Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

VÌ SAO PHẢI PHÒNG CHỐNG TIÊU CỰC TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Một trong những điểm mới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết luận tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua là “Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực…”.


Đặc biệt là Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã mở rộng phạm vi trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không dừng lại ở phòng, chống tham nhũng mà còn phòng chống tiêu cực, trong đó lấy phòng chống tiêu cực làm trọng tâm, trọng điểm. Bởi vì phòng chống tiêu cực chính là phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Suy thoái đến một mức nào đó là tự diễn biến, tự chuyển hóa, phai nhạt lý tưởng, không kiên định với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không kiên định với con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.



Tiêu cực ở đây rộng hơn tham nhũng rất nhiều. Trước hết là tiêu cực trong tư tưởng, suy nghĩ ẩn giấu bên trong mỗi con người rất khó phát hiện. Từ đó dẫn đến suy thoái và ngay cả vấn đề tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là tiêu cực trong tư tưởng. Nguyên nhân gốc của vấn đề này chính là chủ nghĩa cá nhân. Tiêu cực trong suy nghĩ dẫn đến tiêu cực trong lời nói, từ đó dẫn đến tiêu cực trong hành động. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, con người là gốc của mọi công việc; nếu cán bộ hư hỏng, tiêu cực thì công việc hỏng. Cán bộ nào phong trào đó, nếu cán bộ nhất là người đứng đầu hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì phong trào ở địa phương, cơ quan, đơn vị đó sẽ tốt, hiệu quả và ngược lại.


Thực tiễn đã cho thấy ngày càng rõ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ dừng lại ở phòng, chống tham nhũng. Bởi tham nhũng, lợi ích nhóm chỉ là bề nổi của chủ nghĩa cá nhân. Nếu chỉ phòng, chống tham nhũng thì chỉ làm phần ngọn mà chưa làm đến cái gốc sâu xa là “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây chính là nguy cơ bên trong đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ cần phải trị tận gốc.      

     

Hoàng Bách

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG


          Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

          Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ” Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

          Họ tìm cách thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc đời tư của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà lúc sinh thời của Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi” … Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

          Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

          Gần đây, khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại được dịp lên tiếng công kích, xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những luận điệu mang tính quy chụp, suy diễn vô căn cứ. Ngày 6/10/2021, trên trang VOA giật tít dòng chữ: “Điều quan tâm duy nhất là sự sống còn của đảng, của chế độ”. Họ xuyên tạc rằng, đang trong thời điểm dịch bệnh phức tạp, người lao động ở các tỉnh phía Nam rơi vào cảnh khó khăn do COVID-19 nhưng Trung ương lại tổ chức “họp trong phòng lạnh” để tung hô, khen ngợi các thành tích “vinh quang thuộc về Đảng”, còn “đau thương trút lên đầu nhân dân”. Thậm chí họ còn vu cáo rằng “Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng “muôn năm trường trị”…

          Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Trách nhiệm, tâm huyết với những vấn đề cấp bác của đất nước, của nhân dân


          Sau hơn bốn ngày làm việc nghiêm túc, trách nhiệm và tâm huyết, kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã bế mạc và thành công tốt đẹp.


Lần đầu tiên Quốc hội thông qua “1 luật sửa nhiều luật”. (Ảnh: LINH KHOA)

          Việc quyết định triệu tập kỳ họp này là quyết định rất quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc và nổi bật trong khi cả nước đang từng ngày, từng giờ nỗ lực không ngừng để vượt qua những thách thức, khó khăn trong đại dịch Covid-19. Kỳ họp bất thường được tổ chức cho thấy quyết tâm chính trị rất lớn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của các đại biểu Quốc hội trong thực hiện nhiệm vụ của mình với đất nước, luôn đặt người dân ở vị trí trung tâm của mọi quyết sách. Kỳ họp với bốn nội dung quan trọng được Chính phủ dày công nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội xem xét, thông qua đã đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân về những quyết sách trong thời điểm dịch Covid-19 chưa từng có tiền lệ, khó dự báo, tạo thách thức rất lớn đối với hệ thống y tế, đồng thời tác động sâu sắc mọi mặt kinh tế-xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

          Trên tinh thần và ý nghĩa đó, tại các phiên làm việc, các đại biểu Quốc hội đã nghiêm túc, trách nhiệm, tâm huyết, tập trung phân tích, làm rõ nhiều vấn đề, nội dung liên quan trực tiếp các nghị quyết, công việc được Chính phủ trình và đề xuất, đóng góp những ý kiến phản biện, xây dựng xác đáng. Đó là căn cứ pháp lý, sự cần thiết, cấp bách của từng chính sách và tổng thể các chính sách, sự phù hợp các chủ trương, định hướng lớn của Trung ương Đảng, các nghị quyết của Quốc hội; các quan điểm, định hướng lớn cần quán triệt để bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế… đối với dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Về Chủ trương đầu tư Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc bắc-nam phía đông giai đoạn 2021-2025, Quốc hội đã thảo luận, phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình thực hiện dự án trong giai đoạn 2017-2020; chỉ rõ những hạn chế, bất cập của giai đoạn trước làm bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.

          Đồng thời, tập trung cho ý kiến về hồ sơ dự án; sự phù hợp của dự án đối với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch có liên quan và phạm vi, quy mô của dự án. Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự, các đại biểu thảo luận kỹ lưỡng sự cần thiết và những nội dung sửa đổi, bổ sung. Trong đó, lưu ý bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; cơ sở khoa học, thực tiễn của từng chính sách sửa đổi, bổ sung; các quy định phải chặt chẽ để bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực tế cũng như các điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành. Quốc hội đã dành thời gian cho ý kiến về từng chính sách, nhất là các chính sách lần đầu tiên được áp dụng thí điểm nhằm góp phần khơi dậy tiềm năng, tạo động lực để xây dựng và phát triển Cần Thơ thành thành phố trung tâm vùng, sinh thái, văn minh, hiện đại, là đô thị hạt nhân vùng đồng bằng sông Cửu Long.

          Đối với từng nội dung được trình tại kỳ họp này, các đại biểu đã nêu rõ những bất cập, hạn chế và vướng mắc có thể gặp phải trong quá trình triển khai, đồng thời đề xuất phương hướng khắc phục và đề nghị các cơ quan soạn thảo rà soát kỹ lưỡng, bổ sung kịp thời để sau khi được thông qua sẽ phù hợp thực tế, đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống.

          Kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhận được sự ủng hộ và nhất trí cao của các đại biểu Quốc hội, với việc thông qua bốn nghị quyết, một luật cùng hướng về những mục tiêu quan trọng. Đó là: Phục hồi, phát triển nhanh sản xuất, kinh doanh, nhất là ngành, lĩnh vực quan trọng, tiết giảm chi phí, hỗ trợ dòng tiền, bảo đảm tính chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân trên cơ sở thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch. Bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân, người lao động, nhất là người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội. Ban hành một luật sửa nhiều luật nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế, pháp luật, khơi thông và phát huy nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội; đơn giản hóa thủ tục đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

          Ban hành những cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp, thật sự cần thiết đối với yêu cầu phát triển của thành phố Cần Thơ và thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có quy định hoặc khác với quy định của pháp luật hiện hành. Hoàn thành đưa vào khai thác đồng bộ tuyến đường bộ cao tốc bắc-nam phía đông có năng lực lớn, an toàn giao thông, tốc độ cao; kết nối các trung tâm kinh tế, chính trị, các khu kinh tế, khu công nghiệp trọng yếu, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ với các công trình hiện đại, tạo sức lan tỏa để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng-an ninh…

          Kỳ họp bất thường lần thứ nhất đã kết thúc nhưng cũng cho thấy còn những vấn đề cấp bách khác trong thực tế cuộc sống cần tiếp tục được Quốc hội, Chính phủ quan tâm và đổi mới hoạt động để đáp ứng ngày càng tốt hơn chức năng, trọng trách của mình với nhân dân, với đất nước.

          Hơn hai năm qua, cả thế giới và Việt Nam đã phải đối mặt với đại dịch Covid-19 và gây ra rất nhiều tác động tiêu cực trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Thực trạng đầy thách thức đó đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có những hành động quyết liệt, tinh thần trách nhiệm cao để có được những cơ chế, biện pháp hiệu quả đem lại sự bình yên cho nhân dân, cho đất nước.

                                                                                      Nhân Dân

KHỞI TỐ, TẠM GIAM 2 NGUYÊN CÁN BỘ BAN NỘI CHÍNH TỈNH UỶ HÀ GIANG

 Công an tỉnh Hà Giang vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành bắt bị can để tạm giam và khám xét nơi ở đối với 2 bị can, nguyên là cán bộ Ban Nội chính Tỉnh ủy Hà Giang.

Ngày 8/1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Giang đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành bắt bị can để tạm giam và khám xét nơi ở đối với 2 bị can, nguyên là cán bộ Ban Nội chính Tỉnh ủy Hà Giang về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ quy định tại điều 356 Bộ luật hình sự.

Hai bị can trong vụ việc là Nguyễn Văn Chiến (sinh năm1975, trú tại tổ 8, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang) - nguyên là Trưởng phòng Tổng hợp, Ban Nội chính Tỉnh ủy; Nguyễn Thị Hồng Vân (sinh năm 1987, trú tại tổ 20, phường Minh Khai, thành phố Hà Giang) - nguyên là Kế toán Ban Nội chính Tỉnh ủy.

Theo cơ quan công an, từ năm 2015 đến năm 2019, với nhiệm vụ được giao, các đối tượng đã lập khống chứng từ để thanh toán tiền làm thêm giờ, tiền tiếp khách và công tác phí không đúng quy định, gây thất thoát cho ngân sách Nhà nước trên một tỷ đồng.

Trước đó, ngày 14/12/2021, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh Hà Giang đã họp kỳ thứ 14. Tại kỳ họp, sau khi xem xét báo cáo của các đoàn kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đã thống nhất kết luận, quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền và đề nghị cấp thẩm quyền xem xét thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm.

Quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Chi ủy Chi bộ Ban Nội chính Tỉnh ủy, nhiệm kỳ 2015 - 2020, do vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc của Chi bộ, quy chế dân chủ ở cơ sở; buông lỏng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát, không phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm, để nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong quản lý tài chính của cơ quan; lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết đơn tố cáo của đảng viên trong chi bộ không đúng quy định, không nghiêm túc, không triệt để, dẫn đến phát sinh đơn tố cáo vượt cấp, kéo dài, gây mất đoàn kết nội bộ.

Quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ đảng đối với ông Nguyễn Văn Chiến, với cương vị là Phó Bí thư Chi bộ, Trưởng phòng nghiệp vụ 3 (nguyên Chánh Văn phòng) Ban Nội chính Tỉnh ủy, đã buông lỏng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, để nhiều cán bộ, đảng viên trong chi bộ, cơ quan vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước bị xử lý kỷ luật; trực tiếp tham mưu ban hành chủ trương thanh quyết toán kinh phí của cơ quan trái quy định của pháp luật, ký khống nhiều chứng từ kế toán để thanh toán tiền từ ngân sách nhà nước sai quy định, gây thất thoát với số tiền lớn.

Quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ đảng đối với bà Nguyễn Thị Hồng Vân, đảng viên, chuyên viên, kế toán Ban Nội chính Tỉnh ủy, do thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, kiểm soát chứng từ kế toán; trực tiếp tham mưu lập khống, ký khống nhiều chứng từ kế toán để thanh toán tiền từ ngân sách Nhà nước sai quy định, gây thất thoát với số tiền lớn.

Tại kỳ họp, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy xem xét, biểu quyết đề nghị Tỉnh ủy thực hiện quy trình xem xét, đề nghị thi hành kỷ luật đối với Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy do có vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc sinh hoạt đảng, vi phạm nghiêm trọng trong việc chỉ đạo, quản lý, sử dụng kinh phí của cơ quan, gây thất thoát với số tiền lớn, làm phát sinh đơn tố cáo, gây mất đoàn kết nội bộ kéo dài.

Hiện vụ việc đang tiếp tục được điều tra, làm rõ.
--------------
PT-TG
Theo Báo Dân trí


GIỮ GÌN THANH DANH VÀ LUẬT NHÂN QUẢ!

        Gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhiều đến việc giữ gìn thanh danh, danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất. Điều này rất gần với luật “nhân - quả”. 

Luật “nhân - quả trở thành lý thuyết căn bản, là chính kiến quan trọng trong văn hóa phương Đông. Nghĩ rộng ra, đó là chân lý hiển nhiên, luôn đúng trong cả quá khứ, hiện tại tương lai. 

Trong dân gian cũng thường có câu “gieo nhân nào gặt quả nấy” hoặc “ác giả ác báo”, “ở hiền thì gặp lành” và “gieo gió ắt sẽ gặt bão” hay “nếu muốn biết quá khứ hãy nhìn hiện tại. Nếu muốn biết tương lai ra sao thì hiện tại sẽ trả lời” là nói tới luật “nhân - quả”.

Trước kia người ta thường nghĩ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, hay “đời trước gieo nhân nào đời sau gặt quả nấy”, nhưng nhiều khi cũng không phải đợi lâu đến thế mà nó có tác động ngay trong cuộc sống hiện tại, không cần đợi đến đời sau. 

Đã nói “nhân - quả” là quy luật phổ biến của vũ trụ thì có lúc nhanh, lúc chậm, lúc nổ ra tức thì.

Các vụ án mà gần đây mà Tổng Bí thư là người “nhóm lò” càng thấy rõ điều đó.

Nhìn vào những vụ án mà cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung và một loạt các vụ án khác đã, đang xảy ra càng rõ luật “của vũ trụ đất trời” này luôn đúng.

Quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực phải được sử dụng đúng nơi đúng chỗ và đúng người. Trao quyền lực cho những kẻ chỉ biết mình mà không biết người thì trở thành kẻ phá hoại. Quyền lực trong tay không thể tùy tiện ban phát cho phe cánh, cho người thân.

“Lò” của Tổng Bí thư bắt đầu bằng đường dây sử dụng người thân của ông Vũ Huy Hoàng. Đây là vấn đề bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm “tay chân”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh cũng chỉ là mở đầu cho hàng loạt những sai phạm mà thời gian qua các cơ quan tố tụng đã đem ra xét xử. Ông Vũ Huy Hoàng lợi dụng quyền lực đến mức như Viện kiểm sát nhân dân nêu: “trong 10 ngày cuối cùng làm bộ trưởng đã duyệt giá cổ phần Sabeco thấp hơn thực tế, ép thoái vốn cho tư nhân”…Họ lợi dụng tối đa quyền lực trong tay để phục vụ cái tôi, phục vụ “cánh hẩu”, phục vụ người thân.

Trong nhiều vụ án liên quan đến ông Đinh La Thăng cũng cho thấy rõ luật nhân quả lập tức được thực thi. Những sai phạm của ông Đinh La Thăng tòa án tuyên đã rõ, ai cũng thấy. Nhưng có một việc mà tòa không tuyên, không ai nói chính là trù dập những người đã vạch ra cái sai của mình. Nếu như ông Đinh La Thăng biết nhận ra những người tố cáo mình, những người “có tiếng nói khác mình” thì không có những việc làm sai tiếp theo dẫn đến tù tội.

Chỉ đơn cử những vụ việc trên để thấy cái quy luật nó vô tư và khắc nghiệt đến nhường nào, không từ một ai. Cái sai có thể phát hiện sớm, cũng có cái sai chưa phát hiện ra hay dẫu không phát hiện ra thì quy luật nhân – quả vẫn có tác dụng. Nó làm cho bản thân người gây ra “nhân” không bao giờ bình yên, không bao giờ được sống thanh thản, nó bào mòn tình cảm lý trí, tác động đến tinh thần… và thực tế nhiều người sinh ra bệnh tật hiểm nghèo hoặc ít nhất cũng tổn hao đến sức khỏe. 

Đừng nghĩ mọi việc mình làm sai đều sẽ trôi qua. Ông bà ta thường nói “trời có mắt” chính là ở đó. Lưới trời lồng lồng không ai có thể trốn thoát những điều làm ác, làm sai, hại dân, hại nước..!

Yêu nước ST.

Ca nhiễm Covid tối 11-1: Cả nước thêm 16.035 ca mắc mới; F0 Hà Nội tiếp tục "leo thang"

 

Ngày 11-1, cả nước ghi nhận 16.035 ca nhiễm mới tại 63 tỉnh, thành phố; cả nước có 6.866 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh; 256 ca tử vong. Hôm nay, Hà Nội tiếp tục ghi nhận số ca mắc mới cao kỷ lục với 2.884; tiếp sau đó là Khánh Hòa 782.

SỰ PHUNG PHÍ MAN RỢ!

        Có lần nói chuyện với một thằng bạn phi công ngụy VNCH, nó tiết lộ: “Mỗi lần cất cánh đi ném bom nhưng vì một lý do nào đó không đến được mục tiêu, không thể ném bom được, đành phải bay ra biển, trút bom xuống đó rồi về”.

Tôi hỏi:

-Sao không đem bom về?

-Vì nhiều lý do: 

1/Bom gắn trên cánh máy bay luôn ở chế độ “chờ”, nếu hạ cánh khi đang mang bom thì nó sẽ nổ. 

2/ Nhiều phi công mang bom đi thả, nhưng khi đến mục tiêu, thấy hỏa lực địch mạnh quá liền “bỏ chạy” ra biển trút bom rồi về cho xong chuyện. 

3/Việc “đem bom bỏ biển” là khá phổ biến, các nhà sản xuất vũ khí còn “cám ơn” nữa.

-Tại sao lại cám ơn?

-Vì bom là hàng hóa, chiến tranh là thị trường tiêu thụ, phi công tụi tao là người tiêu dùng và những ông chủ “các tập đoàn chế tạo vũ khí” là nhà sản xuất. Mày có muốn nghe câu chuyện thứ hai không?

-Muốn.

-Vậy tao hỏi: Mày có biết các nhà sản xuất vũ khí Mỹ tính toán: để g.i.ế.t một VietCong cần phải dùng bao nhiêu viên đạn không?

-5 viên.

-Trật lất. Cho nói lại.

-20 viên?

-Cũng trật.

-100 viên?

Thằng bạn cười hô hố, đưa một đáp án kinh hoàng:

-600.000 viên.

Sáu trăm ngàn viên đạn để g.i.ế.t một VietCong! 

-Sao giống công tử Bạc Liêu đốt tiền để đun nước pha trà vậy?

-Gấp ngàn lần vậy!

-Nhưng phí phạm như thế để làm gì chứ? Vì tiền mua vũ khí cũng là tiền thuế, cũng là mồ hôi nước mắt của dân Mỹ mà ra.

Nghe vậy, nó còn chửi tôi:

-Sao mày nguu thế? Đó là chỉ tiêu của nhà sản xuất. Sản phẩm phải được tiêu thụ hết! Hiểu chưa?

Tôi im lặng. Rúng động!


Câu chuyện sau đây thuộc lãnh vực y tế, còn rúng động hơn.

Tôi có thằng em rể, nó là việt kiều Mỹ, bị ung thư, nhưng nó không chữa bên Mỹ. Nó về Việt Nam chữa.

- Mày là công dân Mỹ, mày có bảo hiểm y tế, sao không chữa bên Mỹ?

Nó cười, bí hiểm.

-Anh có muốn nghe một câu chuyện hoang đường không?

-Thế nào?

-Thế này: Nếu em đến bệnh viện Mỹ khai ung thư là nó đè em ra mổ liền, không cần biết tình trạng có đáng mổ chưa.

-Tại sao?

-Vì một ca mổ như vậy bác sỹ được 48.000 đô-la, tức khoảng một tỷ đồng Việt Nam. Ngon ăn quá, nó đâu chịu để vuột mất. Em sợ mổ lắm nên về Việt Nam, tuy phải tốn tiền nhưng may ra khỏi mổ, vì bệnh chưa đến nỗi nào. Nghe nói ở Việt Nam bác sỹ rất giỏi.

Bệnh viện Chợ Rẫy đã chữa cho nó, không phải mổ. Chỉ tốn 21 triệu tiền đốt điện. Đến nay nó vẫn ngon lành.

Nó mất 21 triệu đồng VN (1.000 USD) nhưng tiết kiệm được 48.000 USD (mắc gấp 48 lần). 


Năm 2014 tôi sang Mỹ lần thứ 6. Tuyến tiền liệt bị sưng, đi tiểu khó. Nhưng tôi là dân Giao Chỉ không có bảo hiểm y tế. Làm sao bây giờ?

Một thằng bạn nói:

-Mày đi với tao

Tôi nghe nói người Mỹ rất ghét gian dối nên tôi cũng ngại họ phát hiện, họ khinh dân tộc mình.

Ai ngờ khi gặp bác sỹ, thằng bạn nói huỵch tẹc:

-Bạn tui qua đây chơi, bị sưng…

Bác sỹ không đợi nói hết câu, nói ngay:

-Phì đại nhiếp hộ tuyến phải không? Tôi ghi tên anh nhé (tức là núp dưới tên bạn tôi). Tôi cho một tháng thuốc. OK?

Tất nhiên là chúng tôi OK liền. Khi đem toa đến tiệm thuốc tây lãnh thuốc, thằng bạn nói:

-Mày muốn xin 3 tháng nó cũng cho. Mỗi lần về Việt Nam chơi, tao vẫn xin 3 tháng.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Sao nó dễ quá vậy?

-Nguyên tắt chung của nhà sản xuất: Tiêu thụ sản phẩm càng nhiều càng có lợi. Nhà sản xuất có lợi, nhà thuốc Tây có lợi vì bán được hàng, bác sỹ có lợi vì được chi huê hồng, bệnh nhân có lợi vì đầy đủ thuốc. Chỉ có dân là phải đóng bảo hiểm y tế rất cao cho người ta phung phí. 


Đó là câu chuyện hoang đường về nước Mỹ với 600.000 viên đạn để g.i.ế.t một VietCong, với 48.000 đô-la cho một ca mổ chưa chắc đã cần thiết, với việc cấp phát thuốc vô tội vạ mà không cần biết bệnh nhân là ai./.


Yêu nước ST.

Chung sức, đồng lòng lo việc nước

 

Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã bế mạc sau 4,5 ngày làm việc. Đây là kỳ họp chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Quốc hội Việt Nam.

SỰ PHẢN ĐỘNG CỦA MỘT SỐ BÁO ĐÀI DÂN CHỦ!

        Như một quy luật tất yếu, hễ có vụ việc nào nhận được sự quan tâm chú ý của dư luận là ở đó có dấu chân của bè lũ Việt Tân, RFA, BBC, anh em dân chủ lên án hành vi "vi hiến" "xâm phạm nhân quyền" "quyền bất khả xâm phạm về thân thể" "quyền tự do tôn giáo" của ngành tư pháp Việt Nam. Thế nhưng, chiêu trò thừa nước đục thả câu lần này đã phản tác dụng cực mạnh, không những bị dư luận xã hội lên án gay gắt mà còn làm lộ rõ bản chất đi ngược lại tiến bộ xã hội của chúng.

Thứ nhất, bản chất sa đọa của Thiền Am bên vành móng ngựa là không thể chối cãi. Qua xây dựng cái vỏ bọc hào nhoáng của một cơ sở tôn giáo, từ thiện, kêu gọi lòng tốt của những nhà hảo tâm trong và ngoài nước để trục lợi và phục vu lối sống ăn chơi vô độ của Lê Tùng Vân, đồng thời sử dụng thủ đoạn "cưu mang" trẻ mồ côi, nhận con nuôi để che đậy hậu quả những hành vi của mình. Đến nay khi kết quả xét nghiệm ADN của "thầy ông nội" trùng khớp với không ít người lớn cũng như "trẻ em cơ nhỡ" cùng chung sống, dư luận vẫn chưa hết bàng hoàng và phẫn nộ thì vẫn có một bộ phận truyền thông thích mở lối đi riêng, hỏi vặn lại cơ quan thực thi pháp luật "Điều tra gia đình ông Vân có đúng quy định không? Có phải chiêu bài đấu tố, thanh trừng để đàn áp tôn giáo không?" - Những câu hỏi khiến người nghe không khỏi đau não vì nghĩ xem là hỏi thật hay đùa, bênh vực những trò loạn luân, lừa đảo thật hay bênh giả vờ.

Và phản bác lại luận điệu vu khống "xâm phạm quyền tự do tôn giáo" của những kẻ cơ hội, mù quáng, đích thân Thượng tọa Thích Nhật Từ, Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM đã khẳng định, những gì diễn ra ở “Tịnh thất bồng lai” là hoàn toàn sai với giới luật Phật, không được bất cứ tổ chức Phật giáo chính thống nào thừa nhận, cấp phép. Những gì “Tịnh thất bồng lai” nói và làm là sai trái gần đây thì pháp luật phải can thiệp vào chứ không thể trở thành một đất nước vô thiên, vô pháp được. Hơn nữa, chưa bao giờ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề nghị “Tịnh thất bồng lai” gia nhập Giáo hội nên không thể nói Giáo hội cùng với chính quyền đàn áp tôn giáo.

Hai từ "Phản động", rộng hơn nghĩa chính trị, còn để chỉ những người chống lại trào lưu tiến bộ hay chống lại sự thay đổi được cho là tất yếu của xã hội. Nói về hành vi bênh vực quyền "tự do", những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, suy đồi đạo đức chỉ để bôi nhọ chính quyền của bọn dân chủ, có lẽ nếu không dùng từ "phản động" thì không còn từ nào thích hợp hơn!

Yêu nước ST.

SỐNG Ở ĐỜI, 45 ĐỘ LÀM NGƯỜI, 90 ĐỘ LÀM VIỆC, 180 ĐỘ ĐỐI NHÂN XỬ THẾ...


- 45 độ làm người.

Sống ở đời, phải biết cúi đầu xuống, khiêm nhường để nhìn con đường phía trước, dùng thái độ khiêm tốn, vững vàng để tiến lên phía trước.

Không vì thành công tức thời mà tự đại, cũng đừng vì một lúc thất bại mà gục ngã. Con người, ai cũng có mặt ưu việt riêng của mình, đều rất xứng đáng để cho chúng ta học hỏi.

- 90 độ làm việc.

90 độ là đường thẳng đứng, đòi hòi chúng ra khi làm việc phải công chính vô tư, quang minh lỗi lạc, một đời làm việc thẳng thắn thành khẩn, một đời làm chính nhân quân tử.

180 độ đối nhân xử thế

180 độ là đường nằm ngang, đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn bộc trực, không nên úp mở, không sống dối trá hư vinh, chân thành đối đãi với mọi người.

- 360 độ xử lý công việc.

360 độ là một đường tròn, đại biểu cho sự hoàn mỹ, tròn trịa, thành công. Yêu cầu chúng ta phải hết sức chu đáo, cẩn thận, hoàn thành trọn vẹn từng công việc mình đảm nhận, để rồi tiếp tục hỗ trợ những người xung quanh.

Dùng sự chân thành và tự tin của mình, giành lấy sự tín nhiệm và thấu hiểu của người khác, cuối cùng đạt đến một cảnh giới lý tưởng và hoàn mỹ.

Cổ ngữ có câu: “Giàu không học, chỉ giàu một đời! Nghèo không học, sẽ nghèo 3 đời!”.

Học được những điều này, cuộc sống của bạn sẽ không có gì phải lo ngại nữa!

 

DÙ XÃ HỘI CÒN NHỮNG KHÓ KHĂN, TIÊU CỰC NHẤT ĐỊNH NHƯNG ĐỪNG BAO GIỜ VÌ THẾ MÀ PHẢN BỘI!

Khi đất nước bị xâm lược, gặp họa binh đao, triệu triệu người hiên ngang bước vào cuộc chiến, không mảy may vị kỷ, gợn tâm nghĩ đến mưu cầu vật chất, quyền được sống. Cứ thế họ lao lên, nhắm thẳng quân thù mà bắn. Cũng trong hoàn cảnh giang sơn tăm tối, điêu linh đó, nhiều người khác được Đảng, Nhà nước ưu ái cho đi nước ngoài học tập, những người đang bước qua lằn ranh sinh tử, chiến đấu trên chiến trường cũng gửi gắm, kỳ vọng vào những người được xuất ngoại, mong họ được bình an, chăm chỉ học tập, nghiên cứu để thành tài, trở về giúp nước, xây dựng Tổ quốc sau ngày giải phóng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn. Tức là, khi những người khác chịu gian khổ, hy sinh cho Tổ quốc được sống, thì một số người xuất ngoại lại được hưởng cuộc sống thanh bình, an nhàn nơi trời Tây.

ĐÙA VỚI ĐIỀU GÌ CHỨ ĐỪNG ĐEM COVID-19 RA ĐỂ ĐÙA.

Mới đây, trên facebook đang lan truyền một đoạn chế lời bài hát "Ngày Tết quê em" (của tác giả Đức Huy) với nội dung nói về việc test (xét nghiệm nhanh kháng nguyên) trong mùa covid-19. Lời bài hát chế này đã được trang fanpage có hơn 1,4 triệu lượt thích "Vì Mẹ Là Mẹ Của Con" chia sẻ, đăng lại đã đạt được hơn 1.400 lượt thích, gần 300 lượt bình luận và hơn 300 lượt chia sẻ và đáng ngại là có cả quân nhân chia sẻ trên fb cá nhân.


CHIÊU TRÒ MƯỢN GIÓ BẺ MĂNG


Nhân vụ việc trẻ em bị bạo hành, gần đây, trên một vài trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài và những kẻ đội lốt “đấu tranh dân chủ” đú trend, đẩy mạnh truyền thông theo hướng bóp méo sự việc, diễn giải, đánh lái sang hướng đổ lỗi cho chế độ không có nhân quyền, là nguyên nhân gián tiếp gây ra cái chết cho cháu bé. Chẳng hạn, họ khơi ra chủ đề nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo hành trẻ em ở Việt Nam như bài: “Ai có lỗi trong vụ bé gái 8 tuổi “chết vì bạo hành” và ai bảo vệ trẻ em Việt Nam?” trên BBC, phỏng vấn đồng bọn chống phá trong nước vu cáo rằng, nguyên nhân đầu tiên là “xã hội không coi đứa trẻ là một CON NGƯỜI”… và Việt Nam “là Quốc gia đang thiếu thiết chế bảo vệ trẻ em”… Cách lập luận và chiêu tró đánh lái này cho thấy nhận thức, kiến thức hết sức hạn chế của những kẻ chống phá Việt Nam

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI: MỘT TẤT YẾU CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI


Vào một đêm lạnh giá cuối năm 1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) chấm dứt sự tồn tại. Các thế lực tư bản và phản động hý hửng vội vàng có thể kết liễu chủ nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh” để chủ nghĩa tư bản trở thành “điểm đến cuối cùng của lịch sử”… Sự thật thì hoàn toàn khác hẳn!

Âm mưu lợi dụng đám tang Dương Văn Mình để chống phá an ninh tôn giáo

 


Trong những ngày qua ại thôn Ngòi Sen, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Dương Văn Mình mắc bệnh nặng, bị viện Huyết học trung ương trả về, nửa đường thì mất vào 4h sáng 11/12, Dương Văn Mình là người sáng lập tổ chức tôn giáo trái phép Dương Văn Mình. Lợi dụng đám tang của Dương Văn Mình, nhiều tín đồ của ông đã mượn cớ dự tang để tụ tập đông người bất chấp đại dịch, Chính quyền muốn xét nghiệm truy vết thì họ chống đối, tạo ra tình hình lộn xộnSáng sớm cùng ngày, có đoàn y bác sỹ tới nhà ông Mình chia buồn và cho biết tài xế xe cứu thương dương tính với Covid, do đó yêu cầu xét nghiệm ông Mình và một số người đi cùng. Đây là yêu cầu cần thiết khi dịch bệnh đang diễn biến nghiêm trọng trên cả nước. Tuy nhiên gia đình ông này không đồng ý với lý do đang đau buồn, sau đó nhiều tín đồ của ông xông vào chống đối, xảy ra xô xát với lực lượng chức năng, gây phức tạp tình hình dẫn đến việc nhiều người bị bắt giữ.

BẠO LOẠN KAZAKHSTAN: TRUNG QUỐC ĐỊNH NHẢY VÀO, NGA XUA TAY "NHÀ CỦA ANH ĐẤY"!

      Trước tình hình bất ổn tại Kazakhstan, Trung Quốc đã có nhiều toan tính nhằm tạo sự ảnh hưởng của mình đối với quốc gia Trung Á này. Tuy nhiên khi Bắc Kinh đang định mang quân sang Kazakhstan thì Putin xua tay "Đó là nhà của anh". Cái xua tay của Putin và sau đó là hơn 3.000 binh sĩ Nga đến Kazakhstan trật tự nhanh chóng được lập lại.

Việc Moscow dẫn quân tiến vào Kazakhstan gửi đi thông điệp nhắc nhở Bắc Kinh rằng Nga đã, đang và sẽ tiếp tục là thế lực ảnh hưởng chính ở khu vực Trung Á hay nói cách khác đó là "Nhà của Nga" Trung Quốc không có cửa ve vãn, kiếm chác gì ở đây cả. Ai nói thì còn phải xem lại nhưng Nga nói thì không thể không nghe. Điều này khiến cho ông Tập khá hoang mang, bởi mọi toan tính của Trung Quốc hoàn toàn bị đảo lộn.

Nhiều năm qua, Trung Quốc đã sử dụng Trung Á làm cầu nối giữa các công xưởng trong nước với thị trường Tây Á - châu Âu thông qua các dự án hàng tỷ USD thuộc sáng kiến Vành đai, Con đường. Kazakhstan nằm tiếp giáp Tân Cương và là một trong những điểm khởi đầu của Vành đai, Con đường. Trong 15 năm qua, Trung Quốc đã đầu tư gần 20 tỷ USD vào Kazakhstan. Các dự án Bắc Kinh tài trợ hoàn tất vào năm 2023 có giá trị lên đến 24,5 tỷ USD, theo South China Morning Post.

Bởi Trung Quốc đã đầu tư lớn vào Trung Á nói chung và Kazakhstan nói riêng, hiện diện của Moscow ở Kazakhstan càng lớn, Bắc Kinh càng kém vui. Dù Tổng thống Putin dành nhiều sự quan tâm hơn cho biên giới Đông Âu, Điện Kremlin vẫn luôn theo sát vùng ngoại vi phía đông và phía nam, bởi những đe dọa từ sự xâm nhập của các phần tử Hồi giáo cực đoan.

Và sâu xa hơn nữa, dù Moscow và Bắc Kinh đang có quan hệ đối tác nồng ấm mà chủ yếu do xung đột gay gắt với Washington, lời nguyền vị trí địa lý và lịch sử cho thấy Nga và Trung Quốc còn khuya để trở thành những đồng minh đáng tin cậy của nhau./.


Môi Trường ST.

Thủ đoạn tinh vi tin gia, tin bịa đặt

 

Trên thực tế, tin giả không chỉ chiến thắng tâm lý hiếu kỳ, tò mò của độc giả mà nó còn làm suy yếu các phương tiện truyền thông. Tin giả không chỉ hướng lái sai lệch một bộ phận xã hội mà còn “dắt mũi” cả một số phóng viên, cơ quan báo chí. Tin chưa được kiểm chứng từ cá nhân trên Facebook, Zalo... nhưng có những báo mạng vẫn "nhanh tay" biến thành sản phẩm báo chí.

Thiết nghĩ, để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả trong nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả với nạn tin giả cũng như giảm thiểu tác động xã hội của nó, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, liên thông của các cơ quan chức năng. Cần phải có cơ chế phối hợp chặt chẽ nhưng linh hoạt, vận dụng nghiêm khắc chế tài, luật pháp để xử lý nghiêm mọi cá nhân, tổ chức tung tin giả.

Tại Hội nghị công tác công an trong phòng, chống dịch ngày 11-10-2021, Bộ Công an cho biết đã chỉ đạo công an các đơn vị, địa phương tăng cường nắm, kiểm soát tốt tình hình trên không gian mạng; xử phạt hành chính hơn 150 đối tượng đăng tải tin giả, sai sự thật; ngăn chặn, yêu cầu gỡ bỏ 10.944 tin, bài viết, video chứa thông tin xấu độc.

Con số trên cho thấy, tin giả giống như rác rưởi hằng ngày làm bẩn nhà, bẩn phố, mà rác thì phải quét, quét rồi nó lại có, cho nên phải quét thật mạnh, thường xuyên, liên tục thì mới mong nhà luôn luôn sạch.

Luật pháp đã có những quy định chặt chẽ, tất yếu Nhà nước phải can dự để chống lại tin giả, đòi hỏi bộ máy quyền lực phải liêm chính, hiệu năng.

Tuy nhiên, vấn đề truyền thông đến cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu. Một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong xử lý tin giả đó là phải nhanh chóng cung cấp cho công chúng những thông tin đúng đắn, chính thống. Càng là những thông tin mà công chúng còn nghi ngờ, mơ hồ thì càng phải tăng cường cung cấp thông tin đúng để họ hiểu đúng.

Tiến sĩ Yeung Yong Uhm, chuyên gia truyền thông Hàn Quốc trong hội thảo khoa học quốc tế về quản trị khủng hoảng thông tin trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã nhấn mạnh tính minh bạch và thời điểm công bố thông tin. Thông tin trung thực và thông tin chính thống phải đến sớm, nhanh nhất có thể với người dân. Tiếc rằng, thực tế hiện nay “tin giả đi được 2/3 trái đất thì tin thật mới chạy theo”.

3. Tin giả nhưng hiểm họa lại thật. Tin giả thực sự là một loại virus độc hại, tác động xấu đến nhận thức, hành vi cá nhân, từ đó làm ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội.

Trước khi Nhà nước “điều trị” bệnh này, mỗi cá nhân cần tự mình có trách nhiệm sàng lọc, tiếp nhận thông tin trung thực, phủ nhận thông tin xuyên tạc, giả mạo để cuộc sống ngày càng tươi đẹp.

 

Ý NGHĨA HÌNH THÀNH TÊN CỦA 63 TỈNH THÀNH VIỆT NAM!

1. HÀ NỘI

Sau khi diệt được triều đại Tây Sơn vua Gia Long đổi phủ Phụng Thiên (Đất kinh thành cũ Thăng Long) thành phủ Hoài Đức thuộc Tổng Trấn Bắc Thành. Năm Minh Mang thứ 12 (1831) vua lại bỏ Bắc Thành và 11 Trấn và thay bằng 29 Tỉnh. Tỉnh Hà Nội ra đời và gồm có thành Thăng Long, phủ Hoài Đức (của Tây Sơn) và ba phủ Ứng Hòa, Thường Tín, Lý Nhân của Trấn Sơn Nam. Hà (sông) Nội (bên trong), Hà Nội có nghĩa là thành phía trong sông, vì tỉnh Hà Nội được bao bọc bởi sông Hồng và sông Đáy (tài liệu tham khảo: 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, Tô Hoài)


2. BẮC GIANG

Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, đời Lý – Trần gọi là łộ Bắc Giang, đời Lê là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc. Đến nay chưa thấy tài liệu nào chứng minh, nhưng tên gọi Bắc Giang có nghĩa là phía bắc sông.

CHÙA VĨNH NGHIÊM – YÊN DŨNG, BẮC GIANG


3. BẮC KẠN

Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Bản sao bài văn bia “Tam hải hồ sơn chí” bằng tiếng Hán khắc trên đá dựng ở Bó Lù, bờ hồ Ba Bể, do tác giả Phan Đình Hoè án sát tỉnh Bắc Kạn viết, ông Vi Văn Thượng khắc và dựng bia năm 1925: Chữ “Kạn” trong từ Bắc Kạn có bộ “tài gẩy” bên chữ “Can”, âm Hán Việt đọc là “cản”, chữ này có nghĩa là “ngăn giữ, bảo vệ, chống cự” (phía bắc).


4. BẮC NINH

1822 từ một phần xứ Kinh Bắc. Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tên gọi Bắc Ninh có thể từ Kinh Bắc và Vũ Ninh mà thành.


5. CAO BẰNG

Cao Bằng xưa thuộc bộ Vũ Định thời Hùng Vương, đến đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Năm 1467 gọi là phủ Bắc Bình, về sau đổi thành phủ Cao Bình. Năm 1676, nhà Lê thu phục từ tay nhà Mạc đặt lại thành trấn Cao Bình. Đến đời Tây Sơn, tên Cao Bình dần trại ra thành Cao Bằng cho đến bây giờ.


6. ĐIỆN BIÊN

Điện Biên là vùng đất cổ. Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh, từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái, nghĩa là Xứ trời. Đây được xem là vùng đất thiêng ở miền biên viễn, theo quan niệm xưa, là nơi thông trời đất. Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.


7. HÀ GIANG

Hà Giang, theo cách giải thích về nghĩa chữ là con sông nhỏ chảy vào dòng lớn. Cụ thể ở đây là Sông Miện chảy vào Sông Lô


8. HẢI DƯƠNG

Hải Dương có tên chính thức từ năm 1469, ý nghĩa “Hải là miền duyên hải” vùng đất giáp biển, “Dương là ánh sáng” ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về”. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.


9. HẢI PHÒNG

Cảng, thành phố Hoa phượng đỏ, thành lập vào năm 1888. Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1, hoặc từ tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng, cũng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức.


10. HÀ NAM

Hà Nam được thành lập năm 1890, Nam Định được tách ra thành tỉnh Thái Bình và một phần phía bắc tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam. Hà lấy từ chữ Hà Nội, Nam lấy từ chữ Nam Định.


11. HOÀ BÌNH

Hòa Bình là tỉnh được thành lập năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ nên cũng còn gọi là tỉnh Chợ Bờ, cuối năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm, năm 1888 đổi tên thành tỉnh Phương Lâm. Năm 1896 tỉnh lỵ được chuyển về đóng tại xã Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối d¡ệห với Phương Lâm và từ đó gọi là tỉnh Hòa Bình, sau nhiều lần tách nhập, đến nay vẫn giữ tên gọi này.


12. HƯNG YÊN

Tỉnh được thành lập năm 1831 gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định. Vùng đất Hưng Yên หổi danh từ thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh đã หổi tiếng do có Phố Hiến, dân gian có câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.


13. LAI CHÂU

Lai Châu có tên gọi xuất phát từ chữ châu Lay. Vào đầu thế kỷ X, các thủ lĩnh Thái chiếm vùng đất này đã đặt tên là Mường Lay, năm 1435 Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi là châu Lai do phiên âm chữ Lay.


14. LẠNG SƠN

Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh мạหg thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831), tên gọi xuất phát từ danh xưng “xứ Lạng”.


15. LÀO CAI

Lào Cai là cách phát âm của người địa phương đọc chữ Lão Nhai có nghĩa là Phố Cũ hoặc Chợ Cũ. Người địa phương thường gọi Bảo Thắng, là khu phố do Lưu Vĩnh Phúc xây dựng nằm ở vùng thuộc thị xã Lào Cai ngày nay bằng tên Lảo Kay, sau đó người Pháp cũng phiên âm lại cách gọi đó bằng chữ Latinh là Lao Kai hoặc Lao Kay.


16. NAM ĐỊNH

Nam Định có nguồn gốc tên gọi từ năm 1822, khi triều Nguyễn đổi tên trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, chữ Nam có từ thời Lê nghĩa là phía Nam chữ Định nghĩa là bình định là chữ nhà Nguyễn đặt cho nhiều vùng đất. Năm 1832 đổi trấn Nam Định thành tỉnh Nam Định (bao gồm cả Thái Bình và một phần đất Hà Nam hiện nay). Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng và một phần phía bắc Nam Định tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam.


17. NINH BÌNH

Ninh Bình nghĩa là phẳng lặng, yên ổn, yên tĩnh có tên là đạo Ninh Bình từ năm 1822, năm 1831 đổi thành tỉnh Ninh Bình.

Chùa Lớn Nhất Đông Nam Á Bái Đính - Ninh Bình


18. PHÚ THỌ

Phú Thọ là tên gọi xuất phát từ tên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Hưng Hóa mà lập nên thị xã Phú Thọ năm 1903. Sau đó Pháp chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.


19. QUẢNG NINH

Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 – 1500 năm TCN. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt, thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Thời Phong kiến khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay có tên lần lượt là: Lục Châu, łộ Đông Hải, łộ Hải Đông, trấn An Bang, tỉnh Quảng Yên. Sau này Quảng Yên được tách ra thành nhiều đơn vị khác, trong đó có Hải Ninh, về sau Quảng Yên cùng với Hải Ninh và các đơn vị này nhập thành Quảng Ninh bây giờ. Như vậy Quảng Ninh hiện nay gần như là Quảng Yên cũ.


20. SƠN LA

Sơn La có tên gọi xuất phát từ nguồn gốc của Nậm La, một phụ lưu cấp 2 của sông Đà. Sơn La trước năm 1479 phần lớn là lãnh thổ của vương quốc Bồn мคห, chính thức được รáp หнập vào Đại Việt năm 1749. Năm 1886 thành lập châu Sơn La thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hoá. Năm 1895 thành lập tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ ở Vạn Bú tức Tạ Bú, ngày 23/8/1904 đổi tên thành tỉnh Sơn La.


21. THÁI BÌNH

Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay có từ năm 1005 với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Ngày 21/3/1890 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phủ Kiến xươหg tách từ tỉnh Nam Định và huyện Thần Khê tách từ tỉnh Hưng Yên và รáp หнập vào phủ Thái Bình để lập tỉnh Thái Bình, còn phủ sau đổi tên là Thái Ninh.


22. VĨNH PHÚC

Vĩnh Phúc được thành lập vào ngày 12/2/1950 do kết hợp hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên, nhưng do nhiều lần tách nhập nên Vĩnh Phúc hiện nay bao gồm tỉnh Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên trước đây. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm đóng miền Bắc giai đoạn 1946-1954, tỉnh này còn có tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc Yên.


23. YÊN BÁI

Yên Bái là tên được lấy từ tên làng Yên Bái, khi ngày 11/4/1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái. Từ năm 1910 – 1920 chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái, từ năm 1945 đã có nhiều lần tách nhập một phần hoặc cả tỉnh.


24. TUYÊN QUANG

Tuyên Quang có tên bắt nguồn từ sông Tuyên Quang mà nay là sông Lô. “An Nam chí lược” của Lê Tắc, soạn thảo năm 1335 viết: Nước sông Quy Hóa từ Vân Nam chảy về, nước sông Tuyên Quang từ đạo Đặc Ma chảy về, nước sông Đà từ Chàng Long chảy về, nhân có ngã ba sông mà đặt tên như vậy. Tuyên Quang trở thành tỉnh dưới triều vua Minh Mạng.


25. THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên là tên gọi có gốc từ Hán Việt, Thái có nghĩa là to lớn hay rộng rãi, Nguyên có nghĩa là cánh đồng hoặc chỗ đất rộng và bằng phẳng. Tỉnh được thành lập năm 1831, năm 1890 chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập 2 tỉnh với tên gọi Bắc Thái, năm 1996 lại chia tỉnh Bắc Thái để tái lập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên. Như vậy, Thái Nguyên ngày thành lập gần như toàn bộ tỉnh Bắc Thái cũ.


26. ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng có tên gọi được biến dạng của từ Chăm cổ Đaknan. Đak có nghĩa là nước, nan hay nưn, tức Ianưng là rộng. Đaknan hàm ý vùng sông nước rộng mênh mông ở cửa sông Hàn. Có nhà nghiên cứu cho rằng “Đà Nẵng” có thể xuất phát từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Đakdơng – Đà dơng, có nghĩa là sông nguồn.


27. QUẢNG NAM

Quảng Nam có tên gọi mang ý nghĩa mở rộng về phía nam. Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.


28. THỪA THIÊN HUẾ

Thừa Thiên Huế là phủ Phú Xuân dưới thời Tây Sơn. Khi vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức. Năm 1822, dinh Quảng Đức được vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên. Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính gồm 30 tỉnh và 01 phủ là Thừa Thiên. Cùng với sự thăng trầm theo dòng chảy lịch sử, tên gọi và địa giới hành chính tỉnh thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau và ổn định với tên gọi Thừa Thiên Huế và địa giới từ năm 1989 đến nay.


29. QUẢNG BÌNH

Quảng Bình là vùng đất được Chúa Nguyễn Hoàng đặt tên năm từ 1558, các tên gọi cũ khu vực này gồm: Bố Chính, Tân Bình, Lâm Bình, Tiên Bình, Tây Bình. Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604, đổi tên là tỉnh Quảng Bình, trong đó Quảng là sự rộng lớn.


30. QUẢNG TRỊ

Quảng Trị tồn tại với tên gọi Cựu Dinh Quảng Trị thuộc vào trấn Thuận Hoá sau suốt gần 300 năm. Đến khi Gia Long lên ngôi năm 1802 đổi tên Cựu Dinh thành ding Quảng Trị. Năm 1827 thành Quảng Trị đổi tên thành Trấn Quảng Trị, năm 1832 trấn Quảng Trị đổi tên thành Tỉnh Quảng Trị .


31. NGHỆ AN

Nghệ An là danh xưng có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứ 2 đời Lý Thái Tông, lúc đó gọi là Nghệ An châu trại,cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu thời Bắc thuộc, đời vua Lê Thánh Tông đổi thành xứ Nghệ, rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh.


32. HÀ TĨNH

Hà Tĩnh có tên gọi từ năm 1831, khi vua Minh Mệnh chia tách Nghệ An để đặt tỉnh Hà Tĩnh.


33. THANH HOÁ

Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam, là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước. Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, vào năm Thuận Thiên 1 tức năm 1009 gọi là Phủ Thanh Hóa. Năm 1469 lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây. Năm 1802 đổi gọi là trấn Thanh Hóa, có thể do tên cũ trùng với tên một phi tần của vua. Năm 1831 đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm 1841 lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa cho tới ngày nay.


34. QUẢNG NGÃI

Quảng Ngãi có thể là tên gọi mang ý nghĩa dải đất tình nghĩa. Năm 1602 Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa thuộc dinh Quảng Nam đổi thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1807, xã Cù Mông (sau là Chánh Mông rồi Chánh Lộ) được chọn làm nơi xây dựng tỉnh Quảng Nghĩa, năm 1832 tỉnh Quảng Nghĩa tức Ngãi được thành lập.


35. BÌNH ĐỊNH

Bình Định là tên do vua Nguyễn Ánh đặt năm 1799 sau khi hạ được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh bèn cho đổi tên Bình Định, dụng ý thể hiện tư thế của người chiến thắng, có thể Nguyễn Ánh cho rằng mình đã vào tận đất phát tích của nhà Tây Sơn, bình định được “loạn đảng nguỵ Tây” theo cách nói của các vua triều Nguyễn trước đây.


36. PHÚ YÊN

Phú Yên thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru cho đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả, sau đó cho sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai tướng tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại, Nguyễn Hoàng sáp nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi Phú Yên, với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình trong tương lai.


37. KHÁNH HOÀ

Khánh Hòa là tỉnh được thành lập năm 1831 từ trấn Bình Hòa, còn phủ Bình Hòa khi đó trở thành phủ Ninh Hòa. Khánh Hòa là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Trong tiếng Hán, chữ “Khánh” thuộc bộ tâm, quy định nét nghĩa liên quan đến tâm trạng, cảm xúc, tính cách… nghĩa gốc là “mừng” rồi chuyển loại mang nghĩa “chúc mừng” và “việc mừng, lễ mừng”. Chữ Hòa tạm hiểu là đồng thuận, hòa hợp.


38. NINH THUẬN

Ninh Thuận là tên gọi xuất hiện đầu tiên với tư cách là phủ Ninh Thuận vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, kéo dài đến năm 1888. Sau đó lập tỉnh Phan Rang, cũng gọi là tỉnh Ninh Thuận, từ 1945 tách nhập nhiều lần, đến nay được gọi lại tên cũ Ninh Thuận.


39. BÌNH THUẬN

Bình Thuận là tên gọi có từ năm 1697, khi chúa Nguyễn cho lập Bình Thuận Phủ gồm 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Bình chỉ sự khai phá, bình định một vùng đất, Thuận là sự sinh sống hòa thuận mà ở đây là giữa 2 dân tộc Chămpa và Kinh, do lúc này vùng đất này chưa yên ổn nên chúa Nguyễn đặt tên như vậy. Năm 1827, thời vua Minh Mạng, Bình Thuận được đặt thành tỉnh.


40. SÀI GÒN

Thành phố Hồ Chí Minh vẫn được gọi phổ biến với tên cũ là Sài Gòn. Có nhiều thuyết về tên gọi Sài Gòn, nhưng thuyết được cho là đúng và hợp lí nhất đó là Brai Nagara là nguồn gốc. Bởi vì thế kỷ 18 vùng Gia Định xưa có hai địa danh Rai-gon thong (Sài Gòn thượng) và Rai-gon ha ( Sài Gòn hạ). Mà nguồn gốc của Rai gon là Brai Nagara hay Prey Nokor. Hơn nữa, địa danh này không có ý nghĩa trong tiếng Việt nên khả năng phiên âm từ tiếng dân tộc khác là có cơ sở.


41. ĐỒNG NAI

Đồng Nai có nguồn gốc tên gọi vẫn chưa rõ ràng. Dân gian quen giải thích do cánh đồng có nhiều nai. Cũng có ý kiến cho rằng Đồng trong Đồng Nai là cách gọi biến âm từ chữ Đờng trong Đạ Đờng (Sông Cái) của người Mạ; bởi vì còn có rất nhiều tên gọi khác bắt nguồn từ chữ Đồng (Đờng?) mà không phải là cánh Đồng: Đồng Tranh, Đồng Môn, Đồng Tràm, Đồng Trường… Vào thế kỷ 17, Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ.


42. BÌNH DƯƠNG

Bình Dương trong Địa chí Sài Gòn – Gia Định xưa cho rằng được lấy tên từ địa danh thời Trung cổ Trung Quốc, tên đất khởi nghiệp của vua Nghiêu. Khi làm vua, Nghiêu chỉ ở nhà tranh, vách đất, ăn mặc như thứ dân, ngày cày ruộng cùng dân, đêm đọc sách Thánh hiền, suốt thời gian vua cai trị dân chúng thái bình, thịnh trị, không trộm cắp, trên dưới hòa thuận an lành. Bình Dương nay là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa. Về tên gọi Thủ Dầu Một, nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ tiếng Campuchia, nhưng phần đông tác giả khác đều nghĩ Thủ Dầu Một là một cụm từ tiếng Việt được hình thành từ sự kết hợp giữa hai thành tố Thủ (giữ) Dầu Một (tên đất), vì theo truyền khẩu thì đồn binh canh giữ tại Bình An nằm trên ngọn đồi có cây dầu lớn gọi là “cây dầu một” nên tên gọi Thủ Dầu Một ra đời.


43. BÌNH PHƯỚC

Bình Phước có tên gọi từ ngày 30/1/1971, khi Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết sáp nhập 2 tỉnh Bình Long, Phước Long thành một đơn vị trực thuộc Trung ương Cục.


44. BÀ RỊA VŨNG TÀU

Bà Rịa – Vũng Tàu là địa danh ghép bởi Bà Rịa và Vũng Tàu. Địa danh Bà Rịa là phiên âm tên nữ thần trấn sóng Chăm Po Riyak, cũng có thể được cấu tạo theo phương thức chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa người Phú Yên, năm 15 tuổi cùng đoàn lưu dân từ Dinh Trấn Biên vào nam, có công lớn trong việc khai khẩn vùng rừng núi Đồng Xoài.

Vũng Tàu được thành lập năm 1895, tuy nhiên trong bộ Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn đã nhắc đến chữ Vũng Tàu: “Đầu địa giới Gia Định là xứ Vũng Tàu, nơi hải đảo có dân cư”, đó chính là ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam được chúa Nguyễn Phúc Tần lập năm 1658, vùng đất này có ba mặt giáp biển, rất thuận lợi cho tàu bè đậu tránh gió trước khi vào Gia Định, nên về sau gọi là Vũng Tàu.


45. TÂY NINH

Tây Ninh từ thời xưa vốn là một vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp, với tên gọi là Romdum Ray, có nghĩa là “Chuồng Voi” vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn,… cư ngụ. Tên gọi Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.


46. DAK NÔNG

Đắk Nông đặt theo tiếng M’Nông có nghĩa là Nước (hoặc đất) của người M’Nông. Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, phía bắc và đông bắc giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, phía tây với Vương quốc Campuchia.


47. DAK LAK

Đắk Lắk có tên gọi đặt theo tiếng M’Nông nghĩa là “hồ Lắk”, với dak nghĩa là “nước” hay “hồ”. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật nhân loại thế giới công nhận.


48. GIA LAI

Gia Lai nguồn gốc tên gọi bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một tộc người bản địa có số dân đông nhất trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Eđê, Bana, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay,Ya-Ray có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có thể là ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá thuộc tiểu quốc Jarai xưa.


49. KONTUM

Kon Tum, theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ, chỉ tên gọi một ngôi làng gần một hồ nước cạnh dòng sông Đăk Bla mà hiện nay là làng Kon Kơ Nâm ở thành phố Kon Tum.


50. LÂM ĐỒNG

Lâm Đồng được thành lập từ việc sáp nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng.


51. LONG AN

Long An là địa danh được hiểu theo nghĩa: An là yên ổn, an toàn. Long là đầy đủ, hưng thịnh, lớn, tốt đẹp.


52. TIỀN GIANG

Tiền Giang là địa danh được đặt theo tên sông Tiền, là vùng đất được người Việt trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng đến khai hoang và định cư từ thế kỷ XVII. Sau nhiều lần thay đổi tên, thay đổi vùng địa lý, đến năm 1976 mới có tên chính thức là tỉnh Tiền Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho.

Vào thế kỷ 17 Mỹ Tho đã trở thành một trong hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ cùng với Gia Định - Sài Gòn.


53. VĨNH LONG

Vĩnh Long âm Hán Việt có nhiều nghĩa, có thể ngụ ý: “sự thịnh vượng (long) bền lâu, mãi mãi (vĩnh)”. Tên Vĩnh Long, một thời được gọi Vãng Long nhưng “vãng” khó lý giải mối quan hệ ngữ nghĩa, vì nghĩa của “vãng” là “đi, đã qua, thường” không phù hợp với nghĩa của “vĩnh”, như trong từ ghép “vĩnh long”. Có thể lý giải con đường chuyển đổi ngữ âm cho dễ phát âm hơn, nhiều từ cũng chuyển từ inh sang ang như vậy.


54. CẦN THƠ

Cần Thơ là địa danh khi đối chiếu với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre) không có liên quan gì về ngữ âm, nhưng trước đây có một con rạch mang tên một loài cá có tên Khmer là kìntho (cá sặt rằn), về sau biến âm thành Cần Thơ. Bản thân tỉnh Cần Thơ đã được thành lập vào từ 1/1/1900 dưới thời Pháp thuộc, sau đó theo được tách nhập và xê dịch về địa lý nhiều lần.


55. ĐỒNG THÁP

Đồng Tháp có tên gọi từ Đồng Tháp Mười, tư liệu thành văn viết “đồng Tháp Mười” (không viết hoa chữ “đồng”), có nghĩa “tháp thứ 10” hoặc “tháp 10 tầng”, thậm chí có nhiều cách giải thích về 2 ý nghĩa trên theo nhiều giả thuyết khác nhau. Nhiều người cho rằng địa danh Tháp mười được hình thành và chuyển hóa như sau: tháp Mười -> gò Tháp Mười (gọi tắt Gò Tháp) -> đồng Tháp Mười -> vùng Đồng Tháp Mười -> Tháp Mười + Đồng Tháp.


56. BẾN TRE

Bến Tre ngày xưa, theo cuốn “Monographie De La Province De Bến Tre” của tác giả Ménard in năm 1903, người Khơme gọi là Xứ Tre vì các giồng xứ này tre mọc rất nhiều, sau đó người dân lập chợ buôn bán và gọi là chợ Bến Tre, gọi tắt của bến xứ tre.


57. AN GIANG

An Giang xưa là đất Tầm Phong Long, về sau nước Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn, vua Gia Long tổ chức mộ dân đến khai hoang, đưa dân vào định cư trở thành một trong Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn độc lập. Tên gọi An Giang nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài, ý nghĩa cho việc khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.


58. KIÊN GIANG

Kiên Giang là tỉnh được thành lập năm 1975, phần lớn là vùng đất thuộc trấn Hà Tiên cũ do Mạc Cửu khai phá vào thế kỷ XVII. Địa danh Kiên Giang có thể bắt nguồn từ tên một con sông ở Rạch Giá, đó là sông Kiên.


59. HẬU GIANG

Hậu Giang là địa danh có tên gọi bắt nguồn từ tên sông Hậu. Năm 1976 cũng từng có một tỉnh Hậu Giang thuộc miền Tây Nam Bộ, bị giải thể năm 1991 do bị chia thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, sau đó năm 2004 tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang hiện nay.


60. BẠC LIÊU

Bạc Liêu được phát âm theo tiếng Hán Việt từ tiếng Triều Châu là “Pô Léo”, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc (chài lưới, đánh cá, đi biển). Ý kiến khác lại cho rằng “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao.


61. TRÀ VINH

Trà Vinh là một địa danh gốc Khmer tên tiền thân là Tra Vang có thể là biến âm từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Thời nhà Nguyễn thì Trà Vinh là tên phủ sau thành huyện thuộc phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long, được lập ra năm 1832.


62. SÓC TRĂNG

Sóc Trăng là biến âm của Sốc Trăng, xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).


63. CÀ MAU

Cà Mau (cách viết cũ là Cà-mâu) là cái tên được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là “Tưk Kha-mau”, có nghĩa là nước đen, do lá tràm của thảm rừng tràm U Minh bạt ngàn rụng xuống làm đổi màu nước thành đen. Cà Mau là xứ đầm lầy ngập nước, có nhiều bụi lác mọc tự nhiên và hoang dã. Chính vì lẽ đó từ thuở xưa đã có câu ca dao: “Cà Mau là xứ quê mùa / Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu”./.
Yêu nước ST.

Chiến dịch thần tốc, chiến công lịch sử, lợi ích lâu dài

Từ ngày 1/7 đến nay, Bộ Công an đã sản xuất, cấp phát được hơn 50 triệu thẻ CCCD gắn chip điện tử, đó là một sự cố gắng, nỗ lực không quản ngày đêm của lực lượng CAND và sự phối hợp, đồng thuận của người dân. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết, cốt lõi góp phần xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số tại Việt Nam.

Chiều 1/12, tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ ký kết hợp tác giữa Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu dân cư và căn cước công dân (thuộc Trung tâm Dữ liệu quốc gia về dân cư, Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an) với các đối tác chiến lược, khách hàng tiềm năng nhằm phuy tối đa giá trị của Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, Căn cước công dân (CCCD) và định danh, xác thực điện tử. Bộ Công an, Văn phòng Chính phủ đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện Đề án Chuyển đổi số gắn với Hệ thống Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu CCCD và Hệ thống định danh và xác thực điện tử. Vì vậy, với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cùng với Bộ Công an chắc chắn sẽ đảm bảo được mục tiêu chuyển đổi số phát huy tối đa giá trị của Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư, CCCD và định danh, xác thực điện tử. Thời gian tới, các đối tác sẽ cùng với Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu dân cư và CCCD xây dựng Hệ sinh thái, phát triển các ứng dụng định danh và xác thực điện tử đem lại nhiều tiện ích số cho người dân, xã hội. Đặc biệt là nền móng, bước đi đầu tiên để Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu dân cư và CCCD cùng các đơn vị đồng hành phát triển xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, công dân số và xã hội số.

Bên cạnh những đối tác chiến lược, toàn diện, việc ký kết thỏa thuận với các khách hàng cũng vừa là các đối tác (Ngân hàng BIDV, MSB, Công ty Cổ phần Chứng số an toàn, Công ty TNHH Mặt trời vàng) sẽ là những đơn vị đầu tiên mà sản phẩm, dịch vụ sẽ được cung cấp, triển khai cho các khách hàng góp phần tăng lợi nhuận, giảm chi phí đầu tư, quản lý, rủi do cho các tổ chức, doanh nghiệp.