Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

THANH NIÊN – TRỌNG ĐIỂM TẤN CÔNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có óc sáng tạo, khi được dìu dắt, tập hợp dễ kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời. Những đặc điểm đó chính là cơ hội để các thế lực thù địch “để mắt” đến thanh niên.


   Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, chống phá. Nếu như đối với các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, các thế lực thù địch lợi dụng các hình thức truyền thống như tuyên truyền “rỉ tai” với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh… thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để tấn công vào thanh niên. 


   Nhận thấy, thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng Internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip… trên các kênh Youtube, mạng xã hội để đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống. Với cách kiểu “rỉ tai”, kích động, “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt (trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động”, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”. 


   Thực tiễn cho thấy, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường”. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đe dọa trực tiếp đến tương lai của đất nước. Do đó, cần phải phát huy trách nhiệm của thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.


  

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG 47 TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã lợi dụng không gian mạng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội ta. Trước tình hình đó, ngày 08/01/2016 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra Chỉ thị số 47-CT/TCCT Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội (gọi tắt là lực lượng 47). Thời gian qua, lực lượng 47 trong toàn quân đã hoạt động đúng tôn chỉ mục đích, đạt hiệu quả cao, được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận và đánh giá cao.


Lực lượng 47 ở các cơ quan báo chí Quân đội đã thành lập nhiều chuyên trang, chuyên mục phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kịp thời đăng tải hàng nghìn tin, bài viết đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, bóc gỡ nhiều tin, bài viết, ảnh có nội dung phản cảm trên mạng internet. Lực lượng 47 của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã chủ động nghiên cứu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, nắm chắc địa bàn; tích cực tổ chức đấu tranh với nhiều loại hình phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhiều cơ quan, đơn vị phát huy hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm blog, kênh Youtube, tài khoản mạng xã hội… trong đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng. Hình thức đấu tranh chủ yếu là viết bài, xây dựng video clip phản bác lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; bình luận, chia sẻ rộng rãi những bài viết có nội dung về đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, từ đó tạo hiệu ứng đấu tranh mạnh mẽ, tích cực trên không gian mạng. Với những thành tích đã đạt được, lực lượng 47 trong quân đội ngày càng khẳng địng rõ vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.


Trong thời gian tới, tình hình quốc tế và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen. Sau 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, cản trở sự phát triển của đất nước… Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:


1.Toàn quân tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tường của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Chỉ thị số 47/CT-CT ngày 08/01/2016 của Tổng cục Chính trị về tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Quân đội, phù hợp với tình hình cũng như đặc điểm, nhiệm vụ hoạt động lực lượng 47.


2.Thường xuyên kiện toàn lực lượng 47 trong toàn quân, phù hợp với đặc thù nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị và địa bàn đóng quân. Phát huy tốt vai trò của các cơ quan báo chí, cơ quan nghiên cứu, nhóm chuyên gia trong viết bài đấu tranh chuyên sâu, tạo nguồn thông tin tích cực trên Internet, mạng xã hội. Tăng cường phối hợp giữa lực lượng 47 trong quân đội với cơ quan chức năng, địa phương để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.


3.Các cơ quan chức năng của quân đội chủ động thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đấu tranh trên không gian mạng.


4.Thường xuyên duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang, nhóm, blog đã được thành lập. Chú trọng liên kết với các trang, nhóm, blog khác để tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng mạng xã hội. Quan tâm đầu tư với tận dụng phát huy nguồn lực đơn vị, bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện kỹ thuật, kinh phí để phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng./.


TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI, TRÁI, XỬ LÝ THÔNG TIN XẤU ĐỘC

Thực tiễn từ khi Đảng ta ra đời đến nay, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, nhất là sau 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như lời đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.


Đây là bằng chứng khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng đẩy mạnh công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta tiếp tục hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.


Do đó, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, được Đảng ta luôn luôn coi trọng, ngay từ khi Đảng ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.


Tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, trọng tâm là chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, xuất hiện từ ngay khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và trải qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam. Nhất là trong giai đoạn đất nước hòa bình, thống nhất, mở cửa hội nhập, các thế lực thù địch càng gia tăng hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, nằm trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phá hoại cách mạng Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của Đảng ta, của nhân dân ta.


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu đã lợi dụng bối cảnh tổ chức Đại hội đảng, chuẩn bị tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, triệt để khai thác mọi diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và tình hình trong nước để tăng cường tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá, gây nhiễu loạn thông tin, gây tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Trước các hoạt động phức tạp trên, lực lượng công an nhân dân đã triển khai đồng bộ các mặt công tác phục vụ Đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, trong đó: Đã xử lý gần 500 trường hợp đăng tải, chia sẻ thông tin xuyên tạc, sai sự thật, gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự; đã gọi hỏi, răn đe trên 1.000 đối tượng tung tin giả mạo; tổ chức xác minh, làm rõ, củng cố hồ sơ xử lý ban đầu với 500 tài khoản facebook cá nhân, nhóm, fanpage, kênh youtube thường xuyên đăng tải thông tin sai sự thật. Đồng thời, tích cực tham mưu công tác lãnh đạo, chỉ đạo định hướng tuyên truyền, đảm bảo tính chủ đạo của dòng tin chính thống, khách quan, trung thực đến với quần chúng nhân dân.


Có thể đánh giá, kết quả công tác công an bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xử lý thông tin xấu, độc thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào công tác bảo vệ Đảng, chế độ, giữ vững an ninh chính trị của đất nước, góp phần tạo ra một môi trường tư tưởng chính trị, dư luận xã hội tích cực, lành mạnh, góp phần vào thành công tốt đẹp của Đại hội đảng bộ các cấp và đỉnh cao là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.


Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp, kịp thời ở trong nước, bên cạnh những thời cơ, vận hội, những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ vẫn hiện hữu. Hơn lúc nào hết, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhất là trong bối cảnh đất nước ta hội nhập quốc tế sâu, rộng, toàn diện; là nhiệm vụ của toàn Đảng, của toàn hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân có vị trí, vai trò hết sức quan trọng.


Lực lượng Công an nhân dân sẽ tiếp tục phát huy truyền thống, kế thừa những kết quả, thành tích đã đạt được, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quân đội nhân dân và các ban, bộ, ngành, địa phương nghiêm túc quán triệt, triển khai sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận, đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân, bảo đảm dòng chảy chủ đạo của thông tin chính thống. Trước mắt, tập trung bảo đảm việc triển khai, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng XIII vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng phát triển đất nước.


TỈNH TÁO, SÁNG SUỐT TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA NƯỚC TA

Biển, đảo nước ta trong vùng biển Đông là mục tiêu trọng yếu mà các thế lực xâm lược muốn chiếm giữ để thực hiện mưu đồ bành trướng bá quyền. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Do vậy, phản bác và đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch là góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo hợp pháp, thiêng liêng của đất nước.


Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Trước yêu cầu của tình hình mới hiện nay, Đảng ta thể hiện rõ quan điểm phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc; phát triển KT-XH gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) nêu rõ: “… phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển”. Những năm qua, quán triệt quan điểm của Đảng, cả nước đã hướng về biển, đảo, quán triệt phương châm: Kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp chủ quyền biển, đảo thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển (năm 1982) và đã đạt những kết quả rất quan trọng, giữ vững được chủ quyền biển, đảo Việt Nam.


Tuy nhiên, thời điểm trước và sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và báo, đài phản động ở nước ngoài như BBC, RFA,..; các trang mạng xã hội lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông đã phát tán tài liệu, hình ảnh, video xuyên tạc tình hình biển Đông. Họ bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trên các trang mạng xã hội, chúng rêu rao rằng: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia,... Đây là những thông tin xấu, độc, sai sự thật do họ cố tình kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo, dựng chuyện. Bởi cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia,... là luận điệu xuyên tạc, sai trái của thế lực thù địch, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.


Hoặc các đối tượng cơ hội, chống phá còn phê phán Đảng và Nhà nước “phản ứng chậm”, hoặc “né tránh, không dám đối đầu, để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa”. Các thế lực thù địch hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm mục đích cuối cùng là xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, muốn phủ nhận những nỗ lực và quan điểm kiên quyết của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, làm cho lòng dân bất ổn, thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, gây mất ổn định, hòa bình của đất nước ta.


Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao,... Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại biển Đông (COC).


Có thể khẳng định, những quan điểm, chủ trương, đối sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề biển Đông là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, sáng suốt và kiên quyết đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, những luận điệu phản động, vu cáo, bịa đặt của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; nâng cao trách nhiệm công dân, động viên con em tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo; phát huy, nhân rộng sẽ tạo thành sức mạnh vô địch trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay.

HỒ CHÍ MINH - NGƯỜI TOẢ SÁNG TRONG TRÁI TIM MUÔN NGƯỜI

 

 “Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị

Màu quê hương bền bỉ đậm đà

Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta

Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...

Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút

Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời.

Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười

Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!

Người rực rỡ một mặt trời cách mạng

Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng

Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.”

Hai “gọng kìm” phòng, chống tham nhũng

 

Một trong những nội dung đáng chú ý được nêu ra trong Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Bộ Chính trị ban hành mới đây là “từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước”. Yêu cầu này được cử tri và nhân dân đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao. Việc thực hiện hai “gọng kìm” ở cả khu vực công và khu vực ngoài nhà nước bảo đảm công tác phòng chống tham nhũng được triển khai toàn diện, hiệu quả hơn, tạo ra môi trường phát triển bình đẳng, lành mạnh.

Thời gian qua, chúng ta liên tiếp chứng kiến nhiều lãnh đạo các tập đoàn tư nhân bị khởi tố, bắt giam để điều tra làm rõ các hành vi phạm tội. Trong đó, liên quan đến Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á, nhiều đối tượng đã cấu kết với nhau để nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 “bỏ túi” hàng chục tỷ đồng. Vụ án này chỉ là một trong những biểu hiện của sự bắt tay, thỏa thuận ngầm giữa những đối tượng khu vực ngoài nhà nước và khu vực công để trục lợi. Thực tế này gióng lên hồi chuông cảnh báo về tiêu cực, tham nhũng đang diễn biến phức tạp ở khu vực ngoài nhà nước. Do đó, việc “từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước” của Bộ Chính trị là yêu cầu rất cấp thiết khi mà “vòi bạch tuộc” tham nhũng khu vực ngoài nhà nước đã len lỏi, cấu kết chặt chẽ với những kẻ suy thoái, biến chất trong khu vực công. Nếu không kịp thời phòng, chống tham nhũng ở khu vực tư thì công cuộc phòng, chống tham nhũng của chúng ta như đi “lò cò một chân” mà thôi.

Không phải cho đến thời điểm này, phòng chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước mới được đề cập đến. Ngay từ khi thảo luận về dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng ở nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV, nhiều đại biểu đã ủng hộ việc cần mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước. Bởi những khoản “lại quả” mà doanh nghiệp phải trích để chi phí cho việc “bôi trơn” hợp đồng theo phương thức thỏa thuận ngầm chính là hành vi tham nhũng trong khu vực tư.

Nhìn nhận về vấn đề này, đại biểu Quốc hội Mai Thị Phương Hoa (Nam Định) cho rằng, tham nhũng trong khu vực tư diễn ra nghiêm trọng, phức tạp làm méo mó môi trường kinh doanh, làm suy yếu sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Tham nhũng trong khu vực tư không chỉ xâm phạm hoạt động đúng đắn của các tổ chức, doanh nghiệp trong khu vực tư mà còn ảnh hưởng đến khu vực công. Trong một số trường hợp khu vực tư chính là nơi trú ẩn, rửa tiền, sân sau của những hành vi tham nhũng trong khu vực công.

Thực tế cho thấy, tham nhũng trong khu vực tư còn ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế, đến người tiêu dùng sản phẩm và làm do dự các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư không thể dự đoán trước được những chi phí không chính thức có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh bởi phương thức kinh doanh thiếu liêm chính. Tình trạng doanh nghiệp thân hữu, doanh nghiệp "sân sau" với nhiều ưu ái bất bình thường đã được cử tri phản ánh từ lâu. Do đó, công tác phòng, chống tham nhũng sẽ không đạt hiệu quả nếu chúng ta bỏ qua khu vực tư.

Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội Khóa XIV thông qua đã “đi trước một bước” khi mở rộng phạm vi điều chỉnh phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra để kịp thời phát hiện, xử lý và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức mình. Cơ quan thanh tra khi tiến hành hoạt động thanh tra nếu phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm phản ánh, tố cáo, báo cáo theo quy định.

Cần nhấn mạnh rằng, phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước hoàn toàn không trái với quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân để tăng cường tiềm lực của xã hội. Mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật. Khi tham nhũng đã có sự cấu kết chặt chẽ giữa khu vực công và ngoài nhà nước, thì phòng, chống tham nhũng muốn hiệu quả, không còn cách nào khác phải thực hiện song hành ở cả hai khu vực này. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, các cơ quan chức năng phải tuân thủ đúng pháp luật, không làm khó doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Luật Phòng, chống tham nhũng đã có quy định và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan trong phòng, chống tham nhũng đối với khu vực ngoài nhà nước. Bộ Chính trị cũng yêu cầu từng bước mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước. Phần việc còn lại là khâu triển khai thực hiện của chính các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước và của các cơ quan chức năng./.

Quyền lực, trách nhiệm và cảnh báo sự tha hóa, thoái hóa quyền lực

 


Nhìn đại cục, người đứng đầu lãnh đạo, quản lý chiến lược thể hiện hai điều cơ bản sau: Nhìn ra, nắm lấy, hành động theo quy luật và giữ lấy, cố kết, dẫn dắt và phát triển lòng người!

Trao quyền gắn với trách nhiệm

Nếu quyền lực, theo nghĩa rộng lớn nhất, là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng trước hết về mặt chính trị và sức mạnh toàn diện để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy trong công việc tổ chức và dẫn dắt xã hội một cách chính danh, chính pháp thì thẩm quyền là sự biểu hiện tập trung và cụ thể trên thực tế của quyền lực về mặt thực tiễn. Thực chất quyền lực là năng lực, khả năng của một cá nhân hay tổ chức tác động đến những cá nhân, tổ chức khác phải thực hiện ý chí của mình thông qua các phương thức, phương tiện hay công cụ có thể trên phương diện chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, hay kinh tế, thông tin…, trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý.

Nếu sự lãnh đạo có nghĩa là một nhóm người, dù lớn hay nhỏ, sẵn lòng ủy quyền, trao thẩm quyền cho người khi họ thể hiện được tài phán đoán, trí khôn, sức lôi cuốn cá nhân, dẫn dắt cộng đồng thì thẩm quyền tự nó đã trở thành trách nhiệm và là trách nhiệm đối với người trao thẩm quyền hoặc ủy quyền của cộng đồng, của quốc gia, theo pháp luật. Do vậy, theo nghĩa nào đó, nếu thẩm quyền không song trùng và gắn với với trách nhiệm thì thẩm quyền trở nên không giới hạn; đến lượt nó, trách nhiệm trở nên vô nghĩa và thậm chí trở thành hư vô đối với thẩm quyền.

Và khi đó, quyền lực tuyệt đối nhất định sẽ dẫn tới tha hóa tuyệt đối, nếu thẩm quyền không được khắc chế và kiểm soát bằng đạo đức, bằng pháp luật và các công cụ kiểm soát khác thông qua sự định vị, định lượng và định chế trách nhiệm. Nói khái lược, khi thẩm quyền không gắn với trách nhiệm và được kiểm soát lập tức quyền lực có nguy cơ bị tha hóa, thoái hóa, chuyển hóa thành độc quyền, bạo quyền, quyền lực bị đánh cắp, thậm chí thoán đoạt quyền lực... Nghĩa là lúc quyền lực không được khắc chế, không bị kiểm soát theo trách nhiệm, trên nền tảng pháp lý và đạo lý. 

Thực tiễn đã và đang cảnh báo, mọi sự tha hóa, thoái hóa quyền lực vừa qua bị xử lý đều nhằm trục lợi - tức là tham nhũng dưới mọi thủ đoạn, hình thức và mức độ: từ tham nhũng kinh tế, chính trị tới tham nhũng chính sách, lòng tin - chúng cấu kết rất tinh vi, chặt chẽ trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ, lợi dụng các khoảng trống pháp luật, thiếu công khai, minh bạch, thiếu cơ chế và chế tài kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, chúng bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chà đạp lên cả luân thường đạo lý, cốt chiếm đoạt mọi thứ vì cá nhân và phe nhóm, phá vỡ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, chia cắt giữa Đảng với Nhà nước, gây xáo trộn, thậm chí làm rối loạn kỷ cương và xã hội. Quyền lực bị xâm hại, phá vỡ ở những địa hạt này. 

Mặt khác, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, ăn trộm và buôn bán quyền lực dưới mọi hình thức và cấp độ làm xuất hiện những lợi ích nhóm, nhóm lợi ích trong các “liên minh ma quỷ”… Có thể hình dung, từ việc dùng thẩm quyền của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực nhằm trục lợi cho mình và nhóm lợi ích tới việc quyết định chủ trương, chính sách, cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, tư túng bổ nhiệm cán bộ… đều là hậu quả của sự tha hóa, thoái hóa quyền lực, thậm chí là sở hữu quyền lực. Đặc biệt, như đã nhiều lần cảnh báo, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực vừa trắng trợn vừa tinh vi, câu kết chặt chẽ ngang - dọc, trên - dưới, trong - ngoài… bằng những “luật ngầm” đã xuất hiện trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý trên các phương diện kinh tế - xã hội ở nhiều nơi đã và đang gây nên những hậu họa khôn lường.

Đáng lo ngại là, sự tha hóa, thoái hóa quyền lực của không ít người đứng đầu rất đa dạng, tinh vi và thường xoay chung quanh một số cá nhân “trung tâm” hoặc “liên minh” đa trung tâm, liên kết vùng, thậm chí cả ở ngoài nước nhưng núp sau tấm bình phong tập thể, cộng đồng, thậm chí “nhân danh” quốc gia dân tộc để mưu đoạt chính trị, thậm chí thoán đoạt quyền lực, phản bội Tổ quốc, như lịch sử từng cảnh báo. Mặt khác, thực tiễn cũng đang cho thấy, cả tổ chức quyền lực vi phạm quyền lực. Do đó, việc phát hiện và xử lý các vụ việc có liên quan đến tha hóa, thoái hóa quyền lực thường rất khó khăn, phức tạp, vì nó gắn với người có chức vụ, có quyền lực lớn nên có mối quan hệ chằng chịt, đa dạng, có không ít trường hợp được bao che, thậm chí họ dùng cả tổ chức quyền lực phản kích quyết liệt lại các lực lượng kiểm tra, thanh tra, giám sát và các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền lực, làm cho tình hình không ít nơi rất phức tạp và rối ren. 

Tha hóa, thoái hóa quyền lực rất dễ dẫn tới lạm quyền, lộng quyền, thậm chí nạn trộm cắp, buôn bán quyền lực và cả sự thoán đoạt quyền lực. Từ sở hữu quyền lực tới trộm cắp chức vụ hay đạo vị, buôn bán quyền lực là một bước chuyển hóa rất ngắn, chỉ trong gang tấc và hiểm họa khôn lường. “Nên nhớ “làm người trước, làm việc sau”. Đây là đạo lý nghìn đời không thay đổi của người xưa để lại. Ngay từ tháng 6.1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: “Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”. “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử”. Người coi các loại cán bộ “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên”, “cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư...” đều là BẤT LIÊM “mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”.   

Từ trộm cắp chức vụ tới buôn quan, bán tước, thoán đoạt quyền lực chỉ là một vệt trượt ngắn, rất ngắn nhưng hiểm họa chết người khôn lượng! Và, ngay từ ngày 19.8.1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục cảnh cáo: Tôi không sợ bọn đế quốc, bọn phản động. Đồng bào sẽ đánh thắng chúng. Tôi chỉ sợ những hành vi xấu xa của cán bộ, làm cho đồng bào mất lòng tin vào chế độ, Nhà nước và Đảng. Đồng bào sẽ xa lánh, không tin chúng ta. Đưa những người yếu kém về năng lực, nhất là kém cỏi về phẩm chất, nhân cách vào bất kỳ nhiệm vụ nào cũng nguy hại./.

 

Tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực

Thực tiễn đang trở nên phổ biến, tình trạng thừa quyền lực nhưng thiếu năng lực, trước hết là năng lực chính trị và pháp luật, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng pháp luật đang trở thành hậu họa nhãn tiền. Không ít sự rối loạn, thậm chí phá vỡ những ranh giới giữa khuôn khổ thẩm quyền được giao với sự năng động, sáng tạo vốn rất mong manh nhưng rất đa dạng, phong phú… dẫn tới sự rối loạn hệ giá trị trong đánh giá, thẩm định, vượt ngoài khuôn khổ cho phép và làm rối loạn kỷ cương, kỷ luật ở không ít nơi. Họ thường ẩn nấp sau tấm bình phong nhân danh, chính danh, chính pháp nhưng kỳ thực để vứt bỏ chính danh, chính pháp và thay bằng thực thi sự mạo danh, đạo danh, thậm chí cả mượn danh, ẩn danh âm mưu sở hữu quyền lực một cách vô pháp vô thiên, rắp mưu hoành hành quyền lợi cá nhân, phe nhóm, phường hội. Quan - doanh liên thủ, phe nhóm liên danh đã và đang lũng đoạn Nhà nước nguy cơ Đảng bị thao túng và Nhà nước bị lũng đoạn đang cận kề. Tất cả vô hình dẫn tới nạn rũ bỏ, trốn tránh trách nhiệm theo thẩm quyền, chia cắt kỷ luật và khoanh vùng kỷ luật và pháp luật, nguy cơ biến pháp kỷ luật và pháp luật thành những “thanh kiếm phường chèo”(!). Rốt cuộc xâm hại và phá vỡ cả hai: thẩm quyền và trách nhiệm, làm rối loạn đạo lý, lũng đoạn kỷ cương và xâm hại pháp luật. V. I. Lênin gọi sự “khoanh vùng” pháp luật đó là “sự man rợ”. Qua các vụ đại án về tha hóa, thoái hóa quyền lực của nhiều cá nhân và tổ chức vi phạm quyền lực đã được xét xử gần đây cho thấy và cảnh báo nghiêm khắc sự mù pháp luật hoặc cố tình giẫm đạp lên luật pháp và dẫn đến những điều nguy hiểm đó. Một loạt cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp bị xử lý mấy năm vừa qua, từ 2015 - 2021, phơi bày rõ “điểm yếu chết người” này. 

Không ít nơi do buông lỏng sự kiểm soát quyền lực đã và đang phạm vào tội lỗi chết người đó. Nhưng đáng sợ hơn, khi bị chi phối bởi lợi ích nhóm, tệ “cát cứ phường hội”, băm nhỏ lợi ích quốc gia… tất dẫn tình trạng thật giả lẫn lộn, phải trái bất minh, “chụp mũ” những người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm hoặc tấn công những người dũng khí đấu tranh chống lại nạn lạm quyền, lộng quyền, tiếm quyền, đạo quyền hoặc cố ý làm trái, sẽ làm thui chột, thậm chí phá vỡ động lực phát triển, làm rạn vỡ đội ngũ cán bộ các cấp, nguy cơ làm băng hoại không ít tổ chức, cơ quan, đơn vị. Nếu tự biết được ham muốn của mình thì ắt sẽ biết cách tự tiết chế bản thân. Nhưng, không ít người nắm trong tay quyền lực được ủy thác, khi ham muốn nhiều thì sẽ trọng vật chất và họ lạc theo đường tà, nhất là không ít kẻ tham dục vọng, mượn tổ chức quyền lực để truy cầu danh vị và phú quý mà tán gia bại sản, mất danh dự thậm chí vướng vòng lao lý. 

Hơn một trăm người do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, và những vụ đại án bị xử lý vừa qua cho thấy, vì đi theo lối những “mù lòa” này, họ đã xâm hại quyền lực, các tổ chức quyền lực bị “vo tròn bóp méo” tới mức cố tình làm cho tổ chức rối loạn và tình hình nguy hiểm như thế nào. Và, không ít người được trao trọng trách kiểm soát lại tự ban cho mình thứ “quyền lực vô biên”, “quyền lực nằm ngoài quyền lực”, thậm chí núp sau mọi bình phong để âm mưu thực thi những thứ “siêu quyền lực”…, họ vô hình nằm ngoài sự kiểm soát, mặt khác vứt bỏ mọi sự kiểm soát đối với họ, đã làm cho quyền lực bị vô hiệu hóa. 

Rốt cuộc, nảy nòi tình trạng lũng đoạn Nhà nước và Nhà nước bị lũng đoạn, Quốc pháp trở nên bị hạ thấp, thậm chí bị “rút phép”, bị tước bỏ sức mạnh pháp quyền. Đây đang chính là “cục nghẽn mạch”, “tử huyệt” làm băng hoại quyền lực của Nhân dân, có cơ gây lâm nguy đối với Đảng, đe dọa vai trò của Nhà nước và sinh mệnh của chế độ. 

Đó là điều hết sức nguy hiểm, có thể đe dọa vận mệnh của Đảng, sự sinh tử đối với chế độ và sự mạnh yếu của thể chế, còn mất của quốc gia./.

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT ĐỂ HẠN CHẾ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO SAI SỰ THẬT

 

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp để giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo (KNTC) của công dân. Bởi KNTC là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, tình trạng đơn thư KNTC sai sự thật vẫn chiếm tỷ lệ lớn (hơn 50%), thậm chí còn phổ biến hiện tượng đơn thư nặc danh, sai sự thật, vu khống người khác gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội.

KNTC đúng có giá trị rất lớn, giúp cơ quan chức năng phát hiện, xử lý kịp thời những cá nhân, tập thể sai phạm, bảo đảm kỷ cương phép nước. Thông qua giải quyết KNTC, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật, từ đó để ngày càng hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại, việc KNTC sai sự thật, thậm chí KNTC vu khống với mục đích cá nhân không trong sáng lại gây ra rất nhiều hệ lụy cho xã hội. Hệ lụy dễ nhận thấy nhất là bất ổn về an ninh, chính trị, trật tự xã hội, kìm hãm sự phát triển mọi mặt. Nội dung đơn thư sai sự thật gây lãng phí thời gian, công sức và chi phí cho các cơ quan chức năng vào cuộc xác minh giải quyết, cũng như của chính người KNTC. Nguy hiểm hơn cả là những nội dung KNTC vu khống với mục đích nhằm hạ bệ, làm mất uy tín của người khác, lan truyền ra dư luận những điều không đúng sự thật. Khi cơ quan chức năng vào cuộc xác minh, dù kết luận là không đúng, nó cũng khiến người bị KNTC ảnh hưởng rất nhiều. Có những người không thể chịu nổi sức ép dư luận dù điều đó hoàn toàn sai. Không ít trường hợp cứ đến những kỳ chuẩn bị nhân sự đại hội, bầu cử, quy hoạch... lại xuất hiện đơn thư tố cáo nặc danh hoặc tố cáo sai sự thật.

Xã hội văn minh không chấp nhận kiểu KNTC chủ ý sai sự thật hay vu khống người khác, bởi tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Để hạn chế tình trạng đơn thư KNTC sai sự thật, cần tuyên truyền cho mọi công dân trong xã hội hiểu biết, nâng cao kiến thức về pháp luật và có ý thức thượng tôn pháp luật. Thượng tôn pháp luật cũng có nghĩa là tôn trọng quyền nhân thân, quyền lợi của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội và cao nhất là tôn trọng sự thật. Khi có hiểu biết pháp luật thì công dân mới nhận thức được việc mình làm, nhận thức được đúng-sai khi thực hiện quyền KNTC của mình. Trên thực tế, vẫn còn hiện tượng nhiều người dân không nắm vững các quy định của pháp luật, hiểu sai và vận dụng sai trong thực tiễn thi hành, đòi hỏi quá mức quyền lợi của mình trong khung khổ luật pháp.

Đối với những trường hợp KNTC sai sự thật, vu khống, xúc phạm người khác, kích động, đánh tráo dư luận... với động cơ mang tính cá nhân cần được xử lý nghiêm khắc theo đúng các quy định của pháp luật. Theo Điều 156, Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi vu khống tùy vào mức độ vi phạm pháp luật mà bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm tùy từng trường hợp… Tuy nhiên, trên thực tế, việc xử lý cá nhân tố cáo sai sự thật ở nước ta vẫn còn xem nhẹ, hiếm khi bị áp dụng đúng chế tài pháp luật nên chưa có tính răn đe. Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng đơn thư tố cáo sai sự thật, tố cáo vượt cấp không giảm, tính chất ngày càng phức tạp. Nhiều chuyên gia luật pháp cho rằng, đối với trường hợp cố ý tố cáo sai sự thật có dấu hiệu tội phạm cần đề nghị chuyển cơ quan chức năng để điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hệ thống pháp luật của chúng ta với mục đích bảo vệ quyền của công dân thì việc xử lý nghiêm những trường hợp KNTC sai sự thật, vu khống cũng nhằm bảo vệ quyền của công dân khác trong một xã hội bình đẳng, thượng tôn pháp luật. Vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi nghiêm luật pháp. Bởi suy cho cùng, luật pháp là hành lang điều chỉnh các hiện tượng, các mối quan hệ và các vấn đề xã hội. Khi luật pháp nghiêm minh, hiện tượng KNTC sai sự thật, vu khống sẽ giảm./.

                                                                                                VHT.

 

NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN LÀM NGAY TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC TUYÊN GIÁO

 

Qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn xác định “Diễn biến hòa bình” là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng nước ta. Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. Thực hiện các nghị quyết của Đảng về chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là một trong những nhiệm vụ đặc biệt, nhằm làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, triển khai đồng bộ các hình thức tuyên truyền (tuyên truyền công khai, nội bộ, tập trung, đơn lẻ,…). Sử dụng báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ,… để tuyên truyền về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đẩy mạnh tuyên truyền qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị, giáo dục truyền thống cách mạng cho đảng viên, nhân dân, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp ủy đảng, chính quyền, ngành, đoàn thể ở cơ sở, coi trọng giáo dục cho thanh, thiếu niên,… nhằm tạo sự “miễn dịch” cho quần chúng nhân dân trước các luận điệu tuyên truyền của kẻ địch.

Ba là, đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phong trào xây dựng gia đình, làng, xã văn hóa; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần trong nhân dân, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đẩy lùi các sản phẩm văn hóa độc hại.

Bốn là, đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, tạo sự chuyển biến tích cực trong học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay.

Năm là, thực hiện chủ trương “công tác tuyên giáo phải hướng về cơ sở”. Tuyên truyền cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; làm tốt công tác xây dựng đảng; coi trọng công tác tổ chức, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, kịp thời tuyên truyền, giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của nhân dân.

Sáu là, đấu tranh không khoan nhượng với tệ quan liêu, mất dân chủ, đặc quyền, đặc lợi, tệ tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác.

Bẩy là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý của chính quyền là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tuyên giáo.

                Thực hiện đồng bộ hiệu quả các giải pháp trên nhằm đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

                                                                                                    VHT.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN MẠNG INTERNET HIỆN NAY

 

Hiện nay mạng Internet ở được phổ cập và phát triển tương đối rộng rãi; chúng ta không phủ nhận vai trò quan trọng và những đóng góp to lớn của Internet trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đồng thời cũng là diễn đàn xã hội để mọi người cùng chia sẻ những ý tưởng, suy nghĩ của bản thân về các vấn đề trong cuộc sống, trong hoạt động xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã triệt để tận dụng mạng Internet để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet là rất cần thiết.

Hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiến hành đối với Việt Nam hiện nay là chống phá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, lĩnh vực tư tưởng, văn hóa được xác định là một trọng điểm. Chúng tập trung tăng cường cả "nhịp độ" và "cường độ" để xuyên tạc, tuyên truyền chống phá vào các thời điểm nhạy cảm, như chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân các cấp; hoặc khi có những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại nổi bật ở trong nước. Các tổ chức phản động ở nước ngoài (đảng Việt Tân, đảng Nhân bản Xã hội,…) và các phần tử cơ hội chính trị chống đối ở trong nước tăng cường truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam trên các báo điện tử, trang tin điện tử, blog cá nhân. Chúng kết hợp đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” với việc khuyến khích, tạo điều kiện, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Do đặc thù của Internet là tốc độ truyền thông tin nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, tính “tự do” tương đối của những chủ thể thông tin, khả năng “gây nhiễu” lại khá rộng… nên những quan điểm sai trái trên mạng Internet có khả năng ảnh hưởng nhanh, rộng đến nhiều đối tượng. Thực tế cho thấy thời gian qua không ít thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là một bộ phận trí thức và thanh niên, đây là đối tượng thường xuyên tiếp cận với phương tiện này. Do đó, chúng ta cần phải xác định nhiều giải pháp đồng bộ, có sự chung tay góp sức của toàn bộ hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội và sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên, của các lực lượng, nhất là lực lượng chuyên trách đấu tranh trên mạng Internet để nâng cao hiệu quả phòng chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet hiện nay cần thực hiện tốt mội số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp đối với hệ thống thông tin nói chung, mạng Internet nói riêng.

Hai là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng trong Học viện tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet.

Bốn là, thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mạng Internet.

Trên đây là một số nội dung, giải pháp để một mặt chúng ta tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội, nhưng mặt khác, mọi cán bộ, học viên, nhân viên có thể tham gia trao đổi – tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Khuyến khích mọi cán bộ, đảng viên xây dựng các trang blog cá nhân và tham gia trên các trang mạng xã hội tạo diễn đàn tranh luận, trực tiếp đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tường của đảng./.

                                                                                             VHT.

LỜI BÁC DẠY NGÀY 16/4


 “Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III năm 1962. Trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí và đội ngũ người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân.

Người cho rằng, hoạt động báo chí thực chất là hoạt động chính trị, báo chí là vũ khí đấu tranh cách mạng, nên báo chí cách mạng trước tiên phải mang tính chiến đấu, tính định hướng và tính quần chúng. Bác đặc biệt lưu ý với những người làm báo phải có bản lĩnh và hiểu biết sâu sắc về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, phải giữ đúng tôn chỉ mục đích của báo chí cách mạng, tiên phong trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, làm sáng tỏ mục tiêu của cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ và thiện cảm của bạn bè quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Báo chí quân đội là một bộ phận quan trọng của báo chí cách mạng Việt Nam; kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam, luôn bám sát, tôn chỉ mục đích, là lực lượng nòng cốt, tin cậy trong việc thông tin, tuyên truyền kịp thời về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, đối ngoại; luôn xung kích đi đầu trong việc tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, phản động, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng về công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước... tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ thông tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Tư tưởng “chính trị là gốc, chính trị trọng hơn quân sự” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đòi hỏi phải không ngừng xây dựng quân đội, đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; phải có tổ chức mạnh, chủ trương đúng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.

                                                                                             VHT.

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2022

LỜI BÁC DẠY NGÀY 15/4

 

 “…Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ…”. Đây là lời Bác viết Trên Báo Sự thật số 109, ra ngày 15 tháng 4 năm 1949 trong  bài “Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng” của tác giả L.T (bút danh của Người). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách để làm sao kẻ địch không thực hiện được thủ đoạn phản tuyên truyền; đó là, “không có gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm”, còn nếu khi đã phạm khuyết điểm, thì dù “mình muốn bưng bít, người ta cũng biết”. Người còn khẳng định: “Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình là một đoàn thể hoặc chính quyền “yếu ớt”, “thoái bộ”. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì “uy tín chẳng những không giảm bớt, mà lại thêm cao. Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ”. Người nhấn mạnh: “Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn”. Bác Hồ chủ trương tất cả cán bộ, từ cấp trên đến cấp dưới, phải “thi đua sửa chữa khuyết điểm và phát triển ưu điểm”.

Thực hiện những chỉ huấn của Người, trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tự chỉnh đốn, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm; đề cao tự phê bình và phê bình, xác định là nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng để khắc phục những khuyết điểm đã được chỉ ra sau kiểm điểm tự phê bình, phê bình. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII đã triển khai quyết liệt việc tự phê bình và phê bình; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Thực hiện lời Bác dạy, các cấp ủy, tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình, coi đây là vũ khí sắc bén ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, là cách tốt nhất để không ngừng củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất. Tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm khắc, ráo riết, triệt để, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”; căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, phân tích, đánh giá, chỉ rõ cả ưu điểm, khuyết điểm, có lý, có tình, để khuyến khích phần thiện trong mỗi con người nảy nở, thức tỉnh, nâng đỡ người có sai lầm khuyết điểm tiếp thu phê bình, sửa chữa lỗi lầm, khuyết điểm. Tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc trong tự phê bình và phê bình là tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau; cấp trên tự giác, gương mẫu tự phê bình trước để cấp dưới noi theo, phê bình từ trên xuống, từ trong cấp ủy ra ngoài quần chúng, ai cũng thực hiện tự phê bình và phê bình, coi đây là việc làm thường xuyên, hằng ngày./.

Vượt qua sóng gió, nâng tầm vị thế.

 Những ngày cuối năm 2019, nhân loại kỳ vọng năm 2020 khởi sắc với những dự báo đầy lạc quan về tăng trưởng kinh tế toàn cầu và sự sôi động của các hoạt động ngoại giao, văn hóa, thể thao quốc tế quan trọng. Con thuyền kinh tế Việt Nam cán đích với mức tăng trưởng 7,02%, dẫn đầu trong khu vực và vào loại cao nhất trên thế giới. Cả nước bước vào năm 2020 với niềm tự hào, phấn khởi, tự tin, sẵn sàng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đối nội và đối ngoại quan trọng. Tuy nhiên, cả nhân loại đã không thể đoán định được một cuộc khủng hoảng toàn cầu chưa từng có sẽ đến. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phải triển khai các nhiệm vụ chính trị của năm cuối nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng trong bối cảnh đầy khó khăn, thách thức.

Đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi thế giới, tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu, gây ra đợt suy thoái trầm trọng nhất trong nhiều thập kỷ, làm đứt gãy các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, cản trở các liên kết kinh tế quốc tế. Hầu hết các nền kinh tế chịu tăng trưởng âm, trong đó có các đầu tàu kinh tế lớn, nhân loại phải chứng kiến khủng hoảng nhân đạo sâu sắc, tình trạng thất nghiệp, đói nghèo lan rộng. Các hoạt động quốc tế trên mọi lĩnh vực đều bị ngừng trệ. Các thể chế đa phương bị ảnh hưởng, có nơi tê liệt. Nổi lên xu hướng các nước lựa chọn chính sách co cụm, quay vào nội bộ. Cạnh tranh nước lớn, đặc biệt là quan hệ Mỹ - Trung trở nên căng thẳng, toàn diện hơn. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên ASEAN, Chủ tịch Đại hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA-41) và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc với nhiều dự kiến bị thay đổi, ASEAN bị thách thức bởi cạnh tranh địa - chiến lược ở khu vực, hòa bình và an ninh trên thế giới có nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh.

Là một nền kinh tế có mức độ hội nhập sâu rộng, Việt Nam chịu tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19 khi các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu, các nguồn đầu tư lớn đều gặp khó khăn nghiêm trọng. Thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn, bão lụt, sạt lở… diễn ra gay gắt hơn mọi năm, gây nhiều thiệt hại nặng nề.

Trong bối cảnh khó khăn, thách thức chưa từng có như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nỗ lực điều hành của Chính phủ, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng tâm, nhất trí của toàn dân, toàn quân, kiên định mục tiêu, huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Việt Nam đã thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị đối nội và đảm đương thành công các trọng trách quốc tế. Trong nước, với chiến lược đúng đắn, cách tiếp cận phù hợp, chúng ta đã phòng, chống hiệu quả đại dịch COVID-19, tạo tiền đề quan trọng để chuyển sang trạng thái bình thường mới, thực hiện mục tiêu kép vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam không chỉ trở thành hình mẫu trong cuộc chiến chống COVID-19, mà còn là một trong số rất ít nền kinh tế có mức tăng trưởng cao hàng đầu thế giới. Đời sống nhân dân được chăm lo với các hỗ trợ an sinh xã hội kịp thời, với tinh thần tương thân tương ái của cả dân tộc. Quốc phòng - an ninh được giữ vững. Tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp.

Công tác đối ngoại đã ghi thêm mốc son rực rỡ trong năm 2020. Trước hết là việc hoàn thành xuất sắc các trọng trách đối ngoại đa phương. Là người cầm lái con thuyền ASEAN trong một năm đầy giông bão chưa từng có trong lịch sử hơn nửa thế kỷ của Hiệp hội, Việt Nam đã chứng tỏ năng lực dẫn dắt, định hướng. Trong bối cảnh các thể chế đa phương bị xói mòn, ASEAN bị thách thức bởi cạnh tranh nước lớn, các thành viên chịu tác động nghiêm trọng bởi đại dịch, Việt Nam đã phát huy cao độ chủ đề “Gắn kết và chủ động thích ứng”, tập trung tăng cường đoàn kết Cộng đồng ASEAN, điều chỉnh phù hợp các nghị trình để cả Hiệp hội chung tay đối phó với đại dịch. Với thành tựu phòng, chống dịch trong nước, Việt Nam được các thành viên tin cậy, đồng thuận cao khi đưa ra các sáng kiến liên quan phòng, chống COVID-19 và thúc đẩy sự cố kết của cộng đồng ASEAN đối phó với các hệ lụy của đại dịch. Đồng thời, uy tín của Việt Nam góp phần khiến các đối tác lớn mong muốn gia tăng hợp tác, phối hợp với ASEAN để vượt qua thách thức chung của nhân loại. Trong một năm đầy khó khăn với các thể chế đa phương nói chung, với ASEAN nói riêng, Việt Nam đã điều hành trên 550 cuộc họp lớn nhỏ, hoàn tất hơn 80 văn kiện. Số lượng các cuộc họp là con số kỷ lục. Các cuộc họp lại được thực hiện bằng phương thức mới, đòi hỏi nền tảng công nghệ cao, khả năng kết nối, điều hành, phối hợp quan điểm, lập trường của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực. Quan trọng hơn, các văn kiện, nội dung thông qua trong năm 2020 đều là những cơ sở, tài sản chung quý báu để ASEAN tiếp tục phát huy trong chặng đường sắp tới. Điển hình là việc ký kết thông qua Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sau 8 năm đàm phán. Việc đàm phán RCEP đã đi qua chặng đường dài đầy khó khăn với rất nhiều khác biệt trong các thành viên, các Chủ tịch ASEAN trước đây đều từng kỳ vọng đạt được trong nhiệm kỳ của mình nhưng không thành công. Tuy nhiên, chính trong một năm đầy thách thức đối với đa phương và liên kết quốc tế, Việt Nam đã khéo léo điều hòa các lợi ích khác biệt của các bên, nỗ lực thúc đẩy để liên kết kinh tế quốc tế lớn nhất thế giới này đi đến đích.

Cùng với việc hoàn thành vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đảm đương xuất sắc cương vị Chủ tịch AIPA-41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Với nền tảng là những thành công trong nước, Việt Nam đã chủ trì các phiên họp quan trọng với tư thế đĩnh đạc, tự tin, đề xuất nhiều sáng kiến phù hợp với bối cảnh đại dịch. Tại Hội đồng Bảo an, dưới tác động của cạnh tranh nước lớn và các hệ lụy của COVID-19, quá trình bàn thảo, đưa ra quyết sách cho các vấn đề hòa bình, an ninh trên thế giới diễn ra rất phức tạp, áp lực từ nhiều phía. Tuy nhiên, Việt Nam đã hoàn thành trọng trách với uy tín cao.

Về song phương, với uy tín từ thành công trong cuộc chiến chống COVID-19 và việc đảm đương các trọng trách quốc tế với tinh thần trách nhiệm vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và trên thế giới, đối ngoại Việt Nam thời COVID-19 đã tăng cường lòng tin với các đối tác, thúc đẩy các mối quan hệ đi vào chiều sâu, hiệu quả và thiết thực. Với bối cảnh đặc thù của thế giới nói chung, Lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện tới 34 cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến với các nguyên thủ, lãnh đạo các nước để kịp thời phối hợp, hợp tác trên các vấn đề song phương và đa phương. Trong một năm đầy khó khăn với hoạt động đối ngoại, Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ đối ngoại mà còn thắt chặt thêm các mối quan hệ với bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng. Việt Nam và Niu Di-lân đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, nâng tổng số quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện của Việt Nam lên con số 30, trong đó bao gồm toàn bộ các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, các nước G7, 17/20 các nước G20, tất cả các thành viên ASEAN. Việc củng cố, tăng cường các mối quan hệ song phương, đặc biệt là mạng lưới đối tác chiến lược, đối tác toàn diện giúp cho thế và lực của đất nước ngày càng vững vàng hơn, chủ động tốt hơn trong ứng phó với các nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Trong bối cảnh cả thế giới chịu tác động nặng nề của đại dịch, tình trạng giãn cách diễn ra ở hầu hết các quốc gia, các liên kết quốc tế, hoạt động ngoại giao bị ngưng trệ, công cuộc hội nhập quốc tế của Việt Nam lại gặt hái nhiều thành tựu lớn. Việt Nam đã thể hiện vai trò thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế, có tinh thần trách nhiệm cao, không chỉ tham gia mà còn dẫn dắt, định hướng, điều hành các công việc quốc tế. Với tầm nhìn chiến lược của Đảng ta về việc chủ động và tích cực tham gia các liên kết kinh tế quốc tế, các hiệp định tự do thương mại quan trọng bắt đầu phát huy tác dụng trong năm qua. Trong đó, đáng chú ý nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đi vào triển khai hiệu quả, mang lại nhiều giá trị thiết thực. Hiệp định Tự do thương mại với EU (EVFTA) được phê chuẩn kịp thời, có hiệu lực đúng lúc cần thiết. Đặc biệt, việc RCEP được thông qua trong năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN và việc kết thúc đàm phán Hiệp định Tự do thương mại Việt Nam - Vương quốc Anh là những điểm sáng về nỗ lực của Việt Nam trong việc không chỉ tham gia mà còn thúc đẩy, đóng góp cho việc đẩy mạnh liên kết kinh tế quốc tế trong bối cảnh đại dịch. Việt Nam đã chủ trì thành công các hội nghị quốc tế về quốc phòng và an ninh trong năm 2020. Đặc biệt, Hội nghị ADMM+ có sự tham gia đầy đủ của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN và các đối tác, lần đầu tiên từ năm 2013 ra được Tuyên bố chung với đầy đủ các nội dung quan trọng liên quan đến các vấn đề hòa bình, tôn trọng chế độ chính trị, biển Đông, tuân thủ luật pháp quốc tế, không gian chiến lược châu Á - Thái Bình Dương... Trong bối cảnh đại dịch, hình ảnh “bộ đội Cụ Hồ” nổi bật thông qua hoạt động trong khuôn khổ lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc tại châu Phi.

Có thể khẳng định, trong bức tranh chung đầy bất ổn của thế giới và khu vực năm 2020, vị thế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao, uy tín đất nước được tăng cường. Nằm trong khu vực chịu những tác động đầu tiên và trực tiếp của đại dịch COVID-19, giữa vòng xoáy cạnh tranh địa - chiến lược, năm qua Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Tuy nhiên, kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là thành viên trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam không chỉ giữ vững mà còn nâng cao vượt bậc vị thế của mình. Phòng, chống dịch hiệu quả và phát triển kinh tế - xã hội với mức tăng trưởng hàng đầu thế giới, đảm đương xuất sắc các trọng trách quốc tế, Việt Nam đã thu hút sự quan tâm, chú ý của truyền thông thế giới trong suốt năm qua. Hình ảnh một Việt Nam an toàn, vững vàng, năng động, đổi mới được chuyển tải trên toàn thế giới, minh chứng cho đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng ta, cho sức sống mãnh liệt của đất nước và dân tộc ta.

Để có được những thành tựu đó, trước hết là do sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả của các trụ cột đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước và Quốc hội, đối ngoại Nhân dân. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao, quốc phòng và an ninh tạo thế chân kiềng vững chắc, bổ sung lẫn nhau, củng cố môi trường đối ngoại của đất nước giữa lúc khu vực có nhiều bất ổn.

Trong các thành tựu đối nội và đối ngoại của năm 2020 có sự đóng góp quan trọng của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng. Trong nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XII, dưới sự lãnh đạo của BCH Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các cơ quan chức năng thuộc Quốc hội, Chính phủ, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, Ngành Tổ chức xây dựng Đảng đã tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 26-NQ/TW, Quy định số 08-QĐ/TW và nhiều chỉ thị, kết luận, quy chế quan trọng khác để triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về công tác xây dựng Đảng. Công tác tổ chức xây dựng Đảng được triển khai thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ trên cả ba trụ cột: 1) Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ nền tảng, cơ sở và tiến hành thường xuyên, liên tục. 2) Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là nhiệm vụ trung tâm, mang tính động lực. 3) Xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ là then chốt của then chốt, nhất là người đứng đầu. Cuộc chiến chống tham nhũng đạt nhiều kết quả quan trọng... Những kết quả nêu trên đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng được củng cố và tăng cường.

Năm 2021 là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, năm mở đầu cho giai đoạn phát triển mới hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế dự báo tiếp tục có nhiều bất ổn. Đại dịch COVID-19 diễn biến khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Kinh tế thế giới lâm vào suy thoái nặng nề. Nội bộ các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, cạnh tranh nước lớn sẽ biến động phức tạp hơn, ảnh hưởng đến cục diện khu vực và thế giới nói chung cũng như đối với những nước vừa và nhỏ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 tiếp tục có tác động sâu sắc, nhiều chiều đến đời sống nhân loại. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Thực tiễn đã chứng minh bản lĩnh, năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng được trui rèn qua các thách thức to lớn của thời cuộc suốt 90 năm qua, mà gần nhất là đại dịch COVID-19 - thách thức chưa từng có đối với nhân loại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên nền tảng cơ đồ và vị thế ngày càng được củng cố và nâng cao của đất nước, với những thành tựu to lớn đạt được trong năm 2020 đầy sóng gió, Việt Nam sẽ vững vàng tiến bước, hóa giải mọi thách thức, tận dụng cơ hội.

Thế giới sẽ có nhiều biến động khôn lường, song với nguyên tắc tối thượng vì lợi ích quốc gia - dân tộc, với sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, điều hành quyết liệt của Chính phủ, với phương cách ứng xử hài hòa, linh hoạt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào năm 2021 với tâm thế mới, tràn đầy phấn khởi, tự hào, tích cực triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp với nhiều thành tựu đang chờ đợi phía trước.

Xứng danh đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 Phát huy truyền thống vẻ vang của lực lượng Bộ đội Biên phòng (BĐBP), những năm qua Đồn Biên phòng Đàm Thủy (BĐBP tỉnh Cao Bằng) luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, tham gia tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. 43 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đơn vị luôn là lá cờ đầu trong phong trào thi đua của BĐBP tỉnh Cao Bằng, được Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Đặc biệt, mới đây Đồn Biên phòng Đàm Thủy vinh dự là một trong hai đơn vị trong lực lượng BĐBP được nhận danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X giai đoạn 2016-2020.

Điểm tựa vững chắc trên tuyến biên giới Cao Bằng

Đồn Biên phòng Đàm Thủy được thành lập ngày 23-12-1977, đóng tại xóm Đồng Tâm -Bản Rạ, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ đường biên giới dài 18,91km (trong đó có 17,45km đường biên giới trên đất liền, 1,46km đường biên giới trên sông) với 60 mốc lộ giới. Tuyến biên giới do đồn quản lý có quần thể khu du lịch nổi tiếng gồm thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc... thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm ngưỡng. Xác định rõ nhiệm vụ chính trị được giao, Đồn Biên phòng Đàm Thủy đã triển khai đồng bộ và toàn diện các biện pháp trong công tác biên phòng, chủ động nắm chắc tình hình địa bàn, phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền và nhân dân khu vực biên giới cùng đoàn kết, xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Nổi bật trong thành tích của đơn vị là công tác đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, tạo cơ sở thuận lợi cho nhiệm vụ phân giới, cắm mốc, nhất là tại khu vực thác Bản Giốc.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy đã không ngừng phấn đấu, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì bám trụ nơi tuyến đầu, hy sinh quên mình để bảo vệ toàn vẹn từng tấc đất biên cương thiêng liêng của Tổ quốc, không ngừng chiến đấu chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực phản động xâm phạm biên giới và các loại tội phạm để bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; lăn lộn, sẻ chia “ba cùng”, “bốn bám”, giúp đỡ đồng bào các dân tộc tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, làm tròn vai “thầy thuốc quân hàm xanh”, “thầy giáo quân hàm xanh”…, tích cực xây dựng nền biên phòng toàn dân, tham gia xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Từ năm 2009 đến nay, Đồn Biên phòng Đàm Thủy vừa tổ chức tuần tra vừa vận động nhân dân tuần tra, phát quang đường tuần tra với hàng nghìn lượt người dân tham gia. Trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, đơn vị đã chủ trì, phối hợp với các lực lượng chức năng bắt giữ, xử lý hàng trăm vụ, hàng nghìn đối tượng vi phạm pháp luật như: giết người, hiếp dâm, trốn truy nã, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng, mua bán vật liệu nổ, buôn bán vận chuyển tiền tệ trái phép... Tang vật thu được gồm 1 khẩu súng K54, 2.112kg pháo các loại, 31.340kg quặng, 51,7kg ngà voi, xử phạt hành chính trên 200 triệu đồng... Đặc biệt, trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, đơn vị đã bắt 59 vụ với 75 đối tượng, thu giữ 42 bánh hê-rô-in và 940,78g ma túy đá, 1.865 viên ma túy tổng hợp...

Lấy xây dựng chính trị làm cơ sở

Trao đổi với chúng tôi, Thiếu tá Nguyễn Xuân Mạnh, Bí thư Đảng ủy, Chính trị viên Đồn Biên phòng Đàm Thủy cho biết: Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay, cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Cấp ủy, chỉ huy đơn vị thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, đoàn kết thống nhất cao trong nội bộ. “Thành quả này được bồi đắp qua việc tập trung đẩy mạnh, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, lời dạy của Bác Hồ đối với BĐBP gắn với thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới”, Thiếu tá Nguyễn Xuân Mạnh nhấn mạnh.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn được Đảng ủy, chỉ huy đơn vị quan tâm, triển khai thông qua kế hoạch học tập chính trị. Trong các buổi sinh hoạt chi bộ và sinh hoạt đơn vị, Đảng ủy tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ học tập các chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tọa đàm về học tập đạo đức, phong cách của Bác; chỉ đạo cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên xây dựng kế hoạch phấn đấu học tập, rèn luyện theo đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với BĐBP, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ; hằng tháng, hằng quý đều đánh giá, kiểm điểm việc học tập và làm theo của tập thể, cá nhân. Đồng thời, gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và gắn với các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, của Quân đội, của lực lượng BĐBP, đặc biệt là tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ Chính trị về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Phát huy vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ủy Đồn, cấp ủy các chi bộ trực thuộc đã thực hiện tốt việc quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đội ngũ cán bộ, đảng viên Đồn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng; sâu sát với quần chúng; gương mẫu chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những điều đảng viên không được làm; kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm khuyết điểm, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, có kế hoạch kiên quyết khắc phục những hạn chế, tồn tại, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị. Kiểm tra nhận thức chính trị hằng năm, 100% cán bộ, đảng viên của đơn vị đều đạt yêu cầu, trên 85% đạt loại khá, giỏi.

Đơn vị cũng đã triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng ủy BĐBP về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong BĐBP giai đoạn mới”. Cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên chú trọng việc ban hành và duy trì nghiêm quy chế lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ. Tập trung nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình, bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo công khai, dân chủ. Phân tích chất lượng đảng viên hằng năm cho thấy 100% đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, trong đó 90% trở lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thực hiện Đề án “Phát triển đảng viên là chiến sĩ nghĩa vụ trong BĐBP tỉnh Cao Bằng”, từ năm 2009 đến nay Đảng bộ đã kết nạp được 72 đảng viên.

Với những kết quả đạt được, Đảng bộ Đồn Biên phòng Đàm Thủy 10 năm liên tục (2009-2019) đạt trong sạch, vững mạnh; 5 năm liền đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Từ năm 2009 đến nay, Đồn Biên phòng Đàm Thủy liên tục đạt danh hiệu Đơn vị Quyết thắng và được tặng thưởng 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất, 3 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 4 Bằng khen của Bộ Quốc phòng, 4 Cờ thi đua và 24 Bằng khen của UBND tỉnh Cao Bằng, 8 Bằng khen của Bộ Tư lệnh BĐBP... 

Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc

Đối với các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy, thành tích lớn nhất là xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc. Câu chuyện về xóa “điểm nóng” Lũng Phi-ắc cho đến nay vẫn được người dân xã Đàm Thủy nhắc đến, nhớ mãi đóng góp to lớn của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy đối với nhân dân nơi đây. Còn nhớ, những năm trước gần 250 hộ dân xóm Lũng Phi-ắc rộ lên đào quặng trái phép bán sang Trung Quốc. Người dân bỏ ruộng nương khiến nhiều mảnh ruộng trở thành đồng hoang, tình hình an ninh trật tự diễn ra phức tạp.

Trước tình hình đó, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương rà soát, phân loại, xây dựng kế hoạch, biện pháp phù hợp để quản lý địa bàn, đối tượng. Phân công đồng chí chính trị viên phó tăng cường về xóm Lũng Phi-ắc giữ chức bí thư chi bộ để củng cố tổ chức đảng và lãnh đạo, triển khai các mặt công tác của xóm. Mọi trường hợp vi phạm đều được xử lý nghiêm theo pháp luật, giải quyết dứt điểm các vấn đề về an ninh biên giới, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Kết quả, an ninh chính trị tại địa bàn được khôi phục, dần ổn định trở lại. Bộ máy đảng, chính quyền từng bước được kiện toàn, đi vào hoạt động hiệu quả. Kinh tế từng bước phát triển lành mạnh, vụ việc vi phạm pháp luật cũng như tệ nạn xã hội được đẩy lùi. TCCSĐ, chính quyền và các tổ chức quần chúng được khôi phục, củng cố. Chi bộ Lũng Phi-ắc đã được tăng cường thêm đảng viên về sinh hoạt, nâng tổng số đảng viên của chi bộ từ 7 lên 23 đồng chí với 3 tổ đảng, do 3 cán bộ thuộc Đồn Biên phòng Đàm Thủy làm tổ trưởng. Từ đó, hệ thống chính trị cơ sở ở xóm Lũng Phi-ắc đã được kiện toàn và từng bước phát huy tác dụng, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới.

Người dân nơi đây còn truyền tai nhau nhiều câu chuyện cảm động về những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy hết lòng vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân, như: Giúp dân làm đường giao thông nông thôn; thu hoạch lúa, ngô; xây dựng chuồng trại, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng; áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất... Rồi chuyện cán bộ biên phòng được bà con vào tận Đồn mời lên bản dự lễ mừng cơm mới, lễ đầy tháng con và xin cho con của họ được làm con nuôi Đồn Biên phòng (mô hình đã được Bộ Tư lệnh BĐBP phát động từ tháng 7-2019)... Thế mới thấy sự yêu mến, tin tưởng tuyệt đối của đồng bào các dân tộc nơi đây với cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đàm Thủy, mới thấm thía ý nghĩa của câu nói: “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”