Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ “MÙA XUÂN ARAB”

 Khởi đầu từ Tunisia, “Mùa xuân Arab” nhanh chóng lan tỏa sang nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông, dẫn tới sự sụp đổ các thể chế chính trị ở Tunisia, Egypt, Yemen, Libya và khiến Syria rơi vào cuộc chiến tranh khủng bố tàn khốc. Vậy đâu là nguyên nhân của những biến cố này?

Năm 2010, từ vụ tự thiêu của một người thất nghiệp, bán hàng rong ở Tunisia đã châm ngòi cho một cuộc biểu tình rộng lớn khiến Tổng thống Ben Ali phải chạy trốn sang Saudi Arabia chỉ sau hai tuần sau đó. Cuộc biểu tình ở Tunisia nhanh chóng lan sang một loạt nước khác trong khu vực Bắc Phi-Trung Đông như: Algeria, Jordan, Ai Cập, và Yemen, Lybia…, tạo thành một cơn “địa chấn” mang tên “Mùa xuân Arab”, lật đổ nhiều nhà lãnh đạo trong khu vực và để lại những hậu quả nặng nề cả về kinh tế, chính trị, xã hội cho nhiều nước.

Nhìn vào gần chục quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến cố “Mùa xuân Arab”, có thể thấy bạo loạn và lật đổ chủ yếu xảy ra ở các quốc gia có nền chính trị mang nặng dấu ấn độc tài, gia đình trị, tham nhũng, lũng đoạn. Người dân các quốc gia này đều đang hứng chịu cuộc khủng hoảng lương thực, thất nghiệp, đại đa số người dân không có cơ hội tiếp cận giáo dục và các phúc lợi an sinh xã hội khác… và sự đè nén, phẫn uất của người dân do hố sâu khoảng cách giàu nghèo, kèm theo đó là nạn phân biệt chủng tộc, tôn giáo…, đã tích tụ từ nhiều năm trước đó. Những vấn đề nội tại đó ở mỗi quốc gia, lại được “công hưởng” bởi sự can dự của các thế lực cả trong và ngoài nước dưới chiêu bài của “sứ mệnh” thực thi dân chủ, đã làm bùng phát cuộc “cách mạng đường phố” mang tên “Mùa xuân Arab” quét qua nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông.

Tuy nhiên, với những gì mà người dân nhận được và đang phải gánh chịu hiện nay, có thể nói đa phần các cuộc “cách mạng” đó đều thất bại. Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là sự nổi dậy của người dân không được dẫn dắt và lãnh đạo bởi một đảng phái chính trị chân chính, vì đất nước, dân tộc và vì tự do, hạnh phúc của người dân. Với các hình thức bạo loạn lật đổ mang tính manh động, thiếu kiểm soát, thì những mâu thuẫn về dân tộc và tôn giáo càng bị khoét sâu, trầm trọng hơn trong suốt 10 năm qua. Bên cạnh đó, sự can dự từ bên ngoài của các nước lớn với những mưu đồ chính trị riêng, điều mà tầng lớp dân nghèo và người lao động khó có thể tiếp cận để hiểu rõ, đã làm méo mó, biến dạng các mục tiêu ban đầu của các cuộc nổi dậy. Truyền thông và mạng xã hội cũng được cho là một tác nhân tiêu cực cả trước, trong và sau các vụ bạo loạn, lật đổ, khiến tình hình ngày càng trở nên mất kiểm soát, ngoài mong muốn của phần đa những người tham gia biểu tình.

xét về bản chất, “Mùa xuân Arab” mang hơi hướng của “Cách mạng màu”.  Đây cụm từ để chỉ các phong trào chính trị trong một số quốc gia thuộc Liên Xô cũ hay thuộc vùng Balkan trong những năm đầu thập niên 2000. Các cuộc cách mạng này lấy tên một màu sắc, một lợi cây hay một bông hoa tiêu biểu. Các cuộc cách mạng màu nổi bật với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các nhà hoạt động sinh viên trong việc tổ chức các cuộc đấu tranh bất bạo động và sự can thiệp bất chấp quyền tự do, quyền tự quyết của các nước. Điển hình như: “Cách mạng Hoa Hồng” ở Gruzia năm 2003, “Cách mạng Cam” ở Ukraina năm 2004,  “Cách mạng hoa Tulip” ở Kyrgyzstan năm 2005. “Cách mạng cây Tuyết Tùng” ở Liban năm 2005, “Cách mạng xanh” ở Kuwait năm 2005….

Tháng 12 là tháng của mùa xuân ở các nước Bắc Phi - Trung Đông. Sau biến cố này, nhiều người đã chua chát thốt lên rằng, mọi thứ đã biến thành “Mùa đông ảm đạm và tang thương ngay trong các thàng mùa xuân của các nước Arab”.

THÁNG TƯ, NGHĨ VỀ NHỮNG “GIẤC MỘNG TAN VỠ” NƠI XỨ NGƯỜI

 Với mỗi người Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước từ lâu đã trở thành một giá trị cao quý, được truyền từ đời này sang đời khác, bằng những biểu hiện sinh động, cụ thể. Tháng tư về, người dân đất Việt càng tự hào, biết ơn các thế hệ ông cha đã hy sinh xương máu cho quê hương, đất nước, đồng thời cảnh báo những ai đang đi ngược dòng chảy thời cuộc, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Thực tế đã, đang và sẽ còn chứng minh lòng yêu nước đã trở thành một giá trị truyền thống và là tài sản vô giá, tạo sức sống bất khuất và trường tồn của dân tộc con Lạc cháu Hồng qua nghìn năm lịch sử trước mọi hiểm họa xâm lăng và đô  hộ, là mạch nguồn cho sự sinh sôi và phát triển ngày càng mạnh mẽ của đất nước, giống nòi. Không ai có thể phủ nhận được rằng, dù là người dân đang sinh sống trên xứ sở quê hương hay với cộng đồng người Việt đã định cư và hội nhập ổn định ở nước ngoài, mỗi khi thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống và vận mệnh của Tổ quốc, lập tức muôn người như một, kết thành khối vững chắc, sẵn sàng cống hiến công sức, xả thân vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, vì vận mệnh của Tổ quốc và cuộc sống của đồng bào mình.

Ðặc biệt, đối với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giang sơn cha ông để lại. Giá trị đó không thể là điểm tựa để dung túng, kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao bá quyền, đe dọa sử dụng bạo lực và bất chấp thủ đoạn gian dối, hèn hạ, bất chấp đạo lý và luật pháp của văn minh nhân loại, cốt tranh đoạt trắng trợn và phi pháp lãnh thổ của người khác. Ðiều này đã và phải tiếp tục trở thành yêu cầu của lương tri, của đạo đức không chỉ với Việt Nam mà với mọi quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta không chỉ trui rèn truyền thống giữ nước, chống xâm lăng, mà còn cho thấy người bán nước như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống,... luôn bị dân tộc phê phán, danh xấu nghìn năm khôn rửa. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam cho thấy, khi Pháp, Mỹ can thiệp vào Việt Nam đã có một số người lầm lạc, chĩa súng vào đồng bào, gây nên nhiều tội ác. Chỉ đến khi thua trận, những kẻ xâm lược phải rút khỏi Việt Nam thì những người trên lại chọn cho mình con đường rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để tiếp tục mưu lợi cá nhân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Chiến tranh đã đi qua, vết thương đã "liền da" khi quê hương hòa làm một, đất nước được vẹn tròn. Nhưng nỗi thù, sự ích kỷ và mưu lợi cá nhân vẫn còn tồn tại trong lòng những con người đó, họ chấp nhận đời tha hương mà không chịu thừa nhận thất bại, vẫn luyến tiếc cuộc sống dựa dẫm hưởng lợi từ ngoại bang, vẫn cay cú, vẫn cố tìm mọi cách thực hiện giấc mơ được ngoại bang giúp sức để trở về "phục quốc".

Ðể đạt mục đích xấu xa đó, họ tiến hành rất nhiều thủ đoạn, từ sử dụng lá phiếu cử tri buộc một số vị dân biểu nơi họ cư trú lên tiếng tạo sức ép với chính quyền các nước vu cáo, đồng thời thành lập, tham gia các tổ chức tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại; lợi dụng mạng Internet để lập ra nhiều trang mạng, diễn đàn lấy danh nghĩa “yêu nước” để bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối chính sách, đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, thậm chí họ còn ủng hộ, tiếp tay cho tư tưởng chia cắt với những luận điệu như “thành lâp nhà nước Mông ở Tây Bắc”, đuổi người Kinh khỏi Tây Nguyên để thành lập “nhà nước Degar độc lập”...

Không dừng lại ở đó, để hiện thực hóa những mưu đồ trên, các tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, các tổ chức trên đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các tổ  chức khủng bố ở nước ngoài nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, vứt bỏ gốc gác người Việt của mình như Lê Thu Hà bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 20/11/2018.

Sau một thời gian đấu tranh, ghi dấu ấn của mình cộng với sự tác động của Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà được bảo lãnh theo diện tị nạn. Hà được sắp xếp, bố trí chỗ ở tại thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức; được chu cấp tiền để học tiếng Đức, thuê nhà, sinh hoạt và đào tạo nghề. Số tiền này chỉ đủ để phục vụ các hoạt động nói trên, chưa kể Hà phải tự lo cho cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, do không có trình độ, tiền không có, nhà ở thuê, bạn bè cô quạnh, bản thân không thể đáp ứng yêu cầu, điều kiện lao động và mức sống tại đây, Hà vỡ mộng với cuộc sống tại “xứ thiên đường”, nơi mà khi còn ở Việt Nam, Hà từng ao ước rồi phản bội lại đất nước, dân tộc để đạt được mục đích. Chỉ trong 6 tháng, Lê Thu Hà bắt đầu thấm thía và từ đó, viện cớ rằng “nhớ quê hương, đất mẹ” để tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam.

Trường hợp tương tự là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí”. Cầm tấm thẻ xanh trên tay một thời gian, Quỳnh vừa mừng vừa lo. Mừng vì chỉ sau 2 năm ăn cơm tù đã đạt được mục đích sang Mỹ; lo vì nhận ra rằng mức sống ở nơi đây cao hơn rất nhiều so với ở Việt Nam, việc sinh tồn tại nơi đây là một vấn đề khó khăn. Mặc dù được chính phủ Mỹ tài trợ 6 tháng tiền trợ cấp (mức trợ cấp dành cho người thất nghiệp là 5.000 USD/năm) nhưng số tiền đó chỉ đủ để trả tiền thuê nhà, ăn uống, học nghề, chưa kể mẹ già, con thơ.

 Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau một thời gian hai người này lại quay ra bới móc lẫn nhau.

Việc trang trải cuộc sống cho bản thân còn chưa xong, liệu Quỳnh có dám nghĩ việc ăn chơi, kiếm tiền từ nước ngoài một cách dễ dàng khi còn ở Việt Nam? Xa hơn, có thể kể đến những kẻ từng một thời được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau khi đến Mỹ mới té ngửa, ca thán như Tạ Phong Tần quay ra bới móc, kể tội Nguyễn Văn Hải (điếu cày), Nguyễn Văn Hải cũng lập tức tố cáo lại Tạ Phong Tần…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Con đường phạm pháp do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở nước ngoài hay “đổi đời”.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, vị thế đất nước đang dần được khẳng định trên thế giới. Trong quá trình phát triển đó, không thể tránh khỏi những bất cập, tồn tại cần phải khắc phục nên chưa thể đáp ứng được hết những trông đợi của mọi người. Nhưng nếu dựa vào đó để phủ nhận các thành tựu phát triển, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình đất nước, chối bỏ gốc gác, làm những việc đi ngược lợi ích của dân tộc mình thì những cá nhân đó phải tự vấn lương tâm. Hãy tự thấy xấu hổ khi nghĩ tới không ít kiều bào, dù xa quê, mưu sinh xứ người vẫn coi quê hương là đất Việt, vẫn đang từng ngày đóng góp tài trí, sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hơn bao giờ hết, trên bất kỳ phương diện nào, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị phù hợp với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chỉ có lòng yêu nước chân chính mới có thể giúp quê hương, đất nước giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời làm cho quê hương, đất nước ngày càng hưng thịnh, trường tồn.

Xin nhắc lại câu nói của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 6/2007): “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”./.

HIỂU ĐÚNG VÀ ĐỦ VỀ VIỆC VIỆT NAM BỎ PHIẾU CHỐNG NGHỊ QUYẾT ĐÌNH CHỈ NGA RA KHỎI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN CỦA LIÊN HỢP QUỐC

 Cuộc chiến Nga – Ukraine hiện tại đang kéo mọi quốc gia trên thế giới vào vòng xoáy của những chiêu bài mà phe này chống phá phe kia. Nhiều quốc gia không liên quan đến cuộc chiến, lại có quan hệ tốt đẹp với cả Nga và Ukraine như Việt Nam cũng bị bắt buộc phải tham gia các hoạt động bỏ phiếu vì mục tiêu triệt hạ chính trị giữa các cường quốc. Với sức ép căng thẳng hàng ngày như vậy, phải nói Việt Nam đã phải hết sức kiên định, khéo léo, chọn đúng chính nghĩa là lẽ phải của thời đại và lợi ích dân tộc để đưa ra những quyết định đúng đắn.

Khi đứng trước lựa chọn phải trừng phạt, “cắt đứt” với nước Nga, nội bộ các nước phương Tây trở nên chia rẽ vì lợi ích của chính họ. Hungary tuyên bố không trừng phạt Nga, không cho vận chuyển vũ khí vào Ukraine vì lý do họ cần khí đốt Nga. Serbia thì tuyên bố không bao giờ trừng phạt Nga vì Nga từng ủng hộ họ khi bị NATO ném bom. Nước Đức vẫn mua dầu và khí đốt của Nga đều đều từ đầu cuộc chiến, bất chấp bị các nước như Ba Lan chỉ trích. Pháp thì tuyên bố duy trì đối thoại với Nga để mong trở thành một bên “kiến tạo hòa bình”, bất chấp bị Ba Lan chỉ trích. Những ví dụ này cho thấy ngay cả khi có lý do rõ rệt để “chống Nga” thì các nước phương Tây cũng đều phải đặt lợi ích của mình lên trên hết, thứ mà họ quen gọi bằng thuật ngữ “lằn ranh đỏ”.

Việt Nam luôn kiên định con đường của mình là một người bạn đáng tin cậy của mọi quốc gia trên thế giới bằng chính sách ngoại giao đa phương hóa. Khi là người bạn đáng tin cậy thì phải lắng nghe bạn trong mọi hoàn cảnh. Quan điểm, lập trường của Việt Nam về tình hình xung đột ở Ukraine là hết sức khách quan và rất rõ ràng. Đó là kêu gọi Nga và Ukraine chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng, tính đến lợi ích của các bên. Chính vì vậy, Việt Nam đã bỏ phiếu trắng về nghị quyết của Liên Hợp Quốc chống Nga để “bảo đảm lợi ích của các bên” trong đó có Nga. Và mới đây nhất Việt Nam bỏ phiếu chống cho nghị quyết đòi loại Nga ra khỏi Hội đồng nhân quyền bởi Nghị quyết này được xây dựng từ những thông tin chưa được “kiểm chứng khách quan, minh bạch, với sự hợp tác của các bên liên quan”.

Nhưng những quyết định bỏ phiếu này luôn bị Việt Tân và một số đối tượng ra sức rêu rao, chống phá, chửi rủa. Thế nhưng nếu có ai hỏi những đối tượng này lý do vì sao họ muốn bỏ phiếu khác thì chắc hẳn họ cũng chỉ biết nói như con vẹt: là vì Mỹ và phương Tây bỏ phiếu như thế, “cả thế giới” bỏ phiếu như thế. Trên thực tế thì toàn thế giới có vài chục quốc gia bỏ phiếu giống Việt Nam và nhiều chục quốc gia khác bỏ phiếu trắng, ý là không muốn tham gia. Việt Tân còn giả vờ “bức xúc” bằng luận điệu: “chính quyền bỏ phiếu trái ý 98 triệu dân Việt Nam”. Nhưng thực tế thì Việt Tân là một tổ chức khủng bố, luôn tìm cách đánh bom, chống phá Việt Nam thì cớ gì dám coi mình là một trong gần 100 triệu người dân Việt Nam.

Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Bản lĩnh Việt Nam luôn kiên cường và kiên định trong mọi hoàn cảnh. Trong lịch sử, chúng ta từng đối mặt và đánh bại hàng triệu quân giặc xâm lược để giữ gìn hòa bình của đất nước. Và ngày nay, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có của thời đại, trong thời điểm mà giữ vững được bản lĩnh và những quyết định của mình luôn là một việc khó khăn, nhưng chúng ta đã và đang làm được. Đó là bản lĩnh của một đất nước hùng cường, có vị thế và chiếm được lòng tin của bạn bè trên thế giới. Đó cũng là lý do mà những kẻ chống phá, cơ hội và thù ghét Việt Nam như Việt Tân cùng các đối tượng khác luôn phải cảm thấy “bức xúc”, “khó chịu”./.

GIỮ GÌN, PHÁT HUY TÍNH THỐNG NHẤT TRONG QUÂN ĐỘI!

     Từ trước tới nay, nói đến tính thống nhất, bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là đặc trưng, là nét đẹp thuộc về phẩm chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.
Việc khẳng định đặc trưng thống nhất trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương là sự kế thừa, phát triển phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lên tầm cao mới trên cơ sở lý luận và thực tiễn đúc kết qua hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Quân đội đẹp ở sự thống nhất! Để có được sự thống nhất cả về hình thức và nội dung, đòi hỏi phải trải qua quá trình rèn luyện công phu, bền bỉ, bồi đắp cho đặc trưng ấy trở thành vẻ đẹp ngời sáng của Bộ đội Cụ Hồ.
Sự thống nhất trong quân đội vô cùng rộng lớn, bao trùm, nhưng lại hiện hữu ở từng cán bộ, chiến sĩ và từng đơn vị cụ thể.
Giữ gìn, phát huy tính thống nhất trong quân đội
Bộ đội giúp nhân dân gánh lúa về nhà.
Về mặt hình thức, đặc trưng thống nhất thể hiện trong mang mặc, lễ tiết tác phong; trong xây dựng doanh trại, trang trí khánh tiết đơn vị; trong đội hình huấn luyện, học tập, hành quân, diễu duyệt; trong cách xưng hô, chào hỏi... Đây là những nét bên ngoài ai cũng có thể nhìn thấy, nhận thấy. Nó tạo nên vẻ đẹp của sự thống nhất tổng thể, tác động trực diện vào thị giác mỗi người.
Nét đẹp của sự thống nhất về hình thức bên ngoài chính là biểu hiện của sự thống nhất về nội dung bên trong. Đây là điều cốt lõi, là phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ. Đó là sự thống nhất ý chí và hành động, thống nhất về nhận thức, tư tưởng, bảo đảm toàn quân một ý chí.
Trong một con người, nhận thức chi phối hành động, nhận thức đúng thì hành động đúng. Từ nhận thức đến hành động, từ suy nghĩ đến việc làm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ phải bảo đảm thống nhất, nói đi đôi với làm, không mâu thuẫn bất nhất, không nói một đằng làm một nẻo, gió chiều nào xoay chiều ấy... Sự kiên định, nhất quán hình thành đức tính, thói quen tốt, lâu dần trở thành nét đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng. Chính phẩm chất cao quý này tạo nên uy tín của Bộ đội Cụ Hồ đối với nhân dân và với bạn bè quốc tế.
Trong một tập thể quân nhân, từng chiến sĩ thống nhất để có một tập thể thống nhất. Từ chỉ huy đến chiến sĩ, từ cấp dưới đến cấp trên đều thống nhất ý chí và hành động. Song, để có sự thống nhất này là cả một quá trình, kết hợp nhiều khâu, nhiều bước. Trước hết, trong cơ chế lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo ấy được thực hiện thống nhất thông qua hệ thống tổ chức đảng từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ. Ở từng đơn vị, sự thống nhất giữa bí thư cấp ủy với người chỉ huy bảo đảm cho đơn vị luôn dân chủ, đoàn kết, không xảy ra độc đoán, chuyên quyền; “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức... Trong giáo dục, tuyên truyền, định hướng tư tưởng thực hiện thống nhất theo hướng dẫn, quy định của Tổng cục Chính trị. Trong chuyên môn, nghiệp vụ quân sự thực hiện thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu... Nhờ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ quân sự; mỗi đơn vị mới đạt thành tích vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; quân đội mới giữ vững kỷ cương, thống nhất.
 Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, tính thống nhất là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này được minh chứng bằng những chiến công vang dội trong suốt chặng đường hơn 77 năm qua. Bắt đầu từ chiến thắng mở màn Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi cuối cùng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất non sông... Tất cả đều minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự thống nhất. Gần đây là “cuộc chiến” chống dịch Covid-19, hình ảnh những đoàn quân từ các đơn vị ở mọi miền Tổ quốc chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ chống dịch với tinh thần “tính mạng, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết” làm sống lại khí thế một thời “tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Nếu không có sự thống nhất trên dưới một lòng, toàn quân một ý chí, “nhất hô bá ứng”, muôn người như một... thì “cuộc chiến” chống dịch Covid-19 ở TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai... sẽ không thể có được kết quả như ngày hôm nay...
Bởi vậy, chăm lo, củng cố và phát huy đặc trưng thống nhất của quân đội chính là góp phần tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Để làm được điều này cần chú trọng tiến hành song song cả nội dung và hình thức. Về hình thức, cần tập trung
xây dựng nền nếp chính quy, trang phục, lễ tiết tác phong, xưng hô, chào hỏi... Đây là trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, của cấp ủy, người chỉ huy các cấp, tùy theo chức năng, nhiệm vụ để chủ động duy trì, triển khai thực hiện sao cho đúng pháp luật, điều lệnh quân đội.
Để thống nhất về nội dung, cần đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, đấu tranh bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Đây là cơ sở tạo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí, từ đó thống nhất về hành động trong đơn vị; phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách; duy trì nghiêm kỷ luật của quân đội và các quy định của đơn vị... Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực, chủ động đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, trau dồi bản lĩnh cho bộ đội; tăng cường xây dựng và củng cố mối quan hệ đồng chí, đồng đội, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, phân biệt đối xử giữa cán bộ với chiến sĩ và giữa các chiến sĩ với nhau. Đặc biệt, cần nhận diện rõ 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo Nghị quyết 847 của Quân ủy Trung ương, làm cơ sở giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ biết phòng tránh, khắc phục kịp thời khi có dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong đơn vị...
Như vậy, xét đến cùng, xây và chống, phát huy và ngăn chặn luôn song hành và là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo đảm sự thống nhất, chính quy trong quân đội, tiếp tục làm ngời sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới./.

Môi Trường ST.

SỰ CAY CÚ CỦA NHỮNG KẺ BÁN NƯỚC!

     Trong 47 năm qua, 30-4 trở thành Ngày Chiến thắng, Ngày Thống nhất, Ngày Hội lớn non sông, Ngày quốc lễ của Việt Nam.

Thế nhưng, những kẻ tay sai bán nước năm xưa trốn chạy ra nước ngoài, sống lưu vong ở các nước cấu kết, hô hào dựng lên hội này, nhóm nọ, tổ chức kia rêu rao, gào thét rằng 30-4 là “Ngày quốc hận”, “Tháng Tư đen”. Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, kích động lòng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Chúng đã lập ra các tổ chức phản động: “Việt Tân” (còn gọi Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng), “Triều Đại Việt”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…do một số sĩ quan chế độ VNCH cầm đầu, chống phá hết sức phức tạp. Những tổ chức này Bộ Công an đã liệt vào danh sách tổ chức khủng bố, chống phá Nhà nước Việt Nam. Số đối tượng cực đoan trong nước móc nối với các phần tử lưu vong lập ra cái gọi “diễn đàn dân chủ” với các “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội Tù nhân lương tâm”… tán phát thông tin bịa đặt, xuyên tạc rất phản động hòng đánh tráo bản chất của cuộc chiến tranh chống xâm lược, giành độc lập dân tộc của Nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”, chiến tranh mang tính ý thức hệ”....

Dân gian có câu “cà cuống chết đến đít còn cay”. Bọn chúng đã có tình phớt lờ ô nhục của những kẻ bán nước, làm tay sai cho đế quốc, cam phận làm“lính đánh thuê” để nhận những đồng đô-la thấm máu Nhân dân ta là tội ác! Đã không biết “quay đầu là bờ” mà tiếp tục tru tréo những luận điệu cũ mèn, phi lý. Đã có những kẻ nuối tiếc may cờ “Ba que”- cờ 3 sọc vàng (biểu tượng của VNCH), cố níu giữ ảo mộng về “những năm tháng vàng son”(!)… Bọn chúng hận ai? Ai là kẻ đáng hận ?!...

Môi Trường ST.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2022

HÃY GỌI ĐÚNG TÊN VÀ HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA CỦA NÓ: "CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC"!

         Còn nhớ, cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã từng trả lời đanh thép với Clinton rằng: "Thưa ngài, cái mà ngài gọi là "chiến tranh Việt Nam" thì nhân dân Việt Nam chúng tôi gọi đó là "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước..."

Một phát ngôn thể hiện chất "thép" của cố Tổng Bí thư vì ông không những là nguyên thủ Quốc gia, mà còn là một người lính đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường...

Thế mà thời đại của Internet 5G và cuộc sống hiện đại hôm nay, thế hệ trẻ đang bị nhồi sọ lập lờ bản chất của khái niệm "Chiến tranh Việt Nam" hay "KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ" của nhân dân ta dưới chiêu bài nguy hiểm trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", chủ nghĩa xét lại của bọn ngụy sử, mấy tay nhà báo rởm ất ơ được sinh ra trong hòa bình, mấy tay làm phim không có lập trường chính trị.

"Chiến tranh Việt Nam"? Vậy Mỹ đem bom đạn dội lên đầu dải đất hình chữ S này thì sao? Mỗi tấc đất ngọn cỏ đều thấm đẫm máu xương đồng bào tôi trong mấy chục năm ròng, những cuộc thảm sát đẫm máu mà nhân chứng sống đang còn đó. Chẳng lẽ bây giờ Mỹ vô can? Chúng ta cầm súng ra trận "đánh cho Mỹ cút", vậy có phải KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ hay không? 

Lịch sử phải công bằng, gọi và hiểu cho đúng bản chất. Đau thương mất mát đã quá nhiều, chúng ta hãy suy nghĩ vì đâu mà có được thành quả đó? Hãy gọi đúng tên và hiểu đúng ý nghĩa của nó: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. 

Tháng tư đang về, hãy lắng lòng lại một chút để tưởng nhớ đến 1,2 triệu liệt sĩ đang yên nghỉ trên khắp lãnh thổ đất nước Việt Nam./.
Yêu nước ST.

NGA BAN HÀNH LUẬT PHẠT NGƯỜI PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ TRONG THẾ CHIẾN THỨ HAI!

         Ngày 16/4, trên cổng thông tin pháp lý chính thức của Liên bang Nga đã đăng tải đạo luật mới được Tổng thống Nga Vladimir Putin ký thông qua quy định hình phạt đối với việc đánh đồng vai trò của Liên Xô và Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Cụ thể, luật mới quy định các hình phạt đối với việc vi phạm luật liên bang cấm đánh đồng hành động của lãnh đạo, chỉ huy và quân nhân Liên Xô với các hành động của tướng lĩnh và binh lính Đức Quốc xã và các quốc gia châu Âu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng như phủ nhận vai trò quyết định của nhân dân Liên Xô trong việc đánh bại Đức Quốc xã và sứ mệnh nhân đạo của Liên Xô trong việc giải phóng các nước châu Âu.

Luật mới quy định việc phạt tiền từ 1.000-2.000 ruble (khoảng 12-24 USD) hoặc bắt giam lên tới 15 ngày đối với công dân vi phạm; phạt từ tiền 2.000-4.000 ruble đối với các quan chức vi phạm, và từ 10.000-50.000 ruble đối với các pháp nhân vi phạm.

Mức xử phạt sẽ tăng nặng đối với việc tái phạm. Cụ thể, đối với công dân tái phạm có thể bị phạt tiền từ 2.500-5.000 ruble hoặc bắt giữ 15 ngày; đối với quan chức tái phạm bị phạt tiền từ 5.000-20.000 ruble và đối với pháp nhân tái phạm bị phạt tiền từ 50.000-100.000 ruble hoặc đình chỉ hoạt động trong tối đa 90 ngày.

Trước đó, tháng 7/2021, Tổng thống Putin cũng đã ký đạo luật cấm đánh đồng các mục tiêu và hành động của Liên Xô và Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng như phủ nhận vai trò quyết định của nhân dân Liên Xô trong chiến thắng chủ nghĩa phátxít./.
Yêu nước ST.

CẦN RÀ SOÁT, XỬ LÝ TẬN GỐC VIỆC BÔI NHỌ HÌNH ẢNH ĐỒNG BÀO DÂN TỘC!

         Thời gian gần đây, nhiều thông tin, hình ảnh về đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng trong các bộ phim hài, video với nội dung phản cảm, sai lệch đã gây bức xúc mạnh mẽ trong xã hội. 

Điểm mặt đầu danh sách cho hành vi trên là kênh youtube A HY TV. Tính đến thời điểm ngày 15/4/2022, kênh A HY TV có 988.000 lượt người đăng ký theo dõi, đã đăng tải 573 video. Không biết vô tình hay cố ý, chủ kênh lấy từ "hy" để đặt tên kênh. Mà từ "hy" trong tiếng Tày - Nùng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nhân vật chính của kênh này là A Hy - một người dân tộc hay có hành vi, lời nói ngây ngô ám chỉ chuyện tình dục để gây cười. Kênh này đã từng bị Ủy ban Dân tộc có văn bản đề nghị Bộ Thông tin truyền thông xử lý vào năm 2020. 

Không chỉ có kênh A HY TV, nhiều diễn viên hài chuyên nghiệp (như Trung Ruồi, Đỗ Duy Nam,...) làm clip, tiểu phẩm hài có sử dụng hình ảnh người dân tộc thiểu số với xu hướng mô tả người dân tộc thiểu số đói nghèo, ngây thơ, lạc hậu, xa lạ với văn minh, có những clip gây hiểu lầm về văn hóa, phong tục của các dân tộc thiểu số; một số trang phục không đúng với trang phục truyền thống của dân tộc, thậm chí có sự “pha tạp” quần áo giữa các dân tộc. 

Đáng lo ngại, các clip hài nói trên không những chứa đựng những nội dung độc hại, phản văn hóa mà chúng còn truyền bá cái nhìn lệch lạc về bản sắc văn hóa và phẩm chất nhân cách của đồng bào các dân tộc thiểu số. Từ đó, tạo ra những hiểu lầm, đánh giá sai lệch và cả những định kiến xã hội, tạo ra hình ảnh dân tộc thiểu số là những người bị động, đối tượng bên lề, đáng thương, yếu ớt. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bình đẳng của các dân tộc, sự thịnh vượng chung, đi ngược lại với chủ trương, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Nhà nước và những kết quả đã đạt được trong thời gian qua. 

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhất quán quan điểm thực hiện chủ trương các dân tộc bình đẳng và cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị và định kiến, gây chia rẽ dân tộc. Do đó, các cơ quan quản lý, trực tiếp là Bộ Thông tin và Truyền thông cần sớm vào cuộc xử lý quyết liệt, dứt điểm việc đưa thông tin, hình ảnh sai lệch, không đúng với thuần phong, mỹ tục của đồng bào dân tộc thiểu số./.

Yêu nước ST.

XỎ MŨI CIA, DẮT MŨI MẬT THÁM PHÁP, QUA MẶT HOA NAM TÌNH BÁO CỤC - CHÂN DUNG CHIẾN SĨ TÌNH BÁO, ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI PHẠM NGỌC THẢO QUA TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH KINH ĐIỂN "VÁN BÀI LẬT NGỬA"!

KHÔNG THỂ TIN NỔI,
40 NĂM ĐÃ TRÔI QUA, ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM KHÔNG CÓ NỔI MỘT TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH ĐỦ TẦM CỠ SÁNH NGANG VỚI "VÁN BÀI LẬT NGỬA"

Ván bài lật ngửa là bộ phim nhựa trắng đen 8 tập về đề tài gián điệp do Xí nghiệp phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982–1987.

Bộ phim mô phỏng quãng đời hoạt động của các nhân vật tình báo có thật ngoài đời của Đảng Lao động Việt Nam hoạt động trong lòng địch trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là tình báo viên Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, do Khôi Nguyên (Lê Hoàng Hoa) làm đạo diễn, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân).

Nên nhớ rằng, bộ phim được sản xuất vào năm 1982, đất nước vừa mới giải phóng được vài năm, điều kiện còn vô vàn khó khăn thiếu thốn, khó khăn đủ thứ, thiếu thốn đủ thứ, vậy mà vẫn sản xuất và cho ra mắt được bộ phim xuất sắc như thế này. Bộ phim như một tượng đài kinh điển, đứng sừng sững suốt 40 năm, mà cho đến tận bây giờ chưa có nổi một tác phẩm điện ảnh nào đủ sức ngang tầm với bộ phim này. 

Đừng thấy đây là phim đen trắng mà đánh giá thấp bộ phim này, nên nhớ thời điểm nó sản xuất, chưa có bất kỳ cái gì gọi là kỹ xảo điện ảnh hay CGI, hay diễn viên đóng thế, tất cả đều phải làm thủ công, diễn thật, làm thật, ăn thật, tất cả đều phải cố gắng hết sức bằng thực lực của mình. Phim hay bởi kịch bản cực hay, chặt chẽ, cuốn hút. Những màn đối đầu nảy lửa đầy kịch tính, những đoạn hội thoại dò xét nhau hồi hộp gay cấn, ý tại ngôn ngoại, những nút thắt mở tình tiết hợp lý, cắt dựng phim, chuyển cảnh mượt mà, xuất sắc. Phim kết hợp cả những đoạn phim tư liệu lịch sử nên cho cái nhìn chân thật, không khí phim căng thẳng hồi hộp gấp gáp khiến người xem như được sống trong thời khắc lịch sử đó. 

Vào thời điểm đó, Ván bài lật ngửa phô diễn tất cả những trang thiết bị xe cộ tối tân sành điệu nhất, những chiếc xe hơi đắt tiền, bóng loáng, mui trần, nếu để so sánh với thời đại ngày nay thì nó phải tương đương với những chiếc siêu xe 30-40 tỷ. Vào thời điểm đó mà đã huy động được trực thăng, máy bay, tăng thiết giáp, xe chở quân, súng đạn, bom rơi đạn nổ, vô cùng hoành tráng chân thật để đóng phim, những thiết bị tối tân nhỏ gọn như máy nghe lén, thiết bị chụp ảnh siêu nhỏ, đủ thứ cũng được đưa vào để làm tăng tính chân thật cho phim. 

Phim ảnh thời đó cũng tỏ ra rất thoáng, các diễn viên nam nữ hôn nhau cuồng nhiệt, bikini 2 mảnh phô diễn hết đường cong của các nữ diễn viên, thời đó chưa có internet như bây giờ, không phải lúc nào cũng có thể ngắm được những đường cong tuyệt mỹ khúc nào ra khúc đấy như vậy. Các diễn viên nữ chính vô cùng xinh đẹp, vẻ đẹp phồn thực, ấn tượng với cô nhà báo nữ Helene Fanfani do diễn viên Lan Chi thủ vai, không biết bây giờ bà đang ở đâu làm gì. Ngoài ra còn có diễn viên thủ vai Thùy Dung, và nhất là người vào vai Trần Lệ Xuân, ghê gớm, đanh đá, đáo để, bốc đồng, góp một phần không nhỏ dìm chết chế độ VNCH bằng những lời lẽ sôi sục đổ dầu vào lửa. 

Phim cũng có cái nhìn khá khách quan về chế độ VNCH thời kỳ Diệm Nhu. Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu không phải là những kẻ cục súc võ biền mà là những chính trị gia lão luyện, những bộ óc sừng sỏ, với những toan tính cẩn thận, luôn luôn nghi ngờ tất cả, nhưng cuối đời lại phạm phải hết sai lầm này đến sai lầm khác. Phim cũng lý giải rất rõ ràng, tại sao chế độ phi nghĩa VNCH chắc chắn phải sụp đổ, tại sao Diệm Nhu phải c.h.ế.t, nhận viện trợ của Mỹ, dựa vào Mỹ, mà dám bật lại Mỹ, thì chỉ có một kết cục, không còn con đường nào khác. Ngô Đình Nhu và Nguyễn Thành Luân vừa là đối thủ vừa là bạn bè của nhau, vừa đối đầu nhau, vừa tôn trọng nhau. Diễn viên Lâm Bình Chi vào vai Ngô Đình Nhu một cách xuất thần, thâm trầm, kín đáo, sâu sắc, lạnh lùng tàn nhẫn dứt khoát. 

Đạo diễn cũng rất chăm chút các khung hình, không chỉ các cảnh hành động, bắn súng, đấu trí, phản gián mà đạo diễn còn rất coi trọng vấn đề văn hóa, những phòng trà quán bar, những bản nhạc xưa, được những điệu múa cung đình ở Lào, Campuchia, những cung điện đền đài, thánh đường cầu nguyện, những buổi lễ của mỗi tôn giáo khác nhau, những sắc màu lễ hội của các dân tộc Tây Nguyên cũng được đạo diễn rất chú trọng trong phim. 

Không thể không kể đến linh hồn của bộ phim đó là cố diễn viên NSƯT Nguyễn Chánh Tín, kể cả bây giờ điện ảnh Việt Nam kiếm đâu ra được diễn viên có được cái thần thái như nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín ngày ấy. Dáng người dong dỏng cao, mũ phớt, áo măng tô, con nhà võ, tóc rẽ ngôi bồng bềnh lãng tử, lạnh lùng, quyết đoán, tỉnh táo phán đoán, nói năng từ tốn thuyết phục, điềm đạm tự tin, bật lửa châm điếu thuốc cũng đầy chất nghệ sĩ. Khung cảnh đầu phim, khi Nguyễn Thành Luân bước ra từ chiếc ô tô, khoác măng tô, đội mũ phớt, đi vào rừng dưới lá cây rơi rào rạc, trong ánh chiều tà, có lẽ là một phân cảnh kinh điển nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam.  

Nguyễn Chánh Tín thể hiện xuất sắc nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, một con người, có lẽ chăng nên được xếp vào top 10 tình báo viên xuất sắc nhất mọi thời đại. Hoạt động một mình đơn tuyến, độc lập tác chiến, đi giữa rừng gươm và biển giáo, giữa muôn trùng vây, thập diện mai phục, mà vẫn hiên ngang bất khuất, đi thẳng vào lòng địch, tung hoành ngang dọc. Đối đầu với những đối thủ sừng sỏ, cả tình báo phòng nhì Pháp, Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA, rồi cả Hoa Nam tình báo cục Trung Quốc, Sở mật vụ của VNCH, rồi có cả các đối tượng thành phần khác như Cao Miên, Fulro, đôi khi còn bị ám sát nhầm bởi chính các chiến sĩ của mình (do các chiến sĩ của mình không biết), vậy mà Đại tá Nguyễn Thành Luân - Phạm Ngọc Thảo vẫn bình tĩnh quyết đoán khôn khéo, xử lý hết tất cả mọi công việc một cách bình thản, vừa có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng, vừa cứu được các chiến sĩ cách mạng khỏi tù đày, vừa chuyển được những tin tức mật báo cho cách mạng, vừa lấy được sự tin tưởng của chính quyền VNCH, vừa không bị các đối thủ khác nghi ngờ phát giác thân phận lai lịch của mình.

Đỉnh cao nhất của nghề tình báo có lẽ là thực hiện đảo chính, thay đổi cả chế độ của quân địch, chia rẽ, gây rối loạn nội bộ hàng ngũ của quân địch. Một mình Đại tá Phạm Ngọc Thảo thực hiện những kế sách mang tầm vóc chiến lược, quyết định cục diện chiến tranh, ngang với một đạo quân hàng vạn người. Xem phim mới biết được, hòa bình độc lập thống nhất đất nước, không phải tự nhiên mà có được, không ai mang đến cho, mà phải tự chúng ta đứng lên dành lấy bằng máu của mình, máu của hàng triệu người Việt, của những anh hùng thương binh liệt sĩ đã đổ xuống để có được nền hòa bình độc lập tự chủ thống nhất như ngày hôm nay. 

Các bạn trẻ hiện nay, có lẽ sinh ra trong thời bình nên mặc nhiên hòa bình là điều đương nhiên phải có. Nhưng để có được nền hòa bình chưa bao giờ là dễ dàng. Cuộc sống chưa bao giờ dễ dàng, nếu bạn thấy nó dễ dàng thì đó là có người đã thay bạn gánh vác phần khó khăn đó. 

Phim đôi khi hơi khó xem, do kịch bản lời thoại của các diễn viên đôi khi thêm vào nhiều từ tiếng Tây, cả Anh, cả Pháp, rồi cả tiếng Hoa, kiến thức dữ liệu lịch sử rất nhiều làm bạn choáng ngợp, bạn nên hết sức tập trung chăm chú theo dõi, lắng nghe lời thoại, kết hợp với cả việc tra cứu lịch sử, để hiểu rõ hơn mới thấy đây là một bộ phim cực hay. 

40 năm trở lại đây cho đến hiện nay, 40 năm rồi đấy, đời người được mấy cái 40 năm. Điện ảnh Việt Nam bây giờ đang làm gì, ngoài mấy bộ phim truyền hình và điện ảnh chiếu rạp quanh đi quẩn lại yêu đương nhăng nhít, hài nhảm vớ vẩn, tiểu tam giật chồng, đánh ghen lố lăng, mẹ chồng nàng dâu, LGBT, sốc, sếch, sến, sẩm, câu view lăng nhăng. Đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới có một bộ phim đủ tầm vóc như Ván bài lật ngửa được ra rạp. Cần gì phải remake làm lại phim ở đâu xa, cần gì phải lấy bản quyền phim của nước ngoài. Cứ lấy kịch bản phim Ván bài lật ngửa làm lại cũng là quá tốt rồi. 

Lịch sử Việt Nam với hàng nghìn năm dựng nước giữ nước, trăm năm đối đầu với những cường quốc siêu cường hàng đầu thế giới, đánh Mỹ, chống Pháp, hất cẳng Nhật, diệt Ngụy, phang Tàu, cứu Cam, hàng trăm trận đánh, oai hùng biết mấy, hàng trăm anh hùng, oanh liệt biết bao. Chất liệu lịch sử phong phú biết bao, ngồn ngộn những tư liệu lịch sử với hàng trăm ngàn câu chuyện, nhân vật anh hùng, có thể chuyển thể thành hàng vạn kịch bản phim, hàng vạn bộ phim điện ảnh, hấp dẫn mãn nhãn đẹp mắt kịch tính, vô cùng phong phú mà không bộ phim nào giống bộ phim nào. 

Thế nhưng hiện nay, không ai chịu làm phim điện ảnh về đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng. 

Truyền hình nhà nước không làm
Điện ảnh tư nhân không làm
Công ty cổ phần phim không làm
Vậy ai sẽ làm. Bây giờ chúng ta không làm thì còn định đến bao giờ chúng ta mới làm. 

Nếu bây giờ chúng ta không làm thì đành phải để cho các nước khác làm phim về chiến tranh Việt Nam cho chúng ta xem thôi.

Đương nhiên, nước ngoài làm phim về chiến tranh Việt Nam thì phải theo góc nhìn của họ, theo quan điểm của họ. Áp đặt về văn hóa, thay đổi về nhận thức, tự diễn biến, tự chuyển hóa là từ đây chứ từ đâu nữa.

Đọc hàng nghìn trang sách lịch sử cũng chẳng thể bằng xem một bộ phim. Phim ảnh lịch sử chính là cách truyền tải nhanh nhất, ngắn nhất thông điệp lịch sử đến khán giả. Phim ảnh lịch sử gieo vào lòng người xem lòng tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, đoàn kết dân tộc, gắn kết quốc gia, giúp đất nước vượt qua khó khăn, đương đầu thử thách trong thời kỳ đầy rẫy những biến cố hiện nay./.
Yêu nước ST.

SỰ KÍNH TRỌNG CỦA LÍNH MỸ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VĨ ĐẠI!

         Ông Sedgwick Tourison,một người lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam vào năm 1961, nói rằng một kỷ niệm khiến ông không bao giờ quên đó là tình cảm đặc biệt của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông Sedwick kể lại câu chuyện bằng tiếng Việt:

“Tôi là cựu chiến binh, tôi nghĩ 99% người Mỹ đều biết Bác Hồ là ai. Tại vì ai cũng gọi ông là Bác Hồ giống như theo kiểu của người Việt Nam. Có một lần chúng tôi đi hành quân ở vùng bắc Bình Định, những người dân thường bị một đơn vị lính Mỹ bắt đưa về để khai thác. Lúc đó chúng tôi hỏi là có biết tên của tỉnh trưởng không? - Họ không biết. Có biết tên của quận trưởng không? - Họ cũng không biết luôn. Thế chúng tôi lại hỏi có biết tên của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa không? Họ cũng không biết. Cuối cùng chúng tôi hỏi thế có biết Bác Hồ không? - Họ trả lời ngay Biết chứ! Ai cũng biết mà”.

Riêng cá nhân tôi biết Ông là một người yêu nước, muốn đoàn tụ dân tộc Việt Nam như là câu nói của Ông “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Tôi nghĩ hai câu này đúng 100%”.

Hình ảnh bên dưới là những người lính Mỹ cầm trên tay ảnh Bác Hồ và nói về Người với sự hiếu kỳ về NGƯỜI CHA GIÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, bằng sự kính trọng của một người lính bị ép buộc vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, dành cho một con người vĩ đại lãnh đạo cuộc cách mạng chính nghĩa của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST

BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá “lịch sử Đảng là pho lịch sử bằng vàng”. Bởi vậy, bảo vệ lịch sử Đảng cũng như bảo vệ báu vật, tài sản của quốc gia, chính là thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; xuyên tạc và phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm; xuyên tạc đoàn kết nội bộ Đảng và thân thế, sự nghiệp, tư tưởng cách mạng, đời tư của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bảo vệ lịch sử Đảng - ảnh 1
Lực lượng đoàn viên tình nguyện hỗ trợ người dân các công tác khai báo y tế

GIANG PHƯƠNG

Thế lực phản động, thù địch thường rêu rao: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là sai lầm, bảo thủ, giáo điều”; “một đảng cầm quyền không thể có dân chủ”; “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch sử, đi theo vết xe đổ của Liên Xô”; “Đảng không phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nên không thể lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam”; “Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác”.

Họ còn xuyên tạc tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 - 1954, hạ thấp ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ; âm mưu hạ bệ thần tượng lịch sử, phủ nhận tấm gương anh hùng Tô Vĩnh Diện, phủ nhận công lao của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với lịch sử Đảng giai đoạn 1954 - 1975, họ xuyên tạc “cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một sai lầm, không có bên thắng, bên thua mà tất cả cùng thua”; “là một cuộc nội chiến, nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn. Với lịch sử Đảng 1986 đến nay, họ phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới đất nước, xuyên tạc “sau 35 năm đổi mới mà Việt Nam vẫn tụt hậu, nhân dân đói nghèo”…

Còn có luận điệu khoét sâu sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, như: xuyên tạc cải cách ruộng đất giai đoạn 1953 - 1956 và cải tạo tư sản sau năm 1975 “là cuộc thanh trừng, tắm máu”; thổi phồng tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay; quy chụp “Đảng không có năng lực lãnh đạo cách mạng”… Mặt khác, một số kẻ lợi dụng khi xử lý vụ án tham nhũng để bịa đặt “Đây chẳng qua chỉ là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực trong Đảng”; lợi dụng vụ việc mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số nơi chia rẽ quân đội với công an, dân với Đảng. Trên một số diễn đàn, các thế lực thù địch bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo, lãnh đạo Đảng, Nhà nước có tư tưởng thỏa hiệp với Tàu, xuyên tạc “Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa, có gốc Tàu”.

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng như kể trên không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng, thành quả cách mạng, tổ chức và cán bộ, đảng viên của Đảng, mà còn là bảo vệ thanh danh, uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ. Nhận thức và thông tin chính xác, khoa học và biện chứng về lịch sử nói chung và lịch sử Đảng nói riêng chính là cách hiệu quả nhất để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc như vậy.


Để làm được điều này, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần có nhận thức đúng đắn về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” và nâng cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc.

Các tổ chức đoàn thanh niên, hội sinh viên cần trang bị một số kỹ năng cần thiết cho thanh niên, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt thường kỳ, tổ chức nhiều câu lạc bộ, đội nhóm; các cuộc thi tìm hiểu, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày, tìm cách vượt ngục, phong thái hiên ngang khi ra pháp trường. Đặc biệt coi trọng đấu tranh trên không gian mạng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả: bài viết, thơ văn, chế nhạc, video clip, tranh ảnh, bình luận/chia sẻ thông tin; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, phản đối cái xấu.

Tri thức lịch sử cung cấp hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại kết luận: “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen quan niệm: Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử. V.I.Lênin khẳng định: Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ. Lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi trở thành nhà quân sự lỗi lạc, cũng là thầy giáo dạy lịch sử ở trường phổ thông.

“Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc sống an bình hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của nhân dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng cũng là bảo vệ nền tảng tư tưởng; vững tin vào thắng lợi cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo./.



Yêu nước ST.

CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Khá nhiều luận điệu trên mạng xã hội cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường xây dựng CNXH của Việt Nam. Song nếu hiểu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và xây dựng CNXH ở VN thì sẽ thấy chúng ta nhất định sẽ thành công.
Thuật ngữ CNXH, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng lần đầu tiên trong bài “Chính sách thuộc địa” viết năm 1920 và lần cuối cùng trong bài “Nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo Tổng công đoàn Việt Nam” ngày 19.7.1969. Thống kê trong Hồ Chí Minh toàn tập (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, gồm 15 tập), thuật ngữ “CNXH” xuất hiện 1.065 lần, “xây dựng CNXH” xuất hiện 573 lần.

Về mặt khái niệm, trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có một cách định nghĩa khác nhau về CNXH, song tựu trung, Người khẳng định, CNXH là làm cho “dân giàu, nước mạnh”. Người chỉ rõ: “CNXH là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do”; “CNXH là no ấm và tự do cho toàn thể nhân dân. Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; không còn người bóc lột người”. Người cũng khẳng định: “CNXH là tiền đồ chung của cả dân tộc”, “trong đó có tiền đồ riêng của mỗi cá nhân”; đồng thời CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”.

Về bản chất xây dựng CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “phấn đấu để cải tạo, để thực hiện CNXH là một sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử loài người”, “xây dựng CNXH là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc”. Người khẳng định, đây là “một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Theo Người, CNXH là chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ, có nền kinh tế, văn hóa phát triển, chuẩn mực đạo đức, khoa học kỹ thuật hiện đại, con người mới. Thông qua hoạt động lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận rất sâu sắc về bản chất xây dựng CNXH với tư cách là một chế độ có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Về mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam, đây không chỉ là ước mơ, lý tưởng mà cần thực hiện từng bước ngay ở nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Theo Người, “mục đích của CNXH là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. Mục tiêu “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”, “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”, về lâu dài thì “tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng” .


Bởi vậy, từ năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “phải lao động thật sự, có năng suất, chất lượng và kỷ luật mới có thể xây dựng được CNXH”. Đầu năm 1960, Người chỉ rõ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” .

Về động lực xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh cho rằng: Quyết định nhất là con người, vì con người, nhân dân lao động, nòng cốt là công - nông - trí thức. Trong thực hiện, phải kết hợp giữa cá nhân (sức mạnh cá thể) với xã hội (sức mạnh cộng đồng), cần kết hợp nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quan trọng.

Theo Hồ Chí Minh, “muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người XHCN”. Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của CNXH. Người luôn xây đắp khối đoàn kết dân tộc và nhấn mạnh: đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch. Cùng với động lực tinh thần, Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, sản xuất, kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất vì ích nước, lợi nhà.

Với cách diễn giải của Hồ Chí Minh về CNXH như trình bày ở trên, chúng ta thấy hoàn toàn thực hiện được ở VN. Thực chất xã hội VN hiện nay đã chứa đựng những yếu tố của CNXH, do đó việc hoàn thiện nó chỉ là vấn đề thời gian. CNXH không phải là một cái gì siêu phàm, mà là từ chính hiện thực cuộc sống của chúng ta. Đó là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là CNXH”. Điều đó thể hiện rõ trong mỗi bước đi của cách mạng VN dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc; đồng nghĩa theo thời gian ngày càng cho thấy rõ ràng hơn về mô hình CNXH mà Việt Nam đã, đang, sẽ xây dựng. Trong đó, Đại hội XIII sẽ là dấu mốc quan trọng đưa Việt Nam tiến thêm một bước tới gần đích CNXH hơn.

Hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH để thấy sự lựa chọn con đường CNXH ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - mục tiêu cao cả hướng tới của văn minh nhân loại. Từ đó, sẽ thêm tin tưởng vào con đường CNXH ở Việt Nam, biết trân trọng giá trị và bảo vệ thành quả cách mạng, không tùy tiện phát ngôn sai sự thật, không phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH, sẽ phản bác được những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Việt Nam./.
Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)

     Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.

Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg. 

Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.

Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899). 

Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905. 
Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. 

Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.

Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua. 

Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau. 

Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.

Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.

Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.
Yêu nước ST.

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - NGƯỜI CHỈ HUY TÀI BA, NHÀ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ XUẤT SẮC CỦA QĐND VIỆT NAM!

         Binh vô thường thế, thuỷ vô thường hình, năng nhân địch biến hoá nhi thủ thắng giả, vị chi thần, tức là: Dụng binh tác chiến giống như nước chảy, không có hình mẫu và phương thức cố định. Có thể căn cứ vào sự biến đổi của tình hình quân địch mà giành thắng lợi thì đó là dụng binh như thần.

Trong các danh tướng Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước thì có một vị Đại tướng xứng danh với câu nói trên của Tôn Tử. Đó chính là Đại tướng Lê Trọng Tấn, vị dũng tướng có thể xoay chuyển cục diện trận đánh trăm trận trăm thắng. Lê Trọng Tấn là con át chủ bài ở các trận đánh có tính chất quyết định để tạo thế thượng phong cho chính trị trên bàn đàm phán.

Tài năng chỉ huy của Lê Trọng Tấn thể hiện qua rất nhiều trận đánh, tên ông gắn liền với chiến trận như mở màn đánh điểm Him Lam bắt sống de Castries và tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phó tư lệnh chiến dịch Mậu Thân, tư lệnh chiến dịch Trị Thiên, Tư lệnh chiến dịch Đường 9 Nam Lào, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm tư lệnh cánh quân phía Đông....

Nhưng trận đánh mang tầm vóc chiến lược thì chính là trận Huế - Đà Nẵng. Trong 3 ngày ông đánh tan khu quân sự liên hiệp Đà Nẵng, thần tốc đưa binh từ Đà Nẵng vào La Ngà vừa đi vừa đánh mở đường đưa một đạo quân hơn bốn vạn người hàng ngàn xe các loại, vượt hơn nghìn km, đánh tan ba quân khu địch, tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ quân Nguỵ trong vòng 18 ngày đêm.

Trận đánh thứ hai đưa tên tuổi của Lê Trọng Tấn lưu danh thiên cổ chính là trận Phản Công Biên Giới Tây Nam đánh thẳng vào sào huyệt của Pol-pot, dưới sự chỉ huy của ông, quân đội ta tiến vào Cao Miên không đến ba ngày. Các nước trong khu vực chưa kịp phản ứng gì thì không lưu sân bay Phnom - Penh đã phát đi thông báo giải phóng bằng tiếng Việt, khiến cho các nước trong khối Asean và thậm chí cả Trung Hoa đái ngập cả bỉm Bobby.

Tài năng đánh trận kiệt xuất của Lê Trọng Tấn có thể được ví ngang tầm với cả Hàn Tín của Trung Hoa và Zhukov của Liên Xô. Không dám xưng là thiên hạ vô địch, nhưng nói về đánh trận bách chiến bách thắng thì tướng Tấn chúng ta đến lúc này vẫn chưa hề có đối thủ.
Xin thành kính tưởng nhớ ông với lòng thành kính và biết ơn vô hạn trong những ngày tháng tư lịch sử./.
Yêu nước ST.

Kỷ niệm 76 năm ngày truyền thống ngành Quân y!


 Ngày 16-4-1946, thành lập Bộ đội quân y. Ra đời vào nǎm đầu tiên của nền Cộng hòa, Bộ đội quân y Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập và trở thành bộ phận cấu thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành quân y được đầu tư nâng cấp; bộ mặt của các bệnh viện, nhà trường, cơ sở quân y ngày càng khang trang; chất lượng chuyên môn được củng cố và nâng cao. Nhiều bệnh viện, cơ sở quân y được xây dựng mới, trang bị hiện đại, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, cấp cứu, điều trị, cứu chữa bộ đội và nhân dân.
Thời gian tới, nhiệm vụ của quân đội đặt ra yêu cầu mới, ngày càng cao với ngành Quân y. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn ngành xác định quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; trước hết quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị về công tác quân y. Tập trung nâng cao khả năng bảo đảm quân y cho SSCĐ và các nhiệm vụ đột xuất; ưu tiên bảo đảm cho các lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, ở địa bàn trọng yếu và các đơn vị mới thành lập, các lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.
Ngày 16-4-1946: Ngày truyền thống ngành Quân y
Trung tâm điều trị bệnh nhân Covid-19, Bệnh viện Quân y 175 được triển khai thần tốc và đi vào hoạt động. Ảnh: Benhvien175.vn
Cục Quân y sẽ tham mưu với cấp trên phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện tốt công tác kết hợp quân dân y, xây dựng và củng cố các đơn vị quân y trong khu vực phòng thủ. Tập trung hoàn thành những đề án lớn của ngành, chú trọng đề án quy hoạch hệ thống bệnh xá, bệnh viện toàn quân; nâng cao năng lực hệ thống y học dự phòng quân đội. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quân y; tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc... góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
x

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.


Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.


Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.


Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:


Một là, tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.


Hai là, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.


Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.


Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.


Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.


Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi.