Thứ Hai, 18 tháng 4, 2022

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”, đồng thời xác định tầm nhìn, định hướng chiến lược, trong đó “nghiên cứu, ban hành Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến 2045”.

Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng được Đảng ta chỉ đạo khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, tạo cơ sở hiện thực hóa mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta lựa chọn.

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu nhằm phê phán, bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước XHCN Việt Nam. Họ cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN).

Họ ra sức xuyên tạc Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền “pháp trị”, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đồng thời rêu rao rằng, thoát li vai trò lãnh đạo của Đảng, nhà nước phải xây dựng theo mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, như vậy thì những giá trị tiến bộ về quyền cơ bản của con người mới được thừa nhận, tôn trọng và thực hiện…           

Tung ra các luận điệu sai trái, công kích vào bản chất, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mũi nhọn mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị tập trung chống phá trong suốt quá trình cách mạng, xây dựng, hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam. Vậy bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN có đồng nhất nhà nước pháp quyền TBCN? Mục đích, âm mưu mà các đối tượng hướng tới là gì?

Trước hết có thể thấy, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được các nhà chính trị, pháp lý như J.Locke (1632-1704), C.Montesquieu (1698-1755), J. Rousseau (1712 – 1778) đặt nền móng đầu tiên, sáng lập, phát triển như một thế giới quan pháp lý mới, phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền, làm cơ sở lý luận xây dựng nhà nước tư sản cho đến ngày nay. So với nhà nước phong kiến “ngàn năm trung cổ”, đây là những tư tưởng tiến bộ của nhân loại trong hoàn cảnh lịch sử khi đó. Tuy nhiên, tư tưởng này bị hạn chế bởi thế giới quan, bản chất giai cấp nên nhà nước tư sản vẫn là công cụ thuộc về thiểu số là giai cấp tư sản, dân chủ tư sản chưa phải là nền dân chủ của đa số, quảng đại quần chúng nhân dân lao động.

Bản chất nhà nước luôn là vấn đề trung tâm của mỗi chế độ chính trị, quyết định bản chất xã hội, biểu hiện ý chí, nguyện vọng của thiểu số hoặc đa số và tính chất, nội dung của một xã hội tiến bộ, dân chủ. Mặt khác, đây cũng là đề tài luôn được học giả, nhà nghiên cứu, chính trị gia không ngừng nghiên cứu, tranh luận trên cơ sở lập trường tư tưởng, khuynh hướng chính trị khác nhau. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lấy lý do này để tăng cường các hoạt động công kích, xuyên tạc, chống phá.

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước là từ nhân dân, do nhân dân, phụng sự lợi ích của nhân dân. Người quan niệm, pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền đó thấm đượm bản chất nhân văn, chăm lo ấm no, hạnh phúc của nhân dân, lòng nhân ái, nghĩa đồng bào, truyền thống đạo lý quý báu của dân tộc. Đó thật sự là giá trị dân chủ sâu sắc và triệt để của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đó là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Kể từ đó, tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, quá trình nhận thức tư duy lý luận của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới, không ngừng được phát triển và hoàn thiện. Những quan điểm, đường lối đó được Nhà nước cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 (bổ sung năm 2011) hay Hiến pháp (2013), Đảng, Nhà nước ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Cương lĩnh chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là Nhà nước “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng và đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị XHCN, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam”.

Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi phải có sự nhận thức lý luận khoa học, cách mạng, giữ vững định hướng XHCN trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới. Do đó việc lãnh đạo, tổ chức nghiên cứu, xây dựng, thực hiện đề án chiến lược này là khách quan, khoa học, vừa kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được, vừa phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường TBCN”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không pháp quyền”, rêu rao “pháp trị thì xã hội không thể có tự do, dân chủ, nhân quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm. Đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy mô hình nhà nước tam quyền phân lập, những cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; dẫn dắt, gieo rắc nhận thức lệch lạc, xuyên tạc bản chất, vị trí, vai trò của nhà nước pháp quyền XHCN; chia rẽ khối đại đoàn kết, mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

BẢN ÁN THÍCH ĐÁNG GIÀNH CHO NHỮNG KẺ MÊ MUỘI!

         Chiều 18-4, kết thúc xét xử vụ án hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, TAND TP.HCM đã tuyên án đối với 12 bị cáo là các thành viên của tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" (CPQGVNLT).
Theo đó, hội đồng xét xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc Xuân (53 tuổi) 13 năm tù; Nguyễn Thanh Xoan (50 tuổi, cùng ngụ TP Thủ Đức) 12 năm tù về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Các bị cáo Nguyễn Thị Kim Phượng, Lương Thị Thu Hiền, Y Hon Ênuôl, Y Phương Ding Riêh, Nguyễn Minh Quang, Hồ Thị Xuân Hương, Lê Ngọc Thành, Y Tũp Knul, Phạm Hổ và Trần Văn Long lãnh các mức án từ 3 năm đến 11 năm tù cùng với tội danh trên.

Ngoài ra, 12 bị cáo này còn bị phạt bổ sung từ 2 - 3 năm quản chế.

Theo hồ sơ vụ án, tổ chức "CPQGVNLT" do Đào Minh Quân cầm đầu, thành lập tại Mỹ vào năm 1990.

Thời gian gần đây, các thành viên chủ chốt của "CPQGVNLT" như Lâm Ái Huệ (bí danh Huệ Lâm, cấp bậc theo tự phong của "tổ chức": trung tướng, chức vụ: thứ trưởng bộ tài chính);

La Ngoc Duyên (tên thật Nguyễn Thị Ngọc Duyên, cấp bậc: đại tá, chức vụ: cục trưởng cục truyền thông công lý) thường xuyên có các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo nhiều người tham gia tổ chức, phát triển lực lượng, thực hiện "trưng cầu dân ý" bầu cho Đào Minh Quân làm "thủ tướng đệ tam Việt Nam cộng hòa" (TTDTVNCH).

Trong số những người bị lôi kéo, tham gia vào tổ chức trên có 12 bị cáo trong vụ án này.

Thực hiện ý đồ chống phá Nhà nước Việt Nam, "CPQGVNLT" đã lôi kéo, chuyển tiền cho các bị cáo thực hiện hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị nhiều tỉnh thành trên cả nước.

Trong đó, bị cáo Xuân chủ động tham gia tổ chức và được cấp bí số riêng. Xuân tích cực tuyên truyền cho "CPQGVNLT" bằng nhiều hình thức. Xuân còn lôi kéo 6 người đăng ký tham gia tổ chức. Ngoài ra, Xuân tự làm cờ và khăn quàng cổ màu vàng ba sọc đỏ để mang theo chào đón khi Đào Minh Quân về nước.

Xuân cùng bị cáo Xoan bàn bạc để in ấn, phát tán các tài liệu của tổ chức. Trong đó Xuân gửi cho bà Phượng 20 cuốn "Hiến pháp Đệ III VNCH". Quá trình tham gia tổ chức, Xuân được các thành viên của "CPQGVNLT" gửi 300 đô la Mỹ, 400 đô la Canada và hơn 3 triệu đồng.

Bị cáo Xoan đã tích cực tuyên truyền, phổ biến trên Facebook cá nhân và in, phát tán khoảng 172 cuốn "Hiến pháp Đệ III VNCH" và "Tiểu sử tổng thống Đào Minh Quân" cho các bị cáo khác trong vụ án này và các đối tượng khác ở trong, ngoài nước.

Các bị cáo còn lại khi tham gia vào tổ chức đều được cấp bí số riêng để hoạt động. Có người được phân công vào "cục dân vận", có người được công nhận là "đại biểu quốc hội khóa 1 của tổ chức CPQGVNLT"…
Các bị cáo đã tích cực tham gia in ấn, phát tán nhiều tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước tại TP.HCM, Đồng Nai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Kon Tum, Phú Yên, An Giang./.
Yêu nước ST.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo, đấu tranh với luận điệu sai trái

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Đại Thắng

Cand.com.vn

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa

 

Gần đây, quá trình toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn cùng với sự phát triển của phương tiện truyền thông mới khiến thế giới trở thành một “ngôi làng toàn cầu” và thúc đẩy quá trình tiếp biến, biến đổi văn hóa nhanh hơn: Phương thức giải trí mới tràn đến dồn dập, lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.

Cùng với đó là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, đang từng ngày, từng giờ làm vẩn đục các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội, thúc đẩy sự nảy nở các biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn và thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... 

Năm 2005, UNESCO thông qua Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. UNESCO nhấn mạnh, các quốc gia có quyền chủ quyền về văn hóa. Để bảo vệ văn hóa, các quốc gia phải xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật về văn hóa. Tinh thần công ước cho thấy UNESCO đã ý thức được về ảnh hưởng của sự xâm lăng văn hóa đi kèm với quá trình toàn cầu hóa.


Du khách trải nghiệm nghề dệt truyền thống của làng Bùng, Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội. Ảnh: cand.com.vn 

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quan hệ gắn bó giữa quân với dân; đặc trưng bởi các phẩm chất của người quân nhân vì nước quên thân, vì dân phục vụ; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được hình thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đã định hình thành một hệ thống giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, giúp định hướng sự phát triển nhân cách cho bộ đội.

Vì vậy, việc chống lại sự xâm lăng văn hóa, giữ gìn giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhận diện hiện tượng xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ở những phương diện sau:

Thứ nhất, tác động đến nhận thức, tư tưởng.

Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ sự lung lay, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã phát biểu: “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đáng báo động về việc nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, có cả một bộ phận chiến sĩ trẻ có nhận thức lệch lạc, sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng và đạo đức, có dấu hiệu bị đồng hóa, tôn sùng thần tượng và văn hóa nước ngoài mà quay lưng lại với truyền thống văn hóa tốt đẹp và lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và truyền thông mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để đưa những tư tưởng, thực hành, lối sống xa lạ, không phù hợp của phương Tây đến với giới trẻ cũng như bộ đội. Việc tôn thờ tiền bạc thái quá, lối sống cá nhân ích kỷ chính là những biểu hiện đi ngược lại truyền thống văn hóa tôn trọng yếu tố tinh thần, đoàn kết cộng đồng của dân tộc. Chúng ta chứng kiến việc chạy theo giá trị đồng tiền, lối sống cá nhân ích kỷ đã tạo ra rất nhiều hệ lụy trong xã hội, cũng như đang manh nha trong chính môi trường quân đội. Đây là những nỗ lực làm cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí yếu, dao động, có thể dẫn đến đầu hàng trước sự tấn công của văn hóa nước ngoài và làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.

Dưới một hình thức khác, đó là sự lan truyền của các sản phẩm văn hóa nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của bộ đội. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những sản phẩm văn hóa ngoại lai, không phù hợp, thậm chí đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông mới. Thậm chí, kể cả những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ cũng đã có nhiều người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không giữ được chuẩn mực đạo đức cá nhân, bê bối đời tư, phát ngôn tục tĩu, hành xử kiểu giang hồ. Một số sản phẩm nghệ thuật chạy theo thị hiếu, đề cao yếu tố chiêu trò, đồi trụy... đã vô tình hay cố ý trở thành đối tượng tác động xấu đến nhận thức cho giới trẻ, trong đó có bộ đội.

Thứ hai, tác động đến lối sống, tác phong sinh hoạt.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được đặc trưng bởi những chuẩn mực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng. Đó là lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp, chính nghĩa, yêu nước, yêu chế độ, trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, lao động và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết quân dân như cá với nước; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta.

Trong khoảng một thập niên vừa qua, chúng ta thấy những biểu hiện xâm lăng văn hóa đối với bộ đội diễn ra đa dạng. Biểu hiện này đến từ những sản phẩm, sự kiện văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là các sản phẩm, sự kiện có yếu tố nước ngoài, được phổ biến trên các phương tiện truyền thông, sau khi tác động đến nhận thức sẽ được cụ thể hóa ở những thực hành lối sống của giới trẻ, trong đó có bộ đội. Sự thực hành các sự kiện du nhập từ nước ngoài như ngày Lễ tình nhân Valentine (14-2), ngày Cá tháng Tư (1-4)... có mặt tích cực là làm phong phú hơn sinh hoạt văn hóa của người dân, góp phần hội nhập quốc tế, nhưng nếu không có bản lĩnh, bộ đội rất dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa đề cao lối sống ích kỷ cá nhân, thực dụng, vật chất, xa lạ với văn hóa dân tộc.

Lối sống, cách sinh hoạt dựa vào các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là các mạng xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội. Thực tế đã chứng kiến một số quân nhân sử dụng mạng xã hội để đăng thông tin, hình ảnh liên quan đến nội bộ đơn vị, gây ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, gây nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là nguy cơ lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội được thực hiện bằng cách lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân, kích động đòi phi chính trị hóa quân đội, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật-giả, tốt-xấu, khó nhận diện, trở nên nguy hiểm.

Để ứng phó với tác động của xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, chúng ta cần phải hình thành nhận thức đúng đắn, đầy đủ và bản lĩnh văn hóa, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong quân đội. Điều đó phải đến từ việc hiểu rõ về văn hóa dân tộc. Về nhận thức, chúng ta cần xác định rằng văn hóa rất phức tạp, vì thế, hiện tượng xâm lăng văn hóa cũng khó nhận biết rõ ràng. Việc xác định và giữ gìn văn hóa dân tộc cần phải hết sức cụ thể để phù hợp với hoàn cảnh quân đội.

Về hành động thì chúng ta nên chuyển văn hóa, bản sắc văn hóa từ những khái niệm trừu tượng thành những nội hàm cụ thể, tồn tại trong các sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Những câu chuyện về lòng yêu nước, giá trị nhân văn, tấm lòng cao cả sẽ được truyền cảm hứng tốt hơn qua những bộ phim, cuốn truyện, bài hát, sự kiện thể thao, nghệ thuật trong quân đội. Các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là hoạt động biểu diễn nghệ thuật, là một kênh quan trọng trong quá trình nâng cao nhận thức, tri thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; đồng thời trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản trong cuộc đấu tranh với các quan điểm văn hóa, văn nghệ lệch lạc, xấu độc, phản động cùng các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch. Kết quả hoạt động văn hóa, văn nghệ là nguồn động lực to lớn cổ vũ, động viên bộ đội trong cuộc sống, chiến đấu, lao động, học tập và công tác; trực tiếp góp phần nuôi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của người lính; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và những giá trị văn hóa; giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực con người mới xã hội chủ nghĩa. Qua các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, bộ đội sẽ hiểu rõ hơn, dễ dàng hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, từ đó có sức đề kháng đối với văn hóa ngoại lai.

Bên cạnh đó, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong quân đội. Đây là công việc cần phải thực hiện thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực của bộ đội, từ đó lan tỏa ra toàn xã hội, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp theo đó, cần thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình để rèn luyện đạo đức, lối sống của bộ đội. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Nhìn chung, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp lâu dài, cần kiên trì, thận trọng. Xâm lăng văn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn nhận, đánh giá toàn diện hơn về những giá trị văn hóa đặc biệt này, từ đó có những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài để gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trở thành tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng và văn hóa dân tộc Việt Nam.

PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

Qdnd.vn

Tháng tư, nghĩ về những “giấc mộng tan vỡ” nơi xứ người

       Với mỗi người Việt Nam, tình yêu quê hương, đất nước từ lâu đã trở thành một giá trị cao quý, được truyền từ đời này sang đời khác, bằng những biểu hiện sinh động, cụ thể. Tháng tư về, người dân đất Việt càng tự hào, biết ơn các thế hệ ông cha đã hy sinh xương máu cho quê hương, đất nước, đồng thời cảnh báo những ai đang đi ngược dòng chảy thời cuộc, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. 

Thực tế đã, đang và sẽ còn chứng minh lòng yêu nước đã trở thành một giá trị truyền thống và là tài sản vô giá, tạo sức sống bất khuất và trường tồn của dân tộc con Lạc cháu Hồng qua nghìn năm lịch sử trước mọi hiểm họa xâm lăng và đô  hộ, là mạch nguồn cho sự sinh sôi và phát triển ngày càng mạnh mẽ của đất nước, giống nòi. Không ai có thể phủ nhận được rằng, dù là người dân đang sinh sống trên xứ sở quê hương hay với cộng đồng người Việt đã định cư và hội nhập ổn định ở nước ngoài, mỗi khi thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống và vận mệnh của Tổ quốc, lập tức muôn người như một, kết thành khối vững chắc, sẵn sàng cống hiến công sức, xả thân vì lòng tự trọng, tự tôn dân tộc, vì vận mệnh của Tổ quốc và cuộc sống của đồng bào mình.

Ðặc biệt, đối với chủ quyền quốc gia và nền độc lập dân tộc, lòng yêu nước mãnh liệt chính là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giang sơn cha ông để lại. Giá trị đó không thể là điểm tựa để dung túng, kích động tinh thần dân tộc cực đoan, đề cao bá quyền, đe dọa sử dụng bạo lực và bất chấp thủ đoạn gian dối, hèn hạ, bất chấp đạo lý và luật pháp của văn minh nhân loại, cốt tranh đoạt trắng trợn và phi pháp lãnh thổ của người khác. Ðiều này đã và phải tiếp tục trở thành yêu cầu của lương tri, của đạo đức không chỉ với Việt Nam mà với mọi quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.

Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta không chỉ trui rèn truyền thống giữ nước, chống xâm lăng, mà còn cho thấy người bán nước như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống,... luôn bị dân tộc phê phán, danh xấu nghìn năm khôn rửa. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam cho thấy, khi Pháp, Mỹ can thiệp vào Việt Nam đã có một số người lầm lạc, chĩa súng vào đồng bào, gây nên nhiều tội ác. Chỉ đến khi thua trận, những kẻ xâm lược phải rút khỏi Việt Nam thì những người trên lại chọn cho mình con đường rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình để tiếp tục mưu lợi cá nhân, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Chiến tranh đã đi qua, vết thương đã "liền da" khi quê hương hòa làm một, đất nước được vẹn tròn. Nhưng nỗi thù, sự ích kỷ và mưu lợi cá nhân vẫn còn tồn tại trong lòng những con người đó, họ chấp nhận đời tha hương mà không chịu thừa nhận thất bại, vẫn luyến tiếc cuộc sống dựa dẫm hưởng lợi từ ngoại bang, vẫn cay cú, vẫn cố tìm mọi cách thực hiện giấc mơ được ngoại bang giúp sức để trở về "phục quốc".

Ðể đạt mục đích xấu xa đó, họ tiến hành rất nhiều thủ đoạn, từ sử dụng lá phiếu cử tri buộc một số vị dân biểu nơi họ cư trú lên tiếng tạo sức ép với chính quyền các nước vu cáo, đồng thời thành lập, tham gia các tổ chức tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại; lợi dụng mạng Internet để lập ra nhiều trang mạng, diễn đàn lấy danh nghĩa “yêu nước” để bóp méo sự thật, tuyên truyền xuyên tạc các chủ trương, đường lối chính sách, đối ngoại của Đảng và nhà nước ta, thậm chí họ còn ủng hộ, tiếp tay cho tư tưởng chia cắt với những luận điệu như “thành lâp nhà nước Mông ở Tây Bắc”, đuổi người Kinh khỏi Tây Nguyên để thành lập “nhà nước Degar độc lập”...

Không dừng lại ở đó, để hiện thực hóa những mưu đồ trên, các tổ chức này còn thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, các tổ chức trên đã vận động và gửi về nước hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các tổ  chức khủng bố ở nước ngoài nên số chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, vứt bỏ gốc gác người Việt của mình như Lê Thu Hà bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 20/11/2018.

Sau một thời gian đấu tranh, ghi dấu ấn của mình cộng với sự tác động của Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà được bảo lãnh theo diện tị nạn. Hà được sắp xếp, bố trí chỗ ở tại thị trấn Bad Naheim, bang Hawai, Đức; được chu cấp tiền để học tiếng Đức, thuê nhà, sinh hoạt và đào tạo nghề. Số tiền này chỉ đủ để phục vụ các hoạt động nói trên, chưa kể Hà phải tự lo cho cuộc sống của bản thân. Tuy nhiên, do không có trình độ, tiền không có, nhà ở thuê, bạn bè cô quạnh, bản thân không thể đáp ứng yêu cầu, điều kiện lao động và mức sống tại đây, Hà vỡ mộng với cuộc sống tại “xứ thiên đường”, nơi mà khi còn ở Việt Nam, Hà từng ao ước rồi phản bội lại đất nước, dân tộc để đạt được mục đích. Chỉ trong 6 tháng, Lê Thu Hà bắt đầu thấm thía và từ đó, viện cớ rằng “nhớ quê hương, đất mẹ” để tìm cách nhập cảnh vào Việt Nam. 

Trường hợp tương tự là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí”. Cầm tấm thẻ xanh trên tay một thời gian, Quỳnh vừa mừng vừa lo. Mừng vì chỉ sau 2 năm ăn cơm tù đã đạt được mục đích sang Mỹ; lo vì nhận ra rằng mức sống ở nơi đây cao hơn rất nhiều so với ở Việt Nam, việc sinh tồn tại nơi đây là một vấn đề khó khăn. Mặc dù được chính phủ Mỹ tài trợ 6 tháng tiền trợ cấp (mức trợ cấp dành cho người thất nghiệp là 5.000 USD/năm) nhưng số tiền đó chỉ đủ để trả tiền thuê nhà, ăn uống, học nghề, chưa kể mẹ già, con thơ.

Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau một thời gian hai người này lại quay ra bới móc lẫn nhau.

Việc trang trải cuộc sống cho bản thân còn chưa xong, liệu Quỳnh có dám nghĩ việc ăn chơi, kiếm tiền từ nước ngoài một cách dễ dàng khi còn ở Việt Nam? Xa hơn, có thể kể đến những kẻ từng một thời được giới phản động lưu vong nước ngoài tung hô nhưng sau khi đến Mỹ mới té ngửa, ca thán như Tạ Phong Tần quay ra bới móc, kể tội Nguyễn Văn Hải (điếu cày), Nguyễn Văn Hải cũng lập tức tố cáo lại Tạ Phong Tần…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Con đường phạm pháp do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở nước ngoài hay “đổi đời”.

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc, vị thế đất nước đang dần được khẳng định trên thế giới. Trong quá trình phát triển đó, không thể tránh khỏi những bất cập, tồn tại cần phải khắc phục nên chưa thể đáp ứng được hết những trông đợi của mọi người. Nhưng nếu dựa vào đó để phủ nhận các thành tựu phát triển, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình đất nước, chối bỏ gốc gác, làm những việc đi ngược lợi ích của dân tộc mình thì những cá nhân đó phải tự vấn lương tâm. Hãy tự thấy xấu hổ khi nghĩ tới không ít kiều bào, dù xa quê, mưu sinh xứ người vẫn coi quê hương là đất Việt, vẫn đang từng ngày đóng góp tài trí, sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hơn bao giờ hết, trên bất kỳ phương diện nào, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị phù hợp với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chỉ có lòng yêu nước chân chính mới có thể giúp quê hương, đất nước giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời làm cho quê hương, đất nước ngày càng hưng thịnh, trường tồn.

Xin nhắc lại câu nói của nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ (tháng 6/2007):

“Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”./.

Quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị

 Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị

15:24' 15/4/2022

Sáng 15-4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10-2-2022 của Bộ Chính trị khóa XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là Hội nghị toàn quốc đầu tiên để quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng.



Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đồng chủ trì Hội nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Hội nghị được tổ chức dưới hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến. Hội nghị nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân cả nước cũng như trong vùng nhằm sớm đưa Nghị quyết quan trọng này vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về phát triển vùng. Hội nghị khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, mở đường cho những cơ chế chính sách mới để phát triển vùng. 
Tại điểm cầu Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Mai Văn Chính, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Đảng uỷ cơ quan chủ trì. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo Ban; lãnh đạo các vụ, cục, đơn vị trong Ban.

NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY!

        Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trên không gian mạng không thể được thực hiện thành công và hiệu quả, nếu như chủ nhân của sự nghiệp ấy không có ý thức bảo vệ xứng tầm; việc giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không được quan tâm đúng mức, bồi đắp thường xuyên. Nhận rõ tầm quan trọng và sự bức thiết bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, ngày 25/7/2018, Đảng ta ra Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và Nghị quyết về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế; xây dựng, phát triển và bảo vệ nền văn hóa Việt Nam trên không gian mạng”. Quân đội ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là thực hiện nhiệm vụ trong môi trường tác chiến mới, với phương thức, hình thái chiến tranh mới - “không có khói súng"./.
Yêu nước ST.

Nhận thức đúng về chủ quyền biển, đảo đấu tranh với luận điệu sai trái

 

Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Các thủ đoạn lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo để chống phá

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng - an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Nhận thức rõ về đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao...

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam./.

Xuyên tạc việc khởi tố bị can Nguyễn Phương Hằng để bôi nhọ chính quyền Ngày 24/3, Công an TP Hồ Chí Minh đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bà Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam. Từ đó đến nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng để xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ việc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như: Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông hải ngoại như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái. Điển hình trên mạng facebook của Việt Tân vu cáo: “Công an sử dụng Điều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái”, rồi suy diễn thành việc “doanh nhân đối đầu với thế lực chính trị như việc trứng chọi đá”. Bài viết đưa ra luận điệu hết sức lố bịch rằng: “Ở Việt Nam này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”... RFA thì tìm cách phỏng vấn một số cá nhân với cái tên nghe rất mĩ miều như “nhà dân chủ”, “nhà phản biện”… nhưng thực chất là đối tượng phản động, sống lưu vong ở nước ngoài. Được “hỏi ý kiến”, họ cho rằng, việc bắt bà Nguyễn Phương Hằng theo Điều 331 là “không hợp lý”, từ đó ra sức miệt thị Đảng, Nhà nước ta. Những hành vi trên của một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động không nằm ngoài các hoạt động chống phá Việt Nam, các đối tượng vin vào việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam bị can Nguyễn Phương Hằng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam; đả phá, phỉ báng chính quyền các cấp, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, tiến tới quy kết, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cổ xúy, xúi giục, thậm chí ca ngợi, tán dương các hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để bôi nhọ, lăng mạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân, gây tổn hại đến truyền thống văn hóa, thuần phong, mỹ tục của dân tộc; làm giảm vị thế, uy tín cũng như hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Cũng như các quốc gia trên thế giới, đối với Việt Nam, một mặt, pháp luật bảo đảm cho sự phát triển tự do của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, không để các hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích cá nhân. Việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, bắt tạm giam đối với bị can Nguyễn Phương Hằng về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự để điều tra, làm rõ hành vi phạm pháp là tuân thủ theo quy định của pháp luật, không có chuyện chính quyền các cấp “bóp nghẹt quyền tự do dân chủ” như luận điệu của các thế lực xấu. N.Đ.S

TƯỢNG HƯNG ĐẠO VƯƠNG Ở BÀ RỊA - VŨNG TÀU, CẦN PHẢI TIẾP THU, CẦU THỊ, LẮNG NGHE Ý KIẾN CỦA NHÂN DÂN!

         Theo Báo Người Lao động, ngày 18-4, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã tổ chức họp thẩm định bức tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo đặt trên Khu du lịch Hồ Mây Park (TP Vũng Tàu) sau khi có thông tin bức tượng này "trông giống tượng Quan Công". Ông Đậu Thế Anh, Tổng Giám đốc Công ty CP Du lịch Cáp treo Vũng Tàu, cho biết tại cuộc họp, một số ý kiến cho rằng chưa có quy định về việc tượng Đức Thánh Trần cưỡi ngựa hay không, có cầm đao hay không. Xin có đôi lời gửi về Bà Rịa - Vũng Tàu:

Đã là cái giống người thì ai cũng có thiếu sót, khuyết điểm, chẳng ai hoàn hảo cả! Thế nhưng khi nhưng thiếu sót, khuyết điểm đó đã được mọi người góp ý chân thành, thẳng thắn thì cần phải tiếp thu với tinh thần cầu thị cao nhất, đó mới là con người chân chính. Sau khi hình ảnh về tượng Trần Hưng Đạo được đăng tải, mọi người đã phê phán, góp ý vì bức tượng quá giống Quan Vũ, chỉ khác mỗi bộ râu, khuôn mặt…thế nhưng thay vì sửa chửa, khắc phục thì lại bảo thủ và thiếu tinh thần cầu thị. 

Hưng Đạo Đại Vương là anh hùng dân tộc, là Đức Thánh sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Nên nhớ Hưng Đạo Vương là Quốc Công Tiết Chế, Tổng chỉ huy quân dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông. Ngài là soái chứ không phải là tướng, là Soái có thể ngồi trong màn trướng để quyết thắng ngoài trăm dặm, là người chỉ huy chiến lược chứ không phải trực tiếp cầm đao, thương hay kiếm để đánh nhau với quân giặc như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân thời Thục Hán hay Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng thời nhà Trần... Vậy nên hình tượng cưỡi ngựa, cầm đao trong tư thế chiến đấu là sai về mặt bản chất. Hưng Đạo Vương uyên thâm cách đánh dùng đoản binh để chế trường trận, lợi dụng địa hình, địa vật để đánh du kích, lợi dụng sông nước để tập kích quân Nguyên Mông. Quân Nguyên là thiên hạ vô địch về kỵ binh, tượng Hưng Đạo Vương cưỡi ngựa trong tư thế đánh nhau với giặc bằng kỵ binh thì đúng là rất tối trong tư duy.

Đó là chưa kể việc Hưng Đạo Vương là người cưỡi voi đen để chỉ huy, dùng kiếm hoặc gậy một đầu bịt sắt nhọn chứ không dùng đao hay cưỡi ngựa. Đầu tháng 4-1288, Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo chỉ huy một đạo quân từ Đại bản doanh A Sào, vượt sông Hóa đi đánh trận Bạch Đằng, không may voi bị sa lầy đã lún sâu xuống vũng sa bùn, chỉ còn lại cái đầu nhô lên mặt nước. Voi nhìn người quản tượng, nhìn mọi người, nước mắt giàn giụa. Trần Hưng Đạo cũng rớm lệ. Người tuốt thanh kiếm sáng loáng chỉ xuống dòng sông Hóa thét lớn: "Ra đi lần này nếu không thắng giặc sẽ không bao giờ trở về bến sông này nữa". Đền thờ voi của Hưng Đạo Vương tại đền A Sào - Bến Tượng, Thái Bình ngày nay vẫn còn đó. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Hưng Đạo thường theo xa giá đi hầu cận vua. Bấy giờ, ông đã là bậc đại thần, dưới một người trên vạn người, đi đâu cũng mang gậy, một chiếc gậy ở đầu có bịt sắt nhọn, nhiều người không khỏi nghi kị Trần Hưng Đạo. Biết ý, Trần Hưng Đạo vội vứt bỏ đầu sắt nhọn, chỉmang gậy gỗ không mà thôi. Bấy giờ, mọi người mới thực sự an tâm. Đó là tư liệu lịch sử, ngàn đời còn ghi. 

Hưng Đạo Vương là người kiêm tài văn võ, binh thư đầy một bụng, tam giáo cửu lưu rất rành. Vạn Kiếp bí truyền tông thư hay Binh thư yếu lược hay tư tưởng trị quốc an dân của Ngài thì cổ kim hiếm gặp; Tượng của Ngài phải gắn liền với cuộc đời hoạt động, chiến đấu và đóng góp vĩ đại của Ngài với dân tộc ta. Hình tương Hưng Đạo Vương một tay cầm binh thư, một tay chỉ thẳng ra biển hay cưỡi voi, lưng đeo bảo kiếm…đã gắn bó lâu nay với mỗi người Việt Nam. Có nhưng cái cần cách tân, đổi mới nhưng lịch sử thì không thể thay trắng đổi đen. Tôi còn nhớ một lần trên truyền hình, khi Ban Giám khảo phê bình một cô gái trẻ vì tạo hình Vua Quang Trung trông chẳng khác nào mấy anh chàng tập Gym, tóc tai xanh đỏ tím vàng. Cô gái ấy trả lời rằng, các anh các chị đã nhìn thấy Quang Trung ngoài đời bao giờ chưa? Chắc hẳn nhưng người cho rằng “chưa có quy định nào nói Hưng Đạo Vương cưỡi ngựa hay cầm đao” cũng học ý tưởng của cô gái trẻ đó. 

Rất mong cơ quan chức năng Bà Rịa - Vũng Tàu cần yêu cầu Công ty CP Du lịch Cáp treo Vũng Tàu khẩn trương khắc phục, không thể ngụy biện kiểu đó được. Tượng của các anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử không thể tùy tiện muốn làm sao thì làm. Không tạo tiền lệ xấu cho các tỉnh thành khác và không thể phát biểu kiểu “chưa có quy định về việc tượng Đức Thánh Trần cưỡi ngựa hay không, có cầm đao hay không”. Đó là ngụy biện, là bảo thủ, là không chịu tiếp thu./.

Yêu nước ST.
VỀ SỰ ĐƯỢC MẤT TRÊN BIỂN ĐÔNG Đối với Trung Quốc về mặt dân số và diện tích ta chỉ ngang với một tỉnh của họ, nên không thể dùng một trận mà đòi lại được biển đảo. Còn giả sử ta có phép mầu tiến hành chiến tranh thắng được Trung Quốc thì đất nước cũng nát tan. Dọn nhà tránh hàng xóm đã khó còn dọn nước để tránh láng giềng là điều không thể. Làm một trận đòi lại của đã mất cũng không được. Vấn đề biển đảo chỉ có thể dùng chiến lược ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết để đối phó với Trung Quốc. Ta đối phó bằng chính sự cao thượng, đúng sai, phải trái để giành lấy sự ủng hộ quốc tế (Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn - Lấy chí nhân để thay cường bạo). Bằng ngược lại, ta đã nhỏ yếu, lại ứng xử theo kiểu trẻ con, xỏ xiên thì ta sẽ được nhận lại thái độ gì, và ta cũng sẽ làm được gì họ? Tham vọng bành trướng bá quyền vốn là “đặc sản” của người Tàu và cũng là bản tính chung của các đế quốc. Nhưng sau bao cuộc chiến đẫm máu đã dẫn tới xu hướng của thời đại: Đối thoại thay cho đối đầu, nước ta cũng đã thực hiện thành công chính sách ngoại giao đa phương. Ai cũng biết ông cha ta vừa thắng giặc phương Bắc xong vẫn sang triều cống và xin phong Vương (Thuần phục giả vờ - Độc lập thực sự). Bây giờ không còn vậy nhưng vẫn phải hiểu, chiến lược ngoại giao phải phụ thuộc vào thế và lực của ta, không phải muốn sao cũng được. Sai lầm trong đối ngoại là sẽ dẫn tới thảm họa, bất kể nước nào. Cuộc đấu tranh ngoại giao phải luôn kiên trì, không ngừng nghỉ, phải kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển. Còn không, “im lặng nghĩa là đồng ý”, nước ta sẽ vĩnh viễn mất biển! Nhưng cũng phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Lực ta có hạn mà lại đòi mọi cái theo ý mình sẽ là ảo tưởng. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ ta không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Không ai muốn Trung Quốc bành trướng thành siêu cường, rồi có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới. Nước ta năm 1887, vua thì bị bắt đi đầy, tên nước đã bị xóa, tức đã mất hoàn toàn vào tay Pháp, thành bộ phận của Liên bang Đông Dương. Không ai muốn một tấc đất mà hàng ngàn năm Tổ Tiên ông cha ta đã đổ máu gìn giữ được, nhưng sức ta có hạn, không phải mọi thứ đều như ý. Năm 1956 khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc khiêu khích dẫn đến sự manh động nổ súng trước của quân ngụy Sài gòn, rồi lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa kể cả đảo Tri Tôn xa lơ xa lắc. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta chỉ đóng giữ được ở một số đảo nổi. Không chỉ Trung Quốc, năm 1971, Philippines đã lấn chiếm 5 đảo phía Đông Trường Sa, đến 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía Bắc. Với Malaysia, cho đến năm 1979, họ đã chiếm 7 đảo phía Nam Trường Sa. Đặc biệt năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã đánh chiếm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa bắt đầu là bãi đá ngầm Chữ Thập mà nay chúng đã cải tạo thành một pháo đài. Như vậy hậu quả của các cuộc xung khắc thật tai hại, nhất là với nước lớn sát vách như Trung Quốc, họ tranh thủ cơ hội xâm lấn đất của ta, rồi dù có bình thường hóa trở lại, đòi những gì ta đã mất là rất khó, nhất là vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền như hiện tại mọi người đã thấy về "Cái lưỡi bò". Đến hôm nay, Trung Quốc chưa gây chiến trên Biển Đông là vì phe hiếu chiến chưa nắm quyền. Đến khi đó, từ việc khoét sâu mâu thuẫn đến leo thang xung đột, từ khẩu chiến đến chiến tranh lạnh, từ xung đột tranh chấp tới chiến tranh toàn diện chỉ trong tích tắc như cuộc chiến năm 1979. Nếu chiến tranh trên bộ thì Trung Quốc chắc chắn sẽ có kết quả tương tự như năm 1979, không có cơ hội nào. Nhưng nếu là những trận đánh trên biển, sự thiệt hại của Trung Quốc dù lớn cũng sẽ là nhỏ so với thực lực tổng thể của họ. Trung Quốc sẽ có thể mất thật nhiều lính, mất nhiều tỷ đô la, một phần lớn vũ khí sẽ bị hư hại, nhiều tàu sẽ chìm, song với tiềm lực khổng lồ họ rất sẵn sàng bổ sung nhanh chóng và duy trì cuộc chiến lâu dài. Trong khi phía Việt Nam có thể tiếp nối truyền thống lấy ít địch nhiều, Việt Nam sẽ gây thiệt hại nặng cho địch về vũ khí trang bị, con người, nhưng chắc chắn chúng ta cũng sẽ có thiệt hại và buộc phải kéo dài và xé nhỏ cuộc chiến. Và đáng lo nhất là sau 1 cuộc chiến hao tổn sức người, sức của và hy sinh mất mát ta vẫn chưa thể có chiến thắng triệt để cuối cùng dù kéo dài đến 5 năm, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa.. Khi nói, phán, chửi, chê thì rất dễ, nhưng khi bắt tay trực tiếp vào làm mới thấy biết bao nhiêu chuyện phức tạp. Lực lượng Hải quân nhân dân và Không quân nhân dân Việt Nam hiện nay đang được hiện đại hóa, có tính răn đe cao, làm cho Trung Quốc chùn bước chứ không làm cho chúng ngừng ý định bành trướng xuống phương Nam. Vì những lẽ đó, mới có xu hướng lấy đại cuộc làm đầu, nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Nhưng khi có chiến tranh, Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ ảnh hưởng tới vấn đề chủ quyền, suy giảm năng lực phòng thủ, tạo ra thêm nguy cơ mất chủ quyền lớn hơn, bao nhiêu người hy sinh, và sẽ còn nhiều mất mát khác, kinh tế bị ảnh hưởng xấu, đời sống người dân nhất là ngư dân sẽ bị ảnh hưởng to lớn hơn nữa. Bây giờ khi xảy ra cái gì, dù là chuyện nhỏ thôi, chúng nó vin vào đó bảo Việt Nam vi phạm lung tung rồi bật đèn xanh thả lỏng cho giới trẻ, blogger Trung Quốc, hoặc chủ động cho truyền thông chính thống tuyên truyền bôi nhọ Việt Nam, xúc phạm những anh hùng liệt sĩ Việt Nam, xuyên tạc công cuộc bảo vệ Tổ quốc của ta... thì ắt sẽ leo thang xung đột, và xung đột kéo theo xung đột không dứt... Bởi vậy hành động của những kẻ xét lại lịch sử rất phù hợp với dã tâm của Trung Quốc chứ không chỉ phù hợp với riêng bọn phản động hải ngoại. Thành phần Trung Quốc theo chủ nghĩa sô-vanh đại dân tộc thì lâu nay luôn có dã tâm, chỉ cần chúng lên cầm quyền là xong. Và còn bao nhiêu thế lực Mỹ - Tây Âu, phản động đang rình rập tìm cách kích động chiến tranh giữa 2 nước từ nhiều động cơ khác nhau. Không nên thấy biển lặng sóng yên rồi mơ mộng tình hình vẫn đang ổn lắm, tốt lắm, thật ra chiến sự có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Từ khi Việt Nam giành lại được độc lập từ năm 1945 tới nay, bất kỳ bọn giặc nào, từ đâu, kéo tới xâm lược là ta đều đánh chúng ra ngoài, hết giặc này đến giặc khác, trong đó có cả Trung Quốc. Còn khi chúng chưa kéo tới đánh thì ta luôn tuyên bố khẳng định chủ quyền và tuyên bố công khai, chính thức phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền hoặc hành xử chủ quyền trên những vùng bị tạm chiếm. Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền và hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp. Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố. Bác bỏ những tuyên bố chính thức của Trung Quốc… Chúng ta liên tục nâng cấp vũ khí, hiện đại hóa hải quân, không quân, mua sắm mới, tự chủ sản xuất mới, trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Chúng ta nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa, trên Biển Đông, ngay trên những vùng Trung Quốc coi là của mình và tuyên bố chủ quyền. Việt Nam công khai và chính thức, quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên, cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp, bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc. Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, mỗi hành động đều như tát nước vào các tuyên bố và hành động của Trung Quốc, trái ngược và đối nghịch, đối chọi chan chát với những lập trường, quan điểm, quyền lợi của Trung Quốc, mỗi hành động này đều có thể tạo ra sự leo thang thành xung đột vũ trang và chiến tranh trên biển. Việt Nam ý thức rõ điều đó, nhưng vẫn làm, vì nó là chủ quyền. Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ thì Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực Việt Nam hiện nay có thể làm. Bất kể nó trái ngược với lợi ích kinh tế hay hòa bình ổn định của Việt Nam trong khu vực. Bất kể nó đi ngược lại với những tuyên bố, khẳng định, quan điểm, lập luận, và lợi ích của Trung Quốc. Và bảo vệ hòa bình trong trường hợp này cũng chính là bảo vệ chủ quyền, vì khi có chiến tranh thì Việt Nam có thể yếu hơn so với tương quan lực lượng quân sự giữa các bên liên quan. Năm 1988, trong CQ88 ở Trường Sa, chúng ta không thể để leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến quy mô lớn trên biển mà chúng ta rất bất lợi, có nguy cơ mất trắng vì còn đó sự xâu xé của nhiều nước tại Trường sa. Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng là: Xưa nay, Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, vì chủ quyền thì khi cần đánh chúng ta vẫn phải đánh.Ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình phụ thuộc. Những năm tháng chống Trung Quốc trong thời gian 1979-1992 đó đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như một, chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ 3 nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Người làm chính trị luôn lo đến cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc. Vì những lẽ lợi - hại đó, vẫn sẽ có những hạn chế phần nào trong báo chí và dư luận để phục vụ cho sách lược đối ngoại chung đối với Trung Quốc, giữ cho tất cả trong vòng kiểm soát, không leo thang căng thẳng, dần đưa tới mâu thuẫn, từng bước đưa đến xung đột quân sự và chiến tranh quy mô. Đồng thời không để thế lực thứ ba nào lợi dụng tình hình căng thẳng giữa hai bên để trục lợi. Còn đối với những kẻ phản động, từng có "thành tích" bán nước, theo giặc 3 đời vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá nâng quan điểm về những cái gọi là "đại họa mất nước" (?) v.v. thì họ là những kẻ thù hận điên cuồng, u mê mù quáng, không dám chấp nhận sự thật. Chúng ta không quan tâm và không hy vọng gì vào những phần tử này. Khi Việt Nam giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc thì họ vẫn sẽ còn tiếp tục bám vào đó, sống ký sinh lên trên đó và tiếp tục chửi bới. Nhưng nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1992 thì cũng không có khả năng nào họ theo Việt Nam chống Trung Quốc, mà trái lại họ sẽ càng lợi dụng phá thêm và mong muốn Trung Quốc chiến thắng, như họ đã từng mong muốn "Trung Cộng đánh thẳng vào Hà Nội giết sạch Việt Cộng" năm 1979. Bọn Fulro và bọn khủng bố tiền thân của Việt Tân nhân cơ hội chiến tranh đó, đã "đục nước béo cò", "thừa nước đục thả câu" mà thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, ma túy, súng đạn vào khủng bố trong nước. Những kinh nghiệm từ lịch sử vẫn còn rành rành. Đây là bọn phản quốc và trên thực tế đã chống dân tộc, chống đất nước, chống Tổ quốc nhiều đời, nhiều lần trong lịch sử hiện đại, chứ không chỉ có chống Đảng Cộng sản, chống Chủ tịch Hồ Chí Minh, chống CNXH, chống CNCS. Họ trung thành với Vatican, với Pháp, với nước Mỹ chứ không phải trung thành với nước Việt. Họ yêu bản thân chứ không yêu nước. Mục đích tối hậu của họ là lật đổ Nhà nước Việt Nam để phục hận sau khi những lợi ích gắn liền với giặc xâm lược của họ bị mất sạch sau khi Việt Nam thắng Mỹ. Họ muốn trở về rửa hận, lấy lại những gì đã mất, để tranh quyền giành ghế, tranh giành quyền lực để được làm ông nọ bà kia. Mối quan hệ phức tạp Việt - Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác, và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc. Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm, và cái lợi tổng thể của cái chung, của dân tộc, đất nước. Và chủ quyền và sự hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm họ đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, cái lợi ích chung đó. Họ đặt tình cảm vào cái chung, cái lớn, toàn dân, toàn quốc, nặng hơn cái tình cảm cá nhân với một người hay một nhóm, cái riêng tư, cục bộ. Đặt nặng cái lâu dài hơn cái nhất thời. Họ cũng căm tức nhưng họ có trách nhiệm gánh vác to lớn, họ không có quyền để cảm xúc, cảm tính điều khiển hành động, không được hành động cho đã cái nhất thời bất chấp tất cả, rồi sau đó thế nào mặc kệ, không chịu trách nhiệm. Nếu vậy thì đó mới là một chính phủ vô trách nhiệm. Chiến tranh đổ máu, mất thêm chủ quyền lãnh hải lãnh thổ, thì sao đây?

MÔI TRƯỜNG TỐT ĐỂ PHẤN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH

  

Trước khi vào quân đội, không chỉ riêng tôi mà nhiều đồng chí khác đều nghĩ rằng, môi trường quân ngũ sẽ rất vất vả, khổ cực, thiếu thốn, thậm chí, qua một số thông tin trên mạng xã hội, còn có cả cảm giác lo lắng, thiếu yên tâm. Thế nhưng, ngay từ ngày đầu nhập ngũ về đơn vị, tôi đã có cảm nhận khác hẳn.