Thứ Ba, 18 tháng 1, 2022

Ý đồ từ các khoá đào tạo huấn luyện kỹ năng đối phó, chống phá chính quyền

 Sau khi bị đưa vào danh sách các tổ chức khủng bố, Việt Tân bị nhiều quốc gia lên án; đồng thời, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng công khai tố cáo các chiêu trò lừa đảo và những dấu hiệu không minh bạch về tài chính…

Để củng cố lực lượng, số đối tượng cầm đầu, cốt cán của Việt Tân đã tách ra, điều hành các tổ chức ngoại vi, núp bóng dưới danh nghĩa của các tổ chức phi chính phủ (NGO), độc lập với “Việt Tân”; sử dụng vỏ bọc là các vấn đề “Xã hội dân sự”, “Dân sinh”, “Dân quyền” để lôi kéo, tập hợp người tham gia. Sau khi VOICE bị cộng đồng người Việt ở nước ngoài lên án thì ngay lập tức một tổ chức mới ra đời là “RISE”… Bài viết sau đây sẽ vạch trần phương thức và thủ đoạn của các đối tượng phản động lưu vong, giúp mỗi người dân có cái nhìn đúng đắn để, không bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào hoạt động trá hình.

Núp bóng dưới danh nghĩa trợ cấp học bổng, hứa hẹn tài trợ kinh phí nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh, kỹ năng mềm, đối tượng mà các tổ chức ngoại vi của Việt Tân gồm VOICE và RISE nhằm vào là sinh viên, thanh niên, nhân sĩ, trí thức, chức sắc cực đoan trong các tôn giáo, thành phần cơ hội chính trị, đối tượng chống đối trong nước có tuổi đời dưới 30 tuổi, biết ngoại ngữ… Song thực chất đây lại là những khoá đào tạo, huấn luyện về “xã hội dân sự” nhằm xây dựng thành “hạt nhân” phục vụ mưu đồ chống phá lâu dài của các đối tượng.

1.“Nếu không được các cán bộ Công an tỉnh Nghệ An giải thích, nói rõ về bản chất của “RISE”, tôi không biết đây là tổ chức ngoại vi của tổ chức Việt Tân thành lập để thực hiện các hoạt động chống Đảng và Nhà nước”- chị Phạm Thị H, giáo viên của một trường đại học trên địa bàn TP Vinh, tỉnh Nghệ An, một người đã từng tham gia vào các khóa huấn luyện của “RISE” chia sẻ.

Tốt nghiệp đại học, chị H về làm giáo viên của một trường cấp 3 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; hoàn thành tâm nguyện của thời tuổi trẻ, trở thành một cô giáo đứng trên giảng đường truyền thụ cho học sinh niềm say mê văn học. Sau đó, chị tiếp tục học thạc sỹ rồi trở thành giảng viên của một trường đại học trên địa bàn TP Vinh. Đam mê các hoạt động xã hội và ham muốn học học, ngoài công việc chính là giảng viên, từ năm 2010-2013, chị bắt đầu tham gia vào các tổ chức phi chính phủ (NGO). Ban đầu là nhân viên hỗ trợ cho các trẻ em thuộc nhóm dễ bị tổn thương. Sau đó là nhân viên thu thập số liệu, liên quan đến các chương trình phòng, chống HIV…

Ý đồ từ các khoá đào tạo huấn luyện kỹ năng đối phó, chống phá chính quyền (bài 1) -0
Một lớp học được quảng bá của “RISE”.

Từ năm 2013 đến 2016, chị làm cộng tác viên của một tổ chức phi chính phủ, có trụ sở  tại TP Vinh, với công việc là theo dõi, đánh gía dự án, các chỉ số hoạt động do tổ chức này hỗ trợ. Từ năm 2016-2017, tiếp tục làm việc cho dự án hỗ trợ nâng cao năng lực các nhóm cộng đồng và tiếp cận, hỗ trợ các nhóm nguy cơ lây, nhiễm HIV. Từ năm 2018 đến nay, hỗ trợ cho nhóm dễ bị tổn thương ở TP Vinh.

Có ai đó đã ví von rằng “chỉ có miếng pho mai trong bẫy chuột là miễn phí”, câu nói đó quả đúng với chị H. Câu chuyện mà chị H chia sẻ sẽ phần nào cho thấy phương thức và thủ đoạn tinh vi của RISE nói riêng, các tổ chức ngoại vi của Việt Tân nói chung để mỗi người cần phải cảnh giác với những miếng “bánh vẽ” trên không gian mạng. Bởi chị H hiện đang là giảng viên của một trường đại học, điều đó cho thấy chị có đủ trình độ để nhận thức được cái đúng, cái sai nhưng vẫn tham gia tích cực vào các khoá học; bị thu hút bởi miếng “bánh vẽ” của các đối tượng đưa ra .

“Khoảng tháng 4/2021, trong một lần lên mạng xã hội facebook, H đã tham khảo thông tin về khóa học đăng tải công khai trong diễn đàn mà H là thành viên. Khi tìm hiểu nội dung chương trình, H nghĩ rằng đây là lớp học liên quan đến các hoạt động xã hội nên đã đăng ký tham gia lớp tập huấn xây dựng phong trào xã hội do “RISE” tổ chức. Sau khi đăng ký tham gia, chị được gửi thông tin đăng nhập (số phòng, mật khẩu) học trực tuyến qua zoom. Chị H đã tham gia các lớp học trực tuyến qua phần mềm zoom với 2 nội dung gồm: “Thúc đẩy sự tham gia từ cá nhân cộng đồng với phong trào xã hội (buổi 1) và “Nhắc lại quá trình phát triển của phong trào SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu của mỗi cá nhân (buổi 2).

Ngày 22/8, RISE gửi email kèm link đăng ký cho H thông báo về việc đăng ký hỗ trợ 1 triệu đồng cho học viên trong bối cảnh dịch COVID-19 phức tạp. Khi đó, H đã đăng ký và ghi rõ mục đích khi nhận được số tiền trên sẽ mua gạo và nhu yếu phẩm để hỗ trợ cho những người neo đơn, khó khăn. Một người trong đó là hàng xóm đã già yếu của cô, một người là đồng nghiệp… Quá trình tham gia vào các lớp học online, chị được cung cấp mật khẩu, không biết người dạy là ai. Vì chưa hiểu rõ về bản chất của RISE và xuất phát từ nhu cầu cá nhân tìm hiểu thông tin, phục vụ cho công việc nên chị đã tham gia

Trường hợp của chị Nguyễn Thị M, giảng viên của Trường Đại học tại Thái Nguyên cũng tương tự như vậy. Với mục đích tìm kiếm thông tin và phát triển chuyên môn, chị M thường xuyên lên mạng xã hội facebook, tìm kiếm các khoá học trực tuyến liên quan đến việc tổ chức các phong trào. Khoảng tháng 4/2021, khi triển khai tìm kiếm bằng các từ khoá, chị đã nhận được đề xuất quảng cáo tham dự khoá học “Thúc đẩy sự tham gia” do trang RISE tổ chức. Sau khi xem các nội dung giới thiệu về RISE trên trang web được chia sẻ công khai trên mạng xã hội, chị M đã sử dụng tài khoản đăng ký tham gia khoá học theo đường dẫn RISE chia sẻ công khai trên mạng xã hội. Đến ngày 9/4, chị nhận được phản hồi đăng ký thành công từ tài khoản mail của tổ chức này và nhận được một số câu hỏi khảo sát phục vụ việc tham gia đào tạo, huấn luyện trực tuyến.

Sau đó, từ ngày 14/4 đến 24/6/2021, M bắt đầu sử dụng tài khoản tương tác với email. Ngày 4/5, chị M nhận được cuộc điện thoại của người phụ nữ tên Trang, tự giới thiệu là người phụ trách tổ chức RISE, nội dung cuộc gọi là phỏng vấn về mức độ phù hợp để tham gia khoá học. Qua trao đổi, M đã cung cấp thông tin cá nhân gồm họ và tên, nghề nghiệp, tự giới thiệu có tham gia phong trào xã hội dân sự, tham gia đề xuất dự án cộng đồng… Đến 6/5 thì chị M nhận được hồi âm là được lựa chọn tham gia chương trình đào tạo, huấn luyện trực tuyến “Trường nghề xã hội dân sự” của RISE gồm 3 khóa với các chủ đề: Khóa 1: “Thúc đẩy sự tham gia”; Khóa 2 “Xây dựng chiến dịch hiệu quả”; Khóa 3 “Lãnh đạo và bước đi chiến lược”.

M chia sẻ, sau khi được Công an tỉnh Thái Nguyên giải thích, M đã nhận rõ bản chất mối quan hệ của RISE với tổ chức phản động lưu vong Việt Tân; âm mưu, ý đồ chống Đảng, Nhà nước của RISE thông qua các khóa huấn, luyện đào trực tuyến. Bên cạnh đó, M đã cam kết không tham gia vào các khoá đào tạo, huấn luyện trực tuyến về “xã hội dân sự”… do các tổ chức không rõ pháp nhân tổ chức; chủ động tham gia phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ động cung cấp thông tin, tài liệu về các hoạt động vi phạm ANQG của các cá nhân, tổ chức phản động trong, ngoài nước.

Núp bóng dưới danh nghĩa trợ cấp học bổng, hứa hẹn tài trợ kinh phí nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh, kỹ năng mềm, đưa ra nướcngoài để học tập…, RISE ra nhiều thông báo tuyển sinh trá hình để tuyển lựa, lôi kéo các đối tượng là sinh viên các trường đại học, thanh niên, nhân sĩ, trí thức, chức sắc cực đoan trong các tôn giáo, thành phần cơ hội chính trị, đối tượng chống đối trong nước. Phần lớn số này có tuổi đời dưới 30, biết ngoại ngữ có xu hướng quan tâm đến vấn đề chính trị, xã hội; tự do, dân chủ, nhân quyền. Song thực chất là họ bị lôi kéo tham gia các khoá đào tạo, huấn luyện về “xã hội dân sự”, “dân quyền”, nhằm xây dựng thành “hạt nhân” để tuyên truyền, kích động người dân phản kháng lại các quy định của pháp luật; phục vụ mưu đồ chống Đảng, Nhà nước, thực hiện việc ý đồ thay đổi chế độ chính trị của nước ta.

Thực chất những khoá học của các tổ chức ngoại vi RISE, VOICE

 rong quá trình tìm hiểu về các tổ chức ngoại vi của Việt Tân là RISE và VOICE, chúng tôi đã tiếp xúc với một số trường hợp vì thiếu hiểu biết đã bị các thành viên của các tổ chức ngoại vi này lôi kéo vào tham gia. Những chia sẻ của họ về nội dung các khoá học sẽ vạch trần phương thức và thủ đoạn tinh vi của Việt Tân nói chung, các nhóm ngoại vi nói riêng.

Các đối tượng dạy gì trong các lớp học của RISE?

Nhằm chấm chọn, lôi kéo phát triển lực lượng trong nước, RISE - tổ chức ngoại vi của tổ chức phản động lưu vong Việt Tân tiếp tục tổ chức các khoá đào tạo, huấn luyện trực tuyến. Thủ đoạn của đối tượng là thông qua ứng dụng zoom để tuyển chọn số đối tượng trong nước tham gia. Những người này được cấp tài khoản gồm tên sử dụng, mật khẩu để truy cập vào lớp học. Nhằm thúc đẩy số người tham gia, từ tháng 02/2021, RISE tổ chức chương trình huấn luyện trực tuyến (online) với chủ đề “Trường nghề xã hội dân sự” thông qua ứng dụng zoom với các thành phần tham gia các khoá học. Chương trình huấn luyện được triển khai với 3 chuyên đề các nền tảng để “xây dựng phong trào xã hội dân sự”; “cách thức xây dựng các chiến dịch hiệu quả” và “chiến lược và kỹ năng lãnh đạo phong trào”.

Trong đó, chuyên đề 1 được dành cho các thành viên chủ chốt sẽ triển khai các “chiến dịch” của các đối tượng của RISE. Trong chuyên đề này, có 3 bài học gồm tạo dựng thông điệp để chiến dịch có sức lan toả, ảnh hưởng lớn; các chiến thuật hoạt động trong phong trào, lập kế hoạch triển khai và điều hành chiến dịch.

Thực chất những khoá học của các tổ chức ngoại vi RISE, VOICE (bài 2) -0
Nội dung các khoá học của RISE.

Chuyên đề 2 dành cho những thành viên nòng cốt của RISE và những người đang lãnh đạo, một phong trào hoặc nhóm hành động gồm 3 bài học về chiến lược xây dựng phong trào, lãnh đạo phong trào, tạo dựng sự hỗ trợ về tâm lý xã hội và khả năng phục hồi tổ chức… Những người tham gia đều học theo hình thức trực tuyến, thông qua các phần mềm bảo mật zoom. Thời gian và tài khoản và mật khẩu để đăng nhập được RISE cung cấp cho các học viên trước khi lớp học diễn ra. Đối tượng cũng yêu cầu các thành viên của khoá học chỉ dùng bí danh; phải đăng nhập trước từ 5-7 phút để RISE kiểm tra và nhận diện.

Sự trắng trợn của các đối tượng ở chỗ, nội dung trong quá trình giảng dạy được các đối tượng lấy từ phong trào “Dù vàng”, “Liên minh trà sữa” biểu tình chống chính quyền tại Hồng Kông, Đài Loan, Myamar để làm ví dụ; khuyến khích xây dựng các phong trào tương tự tại Việt Nam. Không dừng lại ở đó, chúng còn lợi dụng vào các vấn đề nhạy cảm như môi trường; công tác phòng, chống dịch COVID-19 của Chính phủ Việt Nam… để lôi kéo người dân tham gia xây dựng các “phong trào xã hội” trong nước với phương châm “Hành động nhỏ của một cộng đồng là chất xúc tác cho thay đổi sâu rộng”.

Kết thúc khoá huấn luyện, RISE đã gửi phiếu yêu cầu các hội viên tham gia đánh giá của bản thân về kết quả khoá huấn luyện để làm cơ sở cho hoạt động đào tạo của RISE cũng như sàng lọc, lựa chọn số đối tượng có khả năng để tham gia các khoá huấn luyện chuyên sâu tiếp theo.

Sau khoá huấn luyện cơ bản, RISE tổ chức thêm 3 khoá huấn luyện chuyên sâu “Thúc đấy sự tham gia vào phong trào xã hội”, “Xây dựng chiến dịch hiệu quả cho phong trào xã hội”, “Lãnh đạo và bước đi chiến lược” để các đối tượng tham gia lựa chọn, tuỳ theo năng lực và có kiểm tra, đánh giá sàng lọc.

Trong các lớp học này, 3 đối tượng cốt cán của RISE là Trang (tên thật là Huỳnh Phạm Phương Trang), bí danh là Angelia Trang Huỳnh (SN 1973, trú tại Mỹ), thành viên cốt cán tổ chức phản động lưu vong Việt Tân đồng thời là sáng lập, giám đốc điều hành của RISE là người chủ trì, tham gia thuyết trình nội dung; Hùng tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng, cựu phó ban Việt Ngô đài BBC, hiện đang là cộng tác viên đài VOA, cố vấn cho RISE; người đồng chủ trì, tham gia thuyết trình nội dung và Vi, là người đồng chủ trì, tổ chức khoá học, thực hiện các thao tác kỹ thuật để phục vụ cho việc giảng dạy. 

Bài học của VOICE

Một trong những hình thức mà tổ chức có danh xưng là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” tên thường gọi là VOICE thành lập là “Nhóm học để hành” gọi tắt là SOA, để tổ chức khoá học trên mạng internet với nội dung là “Tự do biểu đạt”, chúng sử dụng danh nghĩa là cho số trong nước quan tâm đến các vấn đề của xã hội.

Trên thực tế, nhóm SOA là tổ chức “con” của VOICE, bắt đầu thành lập từ ngày 21/7/2020 do đối tượng Đ.T.N.D phụ trách với hình thức đào tạo trực tuyến trong nhóm kín, được bảo mật trên Internet, hướng vào tuyển sinh học viên chủ yếu là giới trẻ, thanh niên hoặc “Nhóm yếu thế” ở Việt Nam. Chỉ tính từ tháng 8/2020 đến nay, số cầm đầu SOA đã tổ chức nhiều khóa học trực tuyến có sự tham gia của một số đối tượng có vai trò là diễn giả.

Thực chất những khoá học của các tổ chức ngoại vi RISE, VOICE (bài 2) -0
Các nội dung tuyên truyền của VOICE trong khoá học.

Nhóm SOA rất quan tâm đến việc bảo mật thông tin liên quan đến điều phối viên cũng như các thành viên của nhóm. Người dự tuyển mà muốn đăng ký khoá học sẽ được chúng hướng dẫn lập email mới, cung cấp đầy đủ thông tin, được truy cập vào các nhóm do chúng sắp xếp… Ngoài ra, chúng còn yêu cầu những người đăng ký phải chia sẻ, like facebook của mình để nhóm SOA kiểm tra thông tin. Khoá học được chia làm 4 tuần. Trước mỗi tuần, một trong các đối tượng sẽ gửi các tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Việt có nội dung hướng dẫn luật, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền tiếp cận thông tin, tự do biểu đạt; các đoạn clip ngắn về con người, những vì dụ tiểu biểu trong hoạt động đấu tranh dân chủ, nhân quyền hoạt động và đề nghị học viên nêu ý kiến. Các nguồn tài liệu chủ yếu từ các tổ chức phi chính phủ…

Theo đó, tuần 1, các học viên sẽ hiểu về tự do biểu đạt và mối quan hệ tương quan giữa tự to biểu đạt và các quyền tự do khác; giới thiệu về các khái niệm như nhân quyền, tự do nhân quyền, tự do biểu đạt. Tuần 2 là những bài học về giới hạn của tự do biểu đạt của diễn giả Trần Lương. Trong buổi nói chuyện, Trần Lương đã có thái độ phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc nhiều nội dung khác… Đối tượng quy chụp rằng hình thức của bộ máy đang dần lộ rõ, thông qua việc phê duyệt các dự án. Tuần 3 là những phát ngôn thù ghét và các tin giả của diễn giả. Trong quá trình này, đối tượng tiếp tục lồng ghép các vụ việc Đồng Tâm. Đưa ra các thông tin xoáy sâu vào đời tư và giới tính của các ứng cử viên đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân. Tuần 4 có nội dung là bảo vệ tự do biểu đạt và giới thiệu giao tiếp phi bạo lực…

Tài liệu các đối tượng gửi đến những học viên gồm sơ lược về hình thức giao tiếp phi bạo lực, danh sách các tổ chức "Bảo vệ tự do biểu đạt" ở Việt Nam và quốc tế… Đáng chú ý, tại buổi thảo luận, điều phối viên và  các diễn giả dẫn dắt và khơi gợi các học viên tham gia ý kiến riêng và phản đối sự “giám sát” từ phía nhà trường đối với giáo viên.

Với những nội dung trên có thể khẳng định rằng, với bản chất phản động, VOICE đã lợi dụng lòng tin của những thanh niên, học viên có nhu cầu nâng cao kiến thức về xã hội để chúng chấm chọn, tuyển lựa người tham gia các hoạt động chống Nhà nước Việt Nam. Tại các buổi học đào tạo, chúng đã công khai các quan điểm chống đối. Các thông tin, tài liệu, diễn giả khoa học đều đi thẳng vào các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, chúng còn xuyên tạc viện dẫn sai những sự kiện nhằm hướng lái số học viên có cách nhìn tiêu cực như nhà nước ta đang theo đuổi chế độ độc tài. Việc tuyên truyền này được nguỵ trang dưới vỏ bọc tinh vi như chứng minh rằng: Các thông tin đăng tải trên kênh chính thống đều đạt được lựa chọn, người dân không thực sự có quyền tiếp cận thông tin hoặc biết sự thật về một vấn đề nào đó...

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội nêu cao vai trò, trách nhiệm chăm lo công tác xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội nêu cao vai trò, trách nhiệm chăm lo công tác xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững


TCCS - Là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, Quốc hội các thời kỳ luôn làm tốt việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối của Đảng trong xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Cùng với đó, tổ chức, lề lối, phong cách và hoạt động của Quốc hội luôn hiện thân cho các giá trị văn hóa chính trị Việt Nam, dựa trên tinh thần pháp quyền, dân chủ, đoàn kết, nhân văn, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Xuất phát từ các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội..., trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã phải đương đầu và vượt qua nhiều khó khăn, thử thách do thiên tai, địch họa gây ra. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, hiếu học, nghĩa tình, nhân ái, khoan dung; ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã hun đúc nên bản lĩnh, cốt cách, phẩm giá, tầm vóc của dân tộc, kết tinh thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Dưới thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc - nền văn hóa nước ta ngày càng phát huy mạnh mẽ bản sắc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để định hình nên nền văn hóa mới Việt Nam mang đậm cốt cách dân tộc, tính dân chủ, tiên tiến và nhân văn.


Với tầm nhìn văn hóa sâu rộng và tư duy chính trị sắc sảo, bản lĩnh, ngay sau khi lãnh đạo nhân dân ta vùng lên lật đổ ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là văn kiện chính trị - pháp lý mang tầm vóc thời đại và chiều sâu văn hóa. Vì thế, ngay tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Người xác định một trong những công việc trọng tâm phải làm ngay là xây dựng và thực thi Hiến pháp; muốn có Hiến pháp thì phải có Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Theo đó, “tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(1). Cũng tại phiên họp quan trọng này, trong 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước cách mạng được xác định thì có 3 nhiệm vụ thuộc về văn hóa: một là, “mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”; hai là, “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân”; ba là, thực hành “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 14-SL, sắc lệnh đầu tiên về Tổng tuyển cử để bầu đại biểu Quốc hội. Mặc dù phải tiến hành trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài”, trong bối cảnh kinh tế - xã hội hết sức khó khăn, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra rất khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, thật sự là ngày hội của quần chúng và giành thắng lợi vang dội, đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi của tiến trình xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa ở nước ta.

Thành phần Quốc hội và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu có sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn... Trong bài viết “Nhân tài và Kiến quốc”, đăng trên báo Cứu Quốc, số ra ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Sự ưu việt của chế độ mới và tinh thần yêu nước, tài năng, trí tuệ, cốt cách văn hóa, bản lĩnh Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều trí thức lớn trong nước (như Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Nghiêm Xuân Yêm, Phan Anh, Vũ Đình Tụng, Ngụy Như Kon Tum,...); thu hút một số trí thức chấp nhận từ bỏ cuộc sống phồn hoa và điều kiện làm việc thuận lợi tại Pháp, trở về Tổ quốc tham gia cuộc cách mạng đầy khó khăn, gian khổ (như Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước,...), góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh cho Nhà nước cách mạng non trẻ thực hiện các nhiệm vụ “kháng chiến” và “kiến quốc”.

Dù bộn bề công việc chuẩn bị cho công cuộc toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã khai mạc ngày 24-11-1946 tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội - một hội nghị mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa. Hội nghị đã đón tiếp hơn 200 nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu trong cả nước tham dự. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở, phải học lấy những điều tốt đẹp của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập”(2). Người khẳng định phải “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi(3).

Sinh hoạt Quốc hội khóa I hiện thân cho văn hóa chính trị đề cao dân chủ, đoàn kết, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết; làm cơ sở cho việc củng cố, xây dựng Chính phủ và các cơ quan khác của bộ máy nhà nước; thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chống “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”, xây dựng nền văn hóa mới. Nhận thức rõ vai trò của Hiến pháp và pháp luật với kiến tạo nền dân chủ, cách tân văn hóa, với tư cách là trưởng ban dự thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực, khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành Hiến pháp. Hiến pháp đầu tiên được Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I thông qua vào ngày 9-11-1946. Hiến pháp năm 1946 rất ngắn gọn, súc tích, ngoài Lời mở đầu, 7 chương, 70 điều, phản ánh sự kế thừa những giá trị tư tưởng, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là các tư tưởng về tổ chức và hoạt động của Nhà nước dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Tinh thần đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong phát biểu tại phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I: “Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử, Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa... Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”(4). Hiến pháp năm 1946 chứa đựng những giá trị mang tầm vóc thời đại và chiều sâu văn hóa; thể hiện ý chí của nhân dân; tinh thần trách nhiệm và quyết định sáng suốt của Quốc hội.

Trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp, Quốc hội chưa có điều kiện ban hành các đạo luật để quản lý đất nước, chủ yếu vẫn phải điều hành bằng Sắc lệnh của Chủ tịch nước, nhưng tinh thần dân chủ, pháp quyền, đoàn kết, nhân văn của Hiến pháp năm 1946 đã khơi dậy, phát huy cao độ sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng của dân tộc khi mà sức mạnh vật chất - kỹ thuật nghiêng về phía kẻ thù.

Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp đầy hy sinh, gian khổ, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành các đạo luật quy định về chế độ báo chí; về quyền tự do hội họp, quyền lập hội; quyền tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 1959 cùng các đạo luật quy định về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân..., tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và các đạo luật nêu trên đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, thể hiện chiều sâu tư tưởng văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là tinh thần quản lý xã hội bằng pháp luật, đề cao nguyên tắc pháp quyền, đoàn kết, nhân văn, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật được Người tiếp tục bổ sung, phát triển và hoàn thiện trong nhiều năm tiếp theo. Theo đó, văn hóa và pháp luật có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ; văn hóa, một mặt, có ảnh hưởng to lớn đến pháp luật; mặt khác, pháp luật tạo tiền đề, cơ sở sức mạnh để phát triển văn hóa, xây dựng con người. Văn hóa là động lực hết sức quan trọng cho sự phát triển xã hội. Pháp luật được toàn dân xây dựng và thực thi nhằm thể hiện ý chí và khát vọng của mình, bảo đảm cho sự công bằng, bình đẳng, tự do, nhân văn của cả xã hội. Văn hóa và pháp luật đều vì con người, vì sự phát triển của xã hội, đều hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự khai mạc Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” năm 2021 _Ảnh: Tư liệu

Hơn 76 năm qua, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã có nhiều nỗ lực thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm đường lối, nghị quyết của Đảng được thực thi nghiêm túc, có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện giúp Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống, nhân dân phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, “nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là để thực hiện đúng tinh thần mà Người đã căn dặn: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ; học để phụng sự Đoàn thể(5), phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Nghiên cứu, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng về nhà nước và pháp luật, trước hết cần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Văn kiện Đại hội Đảng nhiều nhiệm kỳ gần đây đều nhấn mạnh mục tiêu, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là Đại hội XIII của Đảng, xem đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới mang tính bước ngoặt, với sự tác động nhiều mặt của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta vừa kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bổ sung, phát triển các giá trị mới, như tự do, dân chủ, hiện đại, văn minh... Những đặc tính, phẩm chất cơ bản của văn hóa và con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại có ý nghĩa rất tích cực, cần được khơi dậy, phát huy mạnh mẽ, chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh, nền tảng tinh thần, “sức mạnh mềm” của đất nước để hướng tới tương lai tươi đẹp.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Xây dựng nền văn hóa mới của nước nhà phải lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, luôn chú trọng thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, tăng cường hoạt động giám sát, thông qua các quyết sách quan trọng nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhận thức sâu sắc rằng, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, con người; là nguồn lực nội sinh quan trọng của đất nước, có sức lan tỏa, thấm sâu vào toàn bộ hoạt động xã hội, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Cơ sở để văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội là xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật phải được thực thi trên tinh thần gìn giữ, đề cao giá trị tốt đẹp, bền vững trong dòng chảy truyền thống của văn hóa dân tộc. Bất cứ đạo luật nào cũng đều chú trọng sự phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, hướng tới mục tiêu xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Thiếu đi những giá trị ấy, pháp luật không chỉ thiếu đi tính dân chủ, tính nhân văn, mà còn không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam đã được xây dựng, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử.

Hiến pháp và các đạo luật đã thiết lập những chế định quan trọng nhất, cơ bản nhất, khẳng định quyền con người, quyền xây đắp và hưởng thụ văn hóa của tất cả công dân Việt Nam; phục vụ mục tiêu bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam ở trong và ngoài nước; bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa, được bày tỏ, thể hiện những khát vọng cá nhân chính đáng; được tôn trọng, thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử, hay sự đa dạng văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) đến nay, các nội dung cốt lõi, cơ bản về văn hóa đều được kế thừa, thể hiện nhất quán và xuyên suốt. Đặc biệt, trong Hiến pháp năm 2013, các nội dung về văn hóa được quy định toàn diện, phong phú, có nhiều điểm mới, thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, khoa học, tiến bộ.

Quan điểm “con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của chiến lược phát triển văn hóa”, “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa” đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quán triệt, chỉ đạo rà soát, xây dựng, ban hành, sửa đổi, bổ sung, tiến tới hoàn thiện pháp luật, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng các chuẩn mực về đạo đức, xây dựng nhân cách, lối sống, nếp sống tốt đẹp, văn minh; xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ; gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, giáo dục, khoa học đối với sự phát triển, tồn vong của đất nước. Những chính sách đúng đắn về giáo dục, khoa học - công nghệ sẽ góp phần nâng cao tầm vóc, vị thế, tiềm lực của đất nước, sánh vai với các cường quốc năm châu, vững bước cùng thời đại. Quốc hội đã tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách định hướng, thúc đẩy các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ; không ngừng nâng cao dân trí, trình độ văn hóa con người Việt Nam, tạo nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao hơn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Các đại biểu Quốc hội trao đổi bên hành lang hội trường Diên Hồng tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XV _Ảnh: TTXVN

Nhiều chính sách, quy định của pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung, đã thể chế hóa nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa, đặc biệt là các di sản văn hóa và các danh nhân văn hóa được Tổ chức Giáo dục,  Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh; gắn kết văn hóa với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới; tăng cường các hoạt động văn hóa, văn nghệ, giáo dục truyền thống, xây dựng con người mới; nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, tạo nên những động lực và sức hấp dẫn mới trong đời sống tinh thần xã hội.

Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã tạo cơ chế cho quan điểm kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế trở thành hiện thực cuộc sống. Đặc biệt, hệ thống chính sách, pháp luật đã bước đầu xác lập được các khung khổ pháp lý để phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là bộ phận trọng yếu của nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nhiều văn bản pháp luật đã chế định nội dung xây dựng văn hóa trong chính trị, từng bước làm cho các giá trị văn hóa thấm sâu vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân tham gia tích cực, hiệu quả vào đời sống chính trị của đất nước. Trong đó, hoạt động của Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội, đại biểu Quốc hội được đổi mới theo hướng đề cao văn hóa chính trị phù hợp đặc điểm cơ quan dân cử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thiết kế, đặt nền móng, nhất là lề lối, phong cách làm việc dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm, hiệu quả, dựa trên nguyên tắc pháp quyền, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có các quyền về văn hóa, có quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên lĩnh vực văn hóa. Quốc hội luôn nỗ lực thực hiện các quy định, cam kết quốc tế, nội luật hóa vào hệ thống pháp luật Việt Nam, thúc đẩy, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, trong đó có các quyền về văn hóa phù hợp với các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các chuẩn mực trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu, hợp tác, quảng bá văn hóa, giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới.

Quốc hội đã tập trung giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân; về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Tổ chức chất vấn tại Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giải trình tại các cơ quan của Quốc hội nhiều vấn đề lớn, quan trọng về văn hóa, như đầu tư cho phát triển văn hóa; bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa; hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở; văn hóa học đường; xã hội hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; việc triển khai các chính sách an sinh xã hội; hiện tượng đạo đức xã hội xuống cấp; chất lượng, hiệu quả hoạt động, cơ chế, chính sách cho văn học, nghệ thuật; xây dựng văn hóa công sở, đạo đức công vụ... Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã tiến hành nhiều cuộc giám sát, khảo sát phục vụ việc hoàn thiện pháp luật; đồng thời, yêu cầu Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chấn chỉnh, khắc phục những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp.

Quốc hội đã xem xét, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng của đất nước. Các nghị quyết của Quốc hội luôn xác định, trong mỗi chính sách đều chú trọng tới yếu tố văn hóa, thể chế hóa đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Đầu tư cho văn hóa ngày càng được quan tâm hơn, đáp ứng yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khai thác nguồn lực văn hóa phục vụ cho tăng trưởng và phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Hoạt động của Quốc hội trong thời gian qua đã góp phần quan trọng tạo ra những chuyển biến tích cực, hình thành nền tảng pháp lý vững chắc cho sự nghiệp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn vào những hạn chế, khuyết điểm và cả những khó khăn, thách thức. Một số quy định hiện hành của pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn và sự nghiệp đổi mới. Vẫn còn không ít vấn đề mới phát sinh trong lĩnh vực văn hóa chưa có luật điều chỉnh. Một số nội dung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nhất là về văn hóa, chưa được thể chế hóa đầy đủ, kịp thời. Một số luật mới ban hành nhưng chưa theo kịp sự thay đổi của thực tiễn. Việc thể chế hóa chính sách văn hóa trong phát triển kinh tế và chính sách kinh tế trong phát triển văn hóa còn chậm, chưa bảo đảm phát triển lành mạnh thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước trong hội nhập quốc tế cũng như bảo đảm phúc lợi văn hóa cho nhân dân. Việc xây dựng hệ sinh thái cho các ngành công nghiệp văn hóa và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển gắn với thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Cơ chế, chính sách cho văn nghệ sĩ, cho phát triển các chuyên ngành văn hóa, văn nghệ đỉnh cao chưa đủ để khuyến khích, cổ vũ, thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật và phát hiện, bồi dưỡng tài năng văn học, nghệ thuật; chưa tạo được các tác phẩm có chất lượng cao, có ảnh hưởng và sức lan tỏa lớn. Đầu tư cho phát triển văn hóa và con người chưa tương xứng, chưa nhận thức đầy đủ đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển. Nguồn lực đầu tư cho xây dựng thiết chế văn hóa chưa đồng đều, khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền chậm được thu hẹp...

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra mục tiêu đến năm 2030 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những định hướng lớn là phát triển con người toàn diện, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng này, Đảng đoàn Quốc hội đã ban hành Chương trình hành động với 6 nhóm giải pháp và 107 nhiệm vụ cụ thể, trong đó có nhiều nội dung về văn hóa. Trong thời gian tới, Đảng đoàn Quốc hội sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện “Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức, năng lực, chất lượng lập pháp của Quốc hội về văn hóa; xem văn hóa là mục tiêu, nguồn lực nội sinh, động lực đột phá của quá trình phát triển.

Thứ hai, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, quán triệt và triển khai các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24-11-2021 về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, tính toán đầy đủ yêu cầu hội nhập quốc tế. Chỉ đạo nghiên cứu, tham gia xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam; hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và văn hóa dân tộc, chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và giữ gìn chuẩn mực đạo đức, lối sống con người Việt Nam; thúc đẩy “xã hội học tập” gắn với trọng dụng người thực đức, thực tài; phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ thật sự là quốc sách hàng đầu; phát huy sức sáng tạo, thúc đẩy phát triển văn hóa, nghệ thuật; quy hoạch, quản lý tốt báo chí - truyền thông; khai thác các lợi thế của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, để giới thiệu các thành tựu của công cuộc đổi mới và đặc sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời ngăn chặn, hạn chế, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực.

Thứ ba, đổi mới và đẩy mạnh công tác giám sát của Quốc hội trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về văn hóa; trong thực hiện các kiến nghị sau giám sát, gắn với trách nhiệm giải trình của tổ chức, cá nhân có liên quan, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

Thứ tư, xác định các mục tiêu văn hóa cần đạt được và đánh giá đầy đủ tác động văn hóa trước khi ban hành các chính sách, pháp luật, cũng như quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ năm, phát huy vai trò ngoại giao nghị viện, không ngừng mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển đối ngoại văn hóa, hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia, xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ văn hóa ra nước ngoài và nhập khẩu có chọn lọc các sản phẩm và dịch vụ văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; phát huy cao nhất tài năng, tâm huyết của trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài.


Thứ sáu, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các chính sách “phát triển văn hóa trong phát triển kinh tế và kinh tế trong phát triển văn hóa”, để các giá trị văn hóa thẩm thấu, chuyển hóa vào toàn bộ quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ lực lượng sản xuất tới quan hệ sản xuất. Đẩy mạnh xây dựng văn hóa trong chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Tăng cường đầu tư cho văn hóa; tập trung phát triển thị trường các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, các ngành công nghiệp văn hóa, thúc đẩy lĩnh vực kinh tế sáng tạo, thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở các vùng, miền.

Văn hóa Việt Nam được kết tinh từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc. Văn hóa đã tạo nên sức mạnh đoàn kết, lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tương thân, tương ái, làm rạng danh dân tộc Việt Nam văn hiến, anh hùng. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” đã trở thành chân lý, khẳng định vai trò nền tảng tinh thần, tính khai sáng, dẫn dắt của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước. Trong thời gian qua, đại dịch COVID-19 đã và đang tác động nhiều mặt, ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính trong những thời điểm khó khăn nhất, dưới sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” đã được phát huy mạnh mẽ, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, thách thức. Thực tế đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của văn hóa, con người Việt Nam. Với sức mạnh to lớn đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu cao đẹp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Nhất định đất nước ta sẽ ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Thủ đoạn nhằm chính trị hóa vụ án

Để tìm cách chính trị hóa các vụ án xét xử đối tượng phạm tội nêu trên, số chống đối luôn có xu hướng tìm kiếm sự can thiệp của quốc tế. Do đó, sau phiên tòa xét xử sơ thẩm, fanpage của Việt Tân đã chia sẻ thông báo của tổ chức “Ân xá quốc tế” khi cho rằng: “bản kết án bất công với bà mẹ và người con là một trò đùa công lý”, đồng thời kêu gọi cơ quan chức năng Việt Nam phải ngay lập tức hủy bỏ bản án và trả tự do vô điều kiện cho các đối tượng.

Đây là chiêu trò quen thuộc của tổ chức Ân xá quốc tế thể hiện sự lố bịch khi một mực tô vẽ các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam, coi các bị cáo như “nhà hoạt động cải cách” để bao biện, kêu oan. Thực tiễn ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào, những đối tượng phạm tội chống phá Nhà nước đều phải được xử lý nghiêm minh. Hoàn toàn không thể chấp nhận việc bắt, xử lý những đối tượng phạm pháp lại bị coi là “gia tăng đàn áp nhân quyền” như những luận điệu mà các cá nhân, tổ chức trên đưa ra. Chính vì vậy, sau những ngôn từ mĩ miều để tung hô, ca ngợi trong các chiến dịch kêu oan cho các đối tượng chống đối, trong đó có Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư dường như chỉ thấy ở đó một phản ứng gượng gạo nhằm cố tạo ra sự kiện pháp lý để hướng lái dư luận.

Sự thật là dù các đối tượng có tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ nhưng không thể che phủ các hành động phạm tội của Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư suốt nhiều năm qua. Theo hồ sơ vụ án, do có tư tưởng tiêu cực, bất mãn nên trong khoảng thời gian từ ngày 9/1/2020 đến 14/1/2020, Trịnh Bá Tư và Cấn Thị Thêu đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân phát trực tiếp 8 video có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Các video vi phạm của Trịnh Bá Tư và Cấn Thị Thêu phát, đăng tải đã được nhiều đối tượng có tư tưởng chống chế độ, chống Nhà nước theo dõi, bình luận bôi nhọ, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, bịa đặt gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân.

Đáng nói, các đối tượng này còn đăng, phát cả những video chứa nội dung kêu gọi, kích động nhân dân chống chính quyền, đưa thông tin xuyên tạc về vụ việc xảy ra tại xã Đồng Tâm (Mỹ Đức - Hà Nội), vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, các ngành, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 

Phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay

 

Phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay


TCCS - Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị là những người có khả năng và thường xuyên tiếp cận trực tiếp, nhận diện sâu rộng, kịp thời các thông tin, luận điệu sai trái, phản động; từ đó, với chức trách, nhiệm vụ của mình, họ là lực lượng quan trọng tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Vì thế, nghiên cứu bổ sung và cập nhật những quan điểm lý luận chính trị nền tảng cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết.

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã xác định: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để phát triển năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay, cần tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng và cấp thiết chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu, xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Xây dựng tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, cần kết hợp chặt chẽ và làm rõ 3 vấn đề cơ bản sau: 1- Nhận diện những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất; nhất là các âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; 2- Những quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; 3- Mỗi hình thức, biện pháp đấu tranh cần mô tả rõ trình tự, cách thức thực hiện rõ ràng, có tính hệ thống và mang tính khả thi; xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, cũng như của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong việc đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Hai là, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về lý luận và công tác lý luận, những kỹ năng tham gia đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Trên cơ sở tài liệu về đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, hằng năm các cơ quan chức năng cần phối hợp với các học viện, nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam về vấn đề này. Nội dung, chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, như giáo dục nâng cao nhận thức vị trí, vai trò của lý luận và công tác lý luận; cập nhật những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; cập nhật quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, về quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện. Tiếp đó, trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, cần có những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung kịp thời về hình thức, biện pháp đấu tranh để nâng cao hiệu quả việc ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận; đồng thời, tăng cường cập nhật những kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức mới trong nước và trên thế giới,... Gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với bồi dưỡng lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị và dũng khí cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam để nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá rất quyết liệt, ngày càng tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch; từ đó, có biện pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh, phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Các nhà trường đào tạo cán bộ, giảng viên lý luận chính trị cần hoàn thiện đầy đủ các hình thức hoạt động khoa học, tổ chức học lý luận chính trị, theo hướng đi vào thực chất và hiệu quả hơn. Không tổ chức các hoạt động đấu tranh theo kiểu hình thức, làm qua loa cho xong chuyện, hội thảo chỉ có phần “hội” mà không có “thảo”; theo đó, tất cả các hoạt động trên phải được đổi mới căn bản cả về nội dung và hình thức; đặc biệt là, chất lượng công tác tuyên truyền phải có tính thuyết phục cao. Tăng cường tổng kết các mô hình hay, phương thức đấu tranh có hiệu quả, đặc biệt là đấu tranh qua truyền thông xã hội để phổ biến, nhân rộng.

Ba là, kiên quyết và kiên trì thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII  về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.

Đây là một giải pháp bao trùm chi phối các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam. Một mặt, phải tiếp tục tuyên truyền và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, gắn với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nhận thức rõ quyết tâm của Đảng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”; mặt khác, giải pháp này giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam nâng cao nhận thức và có ý thức trong tiếp cận thông tin; chia sẻ thông tin, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn gần dân, thân thiện với dân, trọng dân và giúp đỡ dân.

Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam.

Đối với các cơ quan nghiên cứu, cần xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn để xây dựng chiến lược nghiên cứu phù hợp, cũng như hình thành được danh mục các vấn đề trọng tâm, trọng điểm cần ưu tiên, đẩy mạnh nghiên cứu phục vụ trực tiếp công tác này. Đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam, cần ý thức rõ các vấn đề đặt ra từ lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của mình và từ yêu cầu của thực tiễn để xác định, định hướng nghiên cứu từng thời kỳ, từng năm. Qua đó, giúp cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị xác định hướng nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là hệ tư tưởng giữ vai trò chủ đạo, bên cạnh đó còn có một số trào lưu tư tưởng, quan điểm khác, kể cả tư tưởng sai trái, thù địch. Vì vậy, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam cần coi trọng công tác nghiên cứu đối với các luồng tư tưởng, quan điểm trên để nhận diện đầy đủ lịch sử hình thành, nội dung của các quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái; từ đó, vận dụng quan điểm, lập trường và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các trào lưu tư tưởng và các lý thuyết mới ngoài chủ nghĩa Mác - Lê-nin hiện nay. Việc tôn trọng “tự do học thuật”, “tự do tư tưởng” có tác dụng quan trọng trong nghiên cứu và phát triển lý luận; tuy nhiên, cần tỉnh táo, phân biệt đúng đắn giữa vấn đề học thuật và vấn đề chính trị. Trong lĩnh vực học thuật, một mặt, cần phát huy tốt dân chủ, tôn trọng tự do học thuật, khắc phục tình trạng chính trị hóa vấn đề học thuật, ngăn ngừa tình trạng “chụp mũ”, “quy chụp”,... nhằm góp phần tăng cường sức sống của lý luận; mặt khác, cần đề cao cảnh giác và đấu tranh với việc lợi dụng, lấy danh nghĩa “học thuật” để phản đối các nguyên tắc lý luận nền tảng, cơ bản ở nước ta, biến vấn đề chính trị trở thành vấn đề học thuật thuần túy. Cần nhấn mạnh một yêu cầu là, bất cứ nghiên cứu học thuật nào đều cần phải kiên trì các nguyên tắc cơ bản: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định chủ nghĩa Mác -Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về sự nghiệp đổi mới đất nước, cũng như mô hình tổng thể về thể chế chính trị và bộ máy nhà nước được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

Năm là, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia vào công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải xây dựng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị bảo đảm về số lượng, chất lượng, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; có chuyên môn, nghiệp vụ cũng như năng lực hành động, tổng kết thực tiễn. Đội ngũ giảng viên lý luận khi đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam; tuyệt đối trung thành, kiên định về lập trường, tư tưởng chính trị, vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; gương mẫu, tiên phong trong công tác, học tập, sinh hoạt, thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước và chế độ.


Đặc biệt, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị khi tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận, phải có hiểu biết về các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức cách mạng. Đó là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trách nhiệm với công việc; đoàn kết nội bộ và có ý thức tổ chức kỷ luật tốt. Tổ chức cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia tích cực vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận thực sự phát huy hiệu quả, thông qua viết sách, báo, tạp chí; đổi mới và nâng cao chất lượng các bài viết, bảo đảm có tính lý luận, tính thực tiễn và tính thuyết phục, sắc bén, không kinh viện, giáo điều; trong đó, cần cập nhật những tri thức mới của nhân loại và những vấn đề nổi cộm, “điểm nóng” của thực tiễn đang cần phải xử lý, giải quyết.

Để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam trở thành đội ngũ tuyên truyền viên hiệu quả trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đào tạo, bồi dưỡng họ là những người “vừa hồng, vừa chuyên”, có lý luận, có kiến thức thực tiễn, biết lắng nghe, phân tích tình hình, nhận biết nhanh nhạy các luận điệu sai trái; đồng thời, phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng, phù hợp với họ. Phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội trong việc tăng cường thông tin về cơ sở, tham gia nắm bắt dư luận xã hội, tuyên truyền, giải thích rõ các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có cơ chế biểu dương, khen thưởng phù hợp, kịp thời đối với những cá nhân, tổ chức có thành tích tiêu biểu trong cuộc đấu tranh này. Định kỳ sơ kết, tổng kết, nhằm tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, những cách làm hay, sáng tạo; kịp thời uốn nắn những đơn vị, tổ chức, cá nhân làm chưa tốt.

Sáu là, tích hợp nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Nhấn mạnh đúng mức nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong chương trình, giáo trình lý luận chính trị. Trong hệ thống chương trình, giáo trình hệ cao cấp lý luận chính trị và trung cấp lý luận chính trị - hành chính hiện nay, bên cạnh việc làm rõ giá trị, tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở lý luận, thực tiễn của chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cần chỉ rõ một số quan điểm sai trái, thù địch có liên quan tới bài giảng, cũng như định hướng, gợi mở cho học viên để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách thuyết phục. Bên cạnh đó, cần xây dựng và đưa một số chuyên đề phù hợp về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở các hệ lớp.

Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào trong giáo án và từng bài giảng, tiết giảng của giảng viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy lý luận chính trị, cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để đội ngũ giảng viên lồng ghép, tích hợp công tác này vào trong từng giáo án bài giảng, từng tiết giảng. Theo đó, từng giảng viên cần ý thức được trách nhiệm của mình để tự giác lồng ghép, tích hợp các nội dung có liên quan vào giáo án bài giảng, tiết giảng. Cơ quan quản lý giảng viên cần tăng cường sinh hoạt chuyên môn, định hướng phương thức lồng ghép công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong hoạt động giảng dạy của giảng viên, cũng như tăng cường công tác kiểm tra hoạt động giảng dạy trên lớp của giảng viên để nắm thông tin phản hồi của học viên đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên. Để thực hiện được điều này, thông qua các phiếu thăm dò chất lượng bài giảng của giảng viên dành cho học viên, các đơn vị cần thiết kế một mục để học viên tự đánh giá; trong phiếu đánh giá dùng cho thao giảng ở các đơn vị cũng cần có mục đánh giá về nội dung này.


Tích hợp nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong kiểm tra, đánh giá học viên. Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, định hướng cho hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên; do đó, để tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua công tác giảng dạy và học tập lý luận chính trị, thì việc kiểm tra, đánh giá cần coi trọng đúng mức vấn đề này. Theo đó, trong hệ thống các câu hỏi, ngân hàng đề thi kiểm tra, thi hết môn (bao gồm đề thi vấn đáp, đề thi tự luận và đề thi trắc nghiệm) cần có các câu hỏi để kiểm tra năng lực của học viên trong nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bảo đảm tính đảng và kỷ luật phát ngôn của đội ngũ giảng viên trong giảng dạy lý luận chính trị. Điều kiện tiền đề để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đó là đội ngũ này phải “vừa hồng”, “vừa chuyên”. Cán bộ giảng dạy lý luận chính trị mà suy thoái về tư tưởng chính trị, có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì không thể nói đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua giảng dạy lý luận chính trị. Do đó, một yêu cầu cơ bản để đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong công tác giảng dạy là phải bảo đảm tính đảng và tuân thủ kỷ luật phát ngôn trong giảng dạy lý luận chính trị.

Bảy là, tăng cường nguồn lực và mở rộng hợp tác quốc tế trong công tác lý luận theo hướng đa dạng hóa các hình thức và nâng cao hiệu quả hợp tác.

Xây dựng và phát triển đội ngũ những người giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam vững về quan điểm, lập trường chính trị, có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng. Hiện nay, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam còn rất hạn chế; số cán bộ có thể tự tham gia tranh luận trong các hội thảo quốc tế bằng ngoại ngữ là rất hiếm, số người có thể thuyết giảng bằng ngoại ngữ lại càng hiếm hơn. Do đó, không thể nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong công tác lý luận, nếu đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam không có trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ xứng tầm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao hơn trước. Muốn tìm kiếm đối tác, phải có những cán bộ chuyên môn tốt, ngoại ngữ giỏi, nhiệt tình, tâm huyết và chịu khó tìm tòi các vấn đề nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị cần nhạy bén trong việc tìm hiểu các đối tác nước ngoài, có khả năng đề xuất một cách nhanh chóng các đề tài, dự án có nội dung tốt, phù hợp với điều kiện thực tế ở các cơ quan, đơn vị. Việc đào tạo năng lực và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam trong các cơ quan nghiên cứu, đào tạo lý luận, nhằm đáp ứng nhu cầu của công tác hợp tác quốc tế; vì vậy, cần đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy lý luận chính trị theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Khuyến khích đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận chính trị đi học các lớp ngoại ngữ để nâng cao trình độ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị Trung ương III khóa VIII, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế từ nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới. Khai thác có hiệu quả các quan hệ hợp tác quốc tế, nhằm tăng cường và hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, thu hút các nguồn tài trợ học bổng cho cán bộ, thông qua các dự án hỗ trợ phát triển. Phát huy tối đa các cơ hội đưa cán bộ, giảng viên đi học tập ngắn hạn, dài hạn hoặc tham gia giao lưu, hội thảo, khảo sát,... về lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo lý luận với các nước trên thế giới. Hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về hợp tác quốc tế, khuyến khích cơ chế hợp tác song phương và đa phương trong đào tạo, nghiên cứu lý luận; tích cực triển khai các dự án, chương trình hợp tác quốc tế; có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận chính trị ở Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở nghiên cứu, giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở nghiên cứu, giáo dục nước ngoài; học tập những kinh nghiệm, mô hình và phương pháp nghiên cứu, đào tạo mới. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ cho công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ lý luận.

Tám là, xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đội ngũ giảng viên lý luận chính trị tham gia đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để động viên, kích thích tính tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; từ đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Có chính sách khen thưởng, khuyến khích kịp thời đối với những giảng viên lý luận chính trị có bài viết mang tính “bút chiến” sắc sảo, có tính thuyết phục cao, đấu tranh trực diện với từng quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực lý luận chính trị; chính sách trang bị, cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện, điều kiện làm việc; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi nghiên cứu, hội thảo, tác nghiệp ở các địa bàn khác nhau, kể cả đi nước ngoài; chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực công tác theo đúng sở trường và trình độ chuyên môn.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị - xã hội; trong đó, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là sự nghiệp cách mạng, đòi hỏi bản lĩnh, sự bền bỉ, kiên quyết, kiên trì, lâu dài, không được chủ quan, không lơ là; đồng thời, phải thường xuyên, liên tục đổi mới, sáng tạo trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa dân tộc và không ngừng tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại để bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng đi đến thành công, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Màn “tẩy trắng” tội danh cho hai bị can

Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, TAND tỉnh Hòa Bình đã tuyên án 8 năm tù và 3 năm quản chế đối với hai bị cáo Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán tài liệu tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” theo Điều 117, BLHS. Đây là một bản án thích đáng dành cho hai mẹ con lấy nghề “dân oan” làm công cụ kiếm tiền. Thế nhưng, sau khi tòa tuyên án, một chiến dịch “hậu xét xử” được các đối tượng triển khai nhanh chóng.

Từ facebook cá nhân, các trang fanpage, youtube của các tổ chức phản động như “Việt Tân” và các trang báo thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, RFI, VOA… rầm rộ chia sẻ các bài viết xuyên tạc, “tẩy trắng” tội danh cho hai bị cáo. Luận điệu của các đối tượng tập trung vào những lời tung hô có cánh ca ngợi hai bị cáo, qua đó nhằm đánh bóng tên tuổi, tạo thương hiệu và gắn cho hai đối tượng cái mác “mẹ con Cấn Thị Thêu hiên ngang giữa phiên tòa”, hay “tinh thần của một người nông dân”...

Không những vậy, để “mượn gió bẻ măng”, bôi nhọ chế độ và ngành tư pháp Việt Nam, trang RFA đã đăng bài dẫn lời của vị luật sư để phụ họa luận điệu xuyên tạc khi khẳng định hai bị cáo vô tội, đồng thời xuyên tạc luật pháp Việt Nam khi cho rằng “Điều 117 đi ngược Hiến pháp”, hay “đây là điều luật mơ hồ, tùy tiện, nhằm bỏ tù những người bất đồng chính kiến”...

Năm vừa qua, trước thông tin TAND Cấp cao tại Hà Nội lên lịch mở phiên xét xử phúc thẩm đối với Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư, các “nhà dân chủ” giả hiệu lại tiếp tục tái diễn thủ đoạn bôi nhọ ngành tư pháp Việt Nam, phỉ báng chế độ. Thậm chí các đối tượng còn “dọa” khi áp đặt quan điểm kệch cỡm của tổ chức nhân quyền quốc tế nhằm vu cáo Việt Nam.