Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2022

Tổng Bí thư Lê Duẩn - Tổng công trình sư của phong trào cách mạng giải phóng miền Nam Việt Nam.

 Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986) sinh tại xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Quá trình hoạt động cách mạng của ông bắt đầu từ rất sớm. Năm 1928, đồng chí tham gia Đảng Tân Việt, năm 1929 tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, năm 1930 là một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương (tên của Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó). Năm 1931, đồng chí Lê Duẩn là Ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc kỳ, bị thực dân Pháp bắt tại Hải Phòng, bị kết án 20 năm tù giam và lần lượt bị giam ở các nhà lao Hà Nội, Sơn La, Côn Đảo.

Nhiệt huyết của người chiến sỹ cộng sản

Năm 1936, nhờ kết quả của phong trào đấu tranh cách mạng trong nước và thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, Lê Duẩn được trả lại tự do. Ngay lập tức, đồng chí liên lạc với tổ chức và trực tiếp tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Trung, giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung kỳ. Năm 1939, đồng chí là Ủy viên BCH Trung ương Đảng và dự Hội nghị lần thứ VI BCH Trung ương (tháng 11-1939), góp phần cùng Trung ương Đảng thực hiện chuyển hướng chiến lược cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ nhằm tập hợp đoàn kết quần chúng đấu tranh trong thời kỳ mới. Năm 1940, đồng chí bị địch bắt ở Sài Gòn, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đồng chí được trả tự do, sau đó trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Lê Duẩn đã cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng, củng cố hệ thống tổ chức đảng trong toàn xứ, tổ chức nghiên cứu đường lối kháng chiến, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đấu tranh ở nông thôn, đẩy mạnh công tác dân vận… Tại Đại hội Đảng bộ xứ Nam Bộ (cuối năm 1947), đồng chí Lê Duẩn đã được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Từ thực tiễn hoạt động, nghiên cứu sâu sắc Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, vận dụng trên chiến trường Nam Bộ, những ý kiến của Lê Duẩn về vai trò của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, địa chủ…; về việc giải quyết ruộng đất ở Nam Bộ; về xây dựng và củng cố khối đoàn kết trong hàng ngũ cách mạng, nhất là khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng… đã chứng minh tính đúng đắn của những vận dụng này, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ. Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Lê Duẩn cùng các đồng chí trong Xứ ủy Nam Bộ đã triển khai sáng tạo và hiệu quả chủ trương, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng ta, gắn chặt với thực tiễn cách mạng sinh động và phức tạp tại Nam Bộ.

Với tầm nhìn chiến lược và đúng đắn, ông đã thu hút và tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhiều nhân sĩ trí thức có tiếng ở Nam Bộ tham gia kháng chiến. Đồng chí Lê Duẩn thực sự là “ngọn đèn pha”(1) rọi sáng, dẫn dắt cuộc đấu tranh tại chiến trường Nam Bộ trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp.

Người kiến thiết đường lối cách mạng miền Nam

Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, cách mạng miền Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức với chính sách đàn áp tàn bạo “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm… Đồng chí Lê Duẩn xin Trung ương cho ở lại Nam Bộ, tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ. Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng viết: “Năm mươi năm nhìn lại và suy ngẫm, càng thấu hiểu ý nghĩa lớn lao và phẩm cách cao cả của nhà yêu nước và nhà hoạt động cách mạng Lê Duẩn với quyết định xin ở lại miền Nam sau khi đã hoàn thành những nhiệm vụ mà Bác Hồ và Trung ương giao cho sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chiếc tàu áp chót neo đậu ở thị trấn Sông Đốc, Cà Mau. Anh Ba lên tàu như người đi tập kết để che mắt kẻ thù, đến nửa đêm Anh bí mật rời tàu, quay trở lại. Trong hồi tưởng, tôi rất xúc động và cảm phục khi nghĩ về sự kiện lớn lao đó”(2).

Dự cảm được chặng đường kháng chiến đầy chông gai và lâu dài, khi tiễn chân đồng chí Sáu Thọ (Lê Đức Thọ) từ Nam Bộ xuống tàu ra Bắc (năm 1955), đồng chí Ba Duẩn đã nói: “Anh ra báo cáo với Bác Hồ và các anh trong Bộ Chính trị, 20 năm nữa, chúng ta sẽ gặp nhau”. Sau ngày toàn thắng, trả lời câu hỏi: “vì sao anh Ba nêu 20 năm?”, đồng chí Sáu Thọ giải thích rằng, “đó là vì anh Ba đã sớm thấy cách mạng miền Nam không tránh khỏi sẽ phải đối đầu với quân xâm lược Mỹ; do nhiều nguyên nhân cuộc đụng độ lịch sử này sẽ vô cùng ác liệt trong thời gian dài”(3).

Với sự am hiểu sâu sắc chiến trường Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn cùng Xứ ủy tiếp tục bám sát địa bàn công tác, dựa chắc vào quần chúng, tổ chức củng cố, xây dựng và bảo toàn lực lượng cách mạng. Năm 1956, đồng chí dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam ngay tại chính địa bàn trung tâm đầu não của đối phương. Đề cương chỉ rõ chính quyền miền Nam Việt Nam là chính quyền thực dân kiểu mới, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chà đạp thành quả cách mạng nhân dân ta giành được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Đồng thời xác định rõ đối tượng của cách mạng miền Nam là đế quốc và phong kiến; kẻ thù cụ thể và trước mắt của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ xâm lược, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản phản động, tay sai của đế quốc Mỹ và bản chất của chính quyền Ngô Đình Diệm là “con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới”. Từ đó, đồng chí đã viết: “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường cứu nước và tự cứu mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác”. Bản Đề cương cách mạng miền Nam ra đời trong thời điểm lịch sử bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ đã có ý nghĩa hết sức quan trọng, cho thấy tư duy sắc sảo, nhãn quan chính trị sáng suốt của đồng chí Lê Duẩn, kết tinh trí tuệ của Đảng và thấm đẫm hơi thở của thực tiễn cách mạng. Văn kiện này góp phần chuẩn bị cơ sở lý luận và chính trị cho các văn kiện quan trọng tiếp theo như Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960)… về đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng ta.

Cuối năm 1957, theo điều động của Trung ương, đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội, tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng, chuẩn bị văn kiện tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tại Đại hội III (năm 1960), đồng chí được bầu vào BCH Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất. Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao khó khăn, sóng gió, đối mặt với những chuyển biến phức tạp của tình hình quốc tế, phong trào cộng sản thế giới và sức mạnh của đế quốc Mỹ cùng tay sai trên chiến trường miền Nam.

Khát vọng và quyết tâm giải phóng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn luôn thể hiện trong từng lời phát biểu tại các cuộc họp Bộ Chính trị, trong các bức điện, thư, chỉ thị gửi các đồng chí lãnh đạo miền Nam trong giai đoạn từ đầu năm 1961 đến năm 1975. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của tinh thần cách mạng triệt để, ý chí tiến công quyết liệt, quyết tâm đánh thắng Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đồng chí Lê Duẩn cùng các đồng chí Lãnh đạo Đảng từng bước cụ thể hóa đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, tranh thủ sự giúp đỡ và đoàn kết quốc tế để tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trên chiến trường miền Nam, từ sự kiện Đồng khởi (năm 1960) đến các chiến thắng ở Núi Thành (5-1965), Vạn Tường  (8-1965) đã minh chứng khả năng của ta đánh bại quân Mỹ trong điều kiện chúng có ưu thế tuyệt đối về binh khí, hỏa lực; tạo đà cho quân dân ta ở hai miền Nam - Bắc tiến lên giành những thắng lợi mới, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Với chiến thắng của quân và dân miền Nam mùa khô 1965-1966, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang, rút dần quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chấp nhận bước vào bàn đàm phán với chúng ta.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (năm 1969), đồng chí Lê Duẩn đã kế tục và hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ vĩ đại của nhân dân ta. Thắng lợi lịch sử trong trận Điện Biên Phủ trên không (năm 1972) và việc ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973 đã tạo ra một bước ngoặt căn bản cho việc chuẩn bị kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng chí đã khẳng định: “Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”(4). Ngay khi chuẩn bị lực lượng, chờ đợi và nắm bắt thời cơ, cho đến khi quyết định tổ chức Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), hàng loạt thư từ, điện đàm, chỉ thị… của đồng chí Lê Duẩn gửi vào chiến trường cho thấy sự sát sao, nhạy bén và khát vọng giải phóng miền Nam của ông.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh chính là một minh chứng về sự đóng góp của đồng chí Lê Duẩn vào sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Đại tướng Hoàng Văn Thái đã viết: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta, do Hồ Chủ tịch đứng đầu - sau khi Người qua đời do Tổng Bí thư Lê Duẩn kế tục - thực sự là Bộ Thống soái kiệt xuất trong chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam”(5). Đồng chí Lê Duẩn chính là một tổng công trình sư của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần quan trọng trong quá trình thiết kế, phát triển, cụ thể hóa và hoàn chỉnh đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam nói riêng, đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, cũng như tổ chức thực hiện một cách năng động, sáng tạo đường lối đó.

Tại Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1976) và lần thứ V (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn được bầu vào Trung ương, Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư. Từ năm 1978 đến năm 1984, ông làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong bối cảnh quốc tế khó khăn và phức tạp, Tổng Bí thư Lê Duẩn luôn kiên trì giữ vững tư tưởng độc lập dân tộc như một điều bất khả xâm phạm trong đường lối lãnh đạo đất nước của mình.

-----

(1) Nhà trí thức Phạm Ngọc Thuần đã ví von đồng chí Lê Duẩn là “Anh Ba deux cents bougies” (ngọn đèn 200 nến) - cách ví đã trở nên rất phổ biến ở Nam Bộ thời chống thực dân Pháp. (2) Nhớ đồng chí Lê Duẩn, đăng tải trên website www.nhandan.com.vn, ngày 16-8-2006. (3) Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Hồi ký, NXB CTQG, H.2002, tr.491. (4) Lê Duẩn: Thư vào Nam, NXB Sự thật, H.1985, tr.375. (5) Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định, NXB Quân đội nhân dân, 1985, tr.321.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét