Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Tại sao có nhiều tập thể, cán bộ lãnh đạo, quản lý vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ?

Trong những năm gần đây, sau mỗi kỳ họp, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công khai các kết luận làm việc trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có kết luận kỷ luật, kiến nghị BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm.

 Đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân rất hoan nghênh việc công khai, minh bạch các hoạt động của Đảng, trong đó có thông báo đích danh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật. Cùng với việc vi phạm kỷ luật do tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mấy năm gần đây nổi lên tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ (TTDC) của không ít BTV, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trực thuộc Trung ương, thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là tình trạng báo động vì cấp ủy, người đứng đầu vi phạm một trong những nguyên tắc rất cơ bản, rất quan trọng của Đảng.

Trong thông báo mới nhất sau kỳ họp lần thứ 4 (từ ngày 14 đến ngày 16-6-2021) của Ủy ban kiểm tra Trung ương, BTV Tỉnh ủy Bình Dương nhiệm kỳ 2015-2020 và Ban cán sự đảng UBND tỉnh này nhiệm kỳ 2016-2021 đã “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để một số tổ chức đảng, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong quản lý, sử dụng đất đai, vốn, tài sản tại Tổng Công ty Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bình Dương (Tổng Công ty 3-2), gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại lớn tiền và tài sản của Nhà nước, nhiều cán bộ, đảng viên bị xử lý hình sự, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương”. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ đã xảy ra ngay tại ban cán sự đảng các bộ, ngành, tỉnh, thành phố như: Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (giai đoạn 2011-2016), Công an tỉnh Đồng Nai…

Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), BCH Trung ương Đảng đã chỉ rõ sự hạn chế, yếu kém trong thực hiện nguyên tắc này. Đó là: “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm”(1). Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục chỉ đúng thực trạng, tình hình thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua: “Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”(2). Từ những vi phạm trong việc thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua, cán bộ, đảng viên, nhân dân đặt ra vấn đề: Tại sao ngày càng nhiều BTV cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược do Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý vi phạm nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong hoạt động của Đảng?

 Trước hết, nguyên tắc TTDC được ví như rường cột của Đảng mà trên đó hình thành cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động, xử lý, giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng, nhất là công tác cán bộ, với quần chúng, nhân dân và công tác đối ngoại. Chính vì tầm quan trọng của nguyên tắc này, từ năm 1948 Bác Hồ đã có bài giải thích rất rõ về nguyên tắc TTDC. Khi đó, Người gọi nguyên tắc này là “Cách làm việc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách”. Đây là nội dung trong bài báo của Bác ký tên X.Y.Z, đăng trên Báo Sự thật số 100 ra ngày 23-9-1948. Bác giải thích rõ ràng, dễ hiểu rằng: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là dân chủ tập trung”. Đồng thời Bác cũng quy rõ trách nhiệm rằng: “Người nào phụ trách thi hành, mà không làm đúng kế hoạch do đa số đã quyết định, là làm trái với nhiệm vụ của mình, và cũng không xứng đáng là một người lãnh đạo”(3).

 Như vậy, nói một cách nôm na, dễ hiểu và cũng rất đúng với bản chất của nguyên tắc TTDC là: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Hiện nay, tất cả các tập thể BTV cấp ủy đảng, những đảng viên là ủy viên BTV và người đứng đầu cấp ủy trực thuộc Trung ương hầu hết có học vấn cao, quá trình công tác trải qua nhiều môi trường, được học tập, nghiên cứu, trải nghiệm qua nhiều trường lớp cũng như thực tiễn cuộc sống... nên  không thể nói không biết, không nhớ, không hiểu, không rõ nội dung, yêu cầu... của nguyên tắc TTDC. Việc vi phạm nguyên tắc TTDC trong thời gian qua là do một số nguyên nhân chủ quan chính sau:

Thứ nhất, tập thể cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu thiếu trách nhiệm, tự tiện, không gương mẫu trong thực hiện nguyên tắc hoạt động của Đảng. Chúng ta không thiếu tài liệu, văn bản hướng dẫn thực hiện nguyên tắc TTDC, mà chỉ thiếu tinh thần trách nhiệm, sự nêu gương trong quá trình thực hiện nguyên tắc của Đảng. Những sai phạm của không ít BTV cấp ủy, của người đứng đầu trong thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua thường ở một số lĩnh vực như đất đai, tài nguyên, việc phê duyệt và thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, công tác đánh giá, quy hoạch, đề bạt, sử dụng cán bộ... Trong mỗi lĩnh vực này đều có các văn bản quy định, hướng dẫn khá đầy đủ, chặt chẽ và kín kẽ... Thế nhưng do nhiều nguyên nhân, trong đó có lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, quan hệ thân hữu, gia đình, vợ, chồng, con cái và cũng do nể nang, dĩ hòa vi quý, có đi có lại mà “quên” đi việc thực hiện nguyên tắc quan trọng của Đảng. Nhiều sai phạm, khuyết điểm quá rõ ràng, đến người dân cũng thấy vô lý và dễ dàng nhận ra đúng - sai.

Thứ hai, thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Trong hầu hết các Thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khi nói đến việc vi phạm nguyên tắc TTDC thì thường gắn liền với khuyết điểm “thiếu lãnh đạo, chỉ đạo”, “thiếu” hoặc “buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát”. Lãnh đạo và kiểm tra, giám sát là hai mặt thống nhất, liên quan mật thiết với nhau. Từ lâu, Đảng ta đã đúc kết: “Lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi như không lãnh đạo”(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút chân lý: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”(5). Việc buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát ở đây có trách nhiệm chính thuộc về người đứng đầu cấp ủy, trực tiếp lãnh đạo công tác kiểm tra và đồng chí ủy viên BTV, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, thấy sai nhưng không dám nói, không làm tròn trách nhiệm của mình.

Thứ ba, tập thể BTV, các cấp ủy viên, người đứng đầu không thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Do không thật thà, thẳng thắn, công tâm và không có tình đồng chí trong phê bình, thậm chí vì nể nang, né tránh, lợi ích nhóm... cho nên khi tập thể cấp ủy họp trước khi ra quyết định, có đồng chí biết mà không nói hoặc nói không hết, không chỉ ra những cái sai của đồng chí mình, có khi “ngậm miệng ăn tiền” và biểu quyết thông qua nghị quyết. Về phía người đứng đầu, có người lợi dụng chức quyền, nhiều khi dùng “bình phong” tập thể để che đậy ý đồ, lợi ích cá nhân của mình. Trong thực tế, có những người đứng đầu cấp ủy biết là trái nguyên tắc của Đảng nhưng vẫn cố làm bằng được. Đến khi bị phát hiện ra thì vụ việc đã quá nghiêm trọng, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tập thể và cá nhân. Nói như Bác Hồ thì những người như thế “không xứng đáng là một người lãnh đạo”.

Thứ tư, chưa thực sự công khai, dân chủ trong quá trình thực hiện nguyên tắc TTDC. Ngày nay, công khai được coi là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình thực hiện nguyên tắc của Đảng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc TTDC. Tất nhiên có những vấn đề thuộc nội bộ của Đảng cần phải giữ bí mật theo quy định. Nhưng có những vấn đề không có trong quy định giữ bí mật, kể cả trong công tác cán bộ cần được công khai để nhân dân giám sát quá trình thực hiện. Thực tế cho thấy việc công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật trong thời gian qua không làm cho Đảng yếu đi, ngược lại, tăng niềm tin của đảng viên và nhân dân, làm cho Đảng ta mạnh hơn lên.

Thứ năm, chúng ta chưa thật sự có cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng. Tuy Đảng đã ban hành một số quy chế, quy định về việc các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý với cấp ủy, chính quyền, giám sát cán bộ, đảng viên, nhưng những quy định này chưa được thể chế hóa. Vì vậy, việc góp ý, giám sát của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả. Việc thực hiện nguyên tắc TTDC trong các tổ chức đảng lại càng chưa có cơ chế để nhân dân giám sát, cho nên không được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời, dứt điểm khi mới phát sinh. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho một số vi phạm nghiêm trọng rất lâu mới bị phát hiện, xử lý, gây hậu quả nghiêm trọng.

Tìm ra nguyên nhân vi phạm nguyên tắc TTDC và đề ra giải pháp khắc phục chính là góp phần làm cho nguyên tắc của Đảng được giữ vững, thực sự nghiêm minh, dân chủ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

 Những năm qua, các tỉnh, thành trong cả nước luôn luôn quan tâm chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS) cả về số lượng và chất lượng bởi cán bộ người DTTS chiếm một vị trí quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng. Việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS luôn được Đảng xác định là yêu cầu bức thiết trong điều kiện một quốc gia có nhiều dân tộc nhằm góp phần tạo sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc; xóa đói giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, khó khăn; tạo động lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở từng vùng, miền trong cả nước; ổn định chính trị và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Không thể cứ “thiếu và yếu”

Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người DTTS dù đã được quan tâm, có những đổi mới, thu được nhiều kết quả song vẫn còn những khó khăn cần có hướng giải quyết phù hợp. Tại Hội thảo “Xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS” do Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội Vụ phối hợp tổ chức năm 2019, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, khi đó là Trưởng Ban Dân vận Trung ương đã chỉ ra rằng: Hiện nay, cả nước có 53 DTTS sinh sống thành cộng đồng tại 51 tỉnh, thành phố. Nhà nước đã ban hành 118 chính sách đối với đồng bào DTTS, bao gồm 54 chính sách trực tiếp, 64 chính sách gián tiếp. Tuy nhiên, chính sách này vẫn dàn trải và cần có giải pháp giải quyết tốt hơn.

Để có được đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ không dễ. Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước hiện có 5.468 xã vùng DTTS và miền núi, chiếm 49% tổng số xã toàn quốc. Khoảng 87% xã DTTS phân bố ở khu vực nông thôn. Tính đến ngày 1-4-2019, 53 DTTS có khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Đội ngũ cán bộ người DTTS vẫn luôn được đánh giá “thiếu và yếu” nhưng họ lại là những người có vai trò hạt nhân trong việc vận động quần chúng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp, là cầu nối quan trọng giữa chính quyền và nhân dân. Trước tình trạng đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người DTTS là yêu cầu bức thiết, có vai trò quyết định đến việc triển khai hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước. Nhận thức rõ vấn đề này, nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã có nhiều đổi mới từ khâu đào tạo, bồi dưỡng tới sử dụng đội ngũ cán bộ này đạt hiệu quả nhất.

Lạng Sơn có gần 18.000 cán bộ là người DTTS, chiếm gần 80% tổng số cán bộ toàn tỉnh. Đội ngũ cán bộ người DTTS của Lạng Sơn chủ yếu là người dân tộc Nùng, Tày, số còn lại là dân tộc Dao, Sán Chay, Hoa… Những năm qua, Tỉnh ủy đã luôn quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ này. Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2015-2020, BTV Tỉnh ủy đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt Đề án: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ tuổi, cán bộ nữ, cán bộ là người DTTS tỉnh Lạng Sơn đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh đã ban hành chương trình, đề án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng năm, từng giai đoạn cụ thể. Từ đó rà soát, lựa chọn, cử cán bộ người DTTS tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn và dài hạn về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, các kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ theo vị trí việc làm. Trung bình mỗi năm, toàn tỉnh có khoảng 7.000 lượt cán bộ là người DTTS được cử đi đào tạo, bồi dưỡng. Giai đoạn 2016-2019, tổng số cán bộ người DTTS của tỉnh được đào tạo, bồi dưỡng là 23.245 lượt người. Sau đào tạo, bồi dưỡng, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ này, nhất là cán bộ làm công tác quản lý đã được nâng lên. Tỉnh ủy vận dụng linh hoạt: Không ấn định tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia BCH, BTV, các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở các cấp mà quy định số lượng phù hợp với cơ cấu dân cư và đặc điểm của địa phương, đơn vị. Trên thực tế, tỷ lệ cán bộ là người DTTS tham gia cấp ủy và giữ vị trí chủ chốt ở các ngành, các cấp trong tỉnh đều cao hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước, phù hợp với cơ cấu dân cư các địa phương trong tỉnh.

Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới có 25 dân tộc chung sống, chiếm 66% số dân toàn tỉnh, chủ yếu là dân tộc Mông (25%), dân tộc Tày (15%), dân tộc Dao (14%). Để xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS có chất lượng, Tỉnh ủy Lào Cai đã xây dựng Đề án quy hoạch và đào tạo cán bộ DTTS, UBND tỉnh có quy định ưu tiên tuyển dụng người DTTS vào các cơ quan của Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Hằng năm, UBND tỉnh giao chỉ tiêu bồi dưỡng cán bộ DTTS cho các đơn vị theo ngạch và theo tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý; định hướng nội dung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành. 5 năm qua, tỉnh đã bồi dưỡng được hơn 8.500 lượt cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và huyện là người DTTS. Tỉnh đã lựa chọn, cử gần 100 sinh viên đến các trường đại học: Y - Dược Thái Nguyên, Thủy lợi, Giao thông vận tải, Mỏ - Địa chất, Luật Hà Nội để đào tạo chuyên môn. Thực hiện chính sách ưu tiên tuyển dụng cán bộ, công chức là người DTTS, hướng mạnh về cấp xã, 5 năm qua (2015-2020), Lào Cai đã tuyển dụng 1.881 công chức, viên chức là người DTTS, chiếm 54,4% số công chức, viên chức được tuyển dụng.

Giai đoạn 2017-2019, tỉnh Tuyên Quang đã đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, các kỹ năng chuyên ngành theo vị trí việc làm, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho 3.133 lượt cán bộ, công chức là người DTTS. 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh có 127 cán bộ, công chức là người DTTS được cử đi đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước và nghiệp vụ chuyên ngành. Huyện Yên Sơn hiện có 265 cán bộ, công chức là người DTTS, chiếm trên 39% tổng số cán bộ, công chức toàn huyện. Năm 2020, huyện có 128 cán bộ, công chức được cử đi học trung cấp và cao cấp lý luận chính trị, trong đó 44 cán bộ, công chức là người DTTS; 127 cán bộ, công chức đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn, trong đó 53 cán bộ, công chức là người DTTS. Hiện nay, nhiều xã có 100% cán bộ giữ vị trí chủ chốt là người DTTS như Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung Minh, Kim Quan… Đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức người DTTS cấp cơ sở được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, trình độ ngày càng được chuẩn hóa. Không chỉ được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cán bộ là người DTTS ở Tuyên Quang còn thường xuyên được tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn ngày do tỉnh, huyện tổ chức về kỹ năng giải quyết các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, người có công với cách mạng..., góp phần tham mưu với chính quyền nhiều giải pháp hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Là địa phương có nhiều người DTTS sinh sống, Gia Lai luôn quan tâm đến công tác dân tộc nói chung và công tác cán bộ DTTS nói riêng. Hằng năm, tỉnh đều rà soát, lập danh sách, đánh giá đội ngũ cán bộ người DTTS để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, ngạch công chức; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng. Trong giai đoạn 2014-2018, tỉnh đã tiến hành đào tạo, bồi dưỡng được 2.580 lượt cán bộ, công chức người DTTS. Để bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho cơ sở, tỉnh cũng tuyên truyền, vận động con em đồng bào DTTS đến trường; ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút con em đồng bào DTTS sau khi tốt nghiệp đại học về công tác tại địa phương. Từ năm 2014 đến năm 2019, tỉnh đã cử tuyển 1.176 học sinh con em đồng bào DTTS đi học tại các trường đại học, cao đẳng, sau khi tốt nghiệp phần lớn các em đều được bố trí, sắp xếp việc làm phù hợp tại địa phương.

Kết quả nhiều mặt

Không chỉ quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ là người DTTS, các tỉnh, thành phố cũng chú trọng thực hiện chính sách ưu tiên đối với cán bộ DTTS (trong tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ). Để có đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, cấp uỷ các cấp ở Lạng Sơn chú trọng thu hút đội ngũ có trình độ, năng lực chuyên môn giỏi về công tác tại địa bàn khó khăn, có đông đồng bào DTTS; luân chuyển, tăng cường cán bộ lãnh đạo, quản lý là người DTTS hoặc cán bộ đến công tác tại vùng khó khăn có đông đồng bào DTTS; bố trí, sử dụng cán bộ là người DTTS vào cấp ủy, chính quyền, cơ quan nhà nước các cấp… Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã thực hiện tuyển dụng không qua thi tuyển và bố trí phân công công tác đối với 84 sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường vào các cơ quan nhà nước; trung bình mỗi năm thu hút, luân chuyển, điều động khoảng 2.000 lượt cán bộ đến công tác ở vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống.

Với nhiều giải pháp đồng bộ, huyện Đakrông xây dựng được đội ngũ cán bộ người DTTS đủ năng lực, phẩm chất và chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhận công việc. Trong tuyển dụng, sử dụng cán bộ, huyện luôn ưu tiên đưa người DTTS vào biên chế công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã. Trong lĩnh vực giáo dục, huyện luôn quan tâm đến chính sách cử tuyển và tuyển dụng theo vị trí việc làm sau khi sinh viên tốt nghiệp ra trường. Từ năm 2013 đến đầu năm 2021, huyện đã tuyển dụng, bố trí việc làm cho 40 đối tượng cử tuyển tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng (công chức cấp xã 19, trí thức trẻ 1, viên chức sự nghiệp 19, không chuyên trách cấp xã 1 người). Nhờ vậy, những đối tượng mới ra trường có việc làm, được trải nghiệm thực tế, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc.

Có thể thấy, trong nhiệm kỳ 2015-2020, công tác cán bộ người DTTS được các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương hết sức quan tâm. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 cũng thể hiện nhất quán việc thực hiện chủ trương về công tác cán bộ người DTTS của Đảng và Nhà nước. Kết quả bầu cử tại 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương cho thấy, tổng số cấp ủy viên khóa mới được bầu là 3.330, trong đó có 389 cấp ủy viên người DTTS, đạt tỷ lệ 11,68%, cao hơn nhiệm kỳ trước 0,72%; ủy viên BTV là người DTTS có 113 đồng chí (11,86%), cao hơn nhiệm kỳ trước 0,51%; bí thư cấp ủy là người DTTS 6 đồng chí (9,23%), cao hơn nhiệm kỳ trước 1,54%.

Nhiều giải pháp đồng bộ nêu trên đã góp phần nâng cao chất lượng, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ DTTS. Cán bộ người DTTS là những người trưởng thành từ cơ sở, nắm rõ nhất đặc điểm vùng miền, được cộng đồng tín nhiệm, chính vì vậy Đảng và Nhà nước cần trao cho họ cơ hội được phát triển thông qua các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, quy hoạch, sử dụng cán bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Có như thế, họ sẽ thực sự phát huy được vai trò, có nhiều đóng góp, tạo dựng niềm tin trong nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ người DTTS thông qua mối quan hệ họ hàng, làng xóm, đặc biệt là bám sát cơ sở nên thuận lợi trong nắm bắt thực tiễn, kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Do đó, nhiều vụ việc bức xúc về đất đai, xây dựng, môi trường và các vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự xã hội… đã được giải quyết thấu đáo, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào DTTS sinh sống.

Việc tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để có những cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới đang là đòi hỏi khách quan và là yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng Đảng và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay.

XUNG ĐỘT GIỮA NGA VÀ UKRAINE – NHỮNG VẤN ĐỀ KHÔNG THỂ “XUYÊN TẠC” Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Chiêu bài đó, đã và đang được thực hiện lại trong những ngày qua, khi chính trường thế giới liên tục dậy sóng trước những căng thẳng leo thang xoay quanh quan hệ giữa Nga và Ukraine mà điểm nút là khi Tổng thống Nga Putin phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine (24/02/2022). Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”… Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài. Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau: - Đầu tiên, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. - Khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình. - Thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Thông qua các phát biểu gần đây của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tại buổi họp báo diễn ra vào ngày 23/2 cũng như phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp quốc tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 01/3 đều khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. - Hơn thế nữa, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Thêm một điều không thể phủ nhận đó là, Việt Nam - một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Thực tế cho thấy, việc giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ giữa Nga và Ukraine, trước tiên phải là trách nhiệm của các bên liên quan, Việt Nam sẽ tham gia khi đảm bảo các điều kiện về đối nội và đối ngoại, có nghĩa là khi cộng đồng quốc tế chính thức vào cuộc và lợi ích quốc gia – dân tộc được đảm bảo. Trong ngày thứ 2 của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp quốc; đồng thời bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã phần nào minh chứng được, vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình thế giới. Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Giữ gìn nhân phẩm, danh dự người đảng viên Trong các mối quan hệ xã hội, nhân phẩm và danh dự là hai yếu tố tạo nên giá trị, cốt cách của mỗi người. Nhân phẩm, danh dự, uy tín không bỗng dưng hoặc trong một chốc lát có được, mà phải trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, dày công vun đắp, được thử thách qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, nhân phẩm, danh dự và uy tín “là điều thiêng liêng, cao quý nhất” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh. Ấy thế nhưng thời gian qua, nhiều người đã tự mình tước bỏ những điều thiêng liêng, cao quý ấy. 1. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XI đến nay, liên tục hơn một thập kỷ qua, toàn Đảng, toàn dân ta được chứng kiến những bước tiến vượt bậc, thành quả to lớn với thay đổi về chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc Đảng ta quyết tâm đương đầu chống “giặc nội xâm”-nạn tham nhũng-một cách quyết liệt, triệt để được các chuyên gia ví như một cuộc đại chỉnh đốn chưa từng có trong lịch sử xây dựng, phát triển của Đảng ta. Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để tiếp tục khẳng định quyết tâm làm trong sạch đội ngũ. Trong đó, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; không cho lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. Mặc dù vậy, nhìn vào những vụ việc vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước của cán bộ, đảng viên bị phát hiện, xử lý chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay khiến nhiều người chưa thể yên tâm. Nhất là suốt hơn hai năm qua, trong khi cả nước đang gồng mình vượt qua đại dịch, lại có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên đã bất chấp liêm sỉ, bất chấp luật pháp và đạo đức xã hội để trục lợi, khiến dư luận xã hội dè bỉu, phẫn nộ. 2. Chúng ta biết rằng, có không ít trường hợp cán bộ, đảng viên lúc đương chức, khi phát biểu trong hội nghị, trả lời báo chí thì tỏ ra mình liêm khiết, chí công vô tư để đánh bóng uy tín, tên tuổi. Thế nhưng khi tay đã “vấy bẩn” thì những lời phát biểu ấy càng trở nên lố bịch, làm trò cười cho dư luận. Sự nghiệp chính trị, danh dự, uy tín mà biết bao nỗ lực, phấn đấu bền bỉ không dễ gì có được cũng theo đó mà lụi tàn. Thậm chí, những cán bộ, đảng viên “hai mặt” ấy còn làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin nơi quần chúng vào Đảng, bởi họ đều là những người đã từng một thời được quần chúng hết mực tin yêu. Niềm tin là thứ không dễ gì có được, nhưng một khi đã đánh mất niềm tin nơi quần chúng thì cũng không dễ gì lấy lại được. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn mỗi đảng viên không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, vững vàng trước mọi khó khăn, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Người chỉ rõ, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu... sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”. Những chỉ dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người không phải bỗng dưng mà có được, không thể mua được bằng tiền bạc hay địa vị mà “do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố"... Ngày hôm qua anh là người tốt, có ích cho xã hội, nhưng nếu không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện thì chưa hẳn hôm nay anh còn là người tốt, thậm chí còn gây tổn hại cho uy tín, thanh danh của tổ chức, gây họa cho xã hội... Thực tế cho thấy, trong giai đoạn 2013-2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131.000 đảng viên, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực. Không chỉ bị kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước trừng trị thích đáng mà hơn cả là tòa án lương tâm, dư luận lên án, bị “xã hội tiến bộ sa thải”. Cái mất lớn nhất vẫn là phẩm giá, thanh danh, bởi một khi đã bị vấy bẩn thì không dễ gì gột rửa. 3. Danh dự làm nên phẩm hạnh con người, là thước đo giá trị của mỗi người trong xã hội. Với một người bình thường, danh dự đã là cao quý. Là cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, danh dự càng cao quý, thiêng liêng. Bác Hồ vẫn thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn giữ gìn, bồi đắp đạo đức, nhân cách. Người căn dặn: "Hạnh dục phương", nghĩa là đức hạnh, đạo đức phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất. Phải tránh xa những thói xấu “lười biếng, gian giảo, tham ô”. Phải biết sống “ngay thẳng, không có việc gì phải giấu Đảng”, “không tham địa vị. Không tham tiền tài”... Đó là phẩm chất, đức hạnh, danh dự của người cộng sản. Cán bộ, đảng viên phải biết giữ “thanh danh của Đảng” và “danh giá của mình”. Trong nhiều bài viết và nhiều lần phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phân tích sâu sắc về tư cách, đạo đức cách mạng, về liêm sỉ và danh dự của người cán bộ, đảng viên. Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ thanh liêm, giữ liêm sỉ và danh dự của người đảng viên. "Nếu không liêm thì của gì cũng cả gan lấy. Không sỉ thì việc gì cũng bất chấp làm. Người mà đến như thế không chỉ rước họa làm “thân bại danh liệt” và thử hỏi còn tai họa nào mà chẳng đến. Huống chi, kẻ làm quan mà cái gì cũng rắp tâm mưu đoạt, việc gì cũng bằng mọi thủ đoạn mà làm thì sao mà thiên hạ không loạn, quốc gia không mất cho được. Khi không có tài đức mà dám cầm trọng trách để cho cơ đồ tan hoang, đổ vỡ. Khi mình đã ở cấp lãnh đạo mà không làm cho đạo đức được thi hành, quốc pháp được tuân thủ. Những người chuyên sống xảo trá, quỷ quyệt, ăn cắp quốc khố là vô hình trung đã vứt bỏ mất danh dự, liêm sỉ, tức là lòng hổ thẹn của mình rồi”, Tổng Bí thư nhấn mạnh. Chỉ tính riêng trong năm 2021, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra 390 vụ án và hơn 1.000 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ. Nhiều cán bộ cấp cao vi phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Nhìn vào số lượng cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật liên quan đến tham nhũng, tiêu cực khiến nhiều người không khỏi lo lắng. Các chuyên gia cho rằng, kết quả chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua mới chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Trong nhiều vụ việc, kết quả xử lý những "mảng chìm tiêu cực" mới chỉ được một phần rất nhỏ. Những con số nêu ra trên đây là những trường hợp đã bị phát hiện, xử lý, nhưng trên thực tế, vẫn còn một phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang tự đánh mất phẩm giá, làm hoen ố danh dự của người cộng sản. Họ đã không kiên tâm, bền chí nuôi dưỡng, bồi đắp và bảo toàn danh dự hai tiếng “đảng viên”; không vượt qua được cám dỗ “mồi phú quý, bả vinh hoa”. Cũng bởi thế, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, trong nhiều bài viết, bài phát biểu của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhấn mạnh đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên là phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân làm cho không ít cán bộ nảy sinh căn bệnh tham ô, tư túi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích tập thể, trên cả lợi ích của quốc gia, dân tộc. Những bài học đau đớn, xót xa từ rất nhiều cán bộ, đảng viên chỉ vì chút lợi ích vật chất tầm thường mà đánh mất phẩm giá, danh dự, uy tín vẫn còn nguyên giá trị, là tấm gương để chúng ta tự mình soi chiếu, tự mình suy ngẫm và có hành động đúng đắn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải luôn khắc cốt ghi tâm rằng, một khi đánh mất nhân phẩm và danh dự là mất đi giá trị làm người. Hơn thế, giữ gìn phẩm giá, danh dự, uy tín của một người đảng viên không chỉ là giữ gìn cho mình mà đó còn là giữ gìn và bảo vệ danh thơm, tiếng tốt của Đảng một cách bền vững nhất.

Hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh tiếp cận từ khía cạnh văn hóa.

 1. Hồ Chí Minh tiếp biến văn hóa Đông - Tây trên nền tảng giá trị văn hóa dân tộc

Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, được hấp thụ nền giáo dục truyền thống, Hồ Chí Minh có sự hiểu biết toàn diện, sâu sắc về lịch sử - văn hóa dân tộc và những giá trị văn hoá phương Đông. Đó là ý thức bảo tồn, củng cố bản sắc dân tộc, là tư tưởng đại đoàn kết, tương thân, tương ái, nhân nghĩa, khoan dung; là khát vọng có được một cuộc sống thanh bình, no ấm. Chính chủ nghĩa yêu nước của dân tộc là hành trang về tư tưởng, nhận thức trước khi Người rời bến Nhà Rồng tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Trong hơn 10 năm đèn sách với cha và với các bậc thầy nổi tiếng dạy giỏi ở huyện Nam Đàn (Nghệ An), Hồ Chí Minh đã tiếp thu những yếu tố tích cực của Nho giáo về đạo đức, về nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính và tránh được những nhược điểm, hạn chế của học thuyết này để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Theo Người, đạo Khổng không phải là một tôn giáo, mà là một môn đạo đức học và phép xử thế trong xã hội.

Khi còn nhỏ, Hồ Chí Minh đã đọc cuốn sách của Giăng Giắc Rút-xô được dịch ra tiếng Trung Quốc. Trong mỗi trang sách, Người đã thấy những chân lý đơn giản và vĩ đại. “Người ta sinh ra vốn tự do, bình đẳng nhưng ở mọi nơi họ lại bị xiềng xích; từ bỏ tự do có nghĩa là từ bỏ phẩm giá con người và quyền con người; người mạnh nhất cũng không bao giờ đủ mạnh để lúc nào cũng là ông chủ; nếu như nhân dân có khả năng vứt bỏ ách áp bức và làm điều ấy thì họ cũng đã hành động đúng - từ những tư tưởng tản mạn ấy - hình thành nên cương lĩnh hành động, cương lĩnh đấu tranh cho tự do”(1). Tinh thần yêu tự do, thái độ xem thường những khuôn phép truyền thống và những giáo lý của chủ nghĩa vô thần, những lời kêu gọi tha thiết chiến đấu cho tự do, bình đẳng trong cuốn sách của một người Pháp vĩ đại khiến Hồ Chí Minh xúc động. Vì thế, Người đã có ý tưởng đi tìm hiểu xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào. Khi tâm sự với nhà báo Ô.Man-den-xtam, Người nói: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rút-xô và Mông-tét-xki-ơ cũng bị cấm... Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”#. Những điều học hỏi, tiếp thu được từ nhỏ đã ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc và hướng tới xây dựng một xã hội bình đẳng, không có áp bức, bóc lột, bất công.

Trong những năm lao động kiếm sống, Người đã học tiếng Anh, tiếng Pháp thành thạo, dùng những ngôn ngữ ấy trong việc nghiên cứu lịch sử và văn hoá phương Tây, để đấu tranh, bênh vực đồng bào mình và các dân tộc bị áp bức, chống đế quốc, thực dân. Hồ Chí Minh hiểu rõ được văn hoá phương Tây, đặc biệt là văn hoá, văn minh Pháp. Người nghiên cứu những tư tưởng trong các tác phẩm của thời kỳ Phục hưng, của các nhà triết học khai sáng Pháp, những tư tưởng của Rút-xô, Vôn-te, Mông-te-xki-ơ, tìm hiểu những tư tưởng của CNXH không tưởng Pháp, tư tưởng của H.Đờ Xanh Xi-mông, F.M.Sác-lơ Phu-ri-ê. Họ đã phê phán sâu sắc những bất công, bất bình đẳng của xã hội tư bản, hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, không có tư hữu, không còn bóc lột, mọi người sống với nhau hòa bình, hạnh phúc… Đặc biệt, những tư tưởng của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của cách mạng Pháp đã được Hồ Chí Minh đi sâu phân tích, trong đó khẳng định những giá trị chân chính, những nhân tố tích cực, tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng nhân văn, giải phóng con người khỏi thần quyền và sự thống trị của những quan hệ phong kiến…

Hồ Chí Minh đọc được bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, trong đó đề cập đến quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người, quyền của nhân dân kiểm soát chính phủ… “Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ chính phủ ấy đi, và gây lên chính phủ khác”#. Hồ Chí Minh khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khâm phục tư tưởng vĩ đại của Oa-sinh-tơn, Gie-phe-sơn, Linh-côn. Đồng thời, Người cũng phát hiện ra những nghịch lý: Đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt chủng tộc ghê gớm…

Hồ Chí Minh đã kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa, tư tưởng truyền thống của dân tộc bằng cách kết hợp, tiếp biến, tổng hòa và phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa, tư tưởng phương Đông và phương Tây.

2. Hồ Chí Minh tích cực hoạt động thực tiễn tìm đường cứu nước nhằm đạt tới giá trị cao nhất của văn hóa là đem lại tự do, hạnh phúc cho con người

Ra nước ngoài, Hồ Chí Minh có điều kiện đi nhiều nước, có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, gia nhập nhiều tổ chức, nhiều hội, đoàn để học cách tổ chức, tìm hiểu các cơ chế chính trị - xã hội nhằm chắt lọc lấy cái hay, cái tốt, cái phù hợp để phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập trong tương lai.

Trong thời gian ở Anh (1913-1917), lần đầu tiên Hồ Chí Minh tiếp xúc với một tổ chức chính trị - Hội những người lao động Trung Quốc ở hải ngoại. Người tham gia Công đoàn hải ngoại, cùng các công đoàn Anh biểu tình đòi tự do, tham dự những buổi đình công của công nhân. Như vậy, từ một người yêu nước, một người lao động làm thuê, Hồ Chí Minh bắt đầu bước vào một tổ chức gắn bó với những người dân thuộc địa nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc. Đồng thời, Hồ Chí Minh tranh thủ thời gian học tập, nghiên cứu, đặc biệt là theo dõi các tin tức về tình hình quốc tế, nhất là diễn biến của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Thực tế đó đã giúp Người hiểu rằng: Trong chiến tranh đế quốc, nhân dân lao động ở chính quốc cũng như thuộc địa đều khổ như nhau, xương máu hy sinh phục vụ lợi ích của đế quốc và bản chất của chúng là phản động.

Trong thời gian sống ở Pháp (1917-1923), Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc quan sát mà còn thực sự đi vào hoạt động trong tổ chức những người Việt Nam yêu nước, trong giai cấp công nhân Pháp và trong những người thuộc các màu da khác nhau sống trên đất Pháp. Người tham gia hoạt động chính trị, văn hoá, khoa học, nghệ thuật rất đa dạng và phong phú. Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi tại sao vào Đảng Xã hội Pháp, Người trả lời: “Vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của đại cách mạng Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái”(2). Ở Pháp lúc này, không phải chỉ có Đảng Xã hội tuyên bố theo lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, nhưng đúng là đảng duy nhất có xu hướng, chủ trương bênh vực các dân tộc thuộc địa. Nhà văn Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép đánh giá: “Đối với nhà yêu nước trẻ tuổi Việt Nam, việc vào Đảng đã mở đầu cho sự hoạt động cách mạng chuyên nghiệp”(3). Về sau, khi trả lời phỏng vấn của một nhà báo Pháp, Hồ Chí Minh nói: “Hồi đó nước chúng tôi đang ở dưới ách chủ nghĩa thực dân Pháp, bị bóc lột ghê gớm và khổ sở vô cùng. Tôi biết rất ít về các vấn đề chính trị, nhưng tôi muốn Tổ quốc tôi được giải phóng, các dân tộc thuộc địa được giải phóng. Tôi bắt đầu viết và phát những truyền đơn tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp. Tôi chưa biết đảng là gì, công đoàn là gì, càng không rõ chủ nghĩa xã hội khác chủ nghĩa cộng sản ở chỗ nào. Nhưng có những “ông, bà” - lúc đầu tôi gọi các đồng chí tôi trong Đảng Xã hội như thế - đã tỏ đồng tình với tôi. Vì vậy, tôi tham gia Đảng Xã hội”(4).

Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, ngày 18-6-1919, các nước đồng minh thắng trận họp Hội nghị ở Véc-xây (Pháp). Thay mặt cho nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam đòi quyền tự do, bình đẳng cho các dân tộc. Bản Yêu sách gửi đến Hội nghị Véc-xây không có hồi âm nhưng nó đã tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam trong và ngoài nước. Một người Việt Nam dũng cảm với tên gọi Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đã dám đưa vấn đề chính trị của Việt Nam ra quốc tế, đòi cho Việt Nam có những quyền lợi cơ bản chính đáng, thiết thực. Đây là dấu hiệu mới của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trên con đường đi tới độc lập dân tộc.

Bản Yêu sách không được chấp nhận, dù chỉ là những đòi hỏi rất ôn hòa cả về nội dung và hình thức. Chính từ thực tế đó, Hồ Chí Minh rút ra kết luận, chủ nghĩa Uyn-xơn thực ra chỉ là một trò bịp bợm lớn. Hơn nữa, nó còn giúp Người hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của những nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Điều đó giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng muốn đánh đuổi chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và được giải phóng không thể trông cậy vào lực lượng bên ngoài, không thể bằng con đường thương lượng, đàm phán mà phải tự mình đứng lên đấu tranh giành độc lập.

Từ yêu cầu thực tiễn, Hồ Chí Minh tích cực tham gia hoạt động xã hội. Cuối năm 1919, Người cùng một số đảng viên Đảng Xã hội Pháp đi quyên góp tiền trong các phố ở Pa-ri để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính phủ Pháp và chính phủ các nước đồng minh bao vây nước Nga Xô-viết. Cùng với việc quyên tiền, Hồ Chí Minh tham gia phân phát các truyền đơn của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi người lao động lên án sự can thiệp vũ trang của Chính phủ Pháp vào nước Nga, hoan nghênh Cách mạng Tháng Mười Nga. Theo Báo cáo của mật thám, ngày 11-2-1920 Hồ Chí Minh đã trình bày tại Hội nghị những người thanh niên cộng sản Quận 2 đề tài: “Chủ nghĩa Bôn-sê-vích ở châu Á”, “Vấn đề ruộng đất ở Trung Quốc và Việt Nam”. Ngày 27-3-1920, Hồ Chí Minh nói chuyện với thanh niên Quận 13, Pa-ri về CNXH#. Những hoạt động trên cho thấy Hồ Chí Minh đã có xu hướng theo Cách mạng Tháng Mười Nga, có những hoạt động thiết thực để ủng hộ nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới.

Quá trình phấn đấu, suy nghĩ về vận mệnh đất nước, rút kinh nghiệm, khảo sát trong nhiều năm tháng về con đường giải phóng dân tộc, học tập lý luận, tham gia đấu tranh chính trị, vào Đảng Xã hội, sát cánh với giai cấp công nhân và trí thức cách mạng Pháp, với những đồng bào yêu nước của mình trên đất Pháp, đây là những tiền đề quan trọng chuẩn bị cho Hồ Chí Minh gặp và tiếp nhận những quan điểm của V.I.Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Từ đó, Người đã có thêm những nhận thức mới, sáng rõ hơn về cách mạng thuộc địa, về con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức khỏi gông cùm nô lệ, con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.

Cuộc đấu tranh trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề ở lại Quốc tế II hay gia nhập Quốc tế III đã khiến Hồ Chí Minh khó hiểu và phải đặt ra các câu hỏi: “Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa?”,# “ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức?”#. Tất cả những câu hỏi ấy Người đều nhận được câu trả lời là Quốc tế III do V.I.Lê-nin sáng lập, chứ không phải là Quốc tế II. Lần đầu tiên, Hồ Chí Minh nhận biết được một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức. Vì thế, khi Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tiến hành biểu quyết, Người bỏ phiếu ủng hộ Quốc tế III và trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Điều đó không chỉ đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh từ một thanh niên yêu nước trở thành một người cộng sản mà còn là sự quyết định dứt khoát việc đi theo con đường cách mạng vô sản để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho đồng bào; mở đường giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Với vốn văn hoá Đông - Tây phong phú, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho mình những tiền đề, cơ sở lý luận quan trọng để tiếp nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trải qua quá trình hoạt động thực tiễn ở các nước phương Tây, Người có điều kiện tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội, nâng tầm hiểu biết và nhận thức về chủ nghĩa thực dân, về vai trò của các nước thuộc địa và vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa. Sự lựa chọn con đường cách mạng của Hồ Chí Minh là sự lựa chọn của văn hóa truyền thống Việt Nam, là biểu hiện tương thích giữa giá trị văn hóa dân tộc với các giá trị văn hóa nhân loại.

3. Ý nghĩa văn hóa của sự kiện Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh đất nước hiện nay

Xuất thân từ một đất nước mất độc lập, nhân dân sống trong cảnh nô lệ, lầm than, Hồ Chí Minh đã thể hiện trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Quyết tâm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người. Người đã đi khảo sát các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa; hòa mình vào cuộc sống của nhân dân lao động thế giới với nhiều nghề khác nhau. Trăn trở và suy nghĩ lớn nhất của Người là làm sao tìm được “vũ khí” để giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do cho nhân dân. Sự nghiệp giành độc lập cho dân tộc được thực hiện thì nền văn hoá dân tộc mới được phục hưng. Vì thế, giá trị cao nhất của văn hóa là con người được sống trong độc lập, tự do. Để tiếp tục sự nghiệp của Người, chúng ta nâng chủ nghĩa yêu nước lên một tầm cao mới, xóa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu, làm cho con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng XHCN.

Hơn 100 năm qua, thế giới và Việt Nam có nhiều thay đổi lớn. Nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Đất nước ta qua 35 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. 110 năm trước, Hồ Chí Minh làm được điều huyền thoại hội nhập thế giới tư bản, tiếp biến văn hóa và tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Đối với Hồ Chí Minh “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta phải học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam”(5). Vì thế, cần phải biết khai thác văn minh nhân loại mà trước hết và hàng đầu là khoa học và công nghệ, những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ XHCN, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

-----

(1) Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép: Đồng chí Hồ Chí Minh, NXB Công an nhân dân, 2005, tr.43. (2) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật, H.1994, tr.41-42. (3) Ép-ghê-nhi Cô-bê-lép: Sách đã dẫn, tr.65. (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 15, tr.583. (5) Hồ Chí Minh về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, H.1997, tr.350.


GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG GIAI ĐOẠN HIÊN NAY Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch với chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm phá hoại thành quả cách mạng nước ta, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước. Đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là: Một là, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Hai là, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Ba là, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân. Bốn là, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá./. TMT 06.4 THÀNH TỰU ĐỔI MỚI LÀ BẰNG CHỨNG THỰC TIỄN SINH ĐỘNG NHẤT Sau hơn 35 năm đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước" Nhìn lại những nét chính yếu của hành trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy vậy, trong tiến trình đi lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước tiếp tục phát triển bền vững./. TMT 06.4
KHÔNG MỘT LỰC LƯỢNG NÀO TRÊN THẾ GIỚI CÓ THỂ CHIA CẮT ĐƯỢC VIỆT NAM Báo Nhân dân số 1248, ngày 08 tháng 8 năm 1957, đã đăng lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam” trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”. Trong chuyến thăm và làm việc của Đoàn cao cấp Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đến Nam Tư, phát biểu tại tiệc chiêu đãi của nước chủ nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông báo cho bạn biết về việc Đế quốc Mỹ đã nhảy vào thế chân thực dân Pháp, cấu kết với bọn bù nhìn ở miền Nam Việt Nam bội ước, phá hủy các điều ước đã ký tại Hiệp nghị Giơnevơ, biến đường giới tuyến tạm thời ở vĩ tuyến 17 thành một đường biên giới, cố tình chia cắt đất nước Việt Nam. Với tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành lấy độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lời của Người là ý chí sắt đá của toàn Đảng, của cả dân tộc, động viên toàn quân và toàn dân cả nước giữ vững ý chí, quyết tâm, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em để chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, Nhân dân. Khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao đã cùng với toàn Đảng, toàn dân đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ toàn quân cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có thái độ phân biệt đúng, sai, không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy, xứng đáng danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”. ST
Đừng nên suy nghĩ một chiều Thấy ông Quân đi nhanh qua ngõ, ông Tam gọi lớn: “Ông Quân ơi, đi đâu mà vội vàng thế? Vào đây uống với tôi chén nước. Có ấm trà ngon cháu nó biếu, tôi vừa pha xong”. Bản chất và chiêu trò chống phá của những kẻ phản động người Việt ở hải ngoại Đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động Trước lời chào mời vồn vã của người bạn già cùng xóm, ông Quân quay lại vào uống nước, tâm sự với bạn. Vừa nhấp vài ngụm trà nóng, câu chuyện của hai ông đã rôm rả. - Ông nghe tin gì chưa? Lại có doanh nhân “khủng” vừa bị bắt đấy-Ông Tam tỏ vẻ “bí hiểm” hỏi. - À, tôi cũng có xem ti vi lúc trưa rồi! Những kẻ làm ăn gian dối, lừa đảo thì sớm muộn cũng bị pháp luật trừng trị thôi! - Nhưng tôi đọc trên mạng thấy có nhiều bài bình luận vấn đề theo chiều hướng khác, ông ạ! Một số ý kiến cho rằng đây là “chiêu bài” của Nhà nước ta, cứ “nuôi cho béo là thịt”! Lại có ý kiến thông tin “cánh này" triệt hạ "sân sau” của “cánh kia” chứ chẳng trong sáng, nghiêm minh gì đâu. Có người phê phán mạnh mẽ và lo ngại rằng, cứ bắt bớ như thế này thì sẽ “loạn” đất nước, chẳng giải quyết được vấn đề gì!?
CUỘC CHIẾN NGA – UKRAINE, GÓC NHÌN TỪ VIỆT NAM Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine xảy ra, Việt Nam chúng ta đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình, kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, trên các diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu, bình luận, suy diễn, xuyên tạc, cho rằng: các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập, là những quốc gia phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện để dẫn đến cuộc xung đột này; 1 số người khác thì đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Thực chất những luận điệu này là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam, kích động dư luận chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Như chúng ta đã biết quan điểm của Việt Nam luôn kiên định nguyên tắc 4 không: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập tới việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và cũng không thiên vị hay đứng về bất kỳ bên nào xoay quanh cuộc xung đột này. Bởi vậy, cho nên chúng ta cần nhận thấy rõ những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, cổ súy chiến tranh là hoàn toàn sai trái, bịa đặt. Đối với Việt Nam chúng ta thì cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng, là bạn bè truyền thống lâu đời. Chính vì vậy, Việt Nam chúng ta luôn kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, bảo đảm an ninh, an toàn nhu cầu thiết yếu của người dân, an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có cộng đồng người Việt Nam và khẳng định lập trường không thay đổi đó là Việt Nam không đứng về bên này để chống bên kia mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý; Việt Nam lựa chọn lẽ phải và đứng về chính nghĩa. Từ những vấn đề trên, chúng ta cần có cái nhìn tổng thể về cuộc xung đột Nga - Ukraine; góc nhìn từ Việt Nam để tìm hiểu thông tin, không để kẻ thù lợi dụng, lôi kéo, kích động lòng hận thù dân tộc nhằm chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá công cuộc xây dựng đất nước ta.

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì sự trường tồn của đất nước.

  - Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045" và đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo vừa có buổi làm việc với Tổ biên tập xây dựng đề án về dự thảo lần 1 của đề án.Sau 10 tháng làm việc khẩn trương, hiệu quả, dự thảo lần 1 Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045" đã được hình thành. 

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tháng 5-2021, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045" (sau đây gọi tắt là Ban chỉ đạo), gồm 21 thành viên, trong đó có 8 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Bí thư Trung ương Đảng, do đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước làm Trưởng ban chỉ đạo; đồng chí Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng làm Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo; cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban chỉ đạo là Ban Nội chính Trung ương.

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì sự trường tồn của đất nước
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp. Ảnh: TTXVN  

Trên tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, đầu tháng 6-2021, dưới sự chủ trì của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực Ban chỉ đạo đã tổ chức họp triển khai Quyết định của Bộ Chính trị. Tại cuộc họp, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc quán triệt: "Đây là đề án hết sức quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, cũng như phải bảo đảm phục vụ điều hành đất nước phát triển tốt nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân...". Tháng 7-2021, Ban chỉ đạo đã tổ chức phiên họp đầu tiên, thống nhất ban hành kế hoạch xây dựng đề án để phân công nhiệm vụ và xác định lộ trình thực hiện, thành lập Tổ biên tập xây dựng đề án để huy động các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn có kiến thức, kinh nghiệm sâu rộng về Nhà nước pháp quyền trong cả nước tham gia xây dựng đề án.

Vượt qua những khó khăn do đại dịch Covid-19, Thường trực Ban chỉ đạo đã tổ chức thành công 3 cuộc hội thảo quốc gia, với sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành viên Ban chỉ đạo. Các cuộc hội thảo đã được tổ chức trên tinh thần thật thẳng thắn, trách nhiệm, mạnh dạn..., với các đề xuất đột phá có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn tới, tập hợp được nhiều ý kiến tâm huyết, sâu sắc, được đúc kết từ nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là nguồn dữ liệu, kiến thức phong phú, có giá trị về cả thực tiễn và lý luận để Tổ biên tập xây dựng dự thảo lần 1 của đề án. 

Thực hiện phân công của Ban chỉ đạo, từ tháng 7-2021, Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Tòa án Nhân dân Tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, một số cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan nghiên cứu lý luận ở Trung ương đã khẩn trương xây dựng 27 báo cáo chuyên đề phục vụ xây dựng đề án. Các cơ quan, tổ chức đã tiến hành nhiều cuộc thảo luận, tọa đàm, cuộc họp lấy ý kiến để huy động sự tham gia của đông đảo cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia, nhà khoa học đóng góp ý kiến trên từng lĩnh vực cụ thể. Đến cuối tháng 3-2022, Tổ biên tập xây dựng đề án đã tập hợp được hơn 4.000 trang tài liệu từ kết quả của 3 cuộc hội thảo quốc gia, 27 báo cáo chuyên đề nhánh.

Kết quả nghiên cứu lý luận, thực tiễn và tổng hợp nội dung của các báo cáo chuyên đề, các cuộc hội thảo quốc gia đã giúp Ban chỉ đạo, Tổ biên tập xây dựng đề án đúc rút được những luận điểm rất quan trọng, làm cơ sở cho việc xây dựng đề án. Từ đó hình thành nên quan điểm: "Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quá trình Nhà nước ta thiết lập và vận hành những nguyên lý, đặc trưng phổ quát, tiến bộ của Nhà nước pháp quyền hiện đại, mang định hướng XHCN, bảo đảm bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng lãnh đạo, nhằm mục tiêu phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân". Khẳng định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quy luật phát triển tất yếu của Nhà nước Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, là chủ trương nhất quán, đúng đắn của Đảng, là nguyện vọng, sự lựa chọn của nhân dân, là yêu cầu cấp thiết để phát triển đất nước nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện.

Sau hơn 10 tháng nỗ lực, cố gắng làm việc, quán triệt yêu cầu xuyên suốt của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đặt ra là đối với một đề án xây dựng nghị quyết của Đảng phải viết sao cho "nhân dân dễ hiểu, được Đảng chấp nhận, thế giới công nhận, dễ vận dụng và dễ triển khai", Tổ biên tập xây dựng đề án cùng Ban Nội chính Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Trung ương Đảng và các chuyên gia, nhà khoa học hình thành nên dự thảo lần 1 để trình Ban chỉ đạo theo đúng kế hoạch; nội dung dự thảo đề án bám sát Cương lĩnh xây dựng đất nước, Hiến pháp năm 2013, các nghị quyết của Trung ương, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đề xuất nhiều điểm mới, có tính đột phá nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thời gian tới.

Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.

 - Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trước tác động to lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn.

Dây chuyền lắp ráp ô tô tại nhà máy của Công ty cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) trong Khu kinh tế mở Chu Lai, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng sản xuất hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. Có thể khái quát bốn đặc trưng chính của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Một là, dựa trên nền tảng của sự kết hợp công nghệ cảm biến mới, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây và kết nối internet vạn vật sẽ thúc đẩy sự phát triển của máy móc tự động hóa và hệ thống sản xuất thông minh. Hai là, sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất sản phẩm một cách hoàn chỉnh nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất không phải qua giai đoạn lắp ráp các thiết bị phụ trợ - công nghệ này cũng cho phép con người có thể in ra sản phẩm mới bằng những phương pháp phi truyền thống, bỏ qua các khâu trung gian và giảm chi phí sản xuất nhiều nhất có thể. Ba là, công nghệ nano và vật liệu mới tạo ra các cấu trúc vật liệu mới ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực. Bốn là, trí tuệ nhân tạo và điều khiển học cho phép con người kiểm soát từ xa, không giới hạn về không gian, thời gian, tương tác nhanh hơn và chính xác hơn.

Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế chỉ ra rằng, cuộc cách mạng này có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là ở khả năng phá vỡ thị trường lao động. Khi tự động hóa thay thế người lao động bằng máy móc có thể làm trầm trọng thêm sự chênh lệch giữa lợi nhuận so với vốn đầu tư và lợi nhuận so với sức lao động. Mặt khác, tri thức sẽ là yếu tố quan trọng của sản xuất trong tương lai và làm phát sinh một thị trường việc làm ngày càng tách biệt thành các mảng "kỹ năng thấp/lương thấp" và "kỹ năng cao/lương cao", do đó dễ dẫn đến sự phân tầng xã hội ngày càng trầm trọng thêm.

Dù Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến nhiều lo ngại về thất nghiệp khi máy móc làm tất cả mọi việc, nhưng một số nhà nghiên cứu tin rằng, việc giảm tổng số việc làm là không thể. Bởi, siêu tự động hóa và siêu kết nối có thể nâng cao năng suất những công việc hiện tại và tạo ra nhu cầu về những công việc hoàn toàn mới khác. Sự ra đời của "cobots", tức robot hợp tác có khả năng di chuyển và tương tác, sẽ giúp các công việc kỹ năng thấp đạt năng suất nhảy vọt. Tuy nhiên, những người bị ảnh hưởng nặng nhất có thể là lực lượng lao động có kỹ năng trung bình do sự phát triển của siêu tự động hóa và siêu kết nối, cộng với trí tuệ nhân tạo sẽ tác động đáng kể đến đối tượng này.

Đứng trước sự phát triển nhanh chóng và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giai cấp công nhân Việt Nam có những thuận lợi đan xen với khó khăn cơ bản:

Một là, về thuận lợi, giai cấp công nhân Việt Nam có số lượng đang tăng lên. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm tỷ lệ khoảng 13% số dân và 24% lực lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nước; đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài; số lao động giản đơn trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Dự báo đến năm 2020, giai cấp công nhân có khoảng 20,5 triệu người. Công nhân trong doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh; ngược lại, công nhân trong doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm về số lượng.

Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Số công nhân có tri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến tăng lên. Công nhân trong các khu công nghiệp, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp xúc với máy móc, thiết bị tiên tiến, làm việc với các chuyên gia nước ngoài nên được nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp, phương pháp làm việc tiên tiến. Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu, có trình độ học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiễn sản xuất hiện đại, sẽ là lực lượng lao động chủ đạo, có tác động tích cực đến sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong tương lai…

Hai là, về khó khăn, trước yêu cầu của sự phát triển, giai cấp công nhân nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập. “Sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống” (1).

Chúng ta đang ở trong giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lại chưa tương thích với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Để hướng đến một nền sản xuất công nghiệp hiện đại, số lượng giai cấp công nhân lao động công nghiệp chỉ chiếm khoảng 24% lực lượng lao động xã hội là tỷ lệ còn thấp.

Mặt bằng chung trình độ văn hóa và tay nghề của công nhân nước ta dù được cải thiện, song vẫn còn thấp, đã ảnh hưởng không thuận đến việc tiếp thu khoa học - kỹ thuật, đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay, thì phải đến năm 2038, năng suất lao động của công nhân Việt Nam mới bắt kịp Philippines, năm 2069 chúng ta mới bắt kịp được Thái Lan. Do đó, nếu không tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có kế hoạch đào tạo đón đầu, thì chúng ta sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng về lao động khi các dự án lớn đầu tư vào Việt Nam. Một thực trạng đáng quan tâm khác là tỷ lệ thất nghiệp của những người đã qua đào tạo đang ngày càng cao…

Trong thời gian tới, quá trình toàn cầu hóa sản xuất với sự phân công và hợp tác lao động diễn ra ngày càng sâu rộng giữa các nước trong khu vực và trên thế giới. Khi chúng ta thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những rào cản về không gian kinh tế, hàng hóa, dịch vụ, vốn, khoa học - công nghệ, thị trường lao động được gỡ bỏ, thì sự cạnh tranh giữa các nước càng trở nên gay gắt. Hiện ASEAN đã có hiệp định về di chuyển tự nhiên nhân lực, có thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng chỉ hành nghề chính thức đối với 8 ngành nghề được tự do chuyển dịch: kiểm toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ, y tá, điều tra viên và du lịch. Việc công nhận trình độ lẫn nhau về kỹ năng nghề sẽ là một trong những điều kiện rất quan trọng trong việc thực hiện dịch chuyển lao động giữa Việt Nam với các nước trong khu vực. Nhưng đây cũng sẽ là thách thức cho Việt Nam, vì số lượng công nhân lành nghề ở nước ta còn khiêm tốn, buộ#c phải chấp nhận nguồn lao động di cư đến từ các nước khác có trình độ cao hơn. Thời gian tới, nếu trình độ của công nhân nước ta không được cải thiện để đáp ứng yêu cầu, thì chúng ta sẽ bị thua ngay trên “sân nhà”.

Lao động giản đơn trong các dây chuyền sản xuất có nguy cơ bị thay thế trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư_Ảnh: TTXVN

Trước thực trạng trên, để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh, thích ứng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần thực hiện tốt một số giải pháp:

Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động, đặc biệt là người lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Từng bước thực hiện chính sách tiền lương bảo đảm đời sống cho người lao động và có tích lũy từ tiền lương; đồng thời, mở rộng cơ hội cho công nhân mua cổ phần trong doanh nghiệp, nhằm góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trong doanh nghiệp. Các cơ quan chức năng và tổ chức công đoàn cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm quyền lợi của người lao động. Xây dựng và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách cụ thể giải quyết nhà ở cho người lao động. Khi phê duyệt các khu công nghiệp, khu chế xuất, cần yêu cầu dành quỹ đất tương xứng để xây dựng nhà ở và các công trình dịch vụ thiết yếu cho công nhân. Chú trọng chăm lo xây dựng đời sống văn hóa - tinh thần, nhất là quan tâm tới các dịch vụ văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khỏe cho người lao động. 

Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân có trình độ cao, ngày càng làm chủ được khoa học - công nghệ, có kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật. Cần kịp thời bổ sung, sửa đổi, xây dựng chính sách đào tạo và đào tạo lại công nhân; tạo điều kiện cho họ tự học tập nâng cao trình độ; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề gắn với các ngành, các vùng kinh tế trọng điểm. Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dành kinh phí và thời gian thích đáng cho đào tạo, đào tạo lại công nhân.

Thứ ba, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Xây dựng, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, đời sống, nâng cao thể chất cho công nhân. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong doanh nghiệp, có chế tài xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân vi phạm chính sách, pháp luật. Khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động chủ động học tập nâng cao kiến thức pháp luật, nắm bắt những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, giúp họ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng trong trường hợp cần thiết.      

Thứ tư, tăng cường vai trò của các cấp uỷ đảng, Công đoàn và các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tăng tỷ lệ tham gia của công nhân vào tổ chức chính trị - xã hội ở doanh nghiệp, để có điều kiện được bảo vệ quyền lợi chính đáng và góp phần rèn luyện về tư tưởng, lập trường chính trị, tránh bị các thế lực thù địch lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực.

Với tâm thế đón đầu và sự chuẩn bị tốt, giai cấp công nhân Việt Nam sẽ tận dụng được những cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, xây dựng đội ngũ ngày càng lớn mạnh về số lượng và nâng cao về chất lượng, là lực lượng chủ lực đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử của mình, đồng thời góp phần giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta.