiều hình thức và thủ thuật rất tinh vi, xảo hoạt, cố tình tung ra những thông tin và những tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để "mê hoặc" và đánh lừa dư luận.

          Cũng cần nói thêm rằng, muốn giải quyết được vấn đề biên giới, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đòi hỏi phải kiên trì, bền bỉ và dựa trên tinh thần hết sức cầu thị, cái gì đúng thì chúng ta kiên quyết bảo vệ; cái gì sai chúng ta phải điều chỉnh.

          Có như vậy đàm phán mới có kết quả, nguyên tắc pháp lý mới được tôn trọng. Thực tế cho thấy, đại đa số người dân cũng như công luận quốc tế, khu vực và ngay cả các quốc gia láng giềng tham gia đàm phán với chúng ta đều hoan nghênh thái độ cầu thị này.

          Cá nhân tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia, tạo nên sự đồng thuận, củng cố sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sự đồng lòng, giúp sức của người dân, bạn bè quốc tế trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và các quyền hợp pháp của quốc gia, dân tộc.

          PV: Nhắc đến bảo vệ chủ quyền, biên giới quốc gia không thể không nhắc tới vai trò của người dân, đặc biệt là người dân ở khu vực giáp biên. Theo ông, vai trò đó cần được phát huy bằng cách nào?

          TS Trần Công Trục: Muốn bảo vệ, quản lý biên giới hiệu quả và vững bền thì phải dựa vào dân, lấy nhân dân làm trung tâm trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị-xã hội ở biên cương. Vì vậy, phải ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, văn hóa, xã hội nơi vùng cao, biên giới. Đó cũng là một trong những chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

          Bên cạnh đó, để phát huy vai trò của người dân trong bảo vệ, quản lý biên giới không thể chỉ dừng lại ở những chỉ thị, nghị quyết mà điều cốt lõi là phải bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, thông qua các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thực tế và khả thi. Trước hết, cần phải đổi mới nhận thức và thay đổi tư duy về công tác quản lý biên giới sao cho phù hợp với những biến đổi về kinh tế-xã hội và quan hệ chính trị quốc tế hiện nay.

          Cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên hội nhập, hợp tác, phát triển vì lợi ích chung của nhân loại, việc bảo vệ, quản lý biên giới cũng đã có chuyển biến mới về tư duy và phương thức hành xử trên thực tế.

          Một mặt phải có chính sách khuyến khích người dân ra sinh sống, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, củng cố chính hệ thống chính trị ở khu vực biên giới một cách ổn định, bền vững, lâu dài; mặt khác cũng cần tỉnh táo, cảnh giác với chiến lược “sức mạnh mềm”, “biên giới mềm” đã và đang triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau.

          PV: Hiện nay, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin, ý kiến mang tính quy chụp, sai lệch và đi ngược với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

          TS Trần Công Trục: Đúng là hiện nay, trên mạng xã hội vẫn còn những ý kiến băn khoăn, thậm chí phủ nhận hoặc cố tình xuyên tạc những thành quả của quá trình giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng.

          Đối tượng đưa ra những ý kiến kiểu này có thể được chia thành 3 nhóm: Các thế lực phản động, chống phá, âm mưu lật đổ Đảng và Nhà nước Việt Nam; các phần tử cơ hội chính trị thường dùng thủ đoạn bôi nhọ hòng hạ thấp vai trò, uy tín của một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước; cán bộ, nhân dân xuất phát từ động cơ luôn quan tâm và đau đáu với vấn đề lãnh thổ, biên giới quốc gia, song lại thiếu thông tin và bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các thông tin sai lệch đang lan tràn trên các trang mạng xã hội.

          Đáng chú ý, nhóm đối tượng thứ nhất và thứ hai đang lợi dụng tính phức tạp, nhạy cảm của vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia để phục vụ cho mục đích chính trị đen tối.

          Thường thì các đối tượng này sử dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ, cùng với vấn đề tôn giáo, sắc tộc, nhân quyền để kích động, lôi kéo công chúng nhằm mục đích chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

          Với nhóm đối tượng này, chúng ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, có biện pháp ngăn chặn và vạch trần những sai trái trong các luận điệu của họ, nhất là những luận điệu núp dưới hình thức là những thông tin, công trình nghiên cứu khoa học, kỹ thuật...

          Các cơ quan truyền thông và các cơ quan chức năng cũng cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, cung cấp một cách công khai, minh bạch những thông tin có liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ quốc gia; kịp thời phản biện, ngăn chặn những thông tin giả...

          Đồng thời, mỗi người dân phải luôn tỉnh táo, không để dễ dàng bị "mê hoặc" bởi những luận điệu xuyên tạc như đã nói ở trên.

          PV: Trân trọng cảm ơn ông! 

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Trong thời gian tới, để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiếp tục đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ta cần chú trọng thực hiện tốt một số định hướng, giải pháp như sau:


Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra, nhận thức rõ đây là nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài, không chỉ là công việc của các cơ quan đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu ĐLDT và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.  


Hai là, đặc biệt coi trọng việc kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Đa dạng hóa nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nhiều cấp độ, phù hợp với từng đối tượng, từng lĩnh vực và mỗi tầng lớp nhân dân. Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo kịch bản chặt chẽ, tổ chức chiến dịch truyền thông thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về truyền thông, báo chí, nhất là quản lý thông tin trên internet và mạng xã hội. Khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý các hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm.


Ba là, tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên internet.


Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu để định hình, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; chú ý nhận diện những vấn đề mà các thế lực thù địch tập trung chống phá để xây dựng luận cứ khoa học thuyết phục, phục vụ và trực tiếp đấu tranh phản bác. Tập trung bảo vệ và làm lan tỏa những nội dung mới, tầm nhìn, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận; trong đó, chú trọng bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những vấn đề lý luận mới về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, QP, AN trong tình hình mới... Nghiên cứu trên quan điểm khách quan, khoa học những tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiến bộ để chắt lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời, nghiên cứu sâu các vấn đề quốc tế, các sự kiện gây “sốc” trên thế giới, để “mở mắt” cho các thế lực thù địch, phản động - những kẻ thường xuyên viện dẫn một cách lệch lạc, khập khiễng các vấn đề bên ngoài để bôi xấu, chỉ trích, xuyên tạc tình hình trong nước.


Năm là, gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên, với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị TSVM. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.

Môi Trường ST.

CHỌN CÁN BỘ - LIỀU THUỐC ĐẶC TRỊ CHO "BỆNH SỢ TRÁCH NHIỆM"

 Các chuyên gia cho rằng mọi cơ chế khuyến khích và bảo vệ sẽ thất bại nếu cán bộ chỉ nghĩ đến chiếc ghế của bản thân. Khi con người là yếu tố quyết định, chọn đúng cán bộ mới là mấu chốt để tạo nên sức bật đổi mới, sáng tạo, phá bỏ sự trì trệ mà chúng ta hướng đến.
Tạo không gian thể chế cho đổi mới
Đánh giá Kết luận 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm là “hết sức cần thiết”, thậm chí “cấp bách” trong giai đoạn hiện nay, ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, cũng nhấn mạnh để chủ trương đúng đắn này đi vào cuộc sống, trước hết cần có sự thống nhất, đồng thuận trong cả xã hội, đặc biệt là từ lãnh đạo cấp cao nhất. “Nếu không có sự nhất trí cao thì rất khó”, ông Túc nói.

Đồng tình với ông Túc, TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhìn nhận khi “người ta dấn thân, dám nghĩ dám làm, chưa biết kết quả thế nào mà đã ném đá thì khó lắm”. “Vấn đề nhận thức, nhất trí là rất quan trọng”, ông Dũng nói. Cũng theo ông Dũng, Kết luận 14 của Bộ Chính trị khơi gợi những cải cách về thể chế để đảm bảo khuôn khổ cho tự do - cốt lõi cho sự đổi mới, sáng tạo.

Dẫn câu chuyện quy định của pháp luật về trưng thu tài sản cá nhân trong trường hợp khẩn cấp, ông Dũng phân tích, nếu có một quy định chung, một công chức có thể lấy ô tô đi ngang qua để cứu đê trong trường hợp khẩn cấp nhưng nếu luật quy định để sử dụng chiếc ô tô đó đi cứu con đê sắp vỡ, phải có người làm chứng, phải có thỏa thuận, hoặc có ý kiến của UBND thì làm xong có khi đê vỡ từ lâu. Theo ông Dũng, tư duy lập pháp kiểu “cái gì cũng cần luật” và luật nào cũng cần chi tiết hiện nay đang “trói chặt” không gian đổi mới sáng tạo không chỉ ở khu vực công. “Nếu luật khung thì có thể xảy ra tự tung tự tác, có thể tham nhũng, nhưng luật chi tiết thì còn cái gì mà làm nữa”, ông Dũng nói và cho rằng chỉ nên quy định chi tiết ở những lĩnh vực có thể xảy ra tham nhũng, khi công chức tồi, còn ở các lĩnh vực khác thì chỉ nên quy định khung.

“Luật pháp sinh ra để bảo vệ quyền tự do của con người. Nếu cái gì cũng điều chỉnh hết sẽ thành vô vàn sợi dây trói buộc, trói chặt tiềm năng của đất nước, trói chặt khả năng của con người”, ông Dũng nói. Bên cạnh đó, sự chồng chéo, xung đột trong hệ thống pháp luật đến mức không ai có thể tuân thủ hết được, vì cứ tuân thủ luật này sẽ vi phạm luật kia dẫn đến tình trạng “càng làm nhiều càng sai nhiều” mà nhiều người đã nhắc tới.

“Không xử lý được những vấn đề nói trên thì không có sáng tạo, không có tự do và đòi hỏi cán bộ dám nghĩ, dám làm là điều rất khó”, ông Dũng nói.

Cốt cách con người vẫn là quyết định
Tuy nhiên, mọi cơ chế thí điểm, thậm chí không gian thể chế cho tự do đổi mới, sáng tạo sẽ trở nên vô dụng, thậm chí có khả năng bị lợi dụng, nếu như cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo vẫn chỉ nghĩ tới chiếc ghế của bản thân. Sợ trách nhiệm lúc này đã trở thành ngó lơ trách nhiệm.

Thực tiễn từ lịch sử cho tới hiện tại cho thấy, chỉ khi những người đứng đầu quyết liệt dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và những cán bộ thực thi dù không đủ thẩm quyền để chịu trách nhiệm nhưng xác quyết mục tiêu: cái gì tốt, có lợi cho dân thì làm, chúng ta mới có những câu chuyện “xé rào” thành công. “Cốt cách con người vẫn là quyết định”, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan đúc kết.

Ông Vũ Khoan kể, khi giao cho ông làm Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế (Bộ Ngoại giao) để thực hiện chủ trương ngoại giao làm kinh tế, ông Nguyễn Cơ Thạch (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) đã phải gọi điện cho ông Lữ Minh Châu, khi đó là Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (tương đương Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hiện nay) để “chỉ thị”, cung cấp thông tin cho ông Khoan. “Ông Thạch đứng ra hỗ trợ thì mới làm được chứ nếu không thì tôi có là vụ trưởng thì đến bảo vệ cũng gạt ra từ ngoài cổng chứ làm sao mà tiếp cận được Thống đốc Ngân hàng”, ông Khoan nói và nhấn mạnh, nhân tố quyết định nhất vẫn là người lãnh đạo, “không có lãnh đạo đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì mọi chuyện chẳng đi đến đâu hết”.

Theo ông Vũ Khoan, tâm lý sợ hãi, giữ mình khi nhiều cán bộ bị xử lý, kỷ luật là có, song không phải là trở ngại. “Vì anh đã đổi mới sáng tạo, tâm anh trong sáng anh sợ gì. Chỉ sợ anh lợi dụng cái đó anh đút túi thôi. Thời chúng tôi khó khăn thế nhưng vẫn vượt qua được nhờ có sự ủng hộ của người lãnh đạo. Sai lầm bây giờ là do mình chọn cán bộ dở quá, thành thử mới xảy ra tình trạng nhiều cán bộ bị xử lý như vừa qua. Chứ còn dùng người mà đúng, có tư tưởng đổi mới, sáng tạo thật và động cơ trong sáng thì đâu có phải. Đừng lẫn lộn 2 chuyện đó”, ông Khoan nói và cho rằng những người bị xử lý thời gian qua là do vi phạm chứ không ai bị xử lý vì đổi mới, sáng tạo cả.

Cũng theo ông Khoan, một khi cán bộ dám đổi mới, sáng tạo thì phải sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng, thậm chí là vị trí, uy tín của mình cũng có thể phải hy sinh. Thường những người đổi mới sáng tạo thực sự sẽ như vậy. “Còn nghĩ đến thân thì không bao giờ có đổi mới, sáng tạo gì cả”, ông Khoan nói.

Cũng cho rằng, cách chọn người cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc chúng ta chưa có những cán bộ dám nghĩ, dám làm, và dám chịu trách nhiệm, GS-TS Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, chỉ ra rằng hạn chế trong việc chọn người hiện nay là quá phụ thuộc vào cơ quan tổ chức, chọn từ trên xuống mà không phát hiện từ dưới lên, trong khi cơ quan tổ chức cán bộ quá phụ thuộc vào lý lịch, bằng cấp mà ít lắng nghe ý kiến nhân dân.

“Quy trình lựa chọn cán bộ rất chặt chẽ nhưng vẫn sai vì dù quy trình rất đúng, rất chặt chẽ nhưng từng bước trong quy trình ấy lại không đúng”, ông Chuẩn nói và cho rằng chỉ khi cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược được chọn có đủ nền tảng văn hóa, tầm nhìn sâu rộng, tiếp cận được những tư duy mới thì họ mới dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đồng thời dám chịu trách nhiệm.
-----------------
Phùng Tiến
Theo: Báo Thanh Niên.


Thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với lực lượng vũ trang

 


Thông qua các mạng xã hội như YouTube, Facebook... các thế lực thù địch đang thực hiện chiến dịch truyền thông “gắp lửa bỏ tay người”, xuyên tạc, bôi nhọ một số tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội.

Mục đích hướng tới của chúng nhằm hạ bệ thần tượng, làm mất uy tín đội ngũ cán bộ quân đội, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết đồng chí, đồng đội, phá hoại giá trị bản sắc Bộ đội Cụ Hồ.

Nội dung do các thế lực thù địch thực hiện nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội, đều là chiêu bài ngụy tạo chứng cứ, nói không thành có, bóp méo, bôi đen... Chúng đẩy vấn đề lên thành một chiến dịch truyền thông để gây nhiễu thông tin, nhiễu loạn môi trường tương tác trên không gian mạng, kích động, lôi kéo dư luận, hòng gây mất ổn định chính trị và an ninh trật tự trong bối cảnh cả nước đang tập trung nguồn lực cao phong, chống đại dịch Covid-19... Đây là thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, hướng đến mục tiêu chống phá quân đội, chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, gây mất niềm tin trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân.

Có thể nhận diện thủ đoạn của các thế lực thù địch và đối tượng phản động nhắm vào hàng ngũ tướng lĩnh, nguyên cán bộ cấp cao trong quân đội trên không gian mạng như sau:

Về hình thức, ngoài những bài viết, chúng sử dụng chủ các video. Thông qua sử dụng phần mềm chỉnh sửa, cắt cúp, gán ghép hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao và nguyên lãnh đạo cấp cao của quân đội làm hình ảnh nền, sắp xếp, trình bày theo ý đồ xuyên tạc. Những cái gọi là “phóng sự truyền hình”, thực chất chỉ là thủ thuật lấy hình ảnh, clip về hoạt động của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao trong quân đội đã được báo chí, truyền thông đăng tải rồi cắt ghép, sắp xếp, làm nền cho lời bình xuyên tạc. Chiêu bài này thực chất là kiểu ngụy tạo chứng cứ để lừa bịp những người nhẹ dạ cả tin.

Về nội dung, những cái gọi là “tin mật”, “nguồn tin riêng”, “nguồn tin đáng tin cậy”, “tin từ nội bộ”... mà các thế lực thù địch, phần tử phản động rêu rao, thực chất là mớ thông tin ngụy tạo, nhảm nhí, nhằm mục đích giật gân, câu view. Chúng tung tin thất thiệt bôi nhọ đời tư, xuyên tạc tình hình vợ con, gia đình, giải quyết quan hệ đối ngoại... của một số đồng chí tướng lĩnh, nguyên lãnh đạo cấp cao của Quân đội ta nhằm gây nhiễu dư luận trên không gian mạng.

Trong chiến dịch chống phá này, chúng hướng tới là với chiêu thức “lộng giả thành chân”, chúng muốn lèo lái dư luận theo hướng nội bộ lãnh đạo cấp cao của quân đội đang có “vấn đề”, mâu thuẫn, mất đoàn kết...?! nhằm:

Thứ nhất: Thông qua luận điệu xảo trá, chúng xuyên tạc, kích động để cán bộ, chiến sĩ LLVT và công chúng hiểu sai lệch về mối quan hệ giữa cán bộ đương chức với các đồng chí đã nghỉ hưu, nghỉ chờ hưu.

Thứ hai: chúng xuyên tạc, phá hoại chủ trương hiện đại hóa quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để hiện đại hóa quân đội thành công, phải bắt đầu bằng chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. chống phá vào hàng ngũ tướng lĩnh, cán bộ cấp cao của quân đội chính là chúng muốn chống phá ta trên lĩnh vực tư tưởng chính trị từ trong đánh ra, từ trên đánh xuống.

Thứ ba: gây xói mòn lòng tin, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết giữa quân với dân. Đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập với phương châm tự lực, tự cường, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước hùng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc giữ vững ổn định chính trị đất nước là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Các thế lực thù địch hiểu rõ Quân đội ta chính là thành trì vững chắc về chính trị, tư tưởng của Đảng và nhân dân. Để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng nhắm vào trận địa tư tưởng trong quân đội, xuyên tạc, phá hoại từ trung tâm bộ máy lãnh đạo

Thứ tư, nhằm gây rối về chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, làm suy yếu lực lượng trên tuyến đầu phòng, chống dịch Covid-19; lôi kéo, xúi giục nhân dân phủ nhận vai trò của quân đội. Phá hoại trận địa tư tưởng trong quân đội cũng chính là cách các thế lực thù địch hướng tới nhằm cản trở quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.

  vậy mỗi cán bộ chiến sỹ trong lực lượng vũ trang cần nâng cao cảnh giác, nhận diện âm mưu, thủ đọan chống phá của các thế lực trên lĩnh vực chhính trị, tư tưởng; giữ vững trận địa tư tưởng, bản lĩnh chính trị. Kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp uy tín, niềm tin của nhân dân đối với lực lượng vũ trang./. NVS

DƯỚI ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA, VIỆT NAM TRỞ THÀNH ĐIỂM SÁNG TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI

 

DƯỚI ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA, VIỆT NAM TRỞ THÀNH ĐIỂM SÁNG TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THẾ GIỚI

Khi Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, Quốc tế 3 ra đời, đã định ra xu hướng thời đại: Giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga thổi luồng sinh khí chính trị hiện thực hóa Chủ nghĩa Mác - Lênin, tập trung sự chú ý của phong trào cách mạng Việt Nam hướng về nước Nga và Lênin. Sự thôi thúc của phong trào cách mạng thế giới đã đưa Nguyễn Ái Quốc tự giác và tiến sâu hơn vào phong trào cách mạng quốc tế, trước hết là cách mạng ở nước Pháp, đó là cơ hội giúp cho Nguyễn Ái Quốc hoàn thiện nhãn quan chính trị , trở thành người Việt Nam đầu tiên là chiến sĩ cộng sản quốc tế, trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Luận cương của Lênin là sản phẩm lý luận được người đứng đầu Đảng bôn-sê-vích Nga kế thừa, phát triển, sáng tạo vào thực tiễn nước Nga và cách mạng thế giới ở đầu thế kỷ XX. Tư tưởng lớn, được kiểm định qua cuộc cách mạng vĩ đại đã hoàn toàn thuyết phục được Nguyễn Ái Quốc. Hướng đi đúng đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc bắt gặp chân lý thời đại, Người đinh ninh rằng, chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin, đến nay, qua 100 năm rồi, điều đinh ninh ấy đã đủ thời gian và thực tiễn cách mạng kiểm chứng. Lịch sử đã đúng, dân tộc Việt Nam đã đúng khi Nguyễn Ái Quốc quyết định dứt khoát ngay từ đầu là hướng theo ánh sáng của cách mạng Tháng Mười Nga, lựa chọn Chủ nghĩa Mác-Ăng ghen-Lênin làm kim chỉ Nam cho Đảng cộng sản Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc “tấn công lên trời” của một dân tộc bị đô hộ giành lại quyền độc lập.

Ngay tiếp cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hai cuộc kháng chiến vệ quốc kéo dài 30 năm đã cho thấy lý luận cách mạng mà Đảng ta lựa chọn, con đường đi theo cách mạng Tháng Mười Nga là đúng đắn. Có Đảng, có Bác Hồ, đồng bào ta đã viết nên khúc tráng ca lịch sử thời đại Hồ Chí Minh.

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐẶT TIỀN ĐỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỐT LÕI KHỞI ĐẦU THỜI ĐẠI MỚI

 Cuộc cách mạng tư sản Anh (năm 1860 - 1864) và tiếp đó là các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ ở châu Mỹ, châu Âu đã cáo chung thời đại phong kiến, mở ra thời đại tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới. Tuy nhiên, như Nguyễn Ái Quốc nhận định, các cuộc cách mạng tư sản Anh, Mỹ, Pháp chưa phải là cách mạng xã hội triệt để, vì bản chất của nó là chuyển địa vị thống trị từ giai cấp phong kiến sang giai cấp tư sản với hình thức bóc lột tinh vi hơn (Mác đã chỉ ra đó là bóc lột sức lao động thông qua giá trị thặng dư). Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển cao của phương thức áp bức, bóc lột do giai cấp tư sản là chủ nhân, khiến cho nhân loại phải đau đớn. Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi đã mở ra chân trời mới, thời đại lịch sử mới trong lịch sử nhân loại. Cuộc cách mạng này đã giải quyết được một số mục tiêu có tính bao trùm thời đại, như: (1) Thay đổi trật tự và các mối quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ; (2) Thay đổi động lực phát triển xã hội trên cơ sở giải phóng tư tưởng các tầng lớp bị áp bức thống trị; (3) Thiết kế và xây dựng một chế độ xã hội, một thể chế chính trị vì con người, cho con người, vì Tổ quốc, vì sự tiến bộ của nhân loại; (4) Phát triển thực chất tư tưởng nhân văn, nhân ái của Mác - Ăng ghen về tình hữu ái giữa người với người trên phạm vị thế giới; đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức cùng đấu tranh vì hòa bình.

Từ những giá trị cốt lõi nêu trên, thế kỷ XX được coi là thế kỷ thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thế kỷ của đấu tranh giải phóng dân tộc, thế kỷ của đấu tranh vì dân chủ, hòa bình. Những giá trị sống văn minh, tiến bộ, tình hữu ái nhân loại, tình yêu Tổ quốc trở thành những giá trị thiêng liêng, có sức mạnh gấp triệu lần sức mạnh vật chất. Thế giới có hệ thống xã hội chủ nghĩa đối trọng, đấu tranh sinh tử buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh. Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, chủ nghĩa thực dân kiểu mới lần lượt bị đánh đổ. Các cuộc chiến tranh do chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít gây ra đều bị các lực lượng tiến bộ đẩy lùi. 

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2021

QUÂN ĐỘI - CÔNG CỤ MẠNH VÀ TIN CẬY NHẤT "KHOANH TAY ĐỨNG NHÌN"!

Trong Cách mạng Tháng Mười, gần 20 vạn đảng viên Bolshevik đã lãnh đạo chưa đến 3 vạn binh sĩ cách mạng và đội tự vệ đỏ công nhân giành chính quyền. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, hơn 5.5 triệu đảng viên đã lãnh đạo nhân dân đánh bại phát xít Đức. Thế nhưng hơn 70 năm sau, gần 20 triệu đảng viên và hơn 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu "phi chính trị hóa" của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết - chính thể sinh ra mình sụp đổ.

Sau khi Liên Xô tan rã, Cục trưởng Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ Robert M.Gates đi dạo trên Quảng trường Đỏ đã nói: “Chúng tôi biết rằng, cho dù gây áp lực về kinh tế hay chạy đua vũ trang, thậm chí là sử dụng vũ lực sẽ không làm gì được. Chỉ có bằng cách phá từ trong nội bộ để hủy hoại nó (Liên Xô)”.

Ngày 19-8-1991, nhằm cứu vãn Liên Xô đang bên bờ vực sụp đổ, một số những người cộng sản trong Đảng Cộng sản Liên Xô đã quyết định tiến hành một cuộc chính biến. Nỗ lực này được thực hiện bởi các thành viên Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp mới thành lập trước đó, đứng đầu là Phó tổng thống Gennady Yanaev cùng lãnh đạo cơ quan an ninh KGB Vladimir Kryuchkov, Bộ trưởng Nội vụ Boris Pugo, Bộ trưởng Quốc phòng Dmitriy Yazov, Thủ tướng Valentin Pavlov... chiếm quyền điều hành đất nước khi Gorbachev đang đi nghỉ ở Crimea.

“Hỡi đồng bào, nhân dân Liên Xô! Trong giờ phút khó khăn, nguy cấp đối với vận mệnh của Tổ quốc và các dân tộc chúng ta, chúng tôi xin có đôi lời gửi đến toàn thể đồng bào! Đất mẹ vĩ đại của chúng ta đang đứng trước hiểm họa nguy vong! Chính sách cải tổ do Mikhail Gorbachev khởi xướng, với ý định nhằm bảo đảm cho sự phát triển năng động của đất nước và dân chủ hóa đời sống xã hội, vì nhiều lý do mà đã rơi vào bế tắc. Lợi dụng quyền tự do được trao, chà đạp lên những chồi non vừa mới xuất hiện của nền dân chủ, các thế lực cực đoan đã trỗi dậy nhằm xóa sổ Liên bang Xô viết, làm sụp đổ Nhà nước và chiếm lấy chính quyền bằng bất cứ giá nào” - Thông điệp của Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp gửi nhân dân Liên Xô.

Quân đội và cơ quan an ninh của Liên Xô đã được huy động để thực thi nhiệm vụ này. Tuy nhiên, đúng vào thời khắc quyết định, những tính toán đã không diễn ra theo kế hoạch. Hàng đoàn xe tăng kéo dài của Quân đội Liên Xô hướng về Quảng trường Đỏ mà không biết hành động theo lệnh của ai, bảo vệ cái gì và chiến đấu chống lại ai. Yeltsin thậm chí đã trèo lên một xe tăng trong tiếng hò reo rồi kêu gọi quân đội không chống lại người dân, cáo buộc những người đảo chính hành động vô trách nhiệm và hối thúc thêm nhiều người dân Nga đình công.

Trong khi đó, lực lượng nhảy dù do Tư lệnh Grachev cầm đầu tiến vào Moskva, được giao nhiệm vụ khống chế “Nhà Trắng” - Trụ sở làm việc của nước Cộng hòa Nga. Grachev bề ngoài thì chấp hành, nhưng lại ngấm ngầm làm ngược lại. Danh nghĩa là thực thi mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, nhưng trên thực tế lại ủng hộ dân chủ và thế lực ly khai. Về phía Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB), Tổ hành động “Alpha” do Tướng Karpukhin chỉ huy đã cự tuyệt chấp hành mệnh lệnh của Tổng bộ KGB về việc tấn công “Nhà Trắng”, bắt giữ Yeltsin.

Tư lệnh Không quân Shaboshnikov lúc đầu lấy lý do thời tiết không thích hợp cho việc cất cánh để trì hoãn việc đưa lực lượng nhảy dù tới, sau đó thì dẫn đường cho máy bay hạ cánh nhầm sân bay, khiến lực lượng nhảy dù không thể tập kết đúng thời gian trong kế hoạch, thậm chí còn trực tiếp bày tỏ ủng hộ Yeltsin.

Chính biến thất bại sau 3 ngày, các thành viên của Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp bị bắt giữ. Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô sụp đổ chỉ sau đó vài tháng.

Trong thời gian Gorbachev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội Liên Xô đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi từ bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của đảng đối với quân đội, làm cho quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa”, mất niềm tin vào chế độ, suy giảm sức mạnh, ý chí chiến đấu và cuối cùng bị vô hiệu hóa.

Ngày 12-3-1990, tại Đại hội đại biểu bất thường lần thứ ba, Đảng Cộng sản Liên Xô đã chấp nhận từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội (Điều 6, Hiến pháp Liên bang Xô viết); chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từng bước xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo đối với lực lượng vũ trang. Ngày 20-7-1991, sau khi đắc cử Tổng thống Liên bang Nga, B. Yeltsin ký mệnh lệnh "chấm dứt các hoạt động tổ chức phong trào xã hội mang tính chính đảng và quần chúng tại các cơ quan, tổ chức nhà nước thuộc Liên bang Nga" (mệnh lệnh "phi Đảng hóa"). Mệnh lệnh tuyên bố cấm các chính đảng hoạt động trong cơ quan nhà nước, đoàn thể quần chúng các cấp và xí nghiệp cơ sở, bao gồm cả lực lượng vũ trang.

Trong quân đội và lực lượng an ninh Liên Xô dấy lên phong trào rời bỏ Đảng. Đứng đầu là Bộ trưởng Quốc phòng Yevgeny Shaposhnikov ngày 23-8-1991, đã tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô và buộc mọi quân nhân là đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô phải trả lại thẻ đảng.

Sau đó ít ngày, Chủ tịch Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô Đại tướng V.Kryuchkov và Bộ trưởng Nội vụ Liên Xô Thượng tướng B. Pugo cũng tuyên bố ra khỏi đảng và ra lệnh mọi tướng lĩnh, sỹ quan, hạ sỹ quan An ninh và Cảnh sát Xô viết phải trả thẻ đảng, thực hiện “phi chính trị hóa” cơ quan An ninh và Cảnh sát.

Ngày 24-8-1991: Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Ông còn lấy danh nghĩa Tổng thống, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Liên Xô chấm dứt hoạt động trong lực lượng vũ trang và tất cả các cơ quan quân sự, cơ quan nhà nước và cơ quan bảo vệ pháp luật.

Cùng với việc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, Gorbachev đã thẳng tay hủy hoại hệ thống tổ chức của đảng trong quân đội.

Để thực hiện “dân chủ hóa”, khi điều chỉnh biên chế tổ chức của quân đội, Đảng Cộng sản Liên Xô đã từng bước cắt giảm cơ quan chính trị các cấp và khoảng 80 nghìn sĩ quan làm công tác chính trị, đặc biệt là xóa bỏ Tổng cục Chính trị trong quân đội. “Điều lệ công tác trong lực lượng vũ trang do Đảng Cộng sản Liên Xô tổ chức” cấm các tổ chức và cơ quan của Đảng Cộng sản Liên Xô can thiệp vào công việc của nhân viên hành chính và cơ quan chỉ huy quân sự. Bên cạnh đó, Gorbachev còn chỉ đạo xóa bỏ cơ chế thẩm tra về chính trị của Trung ương Đảng và Tổng cục Chính trị đối với các sĩ quan được thăng chức.

Ngày 25-12-1991, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev tuyên bố từ chức. Cùng ngày, Tổng thống Nga Boris Yeltsin được trao chìa khóa của chiếc vali bấm nút hạt nhân. Qua đó, Liên Xô tan rã. Ảnh Spiegel.de

Tháng 10-1990, Liên Xô đã ban hành “Luật Đoàn thể xã hội”, quy định hoạt động của quân nhân không chịu sự ràng buộc bởi nghị quyết của chính đảng. Đầu năm 1991, cơ quan hành chính quân đội tiến hành cải tổ toàn diện, chuyển đổi cơ quan chính trị các cấp của Đảng trong quân đội thành cơ quan đặt dưới sự chỉ đạo của chính phủ. Tổng cục Chính trị Quân đội Liên Xô đổi tên thành Tổng cục Quân sự các Lực lượng vũ trang, đi theo con đường “quân đội quốc gia hóa”.

Cùng với đó, Quân đội Liên Xô dần dần xem nhẹ việc học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ nội dung giáo dục chính trị tư tưởng. Tháng 6-1991, để thực hiện giáo dục “tư duy chính trị mới”, các trường học Chủ nghĩa Mác - Lênin thuộc các quân binh chủng, quân khu và tập đoàn quân bị xóa bỏ và đổi thành trung tâm chính trị - xã hội.

Hàng loạt hành động này đã khiến cương lĩnh, mục tiêu bảo vệ chuyên chính vô sản của Quân đội Liên Xô bị tiêu tan, sự gắn kết trong quân đội, nhận thức về sứ mệnh của người quân nhân, ý thức tập thể ngày càng phai nhạt.

Để xây dựng “hình tượng cải tổ” cho mình, Gorbachev luôn giữ khoảng cách với quân đội, tìm cách đổ lỗi cho quân đội trong những trường hợp xảy ra xung đột giữa binh lính và các phần tử phản động theo chủ nghĩa dân tộc hoặc ly khai. Điển hình như trong Sự kiện Tbilisi vào tháng 4-1989, Gorbachev đã công khai chỉ trích quân đội về cái gọi là “giữ gìn trật tự pháp luật” vốn theo mệnh lệnh của ông ta và Bộ Chính trị.

Sư đoàn trưởng Sư đoàn Tula 106 khi đó là Lebed trong hồi ký đã viết: “Sự kiện này khiến cho thái độ của các sĩ quan đối với sự lãnh đạo của Đảng bắt đầu chuyển biến theo chiều hướng nguy hiểm, tình trạng các sư đoàn và trung đoàn tác chiến trì hoãn hoặc từ chối chấp hành mệnh lệnh liên tục xảy ra” (William Odom: “Quân đội Liên Xô sụp đổ như thế nào”, Nhà xuất bản Tân Hoa).

Tháng 5-1985, Gorbachev trong chuyến thăm thành ủy Leningrad đã công bố bắt đầu tiến trình cải tổ (perestroika). Lúc đầu, Gorbachev và “bộ sậu” của ông ta tuyên bố “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, có nhiều CNXH hơn”, “chúng ta sẽ đi tới CNXH tốt đẹp chứ không đi ra ngoài nó”.

Nhưng thực chất, đó chỉ là những luận điệu tuyên truyền lừa dối nhằm làm yên lòng người, các chính sách của cải tổ làm cho xã hội Xô viết hỗn loạn, trở nên suy yếu. Theo Thiếu tướng, GS.TS Nguyễn Hồng Quân, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng: Các nhân tố của “tư duy chính trị mới” đã trở thành nền tảng để cải tổ chính sách quân sự và đối ngoại. “Tư duy chính trị mới” chỉ là sự ẩn danh, thực chất trong đó bao hàm những nguồn gốc phá hoại nền quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước Xô viết, phá hoại về chính trị và tư tưởng.

Để cắt giảm quân số trong quân đội, Gorbachev đã đưa ra quan điểm: Chiến tranh lạnh đã kết thúc, thực hiện chung sống hòa bình. Ông ta ngây ngô tin rằng Mỹ và phương Tây sẽ hỗ trợ tài chính vô điều kiện cho cải tổ và tiếp tục đối xử với Liên Xô như một siêu cường. Gorbachev đã thẳng tay thanh lọc những thành phần bị cho là cản trở kế hoạch cải tổ của ông ta.

Việc cải tổ quân đội được bắt đầu từ cắt giảm chi phí quân sự, tiến tới điều chỉnh nhiệm vụ sứ mệnh và biên chế tổ chức của quân đội. Chỉ trong hai năm 1987-1989, gần 50% cán bộ chiến lược và khoảng 30% tướng lĩnh của quân đội Liên Xô bị cho ra quân; hơn 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến lược bị cách chức.

Bộ Quốc phòng Liên Xô cho biết đến cuối năm 1989, Liên Xô đã phá hủy 1.498 tên lửa hạt nhân tầm trung, 555 bệ phóng. Như vậy Liên Xô đã phá hủy 81,1% số tên lửa hạt nhân tầm trung cần phải hủy bỏ theo hiệp ước Xô - Mỹ.

Việc thay thế không có sự kế thừa đã tước bỏ dần khả năng lựa chọn hành động đúng đắn của Đảng trước tình hình biến động khó lường. Trong khi đó, những chính sách cải tổ về quân sự không sát thực tế, Đảng Cộng sản Liên Xô đã phá hoại kỷ luật và trật tự của quân đội, càng khiến quân đội trở nên rệu rã trong những tình huống khẩn cấp.

Các thế lực chống cộng và chống chủ nghĩa xã hội đã tăng cường xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa, bài xích các nguyên tắc xây dựng quân đội; bôi nhọ lịch sử truyền thống vẻ vang của quân đội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tất cả những điều này đều làm tổn hại nghiêm trọng nền tảng tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô trong quân đội. Tình trạng này lại được các thế lực thù địch phương Tây hà hơi, tiếp sức, khiến đội ngũ sĩ quan và binh lính bị dao động tư tưởng, suy giảm hoặc mất hẳn niềm tin vào đảng.

Tình trạng khẩn cấp được ban bố ở Dushande, Tajikistan (nước cộng hòa thuộc Liên Xô). Ảnh: UIG.

Lợi dụng “công khai hóa”, các vấn đề của quân đội bị thổi phồng và tự do đưa lên mặt báo dù chưa qua kiểm chứng. Các phần tử theo chủ nghĩa dân tộc đã thừa cơ tùy tiện xuyên tạc Quân đội Liên Xô là “quân chiếm đóng”, “kẻ xâm lược”. Các chính đảng, tổ chức, phong trào, mặt trận… chống cộng và chống chủ nghĩa xã hội lợi dụng phỉ báng lãnh tụ cách mạng, xuyên tạc chức năng, hạ thấp vai trò của quân đội, rêu rao luận điệu quân đội là nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế, là “thực khách xã hội”.

Thậm chí, trên các tạp chí lý luận hàng đầu của Đảng còn xuất hiện nhan nhản các bài viết phê phán sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với quân đội, kêu gọi “quân đội phi chính trị hóa”. Điều này tạo cơ hội cho các phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch thâm nhập phá hoại nội bộ.

Trong quân đội, Gorbachev đã áp dụng một chính sách không quan tâm đến công tác an ninh khi thu hẹp hỗ trợ kinh tế cho các lực lượng vũ trang. Trong báo cáo của Bộ Chính trị tại Đại hội lần thứ XXVII của Đảng Cộng sản Liên Xô đã nêu lên rằng, Ban Chấp hành Trung ương luôn quan tâm đến khả năng phòng thủ đất nước, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Liên Xô và củng cố đời sống của Quân đội nhưng thực tế thì…ngược lại.

Năm 1991, để cắt giảm quân số, Tổng thống Liên Xô Gorbachev đã đưa ra quan điểm: Chiến tranh lạnh đã kết thúc. Thực tế, nguy cơ về chiến tranh hạt nhân thế giới đã tan biến. Bức tường sắt đã chấm dứt. Quân đội và ngân sách quốc phòng đang được giảm dần. Các bước đi ban đầu đã được áp dụng để chuyển đổi nền công nghiệp quốc phòng.

Số liệu dưới đây giúp theo dõi đồ thị đi xuống của sản xuất vũ khí mà Gooc-ba-chốp đã đề cập tới.

Kể cả sau khi giảm đáng kể quân số và trang bị do Gorbachev khởi xướng, Liên Xô vẫn đứng thứ hai thế giới về kho đạn tên lửa, có quân đội lớn thứ hai thế giới (sau Trung Quốc) và có hải quân lớn thứ hai thế giới, cũng như có lực lượng vũ trang và không quân lớn nhất. Mối nguy hại lớn nhất, như chúng tôi phân tích, vẫn là phi chính trị hóa quân đội, sự cắt giảm trên chỉ là cú đánh bồi mà thôi.

Bài học từ quá trình “phi chính trị hóa” Quân đội Xô Viết càng giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn giá trị lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội không thể và không nên trung lập”. Trong một bài viết đăng trên báo “Đời sống mới” của nước Nga, ngày 16-11-1905, Lênin viết: “...những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị... là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”. Vì vậy, “về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa” (V.I Lê nin: Toàn tập).

Hiện nay, âm mưu phi chính trị hóa quân đội và công an là bước đầu tiên để tiến tới đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp, chúng ta phải đề cao cảnh giác, tuyệt đối không mơ hồ trước âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã nhìn nhận nguy cơ phi chính trị hóa quân đội. Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận xét: "Ở Liên Xô, quân đội bị phi chính trị hóa, tách ra khỏi đảng... Đảng bị tước đi công cụ bạo lực. Một số người đã cố gắng cứu Liên Xô khỏi bị sụp đổ, họ đã giam giữ Gorbachev, nhưng chỉ vài ngày sau, tình thế đã bị đảo ngược, vì họ không có trong tay công cụ để phát huy quyền lực. Yeltsin đứng trên một chiếc xe tăng để phát biểu, nhưng quân đội không có phản ứng gì, giữ cái gọi là “trung lập”. Cuối cùng, Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Quân đội và Công an là hai lực lượng thanh kiếm và lá chắn, hai cánh của một con chim, bảo vệ giữ gìn nền hòa bình ổn định để phát triển đất nước. Trước các diễn biến phức tạp của tình hình, Quân đội luôn vững vàng, kiên định, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân và là lực lượng nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, bảo đảm môi trường "trong ấm, ngoài êm" cho đất nước.

“Đảng Cộng sản Việt Nam mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị luôn quan tâm chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng bảo đảm cho Quân đội trong bất kỳ tình huống nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; chắc tay súng, vững vàng về tư tưởng, không hoang mang, dao động trước sự chống phá của các thế lực thù địch và ảnh hưởng tiêu cực của xã hội” - Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định.

Không có quân đội của quốc gia nào là phi chính trị. Trong một bài viết có tựa đề “Trật tự trong hỗn loạn: Ví dụ cân nhắc về chính trị hóa quân đội”, đăng trên trang web của Viện nghiên cứu Brookings có trụ sở tại Thủ đô Washington D.C của Mỹ, tác giả James Golby và Mara Karlin khẳng định: “Nói quân đội là, hoặc nên, phi chính trị vừa khó hiểu vừa phản tác dụng. Dĩ nhiên, chính bản thân quân đội đã là một tổ chức chính trị hoàn toàn.

Các nhà lãnh đạo quân sự cần có khả năng can dự vào các vấn đề chính trị với binh lính của mình và với công chúng”. Cũng theo hai tác giả này, Quân đội Mỹ cũng không phải là một đội quân phi chính trị và chưa từng phi chính trị. Chẳng những thế, việc nói quân đội Mỹ phi chính trị về mặt lý thuyết lại khiến chính các sĩ quan Mỹ cảm thấy khó khăn hơn trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình và duy trì được niềm tin của người dân nước này khi họ thấy các lãnh đạo quân đội nói hoặc làm nhưng điều của mục đích chính trị thực sự.

Carl von Clauserwitz (1780-1831), một nhà lịch sử, lý luận quân sự nổi tiếng trong quân đội Phổ đã lập luận trong tác phẩm Bàn về chiến tranh nổi tiếng của mình: Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng các biện pháp khác – một luận đề có tính kinh điển về bản chất của chiến tranh. Kế thừa và phát triển quan điểm này, C. Mác, F. Ăng-ghen và Lênin đã khẳng định: Bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng đều là sự kế tục chính trị của một số cường quốc nào đó và của các giai cấp khác nhau trong một thời đoạn nhất định.

Cổ súy cho mô hình quân đội trung lập thực ra chỉ là một cách nói khác của nhằm phi chính trị hóa quân đội. 20 năm trước, làn sóng biểu tình, bạo loạn, lật đổ với cái tên mĩ miều “Mùa Xuân Arab” đã càn quét các quốc gia Trung Đông và Bắc Phi dẫn tới sự sụp đổ của nhiều chính phủ và để lại hậu quả nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội…Trong nhiều nguyên nhân dẫn tới hậu quả không “đẹp như tranh vẽ” mà các nhà dân chủ phương Tây dựng lên ở khu vực này, việc quân đội các nước thực hiện đảo chính, tách rời khỏi sự lãnh đạo của đảng cầm quyền.

Khi những chiếc xe tăng, thiết giáp của Quân đội Liên Xô xuất hiện trên các đường phố thực hiện cuộc đảo chính tháng 8-1991, Quân đội Liên Xô đã mất đi tính cách mạng và đó là tín hiệu rõ ràng nhất cho ngày Liên Xô sụp đổ đang tới gần. Thực tế là, 20 năm trước đó, vai trò của quân đội Liên Xô trong việc bảo đảm an ninh quốc gia đã bị đẩy xuống vị trí thứ hai khi các nhiệm vụ xử lý tình huống trong nước của quân đội được chuyển hoàn toàn cho các lực lượng khác và chỉ được trưng dụng khi các lực lượng khác không hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Xét về nhiệm vụ, đó là tình thế bị động, khó xử lý. Về góc độ quân sự, khi quân đội chỉ ứng phó bên ngoài, chỉ được đảm nhiệm vị trí “thứ cấp” để bảo đảm an ninh trong nước, sẽ là không toàn vẹn bởi đó chỉ là nhiệm vụ của một đội quân viễn chinh chứ không phải là nhiệm vụ của một quân đội phục vụ nhân dân, lợi ích dân tộc.

Không phải đợi đến lúc này chúng ta mới rút ra bài học bởi việc xây dựng một quân đội cách mạng đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, điều căn bản quyết định nhất trong xây dựng quân đội là phải xác định rõ quân đội do ai xây dựng, mang bản chất giai cấp nào, chiến đấu vì ai bảo vệ ai. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhất quán là Quân đội nhân dân, do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục. Người cũng dạy: Bộ đội không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyên giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính rị và kinh tế.

Có thể thấy, công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội được Người hết sức chú trọng. Thực hiện lời dạy của Người, Quân đội nhân dân Việt Nam đã xứng đáng với lời Người khen tặng: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Trong đường lối, chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, cụm từ “cách mạng” luôn được nhắc đến đầu tiên khi đề cập tới việc xây dựng quân đội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng được ưu tiên lên hiện đại sẽ hoàn thành hiện đại; từ năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đề cao bản chất cách mạng của quân đội thể hiện sự giác ngộ chính trị của quân đội và là nền tảng để tạo ra tính chính quy, tinh nhuệ và tiến lên hiện đại.

















Yêu nước ST.

“Việt Tân” vấn đề nhức nhối



Hiện nay, các đối tượng cầm đầu Việt Tân phần lớn đều còn trẻ, có trình độ và có quan hệ rộng, có tư tưởng chống đối một cách cực đoan. Chiến lược chống phá của chúng tương đối bài bản nên đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều tổ chức, thành phần trong xã hội thông qua các hoạt động biểu tình, bôi nhọ xuyên tạc tình hình tại Việt Nam. Đồng thời, chúng vận động các lực lượng chống Việt Nam trong chính quyền các nước, cũng như lợi dụng sự thiếu hiểu biết, sự thiếu thông tin của một số Việt kiều, người Việt Nam đang học tập, làm việc ở nước ngoài nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn về tài chính, mở rộng và phát triển mạng lưới thành viên.