Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2022

Chiêu trò xuyên tạc về kỳ họp bất thường của Quốc hội

Chăm chú theo dõi kỳ họp bất thường của QH, TS Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế, đại biểu QH khóa IX, XII và XIII nhận xét: “Đây là kỳ họp với nhiều nội dung hết sức quan trọng, không chỉ phục vụ cho năm 2022 mà cho cả giai đoạn 2021-2025, được cử tri, nhân dân và dư luận xã hội dành sự quan tâm đặc biệt. Kỳ họp diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trên cả nước. Để góp phần khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục hệ quả của đại dịch Covid-19, tại kỳ họp, QH đã có những quyết sách kịp thời về tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ triển khai chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết những vướng mắc pháp lý cho đầu tư, phát triển. Tôi đánh giá cao việc QH thông qua "một luật sửa 9 luật" để giải quyết những vấn đề căn cơ, bất cập của luật pháp liên quan đến hoạt động kinh tế-xã hội. Đây là sự tháo gỡ căn bản về thể chế.

Trên cơ sở đó, các văn bản pháp quy khác của Chính phủ sẽ điều chỉnh, tạo thuận lợi tốt hơn cho môi trường sản xuất, kinh doanh. Các nội dung cụ thể được sửa đổi, bổ sung lần này liên quan trực tiếp tới hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, công tác bảo vệ an ninh mạng, thi hành án dân sự, thực hiện chính sách xã hội hóa vào hệ thống truyền tải điện quốc gia, khuyến khích đầu tư sản xuất và sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường... Đáng lưu ý, luật đã tháo gỡ các thủ tục, điểm nghẽn trong hấp thụ nguồn vốn cũng như trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh và các hoạt động kinh tế hiện nay”.

Thực tế của kỳ họp bất thường là vậy, cử tri và đồng bào cả nước đều có thể theo dõi các phiên họp qua những phương tiện thông tin đại chúng với rất nhiều kênh truyền hình trực tiếp, trực tuyến. Vậy mà vẫn có một số người lại cố tình xuyên tạc nội dung, bản chất của kỳ họp. Họ rêu rao trên mạng xã hội, phát biểu trên một số phương tiện thông tin đại chúng của nước ngoài rằng: “QH họp bất thường để tạo cơ sở pháp lý cho việc tham nhũng chính sách”, “QH họp bất thường vì lợi ích nhóm”, “QH họp bất thường có bình thường không vào lúc này?”...

Họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách

Một trong những sự kiện thu hút sự quan tâm đặc biệt của cử tri trong những ngày đầu năm mới 2022 là Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH khóa XV.

Phát biểu khai mạc kỳ họp, Chủ tịch QH Vương Đình Huệ cho biết, trên cơ sở yêu cầu cấp thiết của đất nước và công tác chuẩn bị, căn cứ quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức QH và các nghị quyết Kỳ họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã quyết định triệu tập kỳ họp bất thường lần thứ nhất nhằm kịp thời xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế-xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ kịp thời cho chương trình phòng, chống dịch Covid-19 và chương trình phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Trước đó, tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên được tổ chức tại QH Việt Nam,  Tổng thư ký QH, Chủ nhiệm Văn phòng QH Bùi Văn Cường khẳng định: Theo quy định của pháp luật, QH có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách. Trong đổi mới hoạt động QH, chúng ta phải xem cách thức vận hành và hoạt động của nghị viện các nước cũng thế. Khi cần phải họp để thông qua thì họ cũng đã có những hình thức như vậy.

Tổng thư ký QH cũng nêu quan điểm, QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách. Theo đó, khi có những việc cần thiết, cấp bách, cần giải quyết sớm thì QH sẽ có thêm những kỳ họp bất thường bên cạnh hai kỳ họp thường kỳ, với mục tiêu tối thượng là phục vụ nhân dân, phục vụ cho phát triển đất nước, bảo đảm thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, không bị ách tắc; thể hiện sự chủ động, tích cực của QH trong thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thực tế, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất của QH, nhiều vấn đề cấp bách của đất nước đã được cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân giải quyết.  


Khẳng định vai trò cầu nối thông tin từ Quốc hội đến cử tri, nhân dân

Ngày 13-1, tại Hà Nội, Báo Đại biểu Nhân dân đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2021 và triển khai nhiệm vụ năm 2022. Dự hội nghị có Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

Phát biểu tại hội nghị, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã biểu dương, ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực, cố gắng, những kết quả, thành tích đạt được của Báo Đại biểu Nhân dân trong năm 2021. Báo đã có nhiều đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng, tiếp tục bám sát nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện tốt vai trò thông tin, tuyên truyền các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các hoạt động của Quốc hội, lãnh đạo Quốc hội, HĐND các cấp. Báo đã thực hiện tốt vai trò là “cầu nối” truyền tải thông tin từ Quốc hội, HĐND các cấp tới cử tri và nhân dân. Cán bộ, phóng viên, biên tập viên, người lao động của báo đã luôn đoàn kết, chủ động, sáng tạo, nỗ lực, động viên, khích lệ tinh thần làm việc, tính chuyên nghiệp, chuyên sâu, hiệu quả được nâng cao.

Khẳng định vai trò cầu nối thông tin từ Quốc hội đến cử tri, nhân dân

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ; Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn chụp ảnh lưu niệm cùng cán bộ, phóng viên, biên tập viên Báo Đại biểu Nhân dân.

Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội yêu cầu, mỗi cán bộ, phóng viên, biên tập viên của báo trong quá trình tu dưỡng, phấn đấu, luôn giữ “tâm sáng, lòng trong, bút sắc”. Báo là cầu nối giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, là diễn đàn để nhân dân đóng góp vào quá trình xây dựng pháp luật, hoàn thiện cơ chế, chính sách; góp phần khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, ý chí tự lực, tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên của báo cần tiếp tục rèn luyện, bồi dưỡng về trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là chuyên sâu về hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp. Nâng cao tính xây dựng và phản biện, kiên quyết đấu tranh, phản bác thông tin xấu độc, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng trong quản lý tài chính, ngân sách

Ngày 16-1, tại Đà Nẵng, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải dẫn đầu đoàn công tác của Quốc hội đến thăm, làm việc với Kiểm toán Nhà nước khu vực 3.

Phát biểu tại buổi làm việc, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải biểu dương những thành tích, nỗ lực mà Kiểm toán Nhà nước khu vực 3 đạt được trong thời gian qua và nhấn mạnh, Kiểm toán Nhà nước khu vực 3 cần nỗ lực, cố gắng hoàn thành tốt công tác, tạo điều kiện phát huy các đặc thù của miền Trung năng động, nâng cao chất lượng bộ máy và trách nhiệm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên địa bàn.

Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng trong quản lý tài chính, ngân sách

Đồng chí Nguyễn Đức Hải thăm và làm việc với Vụ Công tác miền Trung – Tây Nguyên, Văn phòng Quốc hội tại Đà Nẵng trong sáng 16-1. 

Trong thời gian tới, ngành kiểm toán cần tập trung cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong đó có chiến lược kiểm toán; định hình phát triển Kiểm toán Nhà nước với các phương hướng, mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Kiểm toán phải là công cụ hữu ích, quan trọng của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân sách, tài sản công...

Cùng ngày, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải đã thăm, làm việc với Vụ Công tác miền Trung và Tây Nguyên (Văn phòng Quốc hội) tại Đà Nẵng.

NHỮNG BÀN CHÂN LẶNG LẼ

Những ngày qua, trước những xót xa, tổn thất về người và của do cơn lũ lịch sử gây ra tại các tỉnh miền Trung, trong khi chỉ vừa mới đây thôi đã phải trải qua những ngày tháng căng mình với dịch bệnh, tôi chợt nhớ đến câu nói “Nếu không có nghệ sĩ ai giúp dân?” của một nghệ sĩ trong giới Showbiz.

“Nếu không có nghệ sĩ ai giúp dân?” Xin phép trả lời luôn: là những người chiến sĩ, bất kể có hay không có nghệ sĩ hoặc bất cứ mạnh thường quân nào thì những năm tháng qua họ vẫn lặng lẽ cùng dân vượt qua mọi thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ sự bình yên của nhân dân. Thiết nghĩ nếu đã là hành động xuất phát từ lòng yêu thương chân thành, không chút tính toán, vụ lợi thì người nghệ sĩ kia cớ sao phải nói những câu hờn trách đến vậy. Gạt đi những lùm xùm của giới nghệ sĩ trong “thương vụ” ba mươi tỷ hay những màn “cung đấu” ầm ĩ loi kéo cả nghìn người hiếu kỳ, chúng ta hãy nhìn vào những người cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm chẳng quản khó khăn, gian khổ bảo vệ nhân dân. Lũ về, các anh lại lên đường. Động lực nào đã tiếp sức mạnh cho các anh chống chọi với sự tàn khốc của bão lũ năm nay? Hay “Cứu dân là mệnh lệnh trái tim”. Không đao to búa lớn, cũng chẳng cần hô hào ồn ã, không phô trương, không livestream, không chụp ảnh khoe lên mạng xã hội mà chỉ có vài tấm ảnh chụp vội của những phóng viên xông pha đưa tin vùng lũ. Ngần ấy thôi các anh đã ghi vào lòng quần chúng một cách sâu sắc nhất, mãi mãi là những người hùng trong thời bình, là những cánh chim chẳng ngại mệt mỏi dệt lên bầu trời bình yên với lý tưởng trong sáng và tình yêu thương đồng bào chân thành.

Cảm ơn các anh, những người anh hùng máu đỏ da vàng, những bước chân lặng lẽ vẫn luôn đồng hành cùng nhân dân chiến đấu với thiên tai, dịch họa. Xin gửi những lời chúc tốt đẹp và muôn vàn tình thương đến các anh, mong các anh giữ gìn sức khỏe đề trở về với gia đình, mong các anh “chân cứng đá mềm” để mãi luôn là tấm lá chắn vững chắc bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.

Vâng, khi mạng xã hội vẫn đang quay cuồng với drama, đừng quên ngay lúc này hàng nghìn các cán bộ chiến sĩ Công an, quân đội, dân quân đã và đang ngày đêm sát cánh cùng các cấp ủy, chính quyền địa phương gồng mình cứu trợ bà con chống chọi với cơn lũ, thoát khỏi nguy hiểm./.

TỔ QUỐC PHẢI LÀ TRÊN HẾT VÀ TRƯỚC HẾT

Không ai có quyền ngăn chặn, cản trở việc phổ biến Quốc ca (Tiến quân ca)...!

Từ khi Website Chính phủ, trang web chính thức của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam trên mạng internet toàn cầu, ra mắt vào ngày 10/1/2006, Website Chính phủ đã được Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch chính thức chuyển giao, công bố chính thống Quốc ca Việt Nam trên mạng internet toàn cầu.

Đây là một trong các dữ liệu chính thức về Nước, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trên mạng internet, gồm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Tuyên ngôn cũng như các văn bản pháp luật…

Các đơn vị, tổ chức, cá nhân đều có thể sử dụng bản ghi chính thức này trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và hoàn toàn miễn phí...

QUAN ĐIỂM CHO RẰNG CHẾ ĐỘ “ĐỘC ĐẢNG” LÀ TRỞ NGẠI LỚN NHẤT CẢN TRỞ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC VÀ DÂN TỘC CÓ PHẢI LÀ SỰ THẬT?

Một thuộc tính cố hữu trong bản năng chống động của các phần tử thù địch đối với cách mạng Việt Nam nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, đó là nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu thường thấy của các phần tử này là: “Đảng Cộng sản bản chất là không dân chủ và do đó Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo và cầm quyền là vi phạm nền dân chủ” (!); “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội” tức là theo chế độ đảng trị, bằng “đảng chủ”; “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!); “chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền” (!), v,v..

Một cách tất yếu, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không khể không đi tới phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, bởi đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động phủ nhận nguyên tắc này đồng nghĩa với phá bỏ viên đá tảng trong học thuyết Mác - Lênin về Đảng Cộng sản. Các thế lực thù địch thường tung ra các luận điệu như: nguyên tắc tập trung dân chủ chủ yếu hướng tới “tập trung”, “dân chủ” chỉ là “thứ yếu”, là “hình thức”; nguyên tắc tập trung dân chủ đã “lỗi thời", “không có thật”, “dân chủ không thể đi đôi với tập trung”; là một “nguyên tắc sai lầm”, “làm mất dân chủ” và “tất yếu dẫn đến tập trung quan liêu, chuyên chế, tình trạng vô trách nhiệm”; tập trung dân chủ chỉ là một thứ chế độ tập quyền, độc đoán bảo thủ, kìm hãm tư duy sáng tạo; v.v..

Đây là một loại luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Thực chất những luận điệu này là gì, nếu không phải là muốn đa nguyên, đa đảng, chia quyền lãnh đạo dẫn tới đoạt quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mục đích của họ là phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam. Vấn đề một đảng hay nhiều đảng lãnh đạo, cầm quyền không phải là vấn đề mới. Thực tiễn cho thấy vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan. Về khách quan, nó phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mỗi đảng khi lên lãnh đạo, cầm quyền. Về chủ quan, nó phụ thuộc vào tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mà mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.

Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.

Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với giai cấp sinh ra nó, chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa nguyên chính trị.

Cho đến nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng tỏ được vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng thực hiện mục tiêu chung của quốc gia – dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân vì nước mà hành động chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.

Có phải độc đảng thì cản trở, còn đa đảng thì tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước? Có hai khả năng phải tính đến: Khả năng thứ nhất, một đảng cầm quyền có lợi ích riêng thì đa đảng trong hệ thống chính trị là cần thiết. Ở đây, nếu chỉ có một đảng là độc tài. Khả năng thứ hai, một đảng không có lợi ích riêng khi cầm quyền vì lợi ích chung thì đa đảng dễ gây bè phái, phân tán.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước. Vậy Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ rơi vào trường hợp nào trong hai khả năng trên? Để làm rõ vấn đề, chúng ta cần phân tích trên các khía cạnh sau:

Một là, mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh đất nước phát triển

  Trước hết, phải xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là của ai, đại diện cho lợi ích của ai? Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hợp quy luật, phản ánh điều kiện khách và chủ quan đã chín muồi trong dòng vận động lịch sử của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự hợp nhất của ba tổ chức cách mạng tiền thân là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước khi hợp nhất, các tổ chức này hoạt động độc lập và có hiện tượng tranh chấp sự ảnh hưởng trong quần chúng, bài xích lẫn nhau và mỗi tổ chức đều muốn đứng ra thống nhất các tổ chức cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng phân tán lực lượng, chia rẽ nội bộ, tạo sự thống nhất về tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị thế của Đảng. Đảng trở thành hiện thân đại diện tiêu biểu cho lợi ích của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” (1). Ngoài lợi ích trên, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn lợi ích nào khác.

Mục đích của Đảng là “xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”(2). Đó là mục đích, lý tưởng cao cả không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta.

Hai là, Đảng đã tìm ra định hướng phát triển và trực tiếp lãnh đạo các cuộc cách mạng để phát triển.

Trong những năm 1920 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc, tưởng như không có đường ra. Nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều phong trào cách mạng đưa ra các lựa chọn để giải phóng dân tộc, phát triển đất nước, song tựu trung, tất cả đều thất bại. Giữa lúc đen tối ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), rẽ đám mây mù, chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, đưa giống nòi bước qua lầm than, nô lệ. Luận cương chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 10/1930) xác định phương hướng chiến lược của cách mạng là: lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Động lực cách mạng là giai cấp vô sản và nông dân. Lãnh đạo cách mạng là giai cấp vô sản với đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.

Tiếp đến, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 11/1939) xác định: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công - nông - binh bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa. Phương pháp đấu tranh: chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật, bất hợp pháp. Thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc chống đế quốc.

Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) xác định: Giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh là nhiệm vụ “bức thiết nhất”; tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, chỉ thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công. Quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng. Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng. Đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân; chỉ rõ một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ; đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa.

Với đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn đó, nên mới 15 tuổi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, thiết lập nên nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, tự do.

Nhưng sau khi vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, hàng loạt nguy cơ, thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua. Đó là nguy cơ của “giặc đói”, “giặc dốt”, và đặc biệt là “giặc ngoại xâm”. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đúng đắn, sáng suốt trong việc phát huy các yếu tố thuận lợi, hạn chế và vượt qua khó khăn, kịp thời có đối sách thích hợp để ứng phó với những thách thức đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng đi lên.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với thắng lợi thuộc về nhân dân ta, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng vào ngày 10/10/1954, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều kiện cho miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, tháng 5/1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc. Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này được Đảng ta xác định là: Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Trong đó, miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương với tiền tuyến.

Với Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chúng ta đã kết thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống Mỹ, cứu nước và 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc; mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới  trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.

Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp là không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm; việc hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tim tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt qua trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Ba là, thực tế đất nước đạt nhiều thành tựu và phát triển không ngừng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã giành được những thành tựu vĩ đại vô cùng. Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá. nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Văn hóa - xã hội có bước phát triển. công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những thành tựu quan trọng, sớm đạt được nhiều mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, được quốc tế đánh giá cao. Diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã và đang đạt được một số kết quả tích cực. Đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển của đất nước. Nhiều đảng viên đã để lại nhiều tấm gương tốt thể hiện tinh thần tiên phong và tính gương mẫu.

Khi trả lời Thông tấn xã Việt Nam đầu Xuân Canh Tý 2020, cũng là dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thế và lực của nước ta đã được tăng cường, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là một quốc gia kinh tế - văn hóa phát triển, chính trị - xã hội ổn định, có nhiều triển vọng tốt... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ to lớn, vai trò và vị thế cao như ngày nay”; những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên cản trở sự phát triển là hết sức hàm hồ và trơ trẽn.

Cái gọi là "sự sụp đổ của bức tường Berlin" dẫn đến đến thế giới phẳng

 

Cuốn "Thế giới phẳng" của Thomas L.Friedmam một học giả người Mỹ (Nxb Trẻ, Thành phố HCM, 2016) bàn về vấn đề phẳng của thế giới đã cho rằng có 10 nhân tố làm nên sự phẳng của thế giới.  

Nhân tố đầu tiên mà cuón sách này cho rằng: Sự sụp đổ của bức tường Berlin (ngày 9/11/1989). Sự sụp đổ của bức tường Berlin chính là sự sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Đức. Điều đó đồng nghĩa với việc họ cho rằng:  sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội là một trong những nhân tố làm nên sự phẳng của thế giới hiện nay và trong tương lai. 

Dù nhìn ở góc độ nào thì đây cũng là tư tưởng chủ quan, phiến diện khi nhìn nhận và đnáh giá về CNXH hiện thực và lý luận chủ nghĩa Mác- Lê nin. MLN/Nh

(còn nữa)


Để bộ đội đón Tết vui tươi, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ

Tết cổ truyền của dân tộc đang đến gần cũng là lúc Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) tập trung thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, nhất là trực sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị mọi mặt để bộ đội vui xuân, đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh.

 Động lực giúp bộ đội an tâm công tác, cống hiến

Những ngày này, mỗi cán bộ, chiến sĩ đơn vị đều tất bật thực hiện nhiệm vụ được giao, tích cực tham gia chỉnh trang, củng cố cảnh quan doanh trại. Các cơ quan, phân đội tập trung tu sửa, quét vôi ve toàn bộ hệ thống nhà ở, cắt tỉa cây xanh, bổ sung chậu hoa, cây cảnh, trang hoàng khuôn viên... mang đậm hương sắc mùa xuân. Ngày Tết, mọi người đều mong muốn đoàn tụ gia đình, nhưng vì nhiệm vụ nên hầu hết cán bộ, chiến sĩ đều trực ở đơn vị.

Để bù đắp sự thiếu vắng hơi ấm quê nhà, trung đoàn đã triển khai xây dựng kế hoạch tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giải trí ấm tình đồng chí, đồng đội như: Làm báo tường, hội thi bình mâm ngũ quả và bình báo tường từ cấp chi đoàn đến đoàn cơ sở; hội thi nấu bánh chưng xanh, gói giò, nấu mâm cỗ, đồ xôi ở tất cả đầu mối bếp toàn đơn vị; diễn đàn thanh niên trong đêm Giao thừa với chủ đề “Tổ quốc, mùa xuân, người chiến sĩ” và hoạt động văn hóa văn nghệ, hái hoa dân chủ, giao lưu thể thao giữa các cơ quan, phân đội trong trung đoàn theo 4 đầu mối (khối 3 tiểu đoàn, khối đại đội trực thuộc).

Bên cạnh đó, đơn vị có kế hoạch tổ chức những trò chơi dân gian, trò chơi quân sự như: Kéo co, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập bóng, đẩy gậy, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bóng bàn và Tết trồng cây. Việc thực hiện nhiều hoạt động giao lưu, vui chơi nhằm cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ thi đua phát huy nội lực, lập thành tích cao nhất thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong năm 2022.

Vào thời điểm ngày Tết gần kề, song song với việc chuẩn bị cơ sở vật chất, đơn vị đã quán triệt đến 100% cán bộ, chiến sĩ về chế độ, tiêu chuẩn được hưởng và cấp phát đầy đủ. Bên cạnh tiêu chuẩn quy định, từ nguồn tăng gia sản xuất, đơn vị bảo đảm 100% nhu cầu rau xanh, thịt gia cầm, thịt lợn sạch trong bữa ăn ngày Tết. Các mặt hàng khác đều được khai thác đúng nguồn gốc, giá cả hợp lý, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.

Trung đoàn cũng trích từ quỹ tăng gia sản xuất hỗ trợ đối tượng hưởng lương 300.000 đồng/người, chiến sĩ 50.000 đồng/người để đưa vào bữa ăn trong 5 ngày (từ 29 đến mồng 4 Tết); hỗ trợ cấp đại đội, tiểu đoàn, 4 cơ quan tiền làm ban thờ ngày Tết theo tinh thần trang trọng, chu đáo, tiết kiệm. Để thắt chặt tình quân dân và hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, đơn vị còn tham gia tu sửa, củng cố nghĩa trang; thăm, tặng quà, chúc Tết thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, gia đình chính sách trên địa bàn đóng quân và cấp ủy, chính quyền địa phương, gia đình có hoàn cảnh khó khăn với số tiền hơn 14 triệu đồng.

Cũng vào dịp cuối năm, căn cứ vào kế hoạch của sư đoàn và tình hình thực tiễn, trung đoàn tiến hành giải quyết nghỉ phép Tết cho cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp theo đúng quy định. Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, để bảo đảm an toàn, đơn vị không giải quyết cho quân nhân về nghỉ ở những địa bàn có dịch cấp độ 4. Khi bộ đội trả phép phải thực hiện cách ly y tế theo quy định.

Thực hiện có hiệu quả biện pháp nắm, quản lý, giải quyết tư tưởng cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ trước, trong và sau dịp Tết Nguyên đán, trung đoàn đã tăng cường sinh hoạt quán triệt nhiệm vụ, động viên bộ đội khắc phục khó khăn, thi đua hoàn thành toàn diện nhiệm vụ được giao. 100% cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm chắc yêu cầu nhiệm vụ, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao; không để xảy ra trường hợp nào vắng mặt trái phép, đào, bỏ ngũ trong dịp Tết.

Với sự chủ động và làm tốt công tác chuẩn bị, bước sang mùa xuân mới, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 43 sẽ giành được nhiều kết quả cao hơn trên các mặt công tác, thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 55 năm Ngày truyền thống trung đoàn (29-7-1967 / 29-7-2022), tô thắm thêm truyền thống “Đoàn kết-anh dũng-kiên cường-sáng tạo” mà nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã dày công vun đắp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng cơ sở chính trị địa bàn an toàn, vững mạnh, bảo vệ vững chắc vùng Đông Bắc thân yêu của Tổ quốc.

Quy chế dân chủ ở cơ sở được quan tâm, mở rộng

Chiều 13-1, tại Hà Nội, Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tổ chức hội nghị tổng kết năm 2021, triển khai nhiệm vụ năm 2022.

Đồng chí Nguyễn Lam, Phó trưởng ban Dân vận Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí thành viên Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đại biểu các ban, bộ, ngành Trung ương.

Hội nghị thống nhất đánh giá, năm 2021, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, tạo thành sức mạnh to lớn của nhân dân tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Các đại biểu đã tích cực trao đổi, thảo luận, khẳng định những kết quả quan trọng mà ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ các cấp đã đạt được trong năm 2021, đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt còn hạn chế, kiến nghị, đề xuất các biện pháp khắc phục trong thời gian tới.

Về nhiệm vụ trọng tâm năm 2022, Ban chỉ đạo Trung ương thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, xác định: Tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2021-2030. Nâng cao chất lượng việc quán triệt, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với việc thực hiện các văn bản của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Phát huy vai trò nòng cốt của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Tiếp tục phát huy dân chủ trong Đảng làm trung tâm, mở rộng dân chủ trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ban chỉ đạo quy chế dân chủ ở cơ sở các cấp.

Việt Nam khẳng định quan điểm nhất quán về vấn đề Biển Đông

Ngày 14-1, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam liên quan đến việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố Báo cáo số 150 về các ranh giới biển, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh:

 “Việt Nam ghi nhận việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Báo cáo số 150 về các ranh giới biển. Liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam đã nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán và rõ ràng của mình, cả trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương, theo đó Việt Nam luôn phản đối và không chấp nhận mọi yêu sách liên quan không phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Việt Nam khẳng định quan điểm nhất quán về vấn đề Biển Đông

Nhân dịp này, Việt Nam một lần nữa đề nghị các Bên liên quan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, có đóng góp tích cực và thực chất nhằm duy trì hòa bình, ổn định, bảo vệ an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, tính toàn vẹn của UNCLOS và trật tự dựa trên luật lệ”.

Người từng mắc COVID-19 khi nào nên đi khám?

Bệnh nhân hậu COVID-19 đang trở thành vấn đề y tế sau giai đoạn mắc dịch. Tuy nhiên, bác sĩ khuyến cáo, không phải bệnh nhân nào từng mắc COVID-19 cũng gặp di chứng. Người bệnh không nên hoang mang chỉ cần đi khám khi có các triệu chứng bất thường để chủ động phát hiện điều trị di chứng và các bệnh lý khác. Hầu hết di chứng hậu COVID-19 xảy ra ở những bệnh nhân nặng và nguy kịch trước đó. Các di chứng thường gặp nhất ảnh hưởng đến chức năng hô hấp cấp và hô hấp mạn tính, một số di chứng về tim mạch, bệnh lý xuất huyết não, nhồi máu não, stress, lo âu, rối loạn giấc ngủ.

Bệnh viện Phục hồi Chức năng đã tiếp nhận, điều trị hơn 1.000 ca gặp các di chứng hậu COVID-19, trong đó 341 ca mức độ nặng cần điều trị nội trú, số còn lại điều trị ngoại trú. Tương tự, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đã tiếp nhận hơn 1.000 bệnh nhân đến khám vì vấn đề sức khỏe hậu COVID-19 với các biểu hiện mệt mỏi, suy nhược cơ thể, tinh thần lo lắng. Những người từng nằm viện hầu hết là bệnh nhân từ mức độ trung bình đến nặng, nguy kịch. Thực tế trên đã đặt ra nhiều nhu cầu chăm sóc sức khỏe hậu COVID-19 cho cộng đồng.

Cơ thể cần thời gian bình phục

Bên cạnh những người cần được khám và hỗ trợ điều trị phục hồi chức năng, tâm lý lo lắng đang xuất hiện ở hầu hết bệnh nhân từng mắc COVID-19. Trên thực tế nhiều người đang quá lo lắng dẫn đến tình trạng đổ xô đi kiểm tra sức khỏe hậu COVID-19. Lợi dụng tình hình này, một số đơn vị đã mở ra những khóa dịch vụ phục hồi chức năng hậu COVID-19 với mức giá trên dưới 15 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, điều này có thực sự cần thiết hay không là vấn đề đặt ra cho mọi người.

Phân tích chỉ ra, hậu COVID-19 xảy ra ở những người đã từng mắc bệnh, đặc biệt là những người bệnh nặng đến nguy kịch phải trải qua quá trình hồi sức. “Đây là tình trạng tương tự như hậu nhiễm trùng, trong đó có những người từ khu hồi sức hết bệnh nhưng không đủ sức khỏe để về nhà, phải chuyển qua điều trị phục hồi chức năng, các vấn đề sức khỏe liên quan chặt chẽ đến những di chứng do thở máy, nằm lâu, teo cơ, xơ phổi”.

Sau khi mắc bất kỳ loại bệnh nào, cơ thể cần có thời gian bình phục. Những người hậu COVID-19 khi khó thở cần bình tĩnh và kiên trì tập thở, chủ động tăng cường dinh dưỡng, tránh nguy cơ mắc các bệnh lý khác. Trường hợp bị mất mùi nên tập ngửi bằng các loại tinh dầu hoặc vỏ cam, vỏ chanh có mùi hương. Người bị rụng tóc cần bổ sung thêm thuốc kẽm, B Complex.

Người bị ho cần kiểm tra những tác động từ thời tiết, bệnh lý hen suyễn, cảm cúm để loại trừ nguyên nhân do hậu COVID-19. Người có biểu hiện đau nhức xương khớp, cơ thể nên sử dụng thuốc xoa bóp, tăng cường tập luyện vận động. Chỉ nên đi khám hậu COVID-19 khi đã tăng cường nhiều giải pháp nhưng biểu hiện bệnh vẫn kéo dài.

Trong nhóm di chứng hậu COVID-19 có những trường hợp đối mặt với các vấn đề bệnh lý tâm thần do phải trải qua những ngày nguy kịch trên giường bệnh. Bệnh nhân cần bình tĩnh lấy lại thăng bằng trong cuộc sống và chủ động hợp tác với bác sĩ trong các liệu trình điều trị, tuân thủ phác đồ sử dụng thuốc hỗ trợ để sớm bình phục sức khỏe.

TƯỞNG NIỆM CÁI GỌI LÀ "HẢI CHIẾN HOÀNG SA" - SỰ VÔ LIÊM SỈ CỦA GIỐNG VÔ LOÀI!

Hằng năm, cứ sắp tới ngày 19/1 là y như rằng đám tàn dư ngụy quân, ngụy quyền và bọn phản động ở hải ngoại lại tổ chức cái gọi là "tưởng niệm Hải chiến Hoàng Sa". Điều lạ ở chỗ là Hoàng Sa do chính Mỹ, ngụy để mất vào tay Trung Quốc năm 1974 nhưng giờ đây chúng lại ra rả, đổ tội cho những người Cộng sản Việt Nam. Đúng là vô liêm sỉ và trâng tráo vô cùng vô tận. Nhân sự kiện này, lão chăn bò có quan điểm về cái gọi là “hải chiến Hoàng Sa” như sau:

1. SỰ THỎA HIỆP CỦA TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ:  

Ngày 21/2/1972, Tổng thống Hoa Kỳ là Richard Nixon đã chính thức thăm Trung Quốc. Chuyến thăm của Richard Nixon tới Trung Quốc với ý đồ dùng “nhất tiễn hạ song điêu” một mũi tên nhắm tới hai mục đích chính trị lớn đó là: Gây chia rẽ sâu sắc giữa hai cường quốc cộng sản quan trọng nhất (Liên Xô và Trung Quốc) và trong bối cảnh Hoa Kỳ đã sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh bị sụp đổ và phải chấp nhận đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris. Hoa Kỳ cần một chiến thắng trong danh dự để lấy lại thể diện, để áp đảo kết quả trên bàn đàm phán thì mục tiêu của Hoa Kỳ là dùng át chủ bài của không lực Hoa Kỳ với ý đồ ngông cuồng là “đưa miền bắc về thời kỳ đồ đá”. Muốn đảm bảo được chiến thắng trên bầu trời Hà Nội, Mỹ cần Bắc Kinh không can thiệp quân sự vào Việt Nam, hạn chế cung cấp để gây khó khăn cho Việt Nam.

Trong khi đó, giới chóp bu Trung Quốc luôn mong muốn vươn lên làm “anh cả” khối XHCN, soán ngôi vị Liên Xô, đồng thời bành trướng lãnh thổ theo chiến lược “viễn giao cận công” mở rộng lãnh thổ về  khu vực Đông Nam Á, nên họ cũng nhanh chóng bắt tay với Mỹ để mặc cả. Chính vì vậy, sau chuyến viếng thăm này, không khó có thể nhận thấy những hành động bất lợi của Trung Quốc nhằm ngăn cản ý chí thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Điều này, thể hiện rõ trong nhận định của những nhà phân tích quốc tế về thái độ của Trung Quốc sau chuyến thăm của TT Hoa Kỳ. Nghĩa là Trung Quốc chỉ muốn miền Bắc là phên dậu cho họ như những gì diễn ra ở Triều Tiên trước đó nhưng không muốn Việt Nam thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Trong bài viết “Năm 1972 trong lịch sử cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước” của tác giả Hà Minh Hồng cũng nói rõ: "mưu toan" của Mỹ trong chính sách ngoại giao nước lớn là: buộc Trung Quốc cắt giảm viện trợ cho Việt Nam (tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), hòng ngăn chặn cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta (tức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) ở miền Nam. Cụ thể, ngay cuối trong năm 1972, Trung Quốc đã có những động thái ngăn trở chiến tranh giải phóng miền Nam Việt Nam, ngó lơ khi Mỹ leo thang ném bom miền Bắc, và đặc biệt trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” – phía Mỹ gọi là Linebacker II. Tất nhiên, để đổi lại sự an toàn, tự do đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm tìm kiếm một “chiến thắng trong danh dự”. Mỹ sẵn sàng và chấp nhận trả cho Trung Quốc một cái giá nào đó. Cái giá đó chính là : HOÀNG SA. Tuy nhiên người Mỹ đã lầm khi đánh giá sai về ý chí và sức mạnh chính nghĩa vô địch của quân và dân Miền Bắc, cái gọi là “đưa miền bắc về thời kỳ đồ đá đã nhanh chống trở thành “đưa niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ trở về thời kỳ đồ nhôm”. 

2. BẢN CHẤT THẬT CỦA CÔNG CỤ TAY SAI, BÁN NƯỚC NGỤY SÀI GÒN: 

Bản thân chúng chỉ là con rối cho Hoa Kỳ giật dây; chưa bao giờ được coi là một chính thể hợp pháp. Bởi bản chất của nó chỉ là những kẻ làm thuê, đánh thuê phục vụ cho nhu cầu chính trị của Mỹ và các nước đồng minh. Được điều hành, huấn luyện, trả lương bởi chính Hoa Kỳ. Bản thân ngụy Sài gòn chưa bao giờ được tự chủ, chưa bao giờ có khái niệm về cái gọi là quyền tự quyết, sống ký sinh như loài rông rêu mà thôi. Cụ thể ở chính ngay phát ngôn của “Tổng thống bù nhìn” Nguyễn Văn Thiệu khi tuyên bố "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!" Theo Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ: “Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày”. 

Như vậy cái được gọi là “chính thể Việt Nam Cộng hòa” chỉ có thể là một thứ công cụ, làm thuê cho Mỹ quản lý phần đất phía Nam của Việt Nam theo chế độ thực dân mới. Do đó, Mỹ mới là kẻ xâm lược, chiếm đóng trái phép phần lãnh thổ phía Nam của Việt Nam. Bởi là kẻ xâm lược, để đạt được mục đích của mình “rút lui trong danh dự”,  một chiến thắng để xoay ngược kết quả đàm phán Paris thì việc Mỹ nhượng phần đất Hoàng Sa cho Trung Quốc để thực hiện mưu đồ của mình là một điều dễ hiểu.  Ngay cả những tướng lĩnh, chính khách của “VNCH” cũng cay đắng thứ nhận rằng ngụy quyền  Sài Gòn chỉ  là những con rối bị Mỹ thao túng. Và người Mỹ thì chỉ coi ngụy Sài Gòn là gì thì hãy nghe câu chuyện Nixon đã nói với Kissinger sẽ rõ: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được”. Với Hoàng Sa, khi Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền VNCH nhường đất cho Trung Quốc đổi lại Mỹ hứa hẹn sẽ bảo vệ miền Nam Việt Nam cho lũ rông rêu Thiệu, Kỳ. Mà đã là tôi tớ thì đố dám cãi lại quan thầy nên để hợp pháp việc bán Hoàng Sa cho Trung Quốc của Mỹ thì ngụy Sài Gòn bắt buộc phải diễn một vở kịch có tên: “HẢI CHIẾN HOÀNG SA - 1974” để chạy tội bán nước, bán đảo.

3. VẠCH TRẦN SỰ THẬT CỦA CÁI GỌI LÀ “HẢI CHIẾN HOÀNG SA”

Tất cả báo chí khi thông tin về trận chiến này đa số là do đài địch phát ra, chúng cố ý tô đậm những chi tiết được coi là “bảo vệ chủ quyền” của những binh lính VNCH tham gia cuộc chiến để đánh lừa dư luận, để rêu rao ca ngợi và để “vinh danh chiến sĩ quốc gia oai hùng”; thực chất đó chỉ là chiêu bài của “Cục chiến tranh tâm lý ngụy”. Ông Lê Văn Thự (người tham gia “trận hải chiến” có viết: “Tiếp đến HQ-10 báo cáo Hạm trưởng bị thương. Tôi ra lệnh Hạm phó lên thay quyền chỉ huy, đồng thời đặt ống nhòm nhìn sang HQ-10 tôi thấy một ngọn lửa nhỏ cháy ở đài chỉ huy có thể dập tắt được bằng bình CO2 mà sao không ai làm. Quan sát phía sau lái HQ-10 tôi thấy 4, 5 cái đầu nhấp nhô trên mặt biển. Tôi không biết chuyện gì xảy ra trên HQ-10 vì không nghe báo cáo gì thêm. Tôi đoán chừng vì Hạm trưởng bị thương nặng nên HQ-10 như rắn mất đầu. Một số nhỏ nhát gan sợ tàu cháy hay trúng đạn nổ nên đã nhảy xuống biển. Nhưng HQ-10 vẫn nổi bình thường, thăng bằng, không nghiêng một chút nào cả.”.

Trong bài viết của mình, ông Lê Văn Thự nói rõ ràng mặc dù 4 tàu của VNCH lúc đó được đặt dưới sự chỉ huy của ông Ngạc, tuy nhiên, từ khi xảy ra “giao tranh” cho đến khi kết thúc trận chiến, ông Thự không nhận được bất kỳ một lệnh nào của ông Ngạc, đồng thời, trong tường thuật của ông cũng thể hiện chỉ có HQ-10 và HQ-16 (Phân đội II) độc lập tác chiến, không có sự hỗ trợ của Phân đội HQ-4 và HQ-5 (Phân đội I); thậm chí HQ-4, HQ-5 còn “bắn nhầm” vào hai tàu HQ-16 và HQ - 10. 

Bên cạnh đó, trong bài viết của mình, ông Thự còn khẳng định : “Sự thật HQ-4 và HQ-5 chẳng bị trầy một mảnh sơn nào cả. Cả Hải quân đều biết. Vì thế cho nên chỉ một mình HQ-16 được tiếp đón ở Sài Gòn và gắn huy chương chứ không có Đại tá Ngạc hay HQ-4 và HQ-5”. Như vậy vai trò của HQ-4 và HQ-5 trong trận chiến này là gì ?

Ngụy quân với số lượng tàu và vũ khí áp đảo (các tàu HQ-5, HQ-10, HQ-16 đều có vũ khí mạnh hơn 3 tàu của Trung Quốc, tàu HQ-4 các súng đều sử dụng bằng điện, tốc độ bắn nhanh, radar có tầm xa, vận tốc chiến hạm cao). Nhưng HQ-4 lại không tham chiến, HQ-5 thì lại bắn vào HQ-16, bên cạnh đó, ông Thự có đặt ra giả thuyết là hạm trưởng HQ-10 có thể bị trúng đạn do HQ-5 bắn vào. Như vậy, với khoảng cách khá giữa các tàu tham chiến lý do nào HQ-5 lại “bắn lạc” vào quân ta . 

Một vấn đề cần nghi vấn  khác là sau khi trận chiến xảy ra, HQ-4 và HQ-5 chạy sang Phillipines chứ không quay trở ngược lại Việt Nam. Chỉ có HQ-16 của ông Thự trở về với “thương tích đầy mình”. Phải chăng việc chạy sang Phillipines với lý do “sửa chữa tàu” nhằm mục đích che dấu việc HQ-4 và HQ-5 không bị một vết đạn nào như lời ông Thự nêu?

Phải chăng, việc đưa hai phân đoàn ra thực hiện nhiệm vụ nhằm một mục đích khác ? Những người trong Bộ tư lệnh Hải quân VNCH và Đại tá Ngạc hoàn toàn biết kết quả của trận chiến, thậm chí, sẵn sàng hi sinh HQ-10 và HQ-16 với một mục tiêu nào đó ? Trong bài “Biển Đông dậy sóng” ông Trần Bình Nam có viết : “Đại tá Ngạc biết có một cái gì đó sau lưng trận đánh nên ông đã dè dặt trong đôi lời trước khi viết rằng ông chỉ “tường thuật trung thực những chi tiết theo khía cạnh của một người chỉ huy chiến thuật”.

Với những vấn đề nêu ở trên, có thể nhận thấy trận chiến khu vực Hoàng Sa ngày 19/1/1974 nằm ở một góc độ sắp xếp có chủ ý của phía VNCH. Theo đó, sau khi bị “ông chủ” Hoa Kỳ buộc phải nhường quần đảo cho Trung Quốc. VNCH đã rút dần khỏi các đảo đang chiếm đóng.

Để mị dân, phía VNCH chỉ đạo 4 tàu chiến tham gia, trong đó, có 2 tàu sẽ là “tốt thí”; hai tàu còn lại cũng tham chiến nhưng thực chất là tiêu diệt chính đồng đội của mình để ngụy tạo chứng cứ, chứng minh thái độ “ yêu nước” qua việc “lên án Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa” bằng tư liệu của bộ máy tâm lý chiến của VNCH che dấu sự yếu kém, bất lực của quân đội VNCH , che dấu việc bán nước, bán đảo theo lệnh chủ.

4. TRÂNG TRÁO VÀ VÔ LIÊM SỈ KHI BÀY TRÒ CA NGỢI CÁI GỌI LÀ "HẢI CHIẾN HOÀNG SA":

Với vở kịch “khổ nhục kế” mà Mỹ, Ngụy tạo ra. Chấp nhận thí mạng của 74 người trên 2 tàu HQ - 10 và HQ - 16 ngày 19/01/1974, thực chất Mỹ - Ngụy đã hai tay dâng Hoàng Sa cho Trung Quốc mà nguyên nhân chính là sự thỏa hiệp giữa người Mỹ và Trung Quốc; Thiệu và đám bù nhìn ngụy Sài gòn muốn chiều ý Mỹ và để níu kéo hy vọng giữ miền Nam Việt Nam nên đã can tâm, nhắm mắt dàn dựng vở kịch bi hài “Hải chiến Hoàng Sa”. Với bản chất ô nhục muôn thủa của mình nên bây giờ chúng trâng tráo, không biết sĩ nhục mà còn đòi “vinh danh”. Thực ra bọn chống Cộng cực đoan ở hải ngoại nó chẳng yêu thương gì đến những người đã bị “quân ta bắn chết quân mình” năm 1974 đó đâu; có chăng chúng chỉ dựng lên để phục vụ cho mục đích đen tối của nó là kích động người dân dưới chiêu bài “phò Mỹ bài Trung” mà lâu nay chúng đang diễn đó thôi. Xâu chuỗi lại những sự việc của đám tàn dư chống Cộng trong thời gian qua, làm chúng ta liên tưởng đến tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã và đám mưu đồ lật sử ở trong nước đòi rửa mặt, cạo lông cho bọn ngụy Sài Gòn, đòi “vinh danh cuộc Hải chiến Hoàng Sa” và đòi “công nhận VNCH có lợi cho đấu tranh giành lại biển đảo”, bọn chúng có mối liên hệ chặt chẽ và nhịp nhàng với nhau chăng? Thật khắm thối và bẩn bựa. Đã hèn với giặc thì nên chôn vùi theo gió bụi của tháng năm, xới lên lại càng khó ngửi./.

WHO dự báo tương lai kết thúc đại dịch Covid-19

Quan chức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng virus SARS-CoV-2 sẽ không bao giờ biến mất hoàn toàn, dựa trên diễn biến của đại dịch thời gian qua.

Phát biểu trên kênh Soloviev Live YouTube, Đại diện của WHO tại Nga Melita Vujnovic cho biết, cách đại dịch Covid-19 phát triển cho thấy virus SARS-CoV-2 sẽ không bao giờ biến mất hoàn toàn, thay vào đó nó sẽ lưu hành như một bệnh đặc hữu.

"Covid-19 đang trên đường trở thành một bệnh đặc hữu. Điều này có nghĩa là nó sẽ không biến mất. Nhưng chúng ta đã học được cách điều trị và cách bảo vệ bản thân khỏi virus. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần ngăn chặn sự bùng phát của các ca nhiễm ngay bây giờ và giảm số lượng những người dễ bị tổn thương bởi virus. Nếu không, các biến chủng mới sẽ xuất hiện theo hướng không thể đoán trước", bà Vujnovic cho biết.

Quan chức WHO cho rằng hiện vẫn còn quá sớm để thế giới có thể "buông lỏng" đại dịch.

"Ngoài việc tiêm phòng, điều quan trọng nhất bây giờ là tuân thủ các biện pháp bảo vệ khác: đeo khẩu trang và đổi khẩu trang theo khoảng thời gian khuyến cáo, thông gió trong các phòng và tránh tập trung đông người trong không gian hẹp. Điều này rất quan trọng", bà Vujnovic nói thêm.

Hơn 2 năm kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, thế giới vẫn đang chật vật đối phó với đợt bùng phát mới do sự xuất hiện của các biến chủng mới. Biến chủng Omicron được phát hiện hồi cuối năm 2021 đang khiến số ca nhiễm mới ở nhiều nơi trên thế giới tăng đột biến, kéo theo thách thức lớn cho hệ thống y tế.

Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học ở Hong Kong, so với biến chủng Delta, Omicron có thể nhân bản nhanh hơn 70 lần ở đường hô hấp trên, dẫn đến nguy cơ lây lan cao hơn. Tổng Y sĩ Mỹ Vivek Murthy ngày 16/1 cảnh báo vài tuần tới sẽ là khoảng thời gian "rất khó khăn" vì số ca Covid-19 sẽ tiếp tục tăng do sự lan rộng của biến chủng Omicron. Ông Murthy cho biết Mỹ hiện ghi nhận khoảng 800.000 ca nhiễm mới mỗi ngày.

Trong bối cảnh Omicron bùng phát, Mỹ đã ghi nhận tổng cộng 2.596 ca tử vong liên quan đến Covid-19 và khoảng 874.000 ca nhiễm trên cả nước vào ngày 13/1, tăng gần gấp 8 lần so với một tháng trước đó. Mặc dù ông Murthy không đưa ra dự đoán về số người nhiễm bệnh mà Mỹ có thể ghi nhận trong thời gian tới, nhưng nhấn mạnh "vai trò quan trọng nhất của vaccine" trong việc giảm ca tử vong và nhập viện.

Các nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng, mặc dù có khả năng lây lan cao hơn, nhưng Omicron dường như gây triệu chứng nhẹ hơn so với các chủng khác của SARS-CoV-2. Vì Omicron dường như ít có nguy cơ gây bệnh nghiêm trọng hơn so với Delta, nên sự xuất hiện của biến chủng này đã làm dấy lên hy vọng rằng, đây sẽ là khởi đầu của xu hướng virus trở nên nhẹ hơn, như cảm lạnh thông thường. Một số nhà khoa học thậm chí tin rằng, Omicron có thể đánh dấu sự kết thúc của đại dịch Covid-19.

"2022 là năm đại dịch Covid-19 có thể kết thúc. Giờ đây, chúng ta đã có các công cụ có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của căn bệnh này", bà Maria Van Kerkhove, Trưởng nhóm kỹ thuật phụ trách Covid-19 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nhận định. Dự đoán này được đưa ra dựa trên tính toán rằng, đến giữa năm 2022, các nước đều đạt được tỷ lệ tiêm chủng ít nhất 70%.

Chủ tịch kiêm người đồng sáng lập hãng dược Moderna, Noubar Afeyan, gần đây dự đoán "năm 2022 có thể là năm mà đại dịch bước vào giai đoạn bệnh đặc hữu, nhưng điều đó còn phụ thuộc vào những gì xảy ra trên thực tế và các quyết định được đưa ra trên toàn thế giới".

GIÁ TRỊ PHƯƠNG TÂY - 20 NĂM TRẠI TRA TẤN GUANTANAMO

 

Đó là tên bài báo của tờ Thế Giới Trẻ (Junge Welt) ở thủ đô Berlin đăng ngày 11-01-2022. Tác giả: Zaklin Nastic. Bà Zaklin Nastic là một chính trị gia phụ trách các vấn đề nhân quyền và quốc phòng của nhóm nghị sĩ cánh tả ở Quốc hội Đức. Tên bài trong bản tiếng Đức: Westliche Werte. Dưới đây là toàn bộ bài báo (do Hồ Ngọc Thắng) chuyển ngữ:


Vết ô nhục sẽ vẫn còn - có nhiều điều để nói về điều đó. Ngay cả khi Tổng thống Mỹ Joseph Biden hứa như Barack Obama vào năm 2009, sẽ đóng cửa trại tù Guantanamo, thì giải pháp thực sự của nó dường như vẫn còn lâu mới có được. 


Thay vào đó, trại đang được mở rộng hơn nữa, cả tập đoàn Siemens của Đức cũng đã nhận được một đơn đặt hàng lớn cho việc này hai năm trước, và các rào cản trong việc chuyển giao tù nhân đang ngày càng gia tăng.


Guantanamo đã là biểu tượng cho sự vi phạm nhân quyền từ 20 năm nay. Các nhà chức trách Hoa Kỳ và những người trợ giúp tuân thủ của họ - bao gồm cả chính quyền Đức - đã bắt cóc 779 người từ khắp nơi trên thế giới, giam cầm họ mà không hề đưa ra bản cáo trạng và tra tấn dã man họ. Ngay cả quân nhân Hoa Kỳ bây giờ cũng thừa nhận điều này.


Bất cứ ai bị thuyết phục về độ tin cậy của hệ thống giá trị của "thế giới phương Tây" vào năm 2001 mặc dù đã có nhiều lần can thiệp vi phạm luật pháp quốc tế và các cuộc chiến tranh thay đổi chế độ cũng như sự phá hoại chủ quyền của nhiều quốc gia và xuất khẩu vũ khí khổng lồ, thì chậm nhất, lúc này phải mở to mắt để nhìn những bức ảnh chụp những người bị nhồi nhét trong bộ quần áo màu cam và rõ ràng là bị ngược đãi. Họ bị từ chối các quyền dành cho tù nhân chiến tranh hoặc tù nhân dân sự. Họ bị coi là "những người chiến đấu bất hợp pháp" - một cấu trúc không tồn tại trong luật quốc tế và Công ước Geneva, do đó họ bị từ chối cho luật sư đại diện và được thăm khám. Nhiều người trong số họ chỉ đơn giản là ở sai nơi vào sai thời điểm, bị nghi ngờ chỉ vì nguồn gốc và tôn giáo của họ. Đối với họ, Guantanamo ngoài sự đau khổ là sự mất kiểm soát tuyệt đối.


“Nếu đợi để ta khóc, ngươi có thể đợi rất lâu. Tôi không thể khóc. ”Đây là những gì Mohamedou Slahi, người đến từ Mauritania và đã bị giam cầm ở Guantanamo trong 14 năm, kể trong một bộ phim tài liệu truyền hình của nhà báo và tác giả người Mỹ John Goetz, sống ở Đức, phát sóng vào mùa thu năm ngoái. Slahi muốn mời những kẻ hành hạ mình uống trà với mình. Anh ấy muốn bàn luận và anh ấy muốn tha thứ. Trong những năm ở Guantanamo, anh ta thường nghĩ cách trả thù. Nhưng anh ta biết rằng cách trả thù tốt nhất là sự tha thứ: "Điều đó cho tôi trở lại quyền kiểm soát."


Việc tự thú, bồi thường và truy tố những người có trách nhiệm đã đáng làm từ rất lâu rồi - cũng như việc đóng cửa trại giam này. Chính phủ liên bang Đức phải vận động cho việc này ở Washington - đồng thời bắt đầu ở ngay chính quốc gia của mình. Murat Kurnaz tuyên bố, đã bị KSK (Lực lượng Đặc biệt của Quân đội Đức – HNT) ở Afghanistan đối xử tệ bạc vào năm 2001, trước khi anh ta bị đưa đến Guantanamo. 


Việc anh ta không được trả tự do vào năm 2002 mà chỉ 4 năm sau đó là lỗi của liên minh chính phủ liên bang “đỏ - xanh” (ý nói liên minh chính phủ Đức của đảng SPD và Đảng Xanh - HNT) khi đó không muốn cho anh ta trở lại Đức.


Người đứng đầu Văn phòng Thủ tướng Liên bang lúc đó và Tổng thống Liên bang ngày nay Frank-Walter Steinmeier là người chịu trách nhiệm về vấn đề này.


Ảnh: Mỹ bắt cóc người dân trên khắp thế giới từ năm 2001 và tra tấn họ trong khu vực không có luật pháp Guantanamo.


Bản quyền ảnh: Shane T. McCoy/US_Navy/dpa

Đường link của bài báo:

https://www.jungewelt.de/artikel/418251.westliche-werte.html

 


CHUYÊN MỤC, NGÀY NÀY NĂM XƯA

 48 NĂM, NHÌN LẠI VỞ KỊCH “HẢI CHIẾN HOÀNG SA”

Đã 48 năm qua, Quần đảo Hoàng Sa thân yêu của chúng ta nằm trong tay bọn bành trướng Bắc Kinh. Từ đó đến nay, “nỗi nhớ” Hoàng Sa vẫn rực cháy trong tim mỗi người Việt Nam. Và cũng từng thời gian đó nhà nước ta vẫn đang tìm mọi cách đấu tranh đòi lại những gì của tổ tiên chúng ta bao đời dựng xây để lại cho con cháu hôm nay.

Có một sự thật, mà nhiều người chắc hẳn biết rất rõ, đó là Mỹ và Ngụy quyền VNCH đã dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Quốc vào năm 1974. Nhưng từ đó đến nay các "chiến binh hèn nhát" vẫn ngày đêm ra rả chửi “Việt Cộng”.

Sau khi kí Hiệp định Paris (01/1973), Mỹ tiến hành rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ còn đồng thời rút khỏi các đảo, quần đảo chiếm đóng trước đây, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa và xem việc phòng bị các đảo này là chuyện riêng của Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Trong bối cảnh một nước Việt Nam thống nhất sắp thành hình, Bắc Kinh quyết định ra tay trước, chiếm lấy toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Căng thẳng bắt đầu xuất hiện và leo thang từ ngày 11 tháng 01 đến ngày 19 tháng 01 năm 1974, trận hải chiến chính thức bắt đầu. Tương quan sức mạnh của hai bên có sự chênh lệch quá lớn, hiếm thấy trong lịch sử. Hải quân VNCH được đánh giá là có sức mạnh nằm trong top 10 thế giới, trong khi các máy bay chiến đấu của Trung Quốc thì không có đủ tầm bay để tới Tây Sa (Hoàng Sa), Hải quân Trung Quốc, đa phần các tầu tham chiến năm 1974 là tầu cá. Phòng không trên các tầu Trung Quốc lúc đó gần như là số không. Nhưng các thủy thủ VNCH lại sợ phải chiến đấu hy sinh. Mặt khác, chính các tầu chiến của Ngụy quyền lại bắn vào đồng đội của mình. Các sỹ quan của ngụy quân VNCH  như Lê Văn Thự chỉ huy chiến hạm HQ-16 đã xác nhận: "May là viên đạn không nổ, chứ nổ thì HQ-16 chìm tại chỗ! Lấy được viên đạn ra, toán tháo gỡ đạn dược ngạc nhiên cho biết viên đạn “made in USA” và cỡ 127 ly. Sau này truy ra mới biết là đạn do HQ-5 bắn."

Thế trận dần rơi vào bất lợi, Ngụy quân VNCH buộc phải rút quân sau một ngày chiến đấu, Trung Quốc chiếm được Hoàng Sa trong ngày hôm đó. Ngay sau trận chiến, VNCH ra lệnh, tập hợp lực lượng, chuẩn bị kế hoạch phản công giành lại Hoàng Sa. Tuy nhiên, không một đợt phản công nào được tiến hành Mỹ đã cảnh báo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu không được hành động để giữ mối quan hệ mới chớm nở với Trung Quốc, mặt khác muốn khoét sâu thêm sự chia rẻ giữa các nước xã hội chủ nghĩa.

Theo ông Nguyễn Thành Trung - khi đó là Trung úy phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa cho biết việc tái chiếm Hoàng Sa là hoàn toàn khả thi với sức mạnh áp đảo của không quân, phần thắng là chắc chắn 100%, vì tàu Trung Quốc không thể chạy thoát nổi (do máy bay có vận tốc nhanh hơn rất nhiều), mỗi tàu chỉ cần trúng 1 quả bom là xong... Trung Quốc đi ra Hoàng Sa là bằng tàu thôi, nếu mà diệt hạm đội này là họ cụt ngòi". Các phi công lúc bấy giờ cũng cho rằng chiến dịch khá dễ dàng, chỉ trong vòng 12 giờ là 40 tàu Trung Quốc sẽ chìm hết. Nhưng không có một kế hoạch nào được diễn ra! điều đó chứng minh sự thật là Mỹ - Ngụy quyền VNCH diễn kịch, bán đứng Hoàng Sa cho Trung Quốc. Bây giờ Trung Quốc đã chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa rồi, cái di sản, cái gánh nặng để lại cho các thế hệ con cháu Việt Nam thật là quá nặng nề.

Hơn 70.000 sinh viên không thể ra trường đúng hạn do dịch bệnh

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hiện cả nước chỉ có 9 địa phương tổ chức dạy học trực tiếp cho học sinh trên toàn địa bàn. Dịch bệnh cũng khiến trên 70.000 sinh viên không thể ra trường đúng hạn, ảnh hưởng tới việc cung cấp nguồn nhân lực.

Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, năm 2021 dịch Covid-19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng nặng nề đến nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có ngành Giáo dục. Kế hoạch năm học bị đứt đoạn, chương trình và nội dung giáo dục phải thay đổi theo hướng chỉ còn phần cốt lõi, gần 20 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên phải tạm dừng đến trường, chuyển sang học trực tuyến, học qua truyền hình trong nhiều tháng liên tiếp, trên 70.000 sinh viên không thể ra trường đúng hạn, ảnh hưởng tới việc cung cấp nguồn nhân lực.

Theo thống kê, tính đến ngày 9/1/2022, cả nước có 9 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học trực tiếp cho tất cả học sinh trên địa bàn, 35 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học trực tiếp kết hợp với trực tuyến và 19 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học trực tuyến và qua truyền hình.

Trong điều kiện khó khăn, ngành Giáo dục đã chủ động chuyển trạng thái hoạt động để ứng phó với dịch Covid-19 nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực của dịch bệnh đến các hoạt động của ngành. Bộ GDĐT đã ban hành nhiều văn bản và triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng để chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương, cơ sở giáo dục ứng phó với dịch Covid-19.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhắc lại những khó khăn mà ngành Giáo dục phải đối mặt trong năm 2021 do dịch bệnh Covid-19, đồng thời chỉ ra những việc đã làm được và những điều còn “đáng tiếc” của năm qua.

Theo Bộ trưởng, mặc dù còn một số việc, nội dung chậm, muộn, song nhìn tổng thể năm 2021, ngành Giáo dục đã đương đầu với thách thức, bền bỉ ứng phó với dịch bệnh và đã làm được nhiều việc. Đặc biệt trong khó khăn, hơn 1,5 triệu nhà giáo đã thể hiện tinh thần năng động, sáng tạo, trách nhiệm, đã hành động vì nghề và vì học sinh.

Từ những việc đã làm được và những việc chưa làm được của năm qua, Bộ trưởng cho rằng, bài học kinh nghiệm rút ra là phải đặc biệt lưu ý tới thực tiễn, bám sát thực tiễn. Thời gian qua, nhiều việc đã được chỉ đạo và thực hiện sát với thực tiễn nhưng cần phải tăng cường hơn nữa. Ngoài ra, cần gia tăng tính hành động trong công việc. Bộ trưởng cũng đồng thời lưu ý tới việc tăng cường phân cấp và tính kế hoạch để chủ động trong năm 2022.

Nhấn mạnh tới các nhiệm vụ lớn của năm 2022, Bộ trưởng cho hay: Trước hết, toàn ngành sẽ tiếp tục triển khai nhiệm vụ có tính thời sự là chống dịch Covid-19, hạn chế tối đa tác động tiêu cực của dịch bệnh tới giáo dục và đào tạo. Trong đó, sớm hoàn thành chiến lược ứng phó toàn diện với dịch bệnh của ngành Giáo dục.

Trước thực tế có khoảng 70.000 sinh viên đại học chưa thể tốt nghiệp ra trường do dịch bệnh, Bộ trưởng đề nghị các trường đại học, cao đẳng tích cực hơn nữa đưa sinh viên trở lại trường học tập. Cùng với đó tăng cường bù đắp chất lượng giáo dục đại học, sau đại học cho sinh viên, học viên. “Trọng tâm vẫn là bù đắp, củng cố chất lượng giáo dục từ phổ thông tới đại học”, Bộ trưởng nêu rõ.

Trong năm 2022, ngành Giáo dục cũng sẽ tập trung hoàn thành, ban hành Chiến lược phát triển giáo dục 2021-2030, tầm nhìn 2045 và triển khai nhanh các công việc liên quan đến chiến lược này. 

Đối với giáo dục phổ thông, theo Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn, năm 2022, 2023 được xác định 2 năm trọng yếu trong triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018, vì vậy, cần phải nhìn thấy hết thách thức đặt ra về nguồn lực, điều kiện thực hiện để có phương án khắc phục và triển khai. Ngoài ra, kỳ thi THPT và triển khai tự chủ đại học cũng được Bộ trưởng nhìn nhận còn nhiều thách thức, nên cần phải có các giải pháp, hành động ráo riết hơn.

Một số nhiệm vụ trọng tâm khác như tăng cường chuyển đổi số; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập cho các đối tượng yếu thế, tăng cường các thiết chế văn hóa trong hệ thống giáo dục và đào tạo…/.

Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội

        Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19, ngành chính sách quân đội (CSQĐ) đã tập trung nghiên cứu, đề xuất và triển khai, thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, chính sách đối với quân đội, hậu phương quân đội; người có công với cách mạng và hoạt động đền ơn đáp nghĩa; góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, đối tượng chính sách, người có công, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Thiếu tướng Trần Quốc Dũng, Cục trưởng Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị (TCCT) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân xung quanh nội dung này.

Phóng viên (PV): Đồng chí có thể đánh giá khái quát những kết quả nổi bật của ngành CSQĐ trong năm qua?

Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội
Thiếu tướng Trần Quốc Dũng. 

Thiếu tướng Trần Quốc Dũng: Năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, trực tiếp của lãnh đạo các cấp, sự quan tâm phối hợp chặt chẽ của cơ quan chức năng, Đảng ủy, chỉ huy Cục Chính sách nói riêng, ngành CSQĐ nói chung đã lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, triển khai đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm với cách làm sáng tạo, linh hoạt, phù hợp tình hình thực tiễn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Nổi bật là: Triển khai thực hiện Chỉ thị số 169-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội giai đoạn 2021-2025; quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ban hành kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đến năm 2030 và những năm tiếp theo; nghiên cứu, đề xuất chế độ phụ cấp đặc thù trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW (khóa XII); chế độ, chính sách đối với quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng chuyển ngành, thôi việc; tham gia nghiên cứu, xây dựng nghị định hướng dẫn thực hiện pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; chỉ đạo triển khai thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa; giải quyết chính sách tồn đọng đối với người có công với cách mạng; chính sách đối với người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế...

PV: Một trong những vấn đề được dư luận rất quan tâm là công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công. Ngành CSQĐ thực hiện nhiệm vụ này trong năm qua ra sao, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Trần Quốc Dũng: Cục Chính sách đã chỉ đạo, hướng dẫn cơ quan, đơn vị giải quyết kịp thời chế độ, chính sách và hỗ trợ đối với quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng hy sinh, bị thương trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; đấu tranh phòng, chống tội phạm; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, cứu hộ, cứu nạn và phòng, chống dịch bệnh.

Chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác giải quyết chính sách đối với người có công với cách mạng tồn đọng; đẩy nhanh tiến độ xét duyệt, thẩm định hồ sơ ở các cấp; tập trung chỉ đạo cơ quan và các đơn vị giải quyết khối lượng lớn hồ sơ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng tốt; tổ chức giám định, ban hành quyết định cấp giấy chứng nhận và trợ cấp thương tật cho đối tượng bảo đảm đúng quy trình, đối tượng. Kịp thời kiểm tra, nắm tình hình và hướng dẫn giải quyết vướng mắc trong việc xác lập hồ sơ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh tại các quân khu. Năm 2021, tổng số hồ sơ xác nhận thẩm định thương binh, bệnh binh, liệt sĩ là hơn 2.900 hồ sơ; ra quyết định cấp Giấy chứng nhận thương binh và trợ cấp hằng tháng 1.433 trường hợp; ra quyết định cấp Giấy chứng nhận bệnh binh và trợ cấp hằng tháng 47 trường hợp; chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức lễ trao bằng Tổ quốc ghi công đối với 43 liệt sĩ...

Chỉ đạo, xét duyệt, thẩm định và chi trả chế độ, chính sách đối với người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm đúng tiến độ, chặt chẽ, không để xảy ra sai sót, tiêu cực.

Tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách hậu phương quân đội và các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Năm 2021, toàn quân thăm, tặng quà số tiền hơn 825,3 tỷ đồng; xây dựng, sửa chữa 511 nhà tình nghĩa tặng đối tượng chính sách, số tiền 39,341 tỷ đồng; phụng dưỡng 1.853 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đỡ đầu, tạo việc làm cho 130 cháu là con thương binh, liệt sĩ; tặng 103 sổ tiết kiệm, số tiền 515 triệu đồng; khám, chữa bệnh gần 96.000 lượt đối tượng chính sách, cấp thuốc miễn phí hơn 5 tỷ đồng; tặng giống, vốn sản xuất cho đối tượng chính sách, số tiền hơn 125 triệu đồng...; tham gia thẩm định, hỗ trợ các trường hợp hiếm muộn, vô sinh đang công tác trong quân đội; theo dõi, chỉ đạo thực hiện chính sách đối với quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng bị bệnh hiểm nghèo, bệnh cần chữa trị dài ngày, bệnh tâm thần...

PV: Báo cáo tổng kết năm của ngành đánh giá:“Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được triển khai cơ bản, đồng bộ; có trọng tâm, trọng điểm”, đồng chí có thể nói rõ hơn về vấn đề này?

Thiếu tướng Trần Quốc Dũng: Cục Chính sách đã tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo Quốc gia 515, thủ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ năm 2021; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt, linh hoạt các giải pháp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, trọng tâm ở địa bàn trong nước, như: Phối hợp với Viện Công nghiệp phần mềm và nội dung số Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông; Cục Người có công, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về liệt sĩ. Lắp đặt trang thiết bị, công nghệ thông tin để tích hợp, khai thác phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu bản đồ tìm kiếm, quy tập và bản đồ số hóa do Australia chuyển giao. Phối hợp triển khai thực hiện Kế hoạch thí điểm ứng dụng quy trình xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đối với mộ liệt sĩ có một phần thông tin bằng phương pháp thực chứng trong Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đắc Lắc...

Năm 2021, toàn ngành đã rà soát, hoàn thiện 36.788 hồ sơ danh sách liệt sĩ phục vụ công tác xác minh kết luận địa bàn, lập bản đồ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và bàn giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về liệt sĩ, mộ liệt sĩ; tìm kiếm, quy tập được 800 hài cốt liệt sĩ (trong nước: 590, Lào: 210); tiếp nhận thông tin nơi chôn cất 54 liệt sĩ do phía Hoa Kỳ cung cấp...

PV: Trong năm 2022, ngành CSQĐ tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nào, thưa đồng chí?

Thực hiện tốt chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội
Bác sĩ Bệnh viện Quân y 91, Cục Hậu cần Quân khu 1 khám bệnh cho các đối tượng chính sách xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (tháng 7-2021).  Ảnh: HÀ ANH 

Thiếu tướng Trần Quốc Dũng: Toàn ngành hướng vào một số nhiệm vụ trọng tâm là: Hoàn thiện nội dung nghiên cứu và đề xuất ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện chế độ phụ cấp đặc thù trong lực lượng vũ trang theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW (khóa XII); văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đối với các đối tượng công tác trong quân đội. Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách đối với lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hiệp quốc; chế độ, chính sách đối với các lực lượng làm nhiệm vụ đặc thù, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo...

Tích cực xét duyệt, thẩm định hồ sơ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công. Tăng cường phối hợp, chỉ đạo xác minh, kết luận, xem xét giải quyết chính sách đối với các trường hợp đề nghị báo tử liệt sĩ, xác lập hồ sơ thương binh diện tồn đọng, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật.

Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với các đối tượng tại ngũ và thôi phục vụ tại ngũ; chính sách hậu phương quân đội, đặc biệt toàn ngành tổ chức thực hiện tốt chính sách đối với người có công với cách mạng và các hoạt động đền ơn đáp nghĩa nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhất là trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), với phương châm thiết thực, toàn diện, góp phần chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần đối với đối tượng chính sách, người có công với cách mạng. Chỉ đạo thực hiện quyết liệt các nhóm giải pháp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, nhất là địa bàn trong nước; trọng tâm là việc rà soát, hoàn thiện hồ sơ, danh sách liệt sĩ; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về liệt sĩ, mộ liệt sĩ; kết luận địa bàn, lập bản đồ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên phạm vi toàn quốc. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cung cấp thông tin về liệt sĩ. Mở rộng hợp tác quốc tế về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Xây dựng Nghị định thư (hoặc thỏa thuận cấp Chính phủ) về việc quản lý, bảo vệ công trình Đài Hữu nghị Việt Nam-Campuchia trên đất Campuchia...

Nguồn: QĐND.