Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Tăng cường vai trò giám sát để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bầu cử.

 Hoạt động kiểm tra, giám sát của mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp không chỉ góp phần làm cho việc thực hiện quy trình bầu cử dân chủ, công khai, minh bạch, mà còn kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phát hiện những vi phạm pháp luật về bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử thật sự dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thật sự là ngày hội của toàn dân.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ diễn ra vào ngày 23-5-2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới.

Hoạt động kiểm tra, giám sát của mặt trận Tổ quốc (MTTQ) góp phần không nhỏ để cuộc bầu cử ĐBQH khoá XV và HĐND các cấp lựa chọn được những đại biểu xứng đáng thay mặt nhân dân tham gia cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực cao nhất. Điều này cũng thể hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trong việc lựa chọn, bầu ra những đại diện xứng đáng tham gia ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, đồng thời thực hiện chức năng, nhiệm vụ tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước của MTTQ, thực hiện được vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân.

MTTQ Việt Nam thực hiện kiểm tra, giám sát các việc sau: Thành lập và hoạt động của Hội đồng Bầu cử quốc gia và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương; việc giới thiệu người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và việc nộp hồ sơ ứng cử của người ứng cử, người được giới thiệu ứng cử; việc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; việc lập, niêm yết danh sách cử tri; việc lập, niêm yết danh sách những người ứng cử; việc tuyên truyền, vận động bầu cử; trình tự bỏ phiếu, việc kiểm phiếu; việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến công tác bầu cử; việc triển khai thực hiện kiểm tra, giám sát bầu cử.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát của hệ thống MTTQ trước và trong bầu cử, chia làm 3 đợt, đợt 1 từ ngày 20-2-2021 đến ngày 13-4-2021; đợt 2 từ ngày 13-4-2021 đến ngày 22-5-2021; đợt 3 trong ngày tổ chức bầu cử 23-5-2021. MTTQ Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát công tác bầu cử. Ban Thường trực Trung ương MTTQ Việt Nam yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát công tác bầu cử của ủy ban MTTQ các cấp phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, kịp thời, tiết kiệm, hiệu quả, đúng nội dung và tiến độ theo kế hoạch đề ra. Khi phát hiện vi phạm phải kịp thời kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết, đồng thời phải báo cáo ngay Thường trực Ban Chỉ đạo công tác bầu cử của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ban thường trực ủy ban MTTQ các cấp để xem xét giải quyết, chịu trách nhiệm về những kiến nghị của đoàn kiểm tra, giám sát hoặc của cá nhân cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Ban thường trực ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh, thành phố đã xây dựng kế hoạch giám sát công tác bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, đồng thời các địa phương tổ chức triển khai trong hệ thống MTTQ và các tổ chức thành viên để thực hiện. Hàng nghìn cán bộ MTTQ và các tổ chức thành viên đã được tập huấn công tác bầu cử. Ủy ban MTTQ các địa phương đã phối hợp với ủy ban bầu cử, thường trực HĐND cùng cấp và các tổ chức thành viên thực hiện công tác giám sát theo kế hoạch, nhằm đánh giá tình hình công tác tổ chức, triển khai, thực hiện việc chấp hành các quy định của pháp luật về công tác bầu cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 trên địa bàn; làm rõ những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan; kịp thời phát hiện và kiến nghị để khắc phục những hạn chế, sai sót trong quá trình thực hiện công tác bầu cử.

Sau Hội nghị hiệp thương lần thứ hai, ban thường trực ủy ban MTTQ các tỉnh, thành phố và huyện đã có kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử ĐBQH khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Ban thường trực ủy ban MTTQ các xã, phường, thị trấn thuộc các tỉnh đã chủ động phối hợp với UBND cùng cấp tổ chức các hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử theo kế hoạch. Ban thường trực ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện tổ chức các hội nghị hướng dẫn cách thức tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử, tự ứng cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc của người tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Các ý kiến, kiến nghị, phản ánh về người ứng cử đều được xác minh và trả lời cử tri theo đúng quy định.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã tổ chức các đoàn giám sát việc triển khai công tác bầu cử tại các tỉnh, thành phố. Kết thúc mỗi đợt giám sát, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ tổng hợp báo cáo kết quả giám sát, trong đó có những vấn đề kiến nghị, phát sinh gửi tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, các tỉnh được giám sát và các cơ quan hữu quan có liên quan để kịp thời xem xét, giải quyết.

Đến ngày 22-3-2021, các cơ quan phụ trách bầu cử ở Trung ương và địa phương đã được thành lập đúng tiến độ, số lượng và thành phần theo quy định của pháp luật, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Các địa phương đã xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác bầu cử trên địa bàn nghiêm túc, đúng tiến độ và đúng quy định. Các tỉnh, thành phố đã kịp thời nắm bắt, hướng dẫn, giải đáp vướng mắc và chỉ đạo cấp dưới triển khai công tác bầu cử theo đúng quy định và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Công tác tuyên truyền được triển khai với nhiều hình thức, nội dung phong phú.

Ban thường trực ủy ban MTTQ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã phối hợp chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác bầu cử kịp thời nhằm hạn chế tối đa những vụ việc trở thành “điểm nóng”. Tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội  được kiểm soát tốt, ổn định; cấp ủy, chính quyền các địa phương đều tăng cường bám sát cơ sở, nắm chắc dư luận; bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin tuyên truyền; đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng bầu cử để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;  có các biện pháp dự báo, phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng cuộc bầu cử để tuyên truyền, kích động, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, tăng cường công tác giữ gìn an ninh trật tự tại các địa phương giáp biên giới, bảo đảm không có điểm nóng về an ninh trật tự ảnh hưởng đến kết quả cuộc bầu cử. Đặc biệt chú ý địa bàn giáp ranh với các tỉnh lân cận, tránh để hình thành “điểm trắng” cho các phần tử xấu lợi dụng, hoạt động phá hoại.

Kiểm tra, giám sát cũng cho thấy Bộ Chính trị, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các địa phương chủ động triển khai công tác bầu cử, tập huấn, quán triệt nghiêm túc, bài bản các quan điểm, yêu cầu của cuộc bầu cử đến cấp cơ sở. Công tác chuẩn bị nhân sự ứng cử được tiến hành thận trọng, bảo đảm đúng quy trình lựa chọn, giới thiệu người ứng cử. Quá trình hiệp thương đã cân đối hợp lý cơ cấu, thành phần ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp, chú ý thành phần đại biểu nữ, trẻ tuổi, ngoài Đảng, người dân tộc thiểu số, có trình độ chuyên môn cao và đại diện cho các thành phần xã hội. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để danh sách sơ bộ người ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp có một số thành phần cơ cấu đạt tỷ lệ rất cao.

Từ nay đến thời điểm diễn ra bầu cử không còn dài, việc thực hiện các quy trình tiếp theo có ý nghĩa hết sức quan trọng như: Tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; phân bổ ứng cử viên ĐBQH ở Trung ương về ứng cử tại các địa phương; tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lựa chọn, lập danh sách chính thức người ứng cử; công bố danh sách chính thức những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử; rà soát danh sách cử tri; niêm yết danh sách những người ứng cử; người ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc cử tri thực hiện vận động bầu cử, báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động nếu trúng cử; cấp phát kinh phí, chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết phục vụ ngày bầu cử...

Các địa phương trong cùng một thời điểm phải chuẩn bị và tiến hành cả công tác bầu cử ĐBQH và bầu cử đại biểu HĐND nên khối lượng công việc nhiều, thời gian dành cho công tác chuẩn bị và triển khai thực hiện lại ngắn nên tạo áp lực lớn với đội ngũ cán bộ cơ sở. Vì vậy, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến công tác bầu cử, nhất là ở cấp cơ sở. Đặc biệt là sẵn sàng tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh về bầu cử, giải đáp, hướng dẫn kịp thời. Từ nay tới khi tiến hành hội nghị hiệp thương lần thứ ba, tất cả các vấn đề vướng mắc đối với các ứng cử viên phải được làm rõ. MTTQ các cấp khi kiểm tra, giám sát cần linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, bảo đảm đúng luật và tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Gắn chặt kiểm tra, giám sát với tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của nhân dân, người ứng cử, phát huy tính giám sát toàn dân.

Việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ, phù hợp với tiến trình của cuộc bầu cử không chỉ cho thấy vai trò kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, mà còn thể hiện trách nhiệm của cơ quan đại đoàn kết vì mục tiêu bảo đảm cho cuộc bầu cử được tổ chức dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội của toàn dân.

 

Đấu tranh chống âm mưu đòi "chuyển đổi thể chế chính trị" 

ở Việt Nam

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch đã tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam.

Trong đó có âm mưu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi chuyển đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.       

Tổng Bí thư Lê Duẩn - Tổng công trình sư của phong trào cách mạng giải phóng miền Nam Việt Nam.

 Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986) sinh tại xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Quá trình hoạt động cách mạng của ông bắt đầu từ rất sớm. Năm 1928, đồng chí tham gia Đảng Tân Việt, năm 1929 tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, năm 1930 là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên của Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó). Năm 1931, đồng chí Lê Duẩn là Ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc kỳ, bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù giam và lần lượt bị giam ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Côn Đảo.

Nhiệt huyết của người chiến sỹ cộng sản

Năm 1936, nhờ kết quả của phong trào đấu tranh cách mạng trong nước và thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, Lê Duẩn được trả lại tự do. Ngay lập tức, đồng chí liên lạc với tổ chức và trực tiếp tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Trung, giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung kỳ. Năm 1939, đồng chí là Ủy viên BCH Trung ương Đảng và dự Hội nghị lần thứ VI BCH Trung ương (tháng 11-1939), góp phần cùng Trung ương Đảng thực hiện chuyển hướng chiến lược cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp đoàn kết quần chúng đấu tranh trong thời kỳ mới. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt ở Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đồng chí được trả tự do, sau đó trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Lê Duẩn đã cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng, củng cố hệ thống tổ chức đảng trong toàn xứ, tổ chức nghiên cứu đường lối kháng chiến, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đấu tranh ở nông thôn, đẩy mạnh công tác dân vận… Tại Đại hội Đảng bộ xứ Nam Bộ (cuối năm 1947), đồng chí Lê Duẩn đã được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Từ thực tiễn hoạt động, nghiên cứu sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, vận dụng trên chiến trường Nam Bộ, những ý kiến của Lê Duẩn về vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, địa chủ…; về việc giải quyết ruộng đất ở Nam Bộ; về xây dựng và củng cố khối đoàn kết trong hàng ngũ cách mạng, nhất là khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng… đã chứng minh tính đúng đắn của những vận dụng này, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Lê Duẩn cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ đã triển khai sáng tạo và hiệu quả chủ trương, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng ta, gắn chặt với thực tiễn cách mạng sinh động và phức tạp tại Nam Bộ.

Với tầm nhìn chiến lược và đúng đắn, ông đã thu hút và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhiều nhân sĩ trí thức có tiếng ở Nam Bộ tham gia kháng chiến. Đồng chí Lê Duẩn thực sự là “ngọn đèn pha”(1) rọi sáng, dẫn dắt cuộc đấu tranh tại chiến trường Nam Bộ trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.

Người kiến thiết đường lối cách mạng miền Nam

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, cách mạng miền Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức với chính sách đàn áp tàn bạo “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm… Đồng chí Lê Duẩn xin Trung ương cho ở lại Nam Bộ, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ. Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng viết: “Năm mươi năm nhìn lại và suy ngẫm, càng thấu hiểu ý nghĩa lớn lao và phẩm cách cao cả của nhà yêu nước và nhà hoạt động cách mạng Lê Duẩn với quyết định xin ở lại miền Nam sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ mà Bác Hồ và Trung ương giao cho sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chiếc tàu áp chót neo đậu ở thị trấn Sông Đốc, Cà Mau. Anh Ba lên tàu như người đi tập kết để che mắt kẻ thù, đến nửa đêm Anh bí mật rời tàu, quay trở lại. Trong hồi tưởng, tôi rất xúc động và cảm phục khi nghĩ về sự kiện lớn lao đó”(2).

Dự cảm được chặng đường kháng chiến đầy chông gai và lâu dài, khi tiễn chân đồng chí Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) từ Nam Bộ xuống tàu ra Bắc (năm 1955), đồng chí Ba Duẩn đã nói: “Anh ra báo cáo với Bác Hồ và các anh trong Bộ Chính trị, 20 năm nữa, chúng ta sẽ gặp nhau”. Sau ngày toàn thắng, trả lời câu hỏi: “vì sao anh Ba nêu 20 năm?”, đồng chí Sáu Thọ giải thích rằng, “đó là vì anh Ba đã sớm thấy cách mạng miền Nam không tránh khỏi sẽ phải đối đầu với quân xâm lược Mỹ; do nhiều nguyên nhân cuộc đụng độ lịch sử này sẽ vô cùng ác liệt trong thời gian dài”(3).

Với sự am hiểu sâu sắc chiến trường Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn cùng Xứ ủy tiếp tục bám sát địa bàn công tác, dựa chắc vào quần chúng, tổ chức củng cố, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng. Năm 1956, đồng chí dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam ngay tại chính địa bàn trung tâm đầu não của đối phương. Đề cương chỉ rõ chính quyền miền Nam Việt Nam là chính quyền thực dân kiểu mới, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chà đạp thành quả cách mạng nhân dân ta giành được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng thời xác định rõ đối tượng của cách mạng miền Nam là đế quốc và phong kiến; kẻ thù cụ thể và trước mắt của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ xâm lược, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản phản động, tay sai của đế quốc Mỹ và bản chất của chính quyền Ngô Đình Diệm là “con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới”. Từ đó, đồng chí đã viết: “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác”. Bản Đề cương cách mạng miền Nam ra đời trong thời điểm lịch sử bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có ý nghĩa hết sức quan trọng, cho thấy tư duy sắc sảo, nhãn quan chính trị sáng suốt của đồng chí Lê Duẩn, kết tinh trí tuệ của Đảng và thấm đẫm hơi thở của thực tiễn cách mạng. Văn kiện này góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và chính trị cho các văn kiện quan trọng tiếp theo như Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960)… về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta.

Cuối năm 1957, theo điều động của Trung ương, đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội, tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, chuẩn bị văn kiện tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tại Đại hội III (năm 1960), đồng chí được bầu vào BCH Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao khó khăn, sóng gió, đối mặt với những chuyển biến phức tạp của tình hình quốc tế, phong trào cộng sản thế giới và sức mạnh của đế quốc Mỹ cùng tay sai trên chiến trường miền Nam.

Khát vọng và quyết tâm giải phóng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn luôn thể hiện trong từng lời phát biểu tại các cuộc họp Bộ Chính trị, trong các bức điện, thư, chỉ thị gửi các đồng chí lãnh đạo miền Nam trong giai đoạn từ đầu năm 1961 đến năm 1975. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của tinh thần cách mạng triệt để, ý chí tiến công quyết liệt, quyết tâm đánh thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đồng chí Lê Duẩn cùng các đồng chí Lãnh đạo Đảng từng bước cụ thể hóa đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, tranh thủ sự giúp đỡ và đoàn kết quốc tế để tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trên chiến trường miền Nam, từ sự kiện Đồng khởi (năm 1960) đến các chiến thắng ở Núi Thành (5-1965), Vạn Tường  (8-1965) đã minh chứng khả năng của ta đánh bại quân Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực; tạo đà cho quân dân ta ở hai miền Nam - Bắc tiến lên giành những thắng lợi mới, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Với chiến thắng của quân và dân miền Nam mùa khô 1965-1966, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận bước vào bàn đàm phán với chúng ta.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (năm 1969), đồng chí Lê Duẩn đã kế tục và hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ vĩ đại của nhân dân ta. Thắng lợi lịch sử trong trận Điện Biên Phủ trên không (năm 1972) và việc ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973 đã tạo ra một bước ngoặt căn bản cho việc chuẩn bị kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí đã khẳng định: “Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”(4). Ngay khi chuẩn bị lực lượng, chờ đợi và nắm bắt thời cơ, cho đến khi quyết định tổ chức Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), hàng loạt thư từ, điện đàm, chỉ thị… của đồng chí Lê Duẩn gửi vào chiến trường cho thấy sự sát sao, nhạy bén và khát vọng giải phóng miền Nam của ông.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh chính là một minh chứng về sự đóng góp của đồng chí Lê Duẩn vào sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Đại tướng Hoàng Văn Thái đã viết: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, do Hồ Chủ tịch đứng đầu - sau khi Người qua đời do Tổng Bí thư Lê Duẩn kế tục - thực sự là Bộ Thống soái kiệt xuất trong chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam”(5). Đồng chí Lê Duẩn chính là một tổng công trình sư của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần quan trọng trong quá trình thiết kế, phát triển, cụ thể hóa và hoàn chỉnh đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam nói riêng, đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, cũng như tổ chức thực hiện một cách năng động, sáng tạo đường lối đó.

Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976) và lần thứ V (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn được bầu vào Trung ương, Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư. Từ năm 1978 đến năm 1984, ông làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong bối cảnh quốc tế khó khăn và phức tạp, Tổng Bí thư Lê Duẩn luôn kiên trì giữ vững tư tưởng độc lập dân tộc như một điều bất khả xâm phạm trong đường lối lãnh đạo đất nước của mình.

-----

(1) Nhà trí thức Phạm Ngọc Thuần đã ví von đồng chí Lê Duẩn là “Anh Ba deux cents bougies” (ngọn đèn 200 nến) - cách ví đã trở nên rất phổ biến ở Nam Bộ thời chống thực dân Pháp. (2) Nhớ đồng chí Lê Duẩn, đăng tải trên website www.nhandan.com.vn, ngày 16-8-2006. (3) Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Hồi ký, NXB CTQG, H.2002, tr.491. (4) Lê Duẩn: Thư vào Nam, NXB Sự thật, H.1985, tr.375. (5) Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, NXB Quân đội nhân dân, 1985, tr.321.

Xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên giáo. Người không chỉ là hiện thân của “Tổng tư lệnh tối cao” trên mặt trận tư tưởng, mà còn để lại những quan điểm, tư tưởng quý báu về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo, có phương pháp làm việc khoa học,… đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng đất nước.




Bác Hồ về thăm quê Nam Đàn, Nghệ An (năm 1957). Ảnh: TL.

Khắc ghi lời Bác dạy…

Bàn về vai trò của công tác tuyên giáo và đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đội ngũ cán bộ tuyên giáo và công tác tuyên truyền được xem như là một mặt trận tư tưởng chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, lạc hậu và ủng hộ cái mới, cái tốt, cái tiến bộ, khơi dậy ý chí và động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân, làm cho “Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng”(1). Do vậy, ngay từ khi gia nhập và hoạt động tại Đảng Xã hội Pháp, Người đã tìm cách thông qua hoạt động báo chí để tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thức tỉnh tinh thần yêu nước của bà con Việt kiều và cũng qua họ tìm cách đưa một số tài liệu báo chí về nước bằng nhiều con đường khác nhau để giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc của nhân dân ta. Người đã lựa chọn một số thanh niên tiêu biểu đưa sang đào tạo tại Liên Xô, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho một số thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị đội ngũ cán bộ trở về nước để tổ chức hoạt động, đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Ban Tuyên giáo cũng được thành lập. Trải qua các chặng đường lịch sử vẻ vang của Đảng, Ban Tuyên giáo không ngừng lớn mạnh, trực tiếp đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã và đang góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phương pháp, tác phong của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm bồi dưỡng. Người căn dặn cán bộ tuyên giáo phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình, trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch, phải biết chịu kham khổ, biết nhẫn nại. Đồng thời, Người chỉ rõ công tác tuyên giáo phải xuất phát từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động; phải phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng ta, của dân tộc.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi (ngày 31-8-1963), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tính Đảng là nguyên tắc và nền tảng của công tác tuyên giáo, nó bảo đảm cho các hoạt động tuyên giáo của Đảng giữ vững lập trường giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân; tính khoa học của công tác tuyên giáo phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ quy luật phát triển của xã hội, lấy đó làm cơ sở giải thích cho nhân dân hiểu một cách có căn cứ khoa học những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó, họ hành động tự giác, có hiệu quả. Người yêu cầu cán bộ tuyên giáo phải có phong cách đi sâu, đi sát cơ sở, đến những mũi nhọn của mặt trận sản xuất và chiến đấu, nơi có phong trào khá và cả những nơi có phong trào kém, phát hiện và giải đáp được những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Vì theo Người, chỉ có đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội thì mới tìm hiểu, đánh giá đúng thực chất tình hình công tác tuyên giáo của địa phương, đơn vị, mới phát hiện được những vấn đề mới, nhân tố mới, những điển hình tốt, người tốt việc tốt để cổ vũ, biểu dương, nhân rộng, đồng thời vạch ra những hiện tượng, những biểu hiện sai trái để phê phán, uốn nắn nhằm đẩy mạnh việc phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vừa hồng, vừa chuyên

Học tập và làm theo tư tưởng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên giáo, trong suốt chặng đường cách mạng kháng chiến kiến quốc, Đảng ta luôn khẳng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường phát triển. Công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong thời gian tới, dự báo tình hình thế giới, trong nước sẽ tiếp tục có những diễn biến mới, phức tạp, nhanh chóng, khó lường. Tình hình kinh tế - xã hội nước ta bên cạnh thành tựu lớn cũng xuất hiện những khó khăn và thách thức mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta nêu ra từ Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khoá VII vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Bên cạnh đó, bốn vấn đề bức xúc trong xã hội hiện nay là an toàn an ninh mạng, an toàn môi trường, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm đang hằng ngày, hằng giờ tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng, chất lượng cuộc sống và sức khoẻ, tính mạng của nhân dân. Các tệ nạn xã hội còn nảy sinh phức tạp, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Lợi dụng những khó khăn này, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, hòng gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” mưu đồ làm thay đổi chế độ chính trị nước ta, đã tác động đến tư tưởng trong Đảng và trong xã hội.

Trước tình hình đó, công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn Dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng; có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh; tinh thông, nhanh nhạy và sáng tạo, có phương pháp làm việc khoa học… xứng đáng là “người chiến sĩ xung kích trên mặt trận tuyên giáo của Đảng” có vai trò vô cùng quan trọng trong tình hình hiện nay.

Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp của Đảng ta hiện nay cần phấn đấu, rèn luyện về phẩm chất, năng lực trên các tiêu chí cụ thể như:

Thứ nhất, cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị, tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức lối sống trong sáng, lành mạnh, phải có “tâm” và “tầm”. Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu của người cán bộ tuyên giáo. Là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng, là người gieo niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, vì vậy bản thân các cán bộ làm công tác tuyên giáo phải thực sự là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, tư tưởng, sự kiên định vững vàng và đạo đức, lối sống để nâng cao tính đảng, tính chiến đấu và tính thuyết phục của công tác tuyên giáo. Cán bộ làm công tác tuyên giáo không được xa rời quan điểm của Đảng, luôn thấm nhuần quan điểm của Đảng, lập trường giai cấp để giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu biết đúng đắn những hiện tượng và sự kiện của đời sống xã hội; đứng trước khó khăn của cách mạng không bị tác động, ảnh hưởng của những cám dỗ từ mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; không bị tác động bởi các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; dù ở đâu, làm gì, mỗi bài viết, bài nói đều phải theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng để tạo sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội; làm tăng niềm tin, thúc đẩy hành động để tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách.

Cái “tâm” của cán bộ tuyên giáo thể hiện rõ trong sự kiên định với lý tưởng, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng. Đó thực chất là bản lĩnh vững vàng trước cám dỗ của cơ chế thị trường, dũng cảm trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chống quan điểm sai trái, thù địch; trong sáng, lành mạnh trong lối sống. Còn cái “tầm” của cán bộ tuyên giáo lại thể hiện ở sự am hiểu sâu sắc, ở trình độ chuyên môn khoa học, được đào tạo cơ bản trên một nền tảng văn hóa vững chắc. Cái tầm của người cán bộ tuyên giáo ngày nay thể hiện sự nhạy bén, chủ động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh; dám nghĩ, dám làm trong đổi mới nội dung, phương thức công tác tuyên giáo; sự thông thạo trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào công việc một cách hiệu quả; có nhãn quan dự báo tình hình và nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội.

Thứ hai, cán bộ tuyên giáo phải là người biết nêu gương, chủ động, nhạy bén, sáng tạo, kịp thời tham mưu làm tốt công tác tư tưởng tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Trong khi các thế lực thù địch đang đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây bất ổn an ninh chính trị, điều này đặt ra cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo phải am hiểu cả về lý luận và thực tiễn để vận dụng vào công tác của mình một cách có hiệu quả. Nâng cao năng lực dự báo, định hướng tuyên truyền kịp thời. Chủ động nghiên cứu, tham mưu có hiệu quả việc tổng kết thực hiện các chỉ thị, nghị quyết; phân tích, lý giải về những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới từ thực tiễn cuộc sống ở cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận của Nhân dân. Tích cực, chủ động đổi mới phương thức hoạt động; vận dụng sáng tạo phương thức hoạt động theo nhóm để có nhiều sáng kiến dự báo, giải pháp xử lý các tình huống tư tưởng; sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật, công nghệ thông tin hiện đại để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đi sâu, sát thực tiễn, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận và tâm trạng xã hội để tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức xúc nổi lên trên địa bàn mà dư luận xã hội quan tâm.

Thứ ba, cán bộ tuyên giáo phải là người say mê, tâm huyết và luôn trao dồi kiến thức, kỹ năng nói, viết để nâng cao năng lực công tác. Công tác tuyên giáo hiện nay có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn, phức tạp. Trong điều kiện đó, để hoàn thành tốt nhiệm vụ cần có lòng say mê, tận tụy và tâm huyết nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bởi trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tuyên giáo là tuyên truyền thông qua nói, viết để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; đồng thời, quan trọng hơn là thông qua đó làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng và thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách đó. Theo đó, cần thực hiện đúng chỉ dẫn của Người là: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp: “Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?”(2).

Thứ tư, cán bộ tuyên giáo phải luôn hướng về cơ sở, bám sát thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì phương pháp lãnh đạo, phong cách quản lý, cách tổ chức, cách đặt kế hoạch phải phù hợp với quần chúng; phải luôn hướng về cơ sở, sâu sát cơ sở, luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Có như vậy, cán bộ tuyên giáo mới nắm bắt được tình hình, những diễn biến tư tưởng, những “điểm nóng”, tình huống tư tưởng nảy sinh, mới có thể dự báo, kịp thời tham mưu được các giải pháp đúng đắn. Đồng thời, việc gắn bó mật thiết với nhân dân sẽ giúp người cán bộ tuyên giáo đúc rút được nhiều kinh nghiệm hay; đồng thời gắn với thực tiễn cũng chính là để phát hiện, đánh giá hiệu quả các nghị quyết của Đảng đã đi vào cuộc sống như thế nào, có gì cần tham mưu, đề xuất khắc phục, sửa chữa những chỗ chưa hợp lý. Đồng thời cổ vũ nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để tổng kết, đánh giá và phổ biến, nhân rộng.

Thứ năm, phải có phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả. Phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ có tri thức, nhiệt tình, nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Đồng thời, để cán bộ yên tâm công tác, không vì chủ quan nóng vội mà làm ẩu cho xong việc, mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Bác, mọi cán bộ, đảng viên phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, từ đó mới đảm bảo tính nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và phát huy tinh thần sáng tạo của mọi người trong thực hiện công việc. Đối với công tác tuyên giáo, người cán bộ cần có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, tư duy, độc lập, sáng tạo; tránh xa lối giáo điều, vay mượn, mà tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tìm ra cái đúng, phù hợp thực tiễn.
Những tư tưởng và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo của Đảng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta đã chỉ rõ: “Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trưng bày triển lãm, tuyên truyền cổ động được tổ chức sôi nổi, rộng khắp từ Trung ương đến cơ sở, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao và du lịch trọng đại của đất nước, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân”(3). Đảng ta cũng khẳng định các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở đã: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động định hướng thông tin tuyên truyền của Đảng và đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Triển khai mạnh mẽ, rộng rãi thông tin, tuyên truyền về công tác xây dựng Đảng, nhất là thông qua Giải báo chí về xây dựng Đảng (mang tên “Búa liềm vàng”) và Giải “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”(4). Do vậy, hoạt động này cần được đặc biệt coi trọng và tiến hành thường xuyên, liên tục theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ ra là: “Hình thành thị trường sản phẩm dịch vụ văn hóa, thông tin lành mạnh góp phần làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, xu hướng phát triển xã hội, đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ”(5). Đồng thời, thực hiện chủ trương: “Xây dựng các cơ quan báo chí, tổ hợp truyền thông chủ lực đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng thông tin tuyên truyền thiết yếu, làm chủ mặt trận thông tin”(6). 

Trong bối cảnh hiện nay, để chủ trương, đường lối của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, đạt được thành quả, đáp ứng được nguyện vọng của Nhân dân tất yếu cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo vững mạnh, nhất là về năng lực, trình độ, phẩm chất, bản lĩnh chính trị ngang tầm nhiệm vụ là nội dung vô cùng quan trọng, vừa cấp bách, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài.

----------------------------------------

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H. 2011, tập 7, tr.415.
(2). Sách đã dẫn, tập 14, tr.159.
(3). Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.4.
(4). Sách đã dẫn, tập II, tr.216.
(5). Sách đã dẫn, tập II, tr.263.
(6). Sách đã dẫn, tập I, tr.272.

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị.

 Sáng 15-4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-2-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là Hội nghị toàn quốc đầu tiên để quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng.



Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đồng chủ trì Hội nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Hội nghị nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân cả nước cũng như trong vùng nhằm sớm đưa Nghị quyết quan trọng này vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển vùng. Hội nghị khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, mở đường cho những cơ chế chính sách mới để phát triển vùng. 
Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Mai Văn Chính, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Đảng uỷ cơ quan chủ trì. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Ban; lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị trong Ban.

Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương.


 

Chấn chỉnh sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn trên mạng Internet

Quan sát các trang mạng xã hội, có thể dễ dàng thấy nhiều biểu hiện của sự lệch lạc tiếng Việt trong cách nói và cách viết, từ việc làm biến dạng vỏ từ ngữ hay cố tình viết sai chính tả, chẳng hạn: buồn viết thành bùn, luôn thành lun, rồi viết thành rùi, nhé viết thành nhóe, nhá thành ná, xinh thành xưn/xuynh/xynh, mình thành mềnh, yêu thành iu, thế thành thía, hoặc chêm xen tiếng Anh khi giao tiếp… 

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa

 

Đứng chân tại xã đảo Thổ Châu, thành phố Phú Quốc (Kiên Giang) xa đất liền hàng trăm kilomet, điều kiện đi lại khó khăn, nhưng với tinh thần vì nhân dân phục vụ, thời gian qua Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 (Quân khu 9) được xem là điểm tựa của người dân trong điều trị bệnh, chăm sóc sức khỏe.

19 giờ ngày 11-9-2021, Bệnh xá Quân dân  y Trung đoàn 152 tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Văn A, 35 tuổi, ngư dân thành phố Phú Quốc (Kiên Giang) với tình trạng có nhiều vết thương trên cơ thể, trong đó có vết thương ở ổ bụng chảy nhiều máu được xác định là do xô xát.

Ngay lập tức, bệnh nhân được thăm khám, tiến hành hồi sức, chụp X-quang, truyền dịch lấy máu làm xét nghiệm cấp cứu và hội chẩn. Kết quả chẩn đoán cho thấy bệnh nhân bị đa vết thương, vết thương thấu bụng. Bệnh nhân nhanh chóng được chuyển lên phòng mổ để phẫu thuật cấp cứu xử lý vết thương. Kíp phẫu thuật do Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức, Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn 152 trực tiếp thực hiện. Bệnh nhân bị rách động mạch chủ bụng, vết thương bó mạch thượng vị dưới chảy nhiều máu, khó cầm gây nhiều khó khăn trong quá trình phẫu thuật.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y ân cần, phục vụ người bệnh. 

Ngoài ra, bệnh nhân còn bị thủng ruột già, vị trí tổn thương nằm sau các tạng quan trọng, dễ gây tổn thương các tạng xung quanh trong quá trình phẫu thuật. “Chúng tôi đã nhanh chóng tiến hành làm sạch vết thương, khâu bảo tồn vết thương manh tràng, sau đó đặt dẫn lưu manh tràng qua gốc ruột thừa và tiến hành lau rửa ổ bụng, khâu đóng lại vết mổ khâu cầm máu các tổn thương sau gần 3 giờ phẫu thuật. Hơn nửa tháng điều trị, bệnh nhân phục hồi nhanh, tình trạng ổn định và xuất viện”, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức chia sẻ.

Trước đó, ngày 21-8-2021, Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Văn Son, tàu buôn tỉnh Ninh Thuận trong tình trạng đau dữ dội ở vùng hông phải và sốt trên 370C. Theo thông tin từ người nhà, khi đang đang ở trên tàu ông Son bị đau bụng âm ỉ vùng quanh rốn, sau đó đau lan xuống hố chậu phải, kèm theo nôn nên nhanh chóng cập bờ đưa ông đến Bệnh xá Quân dân y để thăm khám. Tại đây, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức cùng kíp trực chẩn đoán bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp và quyết định mổ cấp cứu cắt ruột thừa viêm.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y phối hợp với Trạm Y tế xã Thổ Châu phẫu thuật ruột thừa cho người dân

Trong quá trình thực hiện, bác sĩ Sức thấy ruột thừa nằm ở vị trí khó, quặt ngược phía sau trong manh tràng, ngọn ruột thừa dính chặt vào thành bụng sau nên quyết định cắt ruột thừa ngược dòng. Sau 2 giờ, phần ruột thừa được cắt bỏ thành công. “Đây là trường hợp khó cả về chẩn đoán và điều trị phẫu thuật vì các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng không đầy đủ. Trong quá trình phẫu thuật, tôi thấy ruột thừa có kích thước dài, nằm ở vị trí khó, thành bụng dày khiến trường mổ khá hẹp nên đã gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện kỹ thuật. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được chuyển về hậu phẫu, điều trị thêm 3 ngày kháng sinh và ra viện. Trước khi ra về, gia đình bệnh nhân có gửi lời cảm ơn đến các y, bác sĩ của Bệnh xá đã kịp thời cứu chữa”, Thiếu tá, BSCKI Đinh Văn Sức nói.

Được biết, đó là 2 trong 11 ca bệnh nặng được các y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 phối hợp với Trạm Y tế xã Thổ Châu cấp cứu thành công trong năm 2021 và những tháng đầu năm 2022. Theo Trung úy, Bác sĩ Phùng Duy Thành, Bệnh xá trưởng Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152, xã đảo Thổ Châu hiện có hơn 2.000 người dân sinh sống tập trung và thường xuyên có gần 1.000 ngư dân vãng lai. Điều kiện khó khăn cùng với tập quán ăn uống cho nên người dân thường xuyên mắc các dịch bệnh như: Sốt xuất huyết, thủy đậu, sốt nhiễm vi rút, ngộ độc thức ăn…

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y hỗ trợ y tế địa phương khám sàng lọc Covid-19

Bên cạnh đó, các tai nạn trong quá trình lao động, sản xuất dẫn đến chấn thương sọ não, cột sống, gãy chân, tay, viêm ruột thừa cấp do lặn biển sâu cũng thường xảy ra. Chính vì vậy, những năm qua, cùng với Trạm Y tế xã Thổ Châu, Bệnh xá Quân dân y của đơn vị luôn được xem là chỗ dựa tin cậy của người dân trên đảo khi chẳng may mắc các chứng bệnh.

Được sự quan tâm sâu sát của cơ quan chuyên môn, từ ngày thành lập cho đến nay, đơn vị đã phối hợp hiệu quả với các y, bác sĩ Trạm Y tế xã Thổ Châu nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho quân và dân trên đảo. Đặc biệt, hằng năm, Bộ tư lệnh Quân khu 9 đều tăng cường kíp phẫu thuật của Bệnh viện Quân y 121 và Bệnh viện Quân y 120 ra đảo, nhờ đó hầu hết các trường hợp cấp cứu nội khoa, ngoại khoa đều được giải quyết kịp thời.

Cùng Thiếu tá Hồ Thế Lức, Tổ trưởng Tổ tăng cường, Bệnh viện Quân y 121 đến thăm các phòng bệnh, quan sát chúng tôi thấy các nhân viên, y sĩ luôn nhiệt tình hướng dẫn, giải thích cho gia đình và bệnh nhân. “Khi có một ca bệnh chuyển đến, các khâu tiếp nhận được thực hiện khẩn trương đều theo phương châm “Đến đón tiếp niềm nở-Ở chăm sóc tận tình-Về dặn dò chu đáo”. Trong thời gian điều trị do nóng lòng, hoặc do cơn đau hành hạ nên có trường hợp có những lời nói, thái độ không tốt với y, bác sĩ. Hiểu được tâm lý bệnh nhân, chúng tôi luôn động viên nhau phải thật bình tĩnh, lắng nghe, chia sẻ, cố gắng để chữa bệnh cho người dân được tốt nhất. Đáng mừng là hiện nay, không chỉ tôi mà các y, bác sĩ khác đã thành công với nhiều ca phẫu thuật khó như mổ ruột thừa, mổ bắt con; kịp thời cứu sống nhiều trường hợp bị suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, sốt xuất huyết chuyển độ…”, Thiếu tá Hồ Thế Lức tâm sự.

Điểm tựa của ngư dân nơi đảo xa
 Y, bác sĩ Bệnh xá Quân dân y Trung đoàn 152 khám bệnh cho người dân.

Trước cơn sóng đại dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát phức tạp, khó lường, y, bác sĩ Bệnh xá luôn nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ trên tuyến đầu phòng, chống dịch bệnh. Cùng với lực lượng y tế địa phương, đơn vị đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các biện phòng tránh dịch bệnh; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức diễn tập các phương án phòng, chống dịch, chuẩn bị đầy đủ phương tiện vật chất, doanh trại cho khu cách ly trong công tác phòng dịch. Song song đó, đơn vị còn tổ chức chặt chẽ việc giám sát khai báo y tế cho mọi người ra vào đảo, từ vùng có dịch về đơn vị; tổ chức khám sàng lọc và tiêm vắc xin mũi 3 cho cán bộ, chiến sĩ và toàn bộ người dân trên đảo, cùng hàng trăm ngư dân đánh bắt cá quanh đảo. “Đến thời điểm hiện tại, 100% quân và dân trên đảo đã được tiêm vắc xin mũi 3, tất cả đều thực hiện nghiêm 5K của ngành y tế. Tình hình hình dịch bệnh đã được kiểm soát tốt, mọi hoạt động của quân và dân trên đảo đã trở lại trạng thái bình thường mới”, Thiếu tá Trương Ngọc Phong, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 152 khẳng đinh.

nguồn báo quân đội nhân dân.

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành

 

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi quân nhân luôn không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847) về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Phải khẳng định, Quân đội ta là một trường học lớn, ở đó quân nhân được học tập toàn diện để nâng cao trình độ mọi mặt. Người xưa dạy rằng “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Trong môi trường quân sự, người chiến sĩ được chỉ dạy những điều nhỏ nhất như: Học sắp đặt nội vụ ngăn nắp, gọn gàng, học xưng hô, chào hỏi, đi đứng cho đúng lễ tiết, tác phong, học giao tiếp, ứng xử để giải quyết các mối quan hệ công tác... Khi vào huấn luyện, bộ đội được học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ...

Như vậy, có thể thấy rằng, quân nhân được quan tâm chăm lo giáo dục, rèn luyện toàn diện cả về phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, kỹ năng sống để có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Bất kể ở đâu, khi nào, việc học tập cũng được coi trọng dù trong sinh hoạt đời thường hay khi huấn luyện, công tác; dù trong chiến đấu hay giữa thời bình. Nhờ có học tập mà bộ đội ngày càng tiến bộ, trưởng thành.

Ra sức học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành
Nói chuyện truyền thống động viên bộ đội trên bãi tập. Ảnh minh họa: Qdnd.vn   

Nhìn lại lịch sử có thể thấy rằng, Quân đội ta, tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ngày đầu thành lập đã hô vang 10 lời thề danh dự. Trong đó, lời thề thứ tư khẳng định: “Lúc nào cũng khẩn trương hoạt bát, hết sức học tập để tự rèn luyện thành một quân nhân cách mạng, xứng đáng là một người chiến sĩ tiên phong giết giặc, cứu nước”. Thế nên, dù ngày đầu thành lập vô cùng khó khăn nhưng cán bộ, chiến sĩ đã hết sức coi trọng việc học tập, rèn luyện.

Bởi là người chiến sĩ tiên phong thì phải có trình độ nhận thức, có kiến thức để tuyên truyền vận động nhân dân đi theo cách mạng, để đấu tranh với kẻ thù gian ác, nguy hiểm. “Giặc dốt” cũng là kẻ thù của cách mạng. Người chiến sĩ phải đi đầu trong diệt “giặc dốt”, xóa nạn mù chữ. Chính vì thế, học tập cũng là một nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cách mạng.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bộ đội luôn tích cực học tập. Các lớp bồi dưỡng, tập huấn được mở ra ngay tại chiến khu. Các trường quân sự cũng được thành lập. Bộ đội từ chiến trường được về giảng đường học tập và từ nhà trường lại ra chiến trường chiến đấu. Nhờ vậy, cán bộ, chiến sĩ có điều kiện gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành để tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng.

Quân đội ta vinh dự được Bác Hồ quan tâm giáo dục, rèn luyện. Người căn dặn: “Toàn thể cán bộ và chiến sĩ phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hóa, cần phải nâng cao lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, cần phải nắm vững đường lối quân sự của Đảng, ra sức rèn luyện kỹ thuật và chiến thuật, cần phải luôn nêu cao cảnh giác, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”.

Lời căn dặn của Người chỉ rõ đối với bộ đội phải học tập toàn diện về chính trị, quân sự, văn hóa, phải rèn luyện cả về kỹ thuật và chiến thuật. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội học không chỉ để biết mà học để “làm việc, làm người, làm cán bộ” và mục đích cuối cùng đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Nhờ học tập, rèn luyện, nhiều thế hệ cán bộ trong quân đội đã trưởng thành, đóng góp trí tuệ vào sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trở về từ khói lửa chiến trường, nhiều người lính cầm súng ngày nào lại miệt mài cầm bút ngồi trên giảng đường. Cũng từ đây, nhiều đồng chí trở thành nhà khoa học, giảng viên, cán bộ, tiếp tục truyền thụ tri thức, đóng góp xây dựng quân đội, xây dựng các tổ chức dân, chính, đảng.

Hiện nay, cán bộ, chiến sĩ đều được học tập rất cơ bản. Hệ thống các nhà trường trong quân đội được đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa, thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Cán bộ các cấp được bổ nhiệm chức vụ đều qua đào tạo các cấp học tương ứng. Quá trình học tập được tổ chức trong hệ thống nhà trường quân đội và ở các đơn vị. Giáo viên là những người thầy đứng trên bục giảng, là đội ngũ cán bộ quản lý ở đơn vị. Bộ đội học trên giảng đường, ngoài thao trường và trong thực tiễn công tác tạo thành phong trào học tập sôi nổi trong toàn quân.

Các cơ quan, đơn vị, học viện, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học theo hướng toàn diện, đổi mới. Hàng loạt công trình khoa học, sáng kiến được nghiệm thu và triển khai có hiệu quả. Với tinh thần thi đua học tập, nghiên cứu, tuổi trẻ quân đội đẩy mạnh Phong trào “Thanh niên quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”. Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong quân đội với nhiều công trình nghiên cứu đạt chất lượng tốt. Trong các hội thi, hội thao trong nước và quốc tế, quân đội luôn giành được thành tích cao. Mỗi công trình khoa học, giải thưởng là kết tinh trí tuệ, công sức, sự nỗ lực học tập, rèn luyện không ngừng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mang lại lợi ích thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và dân sinh, đem vinh quang về cho Tổ quốc.

Tích cực học tập, rèn luyện vừa là nhu cầu tự thân vừa là đòi hỏi đối với mỗi quân nhân, bởi có học tập mới có tri thức, phương pháp tác phong công tác, không bị tụt hậu lỗi thời. Thế nhưng trong quá trình công tác vẫn còn quân nhân chưa thực sự ham học hỏi, cầu tiến bộ, có biểu hiện thỏa mãn, cầm chừng, ngại học, ngại rèn. Nghị quyết 847 đã thẳng thắn chỉ ra biểu hiện “Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật”. Vì không tích cực học tập, không cập nhật thông tin dẫn đến thiếu hiểu biết, có nhận thức lệch lạc, nảy sinh tư tưởng tiêu cực, hành động sai trái, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Lười học tập, ngại rèn luyện là những căn nguyên dẫn đến suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, đánh mất những giá trị phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn: “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy cần phải học thêm”. Trong các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ mà Nghị quyết 847 đề ra cũng chỉ rõ, bên cạnh xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, cần phải “có kiến thức, năng lực toàn diện”, thực sự là tấm gương mẫu mực trong phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Với bộ đội cần phải học tập toàn diện, học ở trường lớp, học trong sách vở, học từ đồng đội, học ngoài nhân dân.

Hoạt động quân sự mang tính đặc thù cao. Do vậy nhiệm vụ học tập để trang bị cho bộ đội có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với từng chức trách, nhiệm vụ nhất định, hình thành lý tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của quân nhân cách mạng, có thế giới quan khoa học, linh hoạt nhạy bén, năng động, sáng tạo thích ứng trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào. Trước yêu cầu hiện đại hóa quân đội, bộ đội càng phải thi đua học tập để có đủ trình độ, tri thức tiên tiến. Hiện nay, quân nhân có điều kiện tiếp thu nhiều kiến thức mới với cách thức tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, khi internet phát triển, bộ đội dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt được nhiều thông tin phong phú về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Đó là nguồn tri thức hỗ trợ tích cực cho cán bộ, chiến sĩ trong quá trình học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ toàn diện.

Để việc học trở thành nhu cầu tự thân của mỗi quân nhân, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho mỗi quân nhân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập, rèn luyện, khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn, khả năng sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu nhận thức và yêu cầu công tác. Quá trình học tập của bộ đội chịu tác động của cả hệ thống giáo dục-đào tạo từ nhà trường đến đơn vị, từ giảng viên đến cán bộ quản lý. Do đó, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới nội dung, hình thức học tập luôn được đặt ra đối với các học viện, nhà trường và đơn vị. Bên cạnh đó, công tác quản lý giáo dục, cơ sở vật chất bảo đảm cũng phải được cải tiến nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi, giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả cao.

Tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn vừa là đặc trưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi quân nhân phải luôn tự học, tự rèn để có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp trí tuệ, sức lực xây dựng quân đội vững mạnh, hiện đại.     nguồn báo quân đội nhân dân

Tuyên truyền tốt để lan tỏa giá trị đẹp

 

Thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” (Nghị quyết 847), thời gian qua, các cơ quan báo chí quân đội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền.

Riêng Báo Quân đội nhân dân (QĐND) đã rất chủ động mở Chuyên mục “Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ”, với nhiều bài viết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà báo có nội dung toàn diện và sâu sắc, tập trung làm sáng tỏ những giá trị, nội dung cốt lõi, đặc trưng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và nội dung phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Qua theo dõi các bài viết trong Chuyên mục “Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” trên Báo QĐND cũng như hiệu ứng lan tỏa của các bài viết trong các cơ quan, đơn vị LLVT Quân khu 1, tôi thấy các bài viết đã tạo hiệu ứng tuyên truyền rất tích cực, được đông đảo bạn đọc đón nhận, đồng tình. Các bài viết góp phần truyền tải một cách sinh động, dễ hiểu nội dung Nghị quyết 847 đến với cán bộ, chiến sĩ, bạn đọc trong và ngoài quân đội, giúp bộ đội hiểu được sự cần thiết, vị trí, ý nghĩa của việc phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới; nắm được phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết 847; dễ dàng liên hệ với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và trách nhiệm bản thân trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao.

Tuyên truyền tốt để lan tỏa giá trị đẹp
Ảnh minh họa / qdnd.vn 

Đáng chú ý, những vấn đề được đề cập trong các bài viết trên Báo QĐND đều là những vấn đề “nóng”, đang được dư luận quan tâm, những nội dung có ý nghĩa thiết thực trong thực tế sinh hoạt, học tập, công tác của bộ đội như: Bộ đội Cụ Hồ “bốn dám”; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; xây dựng, giữ vững bản lĩnh quân nhân cách mạng; nếp sống kỷ luật tự giác, nghiêm minh; phẩm chất đặc trưng “gắn bó máu thịt với nhân dân”...

Cùng với đó là các bài viết đề cập những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, giúp cán bộ, đảng viên, chiến sĩ nhận diện để tự soi, tự sửa, tự khắc phục theo tinh thần Nghị quyết 847. Dung lượng các bài viết hợp lý, không quá dài, cách viết vừa hàm súc, chặt chẽ vừa bảo đảm truyền tải đúng, đủ nội dung vấn đề, vừa có dẫn chứng cụ thể, sinh động, bảo đảm hiệu quả cao trong tuyên truyền triển khai thực hiện, đưa nghị quyết vào cuộc sống.

Có thể nói, Chuyên mục “Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” của Báo QĐND đang giữ vai trò tiên phong, chủ đạo của báo chí quân đội trong tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương thời gian qua.

nguồn báo quân đội nhân dân

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội

 

Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.

Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể.

Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
Bộ đội giúp nhân dân gánh lúa về nhà.

Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.

Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.

Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.

Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.

 Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...

Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.

Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...

Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

nguồn báo quân đội nhân dân

THANH NIÊN – TRỌNG ĐIỂM TẤN CÔNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Ở Việt Nam, thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi chiếm khoảng 30% dân số. Đây là lực lượng dân cư có nhiều tiềm năng về sức khỏe, trí tuệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường trong nước và quốc tế. Thanh niên Việt Nam nhìn chung đều có tinh thần nhiệt tình cách mạng, hăng hái, tiên phong, ham học hỏi, có óc sáng tạo, khi được dìu dắt, tập hợp dễ kết thành một khối thống nhất, đoàn kết. Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên Việt Nam cũng dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã đầu đời. Những đặc điểm đó chính là cơ hội để các thế lực thù địch “để mắt” đến thanh niên.


   Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã luôn coi thanh niên là đối tượng chủ yếu để tuyên truyền, chống phá. Nếu như đối với các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, các thế lực thù địch lợi dụng các hình thức truyền thống như tuyên truyền “rỉ tai” với mục đích “mưa dầm thấm lâu” bằng tờ rơi, báo chí, phát thanh… thì ngày nay, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để tấn công vào thanh niên. 


   Nhận thấy, thanh niên là lực lượng chủ yếu sử dụng Internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch đã ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip… trên các kênh Youtube, mạng xã hội để đưa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống. Với cách kiểu “rỉ tai”, kích động, “sử dụng khoảng 50 đài phát thanh, truyền hình, gần 400 tờ báo, tạp chí tiếng Việt (trong đó có khoảng 10 tờ có nội dung rất phản động”, 66 nhà xuất bản để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình… có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam, chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam”. 


   Thực tiễn cho thấy, không ít thanh niên đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: “Do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, do sự bùng phát của lối sống thực dụng chạy theo danh lợi bất chấp đạo lý đã dẫn đến những tiêu cực trong xã hội ngày càng phổ biến. Những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục, sự chống phá của các thế lực phản động quốc tế nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận thanh niên, trong đó có không ít sinh viên phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách, thiếu trung thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng cấp. Đây là những biểu hiện không thể coi thường”. Thực trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, tương lai của thanh niên mà còn đe dọa trực tiếp đến tương lai của đất nước. Do đó, cần phải phát huy trách nhiệm của thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.