Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Quyết liệt, không có vùng cấm, ngoại lệ trong phòng chống tham nhũng.

  - Ở Việt Nam, việc đấu tranh chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể họ là ai, đã và đang đảm nhiệm chức vụ gì, dù nghỉ hưu hay đang đương nhiệm, từ Trung ương đến địa phương… là để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị.

Những nhiệm kỳ gần đây, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị thì các phần tử phản động, cơ hội, các thế lực thù địch đã xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh này bằng những luận điệu phản động như: "Tham nhũng là sản phẩm của chế độ độc Đảng ở Việt Nam", nên "không được tham nhũng, thì hệ thống đảng sẽ tự rệu rã, tự giải tán". Việt Nam "càng chống tham nhũng thì tham nhũng ngày càng gia tăng vì không có dân chủ". Việt Nam "không thể chống tham nhũng thành công vì đó là do các phe cánh trong Đảng đấu đá nhau". Ở Việt Nam, "đấu tranh chống tham nhũng chỉ là cái cớ, thực chất là sự phân chia quyền lực" và chống tham nhũng là "các trận đấu giữa băng này với nhóm kia trong hệ thống chính trị, trong hệ thống công quyền"…

Thực tế, đấu tranh chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể họ là ai, đã và đang đảm nhiệm chức vụ gì, dù nghỉ hưu hay đang đương nhiệm, từ Trung ương đến địa phương… là để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị.

ĐẨY MẠNH CHỐNG THAM NHŨNG GẮN VỚI KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

Ở Việt Nam, đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực khác đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo từ rất sớm; đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng triển khai gắn liền với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng suốt hành trình hơn 92 năm qua; đặc biệt được đẩy mạnh trong hơn trong hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Để phòng và đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả, thời gian qua, Đảng không chỉ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận liên quan đến công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung; công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng nói riêng mà còn lãnh đạo chặt chẽ công tác này để nhằm mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng. Tiếp tục tinh thần phòng và đấu tranh chống tham nhũng của các nhiệm kỳ trước, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phải “khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ có hiệu quả về kê khai, kiểm soát, kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp”(1); đồng thời, "triển khai đồng bộ có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng”(2).

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nhiệm kỳ này được triển khai nghiêm túc, đồng bộ gắn liền với việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", Kết luận số 21 về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… để xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh.

Đặc biệt, Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại phiên họp thứ 21 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tiêu cực ngày 20/1/2022 cho thấy chủ trương kiên quyết của Đảng đối với công tác này. Cụ thể, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2022 mà các cơ quan, ban, ngành chức năng cần phải triển khai, đó là "tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để "không thể tham nhũng"; cụ thể hoá, thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập, bảo đảm thực chất, hiệu quả".

Thực tế, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng là đấu tranh chống tham nhũng phải luôn tuân thủ quy định của pháp luật; đấu tranh chống tham nhũng  phải quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ… những kết quả đạt được của công tác này những năm qua không chỉ tạo được bước đột phá mà còn góp phần từng bước hình thành cơ chế răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên ở các cơ quan công quyền "không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không muốn tham nhũng"…

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên tham ô, tham nhũng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phạn không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong từng tổ chức Đảng vẫn chưa thể ngăn chặn, chưa được đẩy lùi triệt để. Cho nên, cũng chưa bao giờ lại có nhiều cán bộ cấp cao vướng vào vòng lao lý vì tham nhũng, cố ý làm trái pháp luật như nhiệm kỳ khóa XII và nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng. Đồng thời, cũng chưa bao giờ công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" theo Quy định số 32-QĐ/TW của Bộ Chính trị về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực" lại trở nên cấp bách và có ý nghĩa như vậy.

Từ các vụ án về tham nhũng và các hành vi tiêu cực, có thể thấy rằng, tham nhũng và tiêu cực trong lĩnh vực nào, ở cấp nào cũng đều làm ảnh hưởng tới sự trong sạch của bộ máy Đảng và Nhà nước; cũng đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, phẩm chất đạo đức và vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đồng thời, cũng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, càng nhiều khó khăn thử thách, Đảng càng phải đẩy mạnh công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng gắn liền với phòng, chống tiêu cực; nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng.

Vì vậy, những nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại phiên họp thứ 21 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tiêu cực chắc chắn không phải là "sự thừa nhận thất bại" của cuộc đấu tranh này như các thế lực thù địch đã xuyên tạc, mà đó chính là một cách đánh giá đúng thực trạng, để tìm ra giải pháp hữu hiệu hơn, nâng cao hiệu quả của công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam.

Việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 32 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó 26 cán bộ diện Trung ương quản lý liên quan đến các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, gồm (4 Uỷ viên, nguyên Uỷ viên Trung ương; 2 nguyên Bộ trưởng, 1 bí thư tỉnh uỷ, 5 thứ trưởng, nguyên thứ trưởng; 2 nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; 3 nguyên phó bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; 13 sĩ quan đương chức cấp tướng trong lực lượng vũ trang) trong năm 2021 chính là thượng tôn pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là, bất kể cá nhân hay tổ chức nào vi phạm pháp luật, đầu cơ, tham ô, tham nhũng hay nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp thì đều phải bị xử lý nghiêm minh. Thực chất việc đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng và xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng chính là đau xót "cắt bỏ một cành cây hỏng để cứu cả thân cây", là phải "chặt bỏ một cây sâu bệnh để cứu cả một rừng cây xanh tốt" nhằm làm trong sạch đội ngũ, trong sạch tổ chức, chứ không phải đó "là một cái cớ để các phe nhóm trong đảng đưa nhau ra tòa, vào tù trong cuộc chiến giành quyền và lợi trong đảng" như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Lâu nay, nhân danh dân chủ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, các phần tử cơ hội, phản động, suy thoái như Trân Văn, Trần Văn Chánh, Tâm Chánh, Phạm Trần, JB Nguyễn Hữu Vinh… thường theo đuôi các thế lực thù địch, bẻ cong sự thật những ý kiến phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; suy diễn, cắt cúp theo chủ ý mình những bài viết đăng trên các trang Tuyengiao.vn; Quân đội nhân dân; Xây dựng Đảng… để xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và phủ nhận những kết quả đạt được trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng nói chung, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam nói riêng. Vì thế, phải khẳng định chắc chắn rằng, đấu tranh chống tham nhũng không phải là sự tranh giành quyền lực, lại càng không phải là sự tranh chấp giữa các phe nhóm về lợi ích.

Việc các phần tử nêu trên tự suy diễn và quy chụp rằng chống tham nhũng ở Việt Nam bị lạm dụng để biến thành những cuộc thanh trừng phe phái, "mạnh được yếu thua" chỉ là sự bịa đặt thiển cận. Thực tế, ở Việt Nam, không phải tham nhũng "càng chống càng tăng về quy mô, tính chất" và biểu hiện ngày càng "hung hãn, kịch liệt, tinh vi" mà là càng làm nghiêm khắc, triệt để thì càng phát hiện sớm những biểu hiện tiêu cực, những hành vi vụ lợi từ những người đã suy thoái để kịp thời xử lý theo pháp luật. Thực tế, chủ trương phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; những kết quả của công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua không chỉ góp phần cảnh tỉnh, răn đe những người muốn lợi dụng/lạm dụng quyền lực để tham nhũng mà còn từng bước được ngăn chặn, kiểm soát được tham nhũng, tiêu cực.

Với sự vào cuộc của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, công cuộc phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực dù diễn ra gay go, ác liệt, lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực không mệt mỏi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, song nhất định sẽ thắng lợi. Tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, các địa bàn; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các cơ quan công quyền của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương nhất định sẽ bị ngăn chặn, đẩy lùi, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và niềm tin yêu, sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân.

THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CẤP TỈNH LÀ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA THỰC TIỄN

Đại hội XIII của Đảng, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị và nhiều Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo Trung ương) thời gian gần đây đã nhấn mạnh trọng tâm phải đẩy mạnh phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong cả hệ thống chính trị. Trong đó, tập trung gắn phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực với phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các cấp ủy, tổ chức đảng trong hệ thống chính trị. Đi liền cùng đó là phải tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phát hiện, xử lý tham ô, tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở; khắc phục tình trạng trên nóng, dưới lạnh…

Sau 5 năm thực hiện Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí (Kết luận 10), công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực đã có những bước tiến tích cực; tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn… Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, tình trạng cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp vẫn chưa được ngăn chặn kịp thời. Tại các cấp, vẫn còn những vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, những biểu hiện tiêu cực trá hình có tổ chức, rất tinh vi, phức tạp, không chỉ gây bức xúc trong dư luận mà còn đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Trong khi đó, một số nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong Kết luận số 10-KL/TW tuy đã được triển khai thực hiện, song vẫn còn chậm và hiệu quả chưa cao…

Vì thế, ngày 6/4/2022, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Thông báo Kết luận số 12-KL/TW về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Kết luận 12). Trong đó, những yêu cầu được nêu trong Kết luận 12 là phải khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Đồng thời, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Đi liền cùng đó là sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Thanh tra, Luật Thực hành dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Luật Tiếp công dân và các dự án luật khác liên quan trực tiếp đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… để tiếp tục đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong phát hiện, xử lý tham nhũng ở địa phương, cơ sở; để xử lý nghiêm những trường hợp nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Vì thế, trên tinh thần vừa kế thừa kinh nghiệm của Ban Chỉ đạo Trung ương, vừa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại địa phương và nhất là để bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, thống nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương đối với việc thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo cấp tỉnh) không chỉ được xem là “cánh tay nối dài của Trung ương” để sâu sát hơn, kịp thời hơn trong việc giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, bức xúc trong dân ở các địa phương mà còn thiết thực làm cho công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được chỉ đạo, tiến hành thống nhất, liền mạch, chặt chẽ theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương.

Việc Trung ương quyết định thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh mà Bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm Trưởng Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh theo Quy định 67-QĐ/TW ngày 2/6/2022 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là thể hiện chủ trương đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, không ngừng, không nghỉ; là thể hiện quyết tâm không khoan nhượng, không bao che với các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực; đồng thời, bảo đảm cho công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện thông suốt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang sáng suốt” để đạt được hiệu quả cao nhất.

Theo TS. Nguyễn Đình Quyền - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thì chủ trương lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là cần thiết và thực tế đã và đang được triển khai trên cả nước. Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong những thiết chế rất đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam. Việc từ Trung ương đến địa phương đều có cơ quan thực thi nhiệm vụ phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ góp phần làm tốt hơn việc kiểm soát quyền lực chính trị, kiểm soát trách nhiệm công vụ đối với hoạt động phòng, đấu tranh chống tham nhũng của các cơ quan/tổ chức/đơn vị và những người có chức vụ/quyền hạn trong hệ thống chính trị, trong bộ máy Nhà nước, mà còn góp phần kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập về mặt thể chế, chủ trương, đường lối để tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên thực tế.

Thống nhất trong chủ trương và quyết liệt trong xử lý các vụ án tham nhũng, các hành vi tiêu cực là thiết thực phòng, chống, ngăn chặn, đầy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; là để làm trong sạch Đảng, để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là một minh chứng cho thấy, chưa bao giờ công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực lại được chỉ đạo mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả như hiện nay. Cũng chưa bao giờ, những chủ trương đúng đắn, những chỉ đạo sát sao và những dấu ấn nổi bật trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam lại tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội; lại góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước như hiện nay.

TS. Văn Thị Thanh Mai  
Ths. Văn Thị Thanh Hương

---

 (1) (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.II, tr.146, 145-146.

V.I.Lênin, Hồ Chí Minh và chuyện dân chủ hóa báo chí hôm nay.

  - Ngày nay, báo chí nước ta đã phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả đội ngũ lẫn loại hình, đặc biệt là các loại hình báo chí hiện đại gắn liền với công nghệ số và Internet, nhưng có một vấn đề trong sáng tạo và tiếp nhận báo chí tưởng như bất biến, đó là dân chủ hóa thông tin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (tháng 9/1962). (Nguồn: hoinhabaovietnam.vn)

V.I. Lênin là nhà báo vĩ đại - một người làm báo thực thụ với nhiều cương vị khác nhau: là Tổng biên tập báo Người vô sảnĐổi mới; là thành viên của nhiều tờ báo; là người quan tâm rất mực đến việc làm thế nào để in ấn, phát hành rộng rãi báo chí giá rẻ đến với công nhân, binh lính và nông dân. Một trong những tư tưởng lớn của Lênin về báo chí được Hồ Chí Minh thường dẫn lại với báo giới Việt Nam là: “Tờ báo là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể, người tổ chức tập thể”. Trong những điều kiện lịch sử của thời kỳ kinh tế mới (NEP) một câu hỏi được đặt ra bức thiết cho chính quyền Xô viết trên nhiều bình diện, trong đó có báo chí, được Lênin nêu lên: “Chúng ta thiếu gì?” và vị lãnh tụ cách mạng trả lời: “Tính văn hóa. Sự hiểu biết quản lý...”. Vậy tính văn hóa trong báo chí nằm ở đâu? Trước hết là ở quá trình dân chủ hóa báo chí đối với toàn dân.

Ngày nay báo chí đã trở thành nơi hội tụ một khối lượng khổng lồ những kiến thức, những thông tin có giá trị trong xã hội đang làm giàu trí tuệ loài người, trực tiếp tham gia vào sản xuất cho xã hội. Ở bất cứ nước nào cũng vậy, báo chí là một biểu hiện vừa cập nhật, vừa bền vững của văn hóa dân tộc, là tài sản tinh thần của toàn dân. Tri thức trên báo chí là cội nguồn có tính chất dân chủ hơn cả. Nếu biết định hướng đúng thì ngay cả “sự thật thấp hèn”, sự thật màu xám cũng có giá trị phản biện hơn “sự giả dối cao thượng”, sự thổi phồng thành tích. Khi nói sự hiểu biết quản lý, trong đó có quản lý báo chí, thì ngoài các công cụ quản lý như việc hoạch định chiến lược báo chí, chính sách, luật báo chí và các luật hữu quan.v.v.. còn tính đến sự ủng hộ của công chúng. Muốn được sự ủng hộ của công chúng thì chí ít phải chú ý hai khâu khó nhất trong quản lý. Đó là: quản lý cái vô hình ở công chúng (tâm trạng, tâm lý, tình cảm, nguyện vọng...) và quản lý chất lượng báo chí tức là việc phát hiện cái mới, cái sáng tạo, cái nhạy cảm của nhân dân. Người tốt, việc tốt, người mới, việc mới được Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1958 là một hiện tượng mới; nó không phải là khẩu hiệu treo tường mà là một triết lý nhân sinh, mang tính nhân văn.

Tuyên truyền chưa đủ, phải biết tổ chức, hướng dẫn về mặt thực tiễn. Nhiều nghị quyết của Đảng, trong đó có những nghị quyết về xây dựng, phát huy đời sống văn hóa, dân chủ đã đi vào mọi “ngõ ngách” của cuộc sống; có những phong trào, tiêu biểu như toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được người dân quan tâm, chủ động tham gia thực hiện chính là bắt nguồn từ cái đúng của chủ trương phù hợp với tâm trạng xã hội, muốn có đời sống tinh thần ổn định và phong phú hơn. Trái lại, lễ hội vốn là một biểu hiện văn hóa hỗn dung giữa thiêng và tục, giữa đạo và đời để tôn vinh các giá trị truyền thống ngưỡng vọng hồn thiêng sông núi, khí phách của các bậc anh hùng, nhưng ở nhiều nơi đã bị thương mại hóa là do nhận thức hời hợt, tổ chức yếu kém, quản lý buông lỏng... Trong những cái được và chưa được từ những ví dụ nêu trên, đều có vai trò hoặc “đúng tầm đúng hướng” hoặc “coi nhẹ buông lỏng” trong tuyên truyền, phản ánh, giáo dục, định hướng văn hóa của báo chí.

Nói đến tính văn hóa trong báo chí, Lênin nói ngay đến văn hóa chính trị tức là tính văn hóa của toàn dân. Mục đích của văn hóa chính trị, của giáo dục chính trị là rèn luyện những người cộng sản chân chính chiến thắng cái giả dối, những thành kiến giúp nhân dân lao động chiến thắng trật tự cũ - những cái cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời. Muốn vậy, trên báo chí, theo Lênin hãy bớt “nói huyên thuyên về chính trị”(1), hãy bớt “bàn suông, tán nhảm về chính trị”, hãy bớt “những nghị luận kiểu trí thức”, hãy gần đời sống hơn nữa, hãy nói thêm về kinh tế, về văn hóa buôn bán, văn hóa lao động, văn hóa ứng xử. Chính trị trên báo chí mà Lênin không thiện cảm là loại chính trị “nói mà không làm”, thường lặp đi lặp lại ở một số thuật ngữ cũ mèm, sáo mòn, với giọng hành chính, quan liêu, thiếu sức sống của cây đời. Thật đúng chỗ khi nhắc đến báo giới, Hồ Chí Minh đã gặp Lênin ở quan niệm tính văn hóa của báo chí. Là một nhà báo vĩ đại với hàng vạn bài báo (từ một số bài viết về thuộc địa Pháp), Hồ Chí Minh chỉ có một đề tài duy nhất: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngay từ sớm, người đã rất quan tâm đến tính đa dạng của cách viết, của phương thức diễn đạt, bởi báo chí cách mạng là diễn đàn của nhân dân, ở Đảng không có sự ban ơn, mà là cuộc đối thoại giữa người viết với người đọc. Có khi đề tài là đúng, nội dung không sai, nhưng cách thực hiện nhàm chán, tầm thường... dễ dẫn đến sự thờ ơ của bạn đọc. Năm 1959, tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, sau khi nhấn mạnh người làm báo phải lấy chính trị là chủ, Hồ Chí Minh chỉ ra hai khuyết tật lớn của báo chí: Một là, “Viết về chính trị thì khô khan, rập khuôn”(2), phải viết cho văn chương người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc. Hai là, bệnh nói chữ, bệnh dùng chữ nước ngoài quá nhiều làm ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng nói dân tộc. Người cũng rất quan tâm đến việc cải tiến chữ quốc ngữ và tiếng Việt, đặc biệt trên báo chí, văn chương. Người dặn hai điều cần tránh là tránh “bám theo lối sống các ông hàn lâm cãi nhau mà không giải quyết được gì”, “đừng sợ cái mới quá. Cái gì mới thì lúc đầu cũng lạ”. Đó là bài học về tầm nhìn văn hóa khoáng đạt cho giới văn nghệ sĩ và báo giới hôm nay.

Dân chủ hóa trong quá trình đưa tin, xử lý thông tin nhằm phục vụ đại đa số nhân dân. Cả Lênin và Hồ Chí Minh đều gặp nhau ở một điểm. Lênin nói, đối với công nhân, binh lính, nông dân thì phải “cố gắng làm sao cho sách bán được, phát không cho các thư viện, các phòng đọc sách để phục vụ người đọc trong cả nước, Sách được in với giá rẻ, số lượng lớn”. Còn đối với “những tên quan liêu Xô viết, nhưng kẻ đang mượn nhiều cớ khác nhau để chiếm hữu báo chí, thì phải giảm bớt phần báo của họ, chứ như hiện nay có tới 600.000 tờ bị chiếm đoạt vô ích, phung phí”. Chủ nghĩa quan liêu trong bộ máy nhà nước Xô viết là hiện tượng chính trị thiếu văn hóa sinh ra do hậu quả của sự tha hóa quyền lực, ngay cả trong lĩnh vực báo chí. Ở Hồ Chí Minh, khi nói tới sự sáng tạo của văn nghệ sĩ và của nhà báo, Người thường nêu hai câu hỏi Viết cho ai? Và viết để làm gì? Câu trả lời không hoàn toàn khó. Đó là nhân dân và phục vụ cách mạng, nâng cao trình độ dân trí cho hàng chục triệu người, một hình thức dân chủ hóa trực tiếp bằng tri thức, trí tuệ. Có điều khi làm thì không phải tờ báo nào cũng thực hiện tốt, nhất là khâu phát hành, khâu công tác bạn đọc, việc tìm hiểu thị hiếu đa dạng của người đọc, người nghe. Người dặn: “Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem”; “Giá tiền bán cũng cần phải đúng mức”. Còn về cách viết thì tránh lăng nhăng “tràng giang đại hải”, “chớ ham dùng nhiều chữ”. Viết ngắn, viết dễ hiểu mà Hồ Chí Minh nhắc không có nghĩa là tầm thường hóa nội dung, làm mất đi sự sâu sắc, giàu trí tuệ. Trái lại, Người muốn cảnh báo, ngăn ngừa cách viết cốt để khoe chữ, cố tình phức tạp hóa những vấn đề vốn đơn giản. Đó là bài học cho hôm nay, bởi có một số người cầm bút trẻ nông nổi nghĩ rằng “thơ của tôi không dành cho bạn” hoặc thảm hại hơn là do nội lực văn hóa yếu nên dễ tắc tị, rối loạn ngôn ngữ và bóp méo hình tượng. Thực chất của hiện tượng trên là do họ thoát ly đời sống, hẫng hụt lý tưởng, thậm chí vô cảm trước những vấn đề nóng bỏng của xã hội.

Nói dân chủ hóa trong hoạt động báo chí, không thể quên những điều dạy của Hồ Chí Minh. Người thường khuyên các cán bộ giúp việc ba điều khi đọc sách, xem báo: Có cái gì để học, để giáo dục người đọc không? Phải có tính lôgích của vấn đề nêu ra; phải tôn trọng sự thật, nhất là tính chính xác của sự kiện.

Cách đây khoảng 20 năm, trong một lần đến thăm đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ, chúng tôi được bác Kỳ kể lại mẩu chuyện nhỏ để chứng minh một số sự việc của báo nêu chưa thật lôgích và thiếu chính xác. Có tờ báo viết, đại ý: Một hôm, có chú lính bảo vệ khu nhà sàn nơi Bác Hồ ở, bị rơi xuống hố. Nghe tiếng động Bác hỏi và biết sự việc không may, Bác chạy xuống cầu thang, chân đi guốc, chân không, bóp tay, chân cho người lính, hỏi han chuyện vừa xảy ra và nói: Bác gác thay cho chú...

Đọc đoạn nội dung trên của bài báo, Bác Hồ ngạc nhiên hỏi người xung quanh: Chú lính gác là để bảo vệ Bác, còn Bác thì phải bảo vệ ai? Chả lẽ bảo vệ cái nhà sàn à? Như vậy là thiếu lôgích!

Nhiều lần Bác nhắc cán bộ giúp việc là không nên thần thánh hóa Bác, bởi Bác cũng là con người bình thường; nhưng cũng cần tránh tầm thường hóa khi “cường điệu” quá về những sinh hoạt thường ngày của Người, chẳng hạn như việc Bác ăn cơm nguội, hay Bác thường ăn cơm với cà, cá kho xứ Nghệ.v.v.. có lẽ nói Bác thích thì chính xác hơn.

Ngày nay, báo chí nước ta đã phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả đội ngũ lẫn loại hình, đặc biệt là các loại hình báo chí hiện đại gắn liền với công nghệ số và Internet, nhưng có một vấn đề trong sáng tạo và tiếp nhận báo chí tưởng như bất biến, đó là dân chủ hóa thông tin. Nhiệm vụ của báo chí là tạo ra số lượng người đọc, người nghe, người xem được thông tin nhiều. Họ được thông tin sẽ tạo ra nền dân chủ thực sự. Ngay cả trong những chừng mực nhất định, “liều lượng phù hợp”, đúng định hướng thì những thông tin về cái xấu, thông tin tiêu cực được đưa đúng cách cũng có tính phản biện, góp phần bổ sung, minh họa, làm nổi bật cái tốt, cái đẹp, cái tích cực. Một khi thiếu thông tin, người dân sẽ “cầu viện” đến những “vùng tối tâm linh”, chạy theo “miền hoang dại” của siêu thực, tin theo “những lý lẽ phản động”, thậm chí khủng hoảng niềm tin. Như vậy thật có hại. Bưng bít thông tin, che giấu sự thật, dù bất cứ dạng nào cũng là hành vi phản dân chủ, là cách đánh tráo nhận thức./.

GS. Viện sĩ Hồ Sĩ Vịnh
________________

(1) Những câu của Lênin đặt trong ngoặc kép từ đây trở đi đều trích dẫn từ cuốn Lênin bàn về vấn đề báo chí, Nxb. Sự thật, H, 1970, các trang 225 - 228, 259, 261.

(2) Những câu của Hồ Chí Minh đặt trong ngoặc kép từ đây trở đi đều trích dẫn từ cuốn Hồ Chí Minh tuyển tập văn học, Nxb. Văn học, H, 1995, các trang 280, 287, 458, 284.

Cán bộ có chức, quyền và ý thức tự giáo dục liêm chính.

 

Cuốn sách “Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

Kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thời gian qua đã chỉ ra tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không còn mơ hồ, chung chung mà hiện hữu ở nhiều lĩnh vực, cấp, ngành, địa phương, đơn vị, với mức độ ngày càng nghiêm trọng, cần được loại bỏ triệt để.

Nhìn từ những sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên liên quan các vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á; Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; các kết luận gần đây của Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025… cho thấy một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không giữ được liêm chính trước cạm bẫy lợi quyền. Nghiêm trọng hơn khi những người được giao quyền hạn, trách nhiệm đã lợi dụng tình trạng khẩn cấp trong phòng, chống dịch bệnh, bất chấp kỷ cương, phép nước, đạo đức xã hội để thực hiện hành vi vơ vét, trục lợi cá nhân.

Qua các vụ án, vụ việc liên quan tham nhũng, tiêu cực vừa qua cho thấy, số lượng tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và truy cứu trách nhiệm pháp lý ở mức đáng lo ngại, với tính chất, mức độ, phạm vi, hậu quả rất nghiêm trọng. Phần lớn cán bộ, đảng viên vi phạm bị kỷ luật đều là những người có chức, có quyền, nắm giữ những vị trí trọng trách, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị ở nhiều cấp, ngành, địa phương. Trước mỗi quyết định kỷ luật, câu hỏi thường được đặt ra là vì đâu nên nỗi, khi rất nhiều trong số đó là những cán bộ, đảng viên được đào tạo bài bản, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị cao, có quá trình trưởng thành từ thực tiễn. Trên cương vị của mình, hơn ai hết họ phải là người hiểu rõ về các quy định, quy chế làm việc, thẩm quyền, mối quan hệ trách nhiệm cá nhân-tập thể, quy trình xử lý công việc... Nhưng tất cả đã bị bỏ qua chỉ vì danh lợi trước mắt, vì lợi ích cá nhân đã đặt lên trên hết, cao hơn cả tự trọng của chính mình.

Trong các quyết định gần đây của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đã chỉ ra cái gốc của vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, suy giảm niềm tin trong nhân dân, chính là bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là căn nguyên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước.

Tình trạng suy thoái như Trung ương đã cảnh báo, chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong các nguyên nhân dẫn đến suy thoái, Trung ương đã nhận định, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Không thể ngụy biện, suy diễn bi quan mà đổ lỗi cho cơ chế, bởi không có cơ chế, chế tài nào có thể kiểm soát hết được diễn biến nội tại trong mỗi con người, cũng không thể cưỡng chế lòng tham khi họ cố tình vi phạm.

Các quyết định kỷ luật nghiêm khắc tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thời gian qua thể hiện sự nghiêm minh, nhất quán trong chỉ đạo và hành động của Đảng, thống nhất giữa nói và làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới. Đây là những bản án nghiêm khắc, đúng người, đúng tội được dư luận đánh giá cao về tính công khai, minh bạch, khẩn trương trong kiểm tra, điều tra, xử lý. Đó tiếp tục là bài học đắt giá trong công tác xây dựng Đảng nói chung, đối với mỗi tổ chức đảng nói riêng; là bài học cảnh tỉnh cho mỗi đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện chính mình.

Đấu tranh với sai phạm làm trong sạch nội bộ, củng cố đoàn kết trong Đảng để hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ tâm, đủ tầm. Điều đó đòi hỏi hành động của mỗi cấp ủy, cán bộ người có vị trí càng cao càng phải làm gương về tự giáo dục liêm chính, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân và của Đảng lên trên hết ■


Lao động trẻ cũng có những triệu chứng hậu Covid-19.


Buổi khám, tư vấn hậu Covid-19 được Hội Thầy thuốc trẻ triển khai trên địa bàn Hà Nội.

Kết quả khảo sát, nghiên cứu trên 17 nghìn người dân tham gia chương trình khám bệnh, chăm sóc sức khỏe hậu Covid-19 trong Hành trình Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác, tình nguyện vì sức khỏe cộng đồng do Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam triển khai trong tháng 5/2022 đã chỉ ra nhiều vấn đề đáng lưu tâm.

Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh thế giới đã trải qua hơn hai năm chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Tại Việt Nam, với việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch, số ca nhiễm mới trong thời gian gần đây đang ở mức thấp với nhiều ngày không có số ca tử vong. Tuy nhiên, gánh nặng bệnh tật, đặc biệt là các hội chứng hậu Covid đang trở thành vấn đề được quan tâm cấp thiết.

Theo các nghiên cứu, thống kê có hơn 200 triệu chứng Covid-19 kéo dài đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe. Cho đến nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều chưa có những nghiên cứu hoàn chỉnh, quy mô lớn về hậu Covid-19 và các ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần cũng như mức độ và thời gian của triệu chứng có thể kéo dài. Đặc biệt cần lưu tâm đến độ tuổi lao động trẻ từ 16 đến 35, vì đây là lực lượng nòng cốt của phát triển kinh tế, phục hồi hậu Covid-19.

Hoạt động trọng tâm của Hành trình Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác triển khai trong tháng 5 vừa qua là tập trung chăm sóc sức khỏe hậu Covid-19 cho người dân cả nước thông qua những hoạt động chính: khám chữa bệnh tình nguyện trực tiếp cho người dân, đánh giá y tế chuyên sâu hậu Covid-19; khám bệnh và theo dõi sức khỏe qua tổng đài và telehealth, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo; phát hành bộ cẩm nang điện tử cập nhật thường xuyên về chăm sóc sức khỏe hậu Covid-19. Tổng số đã có 49.496 người tại 52 tỉnh, thành phố được khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí, tư vấn sức khỏe hậu Covid-19.

Trong hành trình đó, nhóm nghiên cứu của Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu đánh giá cắt ngang trên đối tượng là người dân tự nguyện đăng ký và đến khám hậu Covid-19. Nhóm nghiên cứu đã ban hành bộ câu hỏi khảo sát gồm 4 phần và 20 câu hỏi trực tuyến. Tổng cộng 17.093 người là lao động trẻ, độ tuổi từ 16 đến 35 tham gia khảo sát. Có 13.313 phản hồi, chiếm tỷ lệ 77,89%. Nhóm nghiên cứu cũng chia số liệu trong nhóm bệnh nhân có bệnh lý nền (ung thư, tiểu đường, tim mạch, viêm phổi mạn tính) để đánh giá riêng, tiến hành phân tích hồi quy logistic mối liên quan giữa các đặc điểm với tình trạng bệnh nhân còn triệu chứng hậu Covid-19 sau sáu tháng.

Kết quả cho thấy có 68% số bệnh nhân còn tồn tại triệu chứng hậu Covid-19 từ 2 đến 5 tháng, tuy nhiên có đến 17,4% số bệnh nhân có triệu chứng hậu Covid-19 nhiều hơn 5 tháng và khoảng gần 5% số bệnh nhân vẫn còn những triệu chứng này sau 10 tháng kể từ ngày có kết quả xét nghiệm dương tính với vi-rút SARS-CoV-2. Bệnh nhân thường có từ hai, ba triệu chứng điển hình liên quan hậu Covid-19 trong số 203 triệu chứng mà Bộ Y tế đã xác định, chủ yếu tập trung ở nhóm bệnh lý liên quan tâm thần (chóng mặt, đau đầu, khó tập trung, mất ngủ,…) và nhóm bệnh lý về hô hấp (ho, khó thở).

Nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ và thời gian bị triệu chứng Covid-19 kéo dài không liên quan thời gian bị nhiễm Covid-19 (chỉ 2% dương tính với SARS-CoV-2 nhiều hơn 14 ngày) hay mức độ nghiêm trọng khi bị nhiễm Covid-19 (có triệu chứng nặng và nhập viện khi bị nhiễm Covid-19 dưới 10%), so với một số nghiên cứu trước đó cho rằng có mối liên quan giữa thời gian bị nhiễm kéo dài và mức độ nghiêm trọng khi bị nhiễm Covid-19 với các triệu chứng hậu Covid-19. Nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệ nữ giới có xu hướng cao hơn nam giới về khả năng bị Covid-19 kéo dài (64,63% ở nữ và 35,37% ở nam giới), điều này cũng được nêu tại nhiều nghiên cứu trước đó. Thông qua số đo chiều cao và cân nặng của bệnh nhân, nhóm nghiên cứu sử dụng chỉ số BMI để phân loại và ghi nhận 28,74% số bệnh nhân thiếu cân và 8,71% số bệnh nhân bị béo phì, cho thấy dinh dưỡng không đầy đủ hoặc béo phì cũng có thể là nguyên nhân khiến người bệnh có nhiều khả năng bị kéo dài triệu chứng Covid-19.

Nghiên cứu cũng chỉ ra đối với nhóm lao động trẻ, bệnh lý nền không phải yếu tố ảnh hưởng đến khả năng bị hội chứng Covid-19 kéo dài (chỉ 3,6% số bệnh nhân có bệnh lý nền). Tuy nhiên, qua phân tích hồi quy, đối với bệnh nhân giới tính nam, có thời gian mắc Covid-19 hơn 14 ngày, hút thuốc lá, uống rượu, bia và không tập thể dục đều sẽ làm tăng nguy cơ kéo dài các triệu chứng hậu Covid-19. Nghiên cứu cũng cho thấy xu hướng chăm sóc sức khỏe của người dân dịch chuyển dần theo hướng số hóa. Có đến 33% số người bệnh có xu hướng chọn theo dõi thường xuyên và chăm sóc sức khỏe qua ứng dụng điện thoại, gần bằng với tỷ lệ người dân lựa chọn biện pháp truyền thống là đến bệnh viện khám (36,3%).

Trong bối cảnh đất nước dần thích nghi và dần trở lại bình thường, những triệu chứng hậu Covid-19 hay Covid-19 kéo dài, nhất là đối với lực lượng lao động trẻ là thách thức khi cả nước có gần 11 triệu người đã nhiễm Covid-19, với nhóm người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn. Để bảo đảm sức khỏe cho lực lượng lao động này cũng chính là bảo đảm nguồn lực con người phát triển đất nước, đòi hỏi các ngành, các cấp đều cần có những chính sách phù hợp, hỗ trợ người dân phục hồi hậu Covid-19. ■


Pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, nhưng không dung thứ cho hành vi lợi dụng tự do, dân chủ, “bất tuân dân sự” để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng và Nhà nước

 Các quyền tự do, dân chủ luôn là các quyền thiêng liêng, cần thiết cho cuộc sống, là một biểu hiện cho tiến bộ và là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng tự do chưa bao giờ và không bao giờ là tự do chung chung, tự do vô bờ bến. Điều này được thể hiện rõ nét trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế(21). Pháp luật Việt Nam chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Ví dụ, khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc quy định chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng cũng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Cụ thể là, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đề cập cụ thể trong một số điều quy định về các quyền có thể chịu sự giới hạn (Điều 4, Điều 19). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 đưa ra các giới hạn đối với quyền tự do ngôn luận theo đúng định nghĩa của nó (Điều 4, Điều 10, Điều 11).

Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn tiêu cực, thù địch trên in-tơ-nét, Ủy ban châu Âu (European Commission) đã ký Quy tắc ứng xử về chống lại lời nói có nội dung tiêu cực, thù địch bất hợp pháp trực tuyến với Google (YouTube), Facebook, Twitter và Microsoft năm 2016. Instagram, Google+, Dailymotion, Snap và Jeuxvideo.com sau đó đã tham gia Quy tắc này.

Thông qua đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào các hoạt động của Nhà nước và xã hội, bảo đảm quyền giám sát, phản biện xã hội của các chủ thể. Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể, ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện chính sách, pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật. Nhưng việc lợi dụng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhiều quan điểm trên thế giới cũng chỉ rõ tính trái pháp luật của hành vi bất tuân dân sự, phản bác việc lợi dụng bất tuân dân sự để kích động các hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại đến hoạt động công quyền. Pi-tơ Mai-ơ, Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Wisconsin-Eau Claire (Mỹ), chỉ ra rằng bất tuân dân sự “gây ra mối đe dọa đối với nhà nước pháp quyền”(22). Trong một nghiên cứu trên một Tạp chí về luật của Mỹ, Ét-uốt Ma-rếc chỉ rõ: “Hành vi như vậy có thể được phân loại là bất tuân dân sự theo nghĩa là nó vi phạm một hệ thống luật có trật tự, nhưng nó cũng là hành vi không thể được bảo vệ bởi hiến pháp hoặc chế tài tư pháp bất kể mục đích của nó là gì hoặc sự bất công của các luật mà nó chống lại”(23). Trên một phân tích trên tờ Thời báo New York, Sác-lơ Phơ-ran-ken, nhà triết học người Mỹ, viết: “tôi có thể đúng khi nghĩ rằng một sắc lệnh chống đi bộ đường dài là một sự vi phạm không cần thiết đối với các quyền của tôi. Tuy nhiên, điều này không hợp lý khi tôi tổ chức một cuộc đình công khổng lồ trên những con phố tắc nghẽn giao thông trong một tuần”(24). Luật sư người Mỹ Mô-rít Lép-man, người được Tổng thống Mỹ Rô-nan Ri-gân trao tặng Huân chương Tự do Tổng thống vào năm 1981, dẫn lời Tổng thống Mỹ A-bra-ham Lin-côn, viết: “Mỗi người hãy ghi nhớ rằng vi phạm pháp luật là chà đạp lên máu mủ của cha mình, và xé bỏ hiến chương về quyền tự do của chính mình và con cái mình. Hãy để cho sự tôn kính pháp luật được hít thở bởi mỗi bà mẹ Mỹ đối với đứa con đang nói ngọng nựng nịu trong lòng mình; hãy để nó được giảng dạy trong các trường học, trong các chủng viện và trong các trường cao đẳng; hãy để nó được viết trong các sách bổ túc, sách chính tả, và trong các niên giám; hãy để nó được rao giảng từ bục giảng, được công bố trong các phòng lập pháp và được thực thi tại các tòa án”(25). Tòa án nhiều nước đều không cho phép hành vi bất tuân dân sự làm ảnh hưởng đến lợi ích chung. Phó Giáo sư luật Ri-sát Mô-lơ, Trung tâm Luật của Đại học Georgetown (Mỹ), dẫn lời của Chánh án thứ 11 của Tối cao Pháp viện Mỹ Sác-lơ Êvan Hu-gơ, viết: “duy trì cơ hội thảo luận chính trị tự do đến cùng để chính phủ có thể đáp ứng ý chí của người dân và những thay đổi có thể đạt được bằng các phương tiện hợp pháp... là một nguyên tắc cơ bản của hệ thống hiến pháp của chúng tôi”(26).

Tóm lại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, thiết yếu của các quyền tự do, dân chủ của người dân với ý nghĩa là một quyền thiết thân của con người, là động lực phát triển của đất nước. Tuy nhiên, không một quốc gia nào trên thế giới lại dung thứ các hành vi lợi dụng dân chủ, cổ xúy cho các hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại đến trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và của người dân. Nhận diện các biểu hiện lợi dụng “bất tuân dân sự” của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị để kích động, chống phá là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện hiện nay, không chỉ góp phần thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và của từng người dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn./.

Lật tẩy các hành động lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “bất tuân dân sự”, vi phạm pháp luật, cổ xúy cho việc gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý

 Không thể bác bỏ một điều hiển nhiên rằng, việc các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta từ nhiều phương diện khác nhau như xuyên tạc Luật An ninh mạng, xuyên tạc dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, lợi dụng việc phản đối một số chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước ta một cách phi lý, thiếu căn cứ đã và đang là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Việt Nam, xâm hại quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội và từng người dân. Các đối tượng phản động, thù địch đã kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân...

Đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính  - kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện, nhưng các thế lực phản động, thù địch vẫn tung thông tin xuyên tạc, kích động, đòi phải đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân năm 2015; thổi phồng rằng không thể chỉ dừng ở đấu tranh cho một vài đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây; kích động các đợt biểu tình, tuần hành bằng những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”...; thực hiện những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài...

Trước hết, cần thấy rõ rằng bất kỳ dự án luật nào cũng cần thực hiện đầy đủ quy trình xây dựng, ban hành. Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng pháp luật của Việt Nam đều luôn tuân thủ quy trình đó, bảo đảm cao nhất sự tham gia của nhân dân góp ý xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Bản thân Dự luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng không nằm ngoài quy trình đó. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, việc xây dựng, ban hành văn bản luật phải thông qua một quy trình rất chặt chẽ. Người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện dự án Luật trên cơ sở góp ý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận, các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ chức có liên quan theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời việc góp ý kiến phải trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho những hành vi xuyên tạc, kích động, chống đối, phá hoại đất nước.

Việc xây dựng, ban hành một đạo luật trước hết phải dựa trên lợi ích của quốc gia đó và phải có cơ sở, lập luận khoa học. Không phải tự nhiên mà đạo luật An ninh mạng được ban hành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một điều dễ nhận thấy là an toàn thông tin đang là vấn đề nổi cộm ở không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Theo số liệu từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), hơn 9.300 trang web tại Việt Nam bị tấn công trong năm 2019. Theo báo cáo International Privacy Day Report 2020 của Kaspersky, Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu về mức độ bị ảnh hưởng bởi phần mềm gián điệp, với 7.216 người dùng bị tấn công vào năm 2019. Theo số liệu thống kê được ghi nhận bởi hệ thống giám sát của hãng bảo mật Mỹ SonicWall, hầu hết các hình thức tấn công đều có xu hướng gia tăng trên toàn cầu trong năm 2018. Cụ thể, số lượng các tấn công bằng mã độc gia tăng trên toàn cầu trong ba năm liên tiếp. Theo Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2019 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, các cuộc tấn công an toàn, an ninh mạng hiện nằm trong số những rủi ro hàng đầu trên toàn cầu. Trong năm 2019, hệ thống CyStack Attack Map ghi nhận 563.000 cuộc tấn công vào các trang web trên toàn cầu. 

Thực tiễn các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã chỉ ra một điều hiển nhiên rằng, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt luôn diễn ra và là hiện tượng phổ biến trên thế giới(18). Theo dữ liệu thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong vòng 30 năm, từ năm 1975 đến năm 2006, đã có sự tăng vọt số lượng SEZ và số lượng quốc gia có SEZ trên toàn thế giới(19). Nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng về khu kinh tế(20). Như vậy, việc hình thành các khu kinh tế đặc biệt trên thế giới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên xuất hiện, mà đã có một quá trình hình thành lâu dài, với nhiều dạng thức khác nhau, được ghi nhận trong nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế lớn, và được quy định trong một đạo luật riêng biệt của quốc gia.

MỘT SỐ SỰ THẬT VỀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX... * Lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam trong cả cuộc chiến là 7,85 triệu tấn, gấp gần 3 lần tổng số bom mà tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ II và tương đương sức công phá của 250 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản. * Tính bình quân mỗi người Việt Nam thời đó phải chịu đựng trên dưới 250 kg bom của Mỹ. * Nếu tính cả bom, đạn dùng trên mặt đất (lựu đạn, mìn, đạn pháo, chất nổ...) thì Mỹ đã dùng tổng cộng trên 15,35 triệu tấn bom đạn ở Việt Nam. Kết cấu hạ tầng ở cả hai miền Việt Nam bị phá hủy nặng nề. Sau chiến tranh, Việt Nam là một trong những nước có tình trạng ô nhiễm bom, mìn nặng nề nhất trên thế giới. Gần 800.000 tấn bom mìn chưa phát nổ còn sót lại trong lòng đất vẫn tiếp tục gây tai nạn, làm hơn 42.000 người chết, 62.000 người bị thương từ 1975 đến 2014, gây ô nhiễm 6,6 triệu ha đất (chiếm gần 18% diện tích Việt Nam), khiến chính phủ Việt Nam phải chi mỗi năm khoảng 100 triệu USD để khắc phục hậu quả bom mìn. * Chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam là một chiến tranh ác liệt với quy mô lớn kéo dài gần 20 năm. Đây cũng là lần đầu tiên, hậu quả tàn khốc của vũ khí chiến tranh được xuất hiện trên sóng TV trực tiếp của các nước tiên tiến. * Chỉ tính riêng trong 81 ngày đêm ngắn ngủi giao tranh xảy ra ở Quảng Trị, báo chí nước ngoài đã thống kê, Thành cổ Quảng Trị đã hứng chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hirosima và Nagasaki hồi Chiến tranh thế giới thứ II. * Đế quốc Mỹ đã áp dụng hầu hết các vũ khí tân tiến nhất thời điểm đó (chỉ trừ vũ khí hạt nhân). Một loạt các loại vũ khí đã được sử dụng bởi các quân đội khác nhau hoạt động trong Chiến tranh ở Việt Nam, bao gồm quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Quân đội Nhân dân Việt Nam) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam); tất cả các đơn vị của quân đội Mỹ; các đồng minh của mỹ là Quân lực ng.ụy Sài Gòn, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan và Philippines... * Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có ít binh sĩ và vũ khí hơn, trong khi đó Quân đội Mỹ được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất thế giới. Ở thời kỳ cao điểm năm 1968, quân Mỹ và đồng minh có số lượng quân sĩ gấp bốn lần và gấp hàng chục lần về thiết bị vũ khí. Ngay cả ở thời điểm cuối năm 1975, khi Mỹ đã rút quân về nước, họ vẫn trang bị cho quân ng.ụy Sài Gòn mạnh gấp 2 lần về quân số và gấp vài lần về trang bị so với Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, chiến thắng chung cuộc lại thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bên yếu thế hơn nhiều về quân sự. Đây là điều để lại nhiều bài học về chiến lược chính trị và quân sự cho các nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh quân sự sau này. Trong cuộc chiến tranh phá hoại ở Việt Nam của Đế quốc Mỹ, khả năng tác chiến công nghệ cao của không quân và hải quân là ưu thế chính của Mỹ, ở thời kỳ cao điểm Mỹ đã huy động 60% không quân và 40% hải quân để tham chiến ở Việt Nam. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô viện trợ cho một số vũ khí như MiG-21 và SAM-2 để chống lại, nhưng số lượng khá ít và đây cũng không phải là những vũ khí hiện đại nhất của Liên Xô khi đó. Tuy nhiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã sáng tạo ra những chiến thuật mới, phát huy hiệu quả số lượng trang bị ít ỏi của mình. Tham mưu trưởng Không quân Mỹ Conwell viết: “Lực lượng phòng không của Việt Nam là thứ đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những phi công Mỹ đã từng gặp” Đại tá James G. Zumwalt nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam, cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo để đáp trả”. * Tổng cộng trong 20 năm, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh này 6,6 triệu lượt quân nhân Mỹ (chiếm 15% nam thanh niên toàn nước Mỹ) – vào thời điểm cao nhất (năm 1968–1969) có tới 628.000 quân Mỹ hiện diện trên chiến trường – bằng tổng số lục quân của cả năm nước Anh, Tây Ban Nha, Bỉ, Canada, Australia và chiếm 70% tổng số lực lượng lục quân Mỹ lúc bấy giờ, với những sư đoàn thiện chiến nhất như Kỵ binh bay, Tia chớp nhiệt đới, Anh cả đỏ, Thuỷ quân lục chiến… Cùng với lục quân, Mỹ huy động 60% không quân chiến lược, chiến thuật với 2.300 máy bay, trong đó có 46% pháo đài bay B-52 với hơn 200 chiếc, 42% lực lượng hải quân với hàng trăm tàu chiến trong đó có 15/18 hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, 3.000 xe tăng - xe thiết giáp; 2.000 khẩu pháo hạng nặng từ 120 đến 175mm. Ngoài ra, Mỹ đã đổ tiền của xây dựng Quân lực ng.ụy Sai Gòn với trang bị 1.800 máy bay, 2.000 xe tăng – thiết giáp, 1.500 khẩu pháo, 2 triệu khẩu súng các loại, 50.000 xe cơ giới quân sự, hàng trăm tàu, thuyền chiến đấu. * Các vụ hãm hiếp phụ nữ do lính Mỹ và đồng minh thực hiện diễn ra rất thường xuyên trong chiến tranh và ít khi bị trừng phạt, nếu bị xử thì cũng rất nhẹ, và đặc biệt Mỹ đã đem loại văn hóa hưởng thụ và trụy lạc thừa thải vào Việt Nam, tiếp tục phát triển cái gọi là "Hòn Ngọc Viễn Đông" giả tạo và lớp phụ nữ trẻ theo chế độ tay sai làm gái điếm lên tới hơn nửa triệu người, điều trơ trẽn, đáng xấu hổ nhất là phụ nữ theo chế độ ng.ụy Sài Gòn lúc ấy rất tự hào "Làm mẹ thế giới" với sản phẩm cho ra là gần 150.000 con lai ! Hiện nay có hơn hàng vạn nạn nhân chất độc hóa học tại Việt Nam. Một nửa diện tích rừng của Việt Nam bị phá hủy. Mỹ đã rải ở miền Nam Việt Nam 45.260 tấn (khoảng 80 triệu lít) chất độc hóa học, sự tàn phá môi trường do Mỹ gây ra lớn đến mức đã khai sinh một từ tiếng Anh mới "Ecocide" - Thuốc hủy diệt sinh thái. * Quân lực ng.ụy Sài Gòn là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ USD Mỹ mỗi năm. Nền kinh kế ng.ụy Sài Gòn không thể cáng đáng được kinh phí này, nên ng.ụy Sài Gòn đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ USD vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực ng.ụy không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động. Nguồn: Andrew A. Wiest, The Vietnam War, 1956-1975, 2002, Osprey Publishing, tr. 80).

Không thể bác bỏ một chân lý hiển nhiên rằng, xây dựng pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia, xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của từng quốc gia

 Cần khẳng định rằng, dưới góc độ một nhà nước pháp quyền, một khi đạo luật đã được ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng và thực thi. Không một quốc gia nào trên thế giới lại dung túng cho những hành vi lợi dụng quyền tự do, dân chủ, không một quốc gia nào lại cổ xúy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động công quyền, thực thi công lý. Đồng thời, hậu quả do việc lợi dụng “bất tuân dân sự” để lại rất nặng nề, kéo dài không chỉ ảnh hưởng về kinh tế - xã hội, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất lòng tin của người dân đối với chính quyền. Mặt khác, việc xây dựng và thực thi pháp luật là công việc nội bộ của từng quốc gia và phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia. Không ai có thể phản bác điều hiển nhiên này. Nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng thế giới cũng chỉ rõ việc nghiên cứu về quốc gia, xây dựng và thực thi pháp luật phải căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của từng quốc gia, khu vực, dân tộc. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, Mông-te-xki-ơ, nhà bình luận xã hội và tư tưởng chính trị nổi tiếng người Pháp, chỉ rõ: “Khi tôi nghiên cứu về con người, tôi đã đi đến kết luận rằng, những sự khác biệt của pháp luật và của đạo lý loài người không phải do họ tự vẽ ra một cách tùy tiện. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ có những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng với dân tộc khác(9). Hê-ghen, nhà triết học vĩ đại người Đức, cũng khẳng định điều tương tự: “Mỗi dân tộc có chế độ nhà nước của mình; chế độ nhà nước Anh quốc là của người Anh; và nếu như người ta tự dưng muốn chuyển cho người Phổ thì điều đó cực kỳ vô lý như là quyết định chuyển Nhà nước Phổ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Mỗi một chế độ nhà nước chỉ là sản phẩm, là sự thể hiện tinh thần của riêng một dân tộc và của trình độ phát triển của ý thức dân tộc của họ mà thôi. Sự phát triển đó đòi hỏi một sự vận động liên tục và nhiều bước trong đó không một bước nào có thể bị xóa bỏ”(10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”(11). Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 khẳng định: “1. Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa...”(12).

Vì lẽ đó, việc xác định và lựa chọn ban hành đạo luật nào là quyền năng riêng của từng quốc gia. Ban hành Luật An ninh mạng là một ví dụ điển hình. Cần thấy rằng, luật (pháp luật) về an ninh mạng luôn được quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên toàn thế giới(13)... Luật An ninh mạng rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng. Các quy định trong dự thảo Luật An ninh mạng của Việt Nam được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, nhiều chuyên gia, tổ chức, tập đoàn kinh tế, viễn thông nước ngoài lớn (như Facebook, Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Mỹ - ASEAN, Hiệp hội điện toán đám mây châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Ca-na-đa, Ô-xtrây-li-a, Nhật Bản... và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân; sự thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh, sự chỉnh lý của các đại biểu Quốc hội qua 2 kỳ họp thứ 4 và thứ 5, Quốc hội khóa XIV(14)Các quy định của Luật An ninh mạng cũng phù hợp với pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Quy định về tội phạm mạng trong Luật An ninh mạng không phải là điều xa lạ gì, bởi lẽ không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia cũng quy định về tội phạm mạng. Theo thống kê của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), đã có đến 154 quốc gia trong tổng số 194 quốc gia thành viên UNCTAD ban hành luật pháp về tội phạm mạng(15). Các quy định của Luật An ninh mạng về bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng cũng phù hợp với xu hướng chung trên toàn thế giới về bảo vệ thông tin cá nhân. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã ban hành Luật về bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều tên gọi khác nhau như Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Bảo vệ dữ liệu, Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, Luật về bảo vệ các mối quan hệ không công khai... Theo thống kê của UNCTAD, 128 trong tổng số 194 quốc gia thành viên của UNCTAD đã ban hành luật để bảo đảm việc bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư(16)An ninh quốc gia cũng là một ngoại lệ trong các điều ước quốc tế quan trọng về thương mại quốc tế(17). Điều này thể hiện tầm quan trọng và ý nghĩa sống còn của vấn đề an ninh quốc gia đối với tất cả các nước trên thế giới.

Người góp công “vạch nhiễu tìm thù” Trung tướng, PGS. Phan Thu không chỉ là một vị tướng có uy tín trong Quân đội, mà còn là nhà khoa học quân sự có tên tuổi của đất nước. Thời chống Mỹ, chính những nghiên cứu của ông cùng đồng đội ở Tiểu đoàn trinh sát nhiễu đã góp phần làm nên chiến thắng vang dội “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tướng Phan Thu chính thức trở thành người lính. Con đường binh nghiệp của ông khởi đầu ở Phòng Quân huấn, Bộ Tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân. Từ đây, ông trở thành cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự của Quân chủng và tham gia vào cuộc chiến tranh điện tử với đế quốc Mỹ. Một trong những thành tích xuất sắc của Trung tướng Phan Thu chính là góp công “vạch nhiều tìm thù”, bắn tan xác pháo đài bay B-52. Qua trinh sát nhiễu những năm 1968-1970 trên đường Trường Sơn, Đội trinh sát nhiễu đã phát hiện B-52 không gây nhiễu đối với ra-đa K8-60 trang bị cho pháo phòng không 57mm mặt đất. Đây chính là chỗ “hở sườn” của địch. Nắm được điểm yếu đó, Phan Thu đề xuất đề tài cải tiến kỹ thuật giúp ra-đa tên lửa SAM2 chống nhiễu B-52, bằng cách lắp ghép phần tử mục tiêu từ ra-đa K8-60 cho đài điều khiển tên lửa SAM2 để hỗ trợ bắt B-52. Đầu năm 1972, đề tài của ông đã áp dụng lần đầu ở Tiểu đoàn 89 (Trung đoàn 274) được bố trí ở Quảng Bình. Trong gần 2 tháng, ra-đa K8-60 đã bắt được mục tiêu 18 lần, trong đó có 2 lần bắt được B-52 ở cự ly 45km, không hề bị nhiễu và bị tên lửa chống ra-đa của địch bắn vào. Trên cơ sở thử nghiệm đó, từ giữa năm 1972, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân đã cho triển khai đề tài ở khu vực Hà Nội. Việc đưa loại ra-đa cũ của pháo phòng không mặt đất vào cuộc, đã góp phần đắc lực cho SAM2 bám bắt mục tiêu B-52 và làm cho kẻ địch vô cùng bất ngờ. Nhờ có cách đánh sáng tạo và độc đáo này, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, khi Không quân Mỹ đánh vào Hà Nội, đã bị quân dân ta bắn hạ 34 chiếc B-52. Với chiến công đặc biệt xuất sắc này, Phan Thu được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Sau chiến thắng vang dội “Hà Nôi - Điện Biên Phủ trên không”, Trung tướng Phan Thu còn lập được nhiều thành tích trên các cương vị công tác khác nhau; ông đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, trưởng thành, trở thành Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội và được giao trọng trách Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp quốc phòng). Với ông, dù đã trở thành lãnh đạo cấp cao của Quân đội, nhưng thời kỳ góp công “vạch nhiễu tìm thù” vẫn là những tháng năm đáng nhớ nhất. Đến nay, đã nửa thế kỷ trôi qua và ở độ tuổi ngoài 90, Trung tướng Phan Thu vẫn cần mẫn nghiên cứu và viết sách về cuộc chiến. Ông đã xuất bản hai cuốn sách là: “Cuộc đối đầu không cân sức” và “Tại sao Việt Nam đánh thắng B-52? - Những chuyện bây giờ mới kể” gồm những lý giải khoa học về kỹ thuật đánh B-52 cùng những nhận định về tinh thần chiến đấu anh dũng, trí tuệ và sáng tạo.

Bất tuân dân sự - góc nhìn, quan điểm và một số biểu hiện biến tướng

Thuật ngữ “bất tuân dân sự” lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu, nhà văn, nhà triết học người Mỹ, người bị chính quyền bang Ma-sa-chu-sét bắt do hành vi không đóng thuế vào cuối tháng 7 năm 1846, với nhan đề “Về bổn phận bất tuân dân sự” vào tháng 5-1849(1). Quan điểm của Thơ-râu sau đó được phát triển bởi một số học giả khác, chẳng hạn Gin-Sáp, Giáo sư chính trị học tại trường Đại học Massachusetts Dartmouth (Mỹ).

Khái niệm bất tuân dân sự đã phát triển trong một thời gian dài, được rút ra từ các giai đoạn lịch sử khác nhau và từ các nền văn hóa khác nhau. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đưa ra quan điểm, cách nhìn để nhận diện bất tuân dân sự. Theo Giôn-Ron, nhà triết học chính trị nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động công khai, bất bạo động, triệt để nhưng có tính chính trị trái với luật pháp nhằm mục đích thay đổi luật pháp hoặc chính sách(2). Hu-gô A-đam Bê-đâu, Giáo sư triết học của Đại học Tufts (Mỹ) định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động bất hợp pháp, được thực hiện một cách công khai, không mang tính bạo lực và thực hiện một cách cố ý, trong khuôn khổ pháp quyền và với ý định phản kháng hoặc phản đối một số luật, chính sách hoặc quyết định của chính phủ hoặc một số công chức của chính phủ(3). Ki-li và Ba-mu-lơ định nghĩa bất tuân dân sự là một hành động có chủ ý, công khai và bất bạo động vi phạm luật mà người đó phải chịu trách nhiệm và chế tài(4). Xờ-mít quan niệm rằng bất tuân dân sự là một cuộc phản đối công khai, bất hợp pháp và mang tính chính trị được thực hiện chống lại nhà nước hoặc chính sách(5). Sen-đơn trong cuốn Bách khoa toàn thư về tư tưởng chính trị định nghĩa bất tuân dân sự là bất tuân hoặc vi phạm pháp luật vì các lý do đạo đức, tôn giáo hoặc các lý do khác, bởi một cá nhân hoặc một nhóm có tổ chức (6).

Bất tuân dân sự có nhiều hình thức và cách biểu hiện khác nhau. Ví dụ, có cách tiếp cận cho rằng bất tuân dân sự có 5 hình thức biểu hiện(7): Một là, tuần hành muối do Ma-hát-ma Gan-đi lãnh đạo (dẫn đầu đoàn 78 người đi bộ trong 24 ngày để phản đối chính sách độc quyền muối do chính quyền Anh áp đặt)(8); hai là, chiến dịch Extremadura  - một phong trào cải cách ruộng đất ở Tây Ban Nha; ba là, tuần hành ủng hộ và phong trào bất di chuyển ở Mỹ; bốn là, loại bỏ các doanh nghiệp không mong muốn (phong trào chống toàn cầu hóa ở Pháp); năm là, phong trào vận động không đóng thuế ở Luân đôn năm 1990.

Mặc dù là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “bất tuân dân sự”, nhưng ở thời điểm ra đời, tác phẩm của Hen-ri Đây-vít Thơ-râu không gây được ảnh hưởng. Tuy nhiên, sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc “cách mạng hòa bình” của Thơ-râu được một số nhà hoạt động chính trị phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào “Satyagraha” của Ma-hát-ma Gan-đi đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Mỹ của mục sư Mác-tin Lu-thơ Kinh (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa A-pác-thai) ở Nam Phi của Nen-xơn Man-đê-la... Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chiêu bài “bất tuân dân sự” đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế lợi dụng và từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Các cuộc “cách mạng nhung” ở Tiệp Khắc và Cộng hòa Dân chủ Đức; “cách mạng ca hát” ở các nước vùng Ban-tích (thuộc Liên Xô) vào những năm cuối thế kỷ XX; các cuộc “cách mạng màu” ở một số nước trong không gian hậu Xô-viết; “cách mạng hoa nhài” (“Mùa xuân Ả Rập”) ở một số nước Bắc Phi, Trung Đông cuối năm 2010, đầu năm 2011; phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bô-li-va ở Vê-nê-xu-ê-la (từ năm 2014); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) năm 2014, các cuộc biểu tình phản đối việc sửa đổi Dự luật dẫn độ ở vùng lãnh thổ Hồng Kông (Trung Quốc) vào các năm 2019 và 2020... đều có dấu ấn của thủ đoạn kích động bất tuân dân sự, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây trở ngại đến hoạt động công quyền, thực thi công lý, gây ra những hiểm họa khôn lường, thậm chí khủng hoảng toàn diện, sâu sắc cho nhiều vùng lãnh thổ và quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, hoạt động lợi dụng “bất tuân dân sự” đã diễn ra từ nhiều năm trước, có nguy cơ trở thành “phong trào” gây nguy hại trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Các thế lực phản động, thù địch đã tiến hành nhiều hoạt động lợi dụng danh nghĩa dân chủ, phát động cái gọi là bất tuân dân sự để chống đối chính quyền, gây trở ngại cho hoạt động công quyền với nhiều hoạt động dưới nhiều dạng thức và hành động như lợi dụng việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng, dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đối tượng phản động, thù địch đã kích động, lôi kéo người dân tham gia tuần hành, biểu tình, chống người thi hành công vụ, đập phá tài sản các trụ sở chính quyền, gây thiệt hại lớn về tài sản, kinh tế, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vụ đình công phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 diễn ra tại một số tỉnh, thành phố; lợi dụng phản đối trạm BOT Cai Lậy ở tỉnh Tiền Giang năm 2017, trong đó một số lái xe quá khích đã đưa xe đến giữa trạm rồi bỏ đi; đốt phá Đông Đô Đại Phố ở tỉnh Bình Dương; lợi dụng sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại thềm lục địa Việt Nam tháng 5-2014 để kích động biểu tình, tuần hành, đập phá các doanh nghiệp ở 8 tỉnh, thành phố; khoét sâu, thêm tình tiết và thổi phồng các vấn đề nóng như sự cố môi trường, lũ lụt trên địa bàn một số tỉnh để kích động người dân gây mất an ninh, trật tự, đập phá tài sản; lợi dụng chống tiêu cực, tham nhũng, cưỡng chế đất đai, giải phóng mặt bằng để kích động hành vi bất tuân dân sự; lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ xấu, công kích, chống phá... Các thế lực phản động, thù địch còn xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật là “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc; xuyên tạc trắng trợn rằng các đạo luật trên là vi hiến, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân. Nham hiểm hơn, các thế lực phản động, thù địch còn kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”...