Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Nêu cao tính tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

  - Trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, nâng cao tính tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng đối với uy tín, năng lực của mỗi cán bộ, đối với sức mạnh của các cấp ủy, chính quyền; góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, giữ vững vị thế cầm quyền của Đảng trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Ảnh tư liệu

YÊU CẦU, NHIỆM VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM TRƯỚC ĐẢNG, TRƯỚC NHÂN DÂN

Một là, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là yêu cầu, nhiệm vụ và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng để giữ vững tư cách của người cách mạng. Sinh thời, V.I.Lênin đã chỉ rõ, đảng cộng sản chỉ “thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp đó, nếu nó gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp mình và thông qua giai cấp đó, gắn liền với tất cả quần chúng bị bóc lột, và biết làm cho giai cấp và quần chúng đó tin tưởng hoàn toàn vào mình”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ lãnh đạo, quản lý: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư””(2). Mỗi cán bộ, đảng viên, dù ở vị trí công tác nào cũng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện để giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dễ dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3). Vì vậy, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý để giữ gốc của người cách mạng, phải thực hành mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh.

Được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, trao những nhiệm vụ quan trọng, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xác định đó vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm cao cả. Từng cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện tốt trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Đó là trách nhiệm phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của bản thân và kiểm soát cấp dưới tu dưỡng, rèn luyện, chống mọi biểu hiện lợi dụng quyền lực để gây áp lực đối với những cá nhân có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ trái với quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm trục lợi, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Đó là việc chịu trách nhiệm về những sai phạm của cấp dưới, cơ quan, đơn vị,… Muốn làm tròn trách nhiệm đó, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất đạo đức của người cách mạng. Do đó, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý để giữ vững tư cách của người cách mạng, đồng thời tác động tích cực, lan tỏa rộng rãi trong cơ quan, đơn vị và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Hai là, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là một phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý

Trách nhiệm nêu gương là bổn phận, nghĩa vụ phải nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý trên các lĩnh vực được thể hiện trong đời sống, trong công tác. Thực hiện trách nhiệm nêu gương là hoạt động bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên, là yêu cầu, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo, quản lý để trách nhiệm nêu gương được hiện thực hóa trong công tác, trong đời sống, là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên noi theo, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương. Đây là đặc điểm quan trọng thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động chỉ đạo, quản lý, điều hành. Trách nhiệm nêu gương được thể hiện ở văn bản, giấy tờ, khẩu hiệu còn việc thực hiện trách nhiệm nêu gương phải được thể hiện bằng hoạt động thực tiễn với kết quả cụ thể. Đó phải là hoạt động nêu gương thực sự về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, lề lối làm việc, tác phong công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên noi theo, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy và chính quyền các cấp.

Kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương phụ thuộc rất lớn vào phương thức thực hiện, trong đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý là một phương thức hữu hiệu. Bên cạnh việc chấp hành các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, mỗi cán bộ phải tự nguyện, tự giác tu dưỡng rèn luyện, làm gương để cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo. Phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương này thể hiện ở hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đã quy định 8 nội dung mà cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu “xây”, trong đó có trách nhiệm “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”.

Bên cạnh đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý còn có trách nhiệm kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng so sánh “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải được chăm bón rất khó nhọc mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý được thể hiện qua việc luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng… Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng””(5). Bằng việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ nêu gương về giữ vững tư cách của người cách mạng, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, mà còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự lan tỏa rộng rãi tấm gương “người tốt”, “việc tốt” trong toàn xã hội.

Thứ hai, thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, năng lực công tác.

Tự giác học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý là một phương thức thực hiện trách nhiệm nêu gương trước cán bộ, đảng viên. Thông qua tự giác học tập nâng cao trình độ, cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt thẩm quyền, trách nhiệm trong hoạt động lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng, của đất nước, của địa phương trong tình hình mới. Người xưa dặn “Bất học thi, vô dĩ ngôn” (không học thì lấy cái gì mà nói). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu”(6). Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, Đảng có vai trò, trách nhiệm lãnh đạo Nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là trách nhiệm nặng nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vừa phải có đạo đức cách mạng trong sáng, vừa phải có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý của từng ngành, từng địa phương.

THỰC TIỄN TỰ GIÁC TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Trong những năm qua, đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý đã nhận thức và thực hiện tốt việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, giữ vững được phẩm chất, tư cách của người cách mạng, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững vị thế, năng lực cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý gắn liền với nội dung thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tổng kết 4 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TWW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện "tự diễn biến, tự chuyển hoá" trong nội bộ, Đảng đã khẳng định: "Nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được nâng lên; nhận diện sâu sắc, đầy đủ hơn các biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến, tự chuyển hoá"... Nhiều tấm gương điển hình, tiên tiến được nhân rộng, lan toả trong đời sống xã hội"(7).

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, bị lợi ích vật chất, quyền lực cám dỗ, sa vào chủ nghĩa cá nhân, thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong đó "Việc cam kết tu dưỡng, rèn luyện, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệu quả chưa cao"(8). Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện không đúng quy trình, quy định trong công tác cán bộ, tham nhũng, lãng phí, làm thất thoát tài sản Nhà nước, vi phạm những điều đảng viên không được làm,… Nhiệm kỳ 2015-2020, có 2209 cán bộ đảng viên bị thi hành kỷ luật liên quan đến tham nhũng, trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu (9). Gần đây, không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý vi phạm bị xử lý kỷ luật...

Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do “thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân” (10).

NÊU CAO TINH THẦN TỰ GIÁC TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên là một nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức đã được Đảng đã xác định tại Đại hội lần thứ XIII. Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng yêu cầu: “Nêu cao tinh thần tự giác, tu dưỡng rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”(11). Đây là một biện pháp để tăng cường và nâng cao hiệu quả xây dựng Đảng về đạo đức, đồng thời là một phương thức để cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, góp phần lan tỏa trong nhận thức và hành động của đảng viên, cán bộ, công chức trong cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, giải pháp này khó, phức tạp, cần phải quyết tâm, kiên trì, bền bỉ và có sự tham gia của cả hệ thống chính trị với các biện pháp cụ thể sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tu dưỡng, rèn luyện về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, thực sự giữ gìn và thực hành chuẩn mực đạo đức cách mạng, đồng thời, không ngừng chủ động học tập, nâng cao trình độ, năng lực công tác thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau. Xác định rõ mục đích tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực chính là để thực hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Đó là trách nhiệm suốt đời phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích chung của cách mạng; trách nhiệm gương mẫu thực hiện tốt nhiệm vụ do Điều lệ Đảng, do tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phân công. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn giữ được chữ “tín” trước cấp dưới và nhân dân để lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển.

Bên cạnh đó, đối với mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý, việc tăng cường tu dưỡng, rèn luyện chính là để xây dựng hình ảnh, uy tín của người cán bộ, từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành các lĩnh vực ở địa phương. Tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được thể hiện từ nhận thức đến hành động, trên tất cả các mặt, các lĩnh vực, đặc biệt trong công tác. Hiện nay, việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ lãnh đạo, quản lý cần được thực hiện một cách nghiêm túc, tự giác, có hiệu quả gắn với những nội dung của Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 mới đây của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, trong đó, chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Hai là, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tích cực, tự giác chủ động trong việc tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực phục vụ nhiệm vụ chính trị của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đây là yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải nghiêm túc, tự giác thực hiện, không phụ thuộc vào các chế tài, quy định mà phải coi tu dưỡng, rèn luyện như “rửa mặt hàng ngày”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(12)Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”(13). Đảng cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”(14).

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, chuyên đề năm 2021.

Dù ở vị trí công tác nào, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao uy tín trước Đảng, trước nhân dân. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn nghiêm khắc với bản thân, thực hiện tự phê bình nghiêm túc, tự giác để phát hiện và thông báo với tập thể những hạn chế, yếu kém, nhất là trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành để tìm ra phương hướng, kế hoạch khắc phục.

Hằng tháng, hằng quý, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải tự xem xét, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương trên các mặt trước tập thể chi bộ, tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, đề ra các biện pháp khắc phục khuyết điểm và chịu sự giám sát thường xuyên của tập thể nơi công tác và cư trú.

Ba là, cán bộ lãnh đạo, quản lý cần xây dựng và quyết tâm thực hiện kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện thông qua các bản cam kết, chương trình hành động, bản đăng ký thực hiện trách nhiệm nêu gương và công khai trước tập thể đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân.  

Bên cạnh đó, để thực hiện trách nhiệm nêu gương thông qua bản cam kết, chương trình hành động có hiệu quả, khắc phục tình trạng nêu gương bằng báo cáo, giấy tờ, hình thức, khẩu hiệu, cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải nêu cao quyết tâm thực hiện trách nhiệm nêu gương, phải xác định rõ nội dung, biện pháp thực hiện.

Bốn là, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị đối với việc nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Các tổ chức trong hệ thống chính trị có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên, đồng thời, có vai trò phát hiện những biểu hiện thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong cán bộ, đảng viên để kịp thời xử lý và phát hiện, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những tấm gương điển hình về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để kích thích, khơi dậy tinh thần tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đại hội XIII lần thứ của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”(16). Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội phải căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện kiểm tra, giám sát trên tất cả các mặt, kết hợp nhiều phương thức quản lý, kiểm tra, giám sát: Kiểm tra, giám sát từ trên xuống (người đứng đầu kiểm tra, giám sát cấp dưới), kiểm tra giám sát từ dưới lên (đảng viên kiểm soát cán bộ lãnh đạo, quản lý) và phát huy vai trò của nhân dân kiểm soát cán bộ, đảng viên thực hiện tu dưỡng, rèn luyện. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt các quy chế, quy định của các cấp ủy địa phương về công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.

Để giám sát có hiệu quả đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cần nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc để làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hàng ngày. Nâng cao khả năng dự báo về những hành vi vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ xa, từ sớm. Đó vừa là căn cứ để mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý tu dưỡng, rèn luyện, vừa là cơ sở để các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân kiểm tra, giám sát việc thực hiện tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng và hệ thống chính trị, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ của các cấp ủy, tổ chức đảng và bản thân từng cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trước sự tác động nhiều mặt, nhiều chiều từ xã hội, tự giác tu dưỡng, rèn luyện vừa là biện pháp quan trọng để giữ vững tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý vừa thể hiện tính kiên định, tính chiến đấu của người cán bộ, đảng viên. Vì vậy, phải tiếp tục nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong tình hình mới./.

PGS. TS. Đinh Ngọc Giang
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS. Nguyễn Thị Thảo
Học viện Chính trị khu vực II

------------------------ 

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.8, tr.38.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t. 6, tr.127.

(3) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr.291, 290-291.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 222.

(6) (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.602, 612.

(7) Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến, tự chuyển hoá".

(8) (11) (13)Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022, tr.332, 270, 327.

(9) (14) (16) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.II, tr. 208, 237, 288.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.24-25.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Thường xuyên “vun gốc, tỉa cành”

inh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Bác còn chỉ rõ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Quán triệt tư tưởng của Người, trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xác định việc xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ then chốt của then chốt, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng.




1. Mỗi kỳ đại hội Đảng toàn quốc, công tác cán bộ luôn là một trong những vấn đề quan trọng được xem xét, bàn thảo kỹ lưỡng, về những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của hạn chế, yếu kém. Đặc biệt, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.

Những năm gần đây, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận về công tác cán bộ. Trong đó phải kể đến Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 26-NQ/TW (khóa XII) về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Sau 23 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển nhiều mặt. Sự trưởng thành, phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước, giúp đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín lớn mạnh nhất từ trước đến nay.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, Đảng đã tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, lấy phòng ngừa làm trọng, lấy xây là chính; kịp thời nhắc nhở, chấn chỉnh, ngăn chặn những hành vi vi phạm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu gương mẫu trong cuộc sống với mục đích “trị bệnh cứu người”. Đảng kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, đến sự phát triển của đất nước. Rõ nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; một số cán bộ đã bị xử lý hình sự…

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc chuẩn bị đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng” chỉ rõ yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tiến hành. Qua đó khẳng định mục tiêu là phải lựa chọn được những đồng chí thật sự tiêu biểu của Đảng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn. Đồng thời không để lọt vào BCH Trung ương khóa XIII những người có một trong 6 nhóm khuyết điểm đã được chỉ ra. Đó là những người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…

Để có được nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, đặc biệt từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhiều văn bản của Đảng về công tác cán bộ được ban hành. Trong đó nổi bật là Quy chế đánh giá cán bộ, công chức (ban hành theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 8-2-2010 của Bộ Chính trị khóa X). Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đánh giá cán bộ, Bộ Chính trị (khóa XII) có Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Tiêu chuẩn cán bộ và khung tiêu chí đánh giá từng loại cán bộ được ban hành theo Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định số 90-QĐ/TW đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, lợi ích nhóm trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đây cũng là công cụ để Đảng kiểm soát quyền lực cán bộ, nhân dân giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên trong việc sử dụng quyền lực được giao.  

Việc thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và nghị quyết các kỳ đại hội; nghị quyết, quy định của BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng không ngừng được kiện toàn, được đào tạo cơ bản và tương đối toàn diện về chính trị cũng như chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt là đã xuất hiện nhiều cán bộ trẻ tài năng, là nguồn kế cận thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược trong tương lai với tư duy, tầm nhìn mới.

2. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, công tác cán bộ của Đảng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh. Năng lực chưa đồng đều; nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp. Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và những mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, một bộ phận cán bộ của Đảng đã bị thoái hóa, biến chất, tình trạng ngại phấn đấu, rèn luyện đã xuất hiện trong số cán bộ trẻ.

Điều đáng quan tâm là một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức tha hóa, biến chất, tham nhũng, vi phạm kỷ luật, pháp luật, bị khai trừ Đảng, bị xử lý hình sự những năm qua thật đau xót. Trong đó có những đảng viên 30-40 tuổi đảng, cán bộ cấp Trung ương quản lý, phần đông cán bộ có chức vụ chính quyền và đều tham gia cấp ủy, hoặc đứng đầu cấp ủy. Nhiều người có học hàm giáo sư, phó giáo sư, là tiến sĩ, nhiều người có 2-3 bằng thạc sĩ, cử nhân và phần lớn cán bộ các cấp vi phạm kỷ luật và phạm tội nêu trên đều có trình độ lý luận chính trị cao cấp. Trong đó, vụ việc gần đây khi nhiều cán bộ bị bắt liên quan đến Công ty Việt Á hay các chuyến bay giải cứu công dân trong bối cảnh đại dịch đã gây nhiều bức xúc đối với dư luận…

Điểm lại như thế để thấy rất rõ không chỉ có số lượng vụ án tham nhũng, mà hành vi tham nhũng và đối tượng tham nhũng ngày càng tinh vi, tập trung vào những người có chức quyền, học thức, đã từng có nhiều đóng góp cho đất nước trên cương vị công tác của bản thân. Điều này một lần nữa giong lên hồi chuông báo động về tình trạng tham nhũng, tiêu cực, cần phải kiên quyết, có biện pháp đủ mạnh để ngăn chặn.

Câu chuyện về chống tham nhũng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xử lý những cán bộ thoái hóa, biến chất đến nay vẫn là bài học kinh nghiệm còn nguyên giá trị. Bác ví von độc đáo, một thân cây đã bị sâu đục những lỗ to, chảy hết nhựa, muốn cứu cái cây phải bắt giết hết những con sâu. Với loài sâu mọt đục khoét nhân dân cũng thế, nếu phải giết đi một con sâu mà cứu được cả rừng cây thì việc đó là cần thiết, hơn nữa còn là một việc làm nhân đạo.

3. Với quyết tâm chính trị cao, vận dụng sáng tạo và hiệu quả tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ vào thực tiễn, Đảng đề ra nhiều biện pháp tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định: "Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Đây là lần đầu tiên nội dung “xây dựng, chỉnh đốn Đảng về cán bộ” được cụ thể, nhắc đến với tư cách là nội dung thứ năm nằm trong mệnh đề về xây dựng Đảng, nhằm tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh hơn nữa vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ. Dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên phát huy năng lực, sở trường trong công tác, ngay đầu nhiệm kỳ XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Điều này một lần nữa khẳng định đây là vấn đề được Đảng rất quan tâm, qua đó giúp cán bộ, đảng viên tự tin hơn, dám bước qua những lối mòn, thách thức, có thêm những cơ hội để cống hiến cho đất nước, nhân dân. Đây chính là sự cụ thể hóa phương hướng của nhiệm kỳ Đại hội XIII là xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Mặt khác, nhằm khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận 14-KL/TW nêu vấn đề “khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp. Những định hướng này góp phần tạo niềm tin và động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của cả đất nước. Đây chính là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, của cán bộ.

Cùng với sự khuyến khích đột phá, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW ngày 3-11-2021 về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, mở đường cho sự tự sàng lọc cán bộ sát với thực tế hiện nay. Quy định nêu rõ kiên quyết, kịp thời xem xét cho miễn nhiệm, từ chức với cán bộ khi có đủ căn cứ. Việc ban hành Quy định số 41-QĐ/TW là một bước hoàn thiện hơn công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng ta, để việc từ chức của những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực trình độ dần trở thành nét "văn hóa" trong hoạt động của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong đó tiếp tục xác định cán bộ, công tác cán bộ là vấn đề then chốt của then chốt. Các nghị quyết, quy định, kết luận của Đảng cùng với việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tổ chức luân chuyển rèn luyện thực sự là “công việc gốc của Đảng” thường xuyên “vun gốc, tỉa cành” nhằm xây dựng được một đội ngũ cán bộ “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu” để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

VTT (St)  

NỮ QUÂN NHÂN HAI LẦN XUNG PHONG LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

 Mới đây, tại buổi gặp mặt, giao nhiệm vụ cho cán bộ, nhân viên điều dưỡng Bệnh viện Quân y (BVQY) 17 và BVQY 13 (Cục Hậu cần, Quân khu 5) tham gia Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 5 làm nhiệm vụ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (GGHB LHQ) tại Nam Sudan, chúng tôi có dịp gặp Trung úy QNCN Trần Như Ngọc, điều dưỡng viên Khoa Nội 1, BVQY 17-nữ quân nhân hai lần đăng ký xung phong tham gia làm nhiệm vụ quốc tế.

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành điều dưỡng đa khoa Trường Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng, năm 2019, Trần Như Ngọc về công tác tại BVQY 17. Năm 2020, chị xung phong và được lựa chọn tham gia lực lượng GGHB LHQ. Trải qua một năm học tập, huấn luyện nghiêm khắc, chị có đủ năng lực cũng như kiến thức chuyên môn sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ quốc tế. Tuy nhiên đến phút cuối, Như Ngọc nhận thông báo chưa đủ điều kiện về thời gian công tác nên tạm dừng. Trung úy QNCN Trần Như Ngọc chia sẻ: “Tôi đã chuẩn bị mọi mặt để cùng đồng nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế. Thế nhưng, do chưa đủ 3 năm kinh nghiệm trong công tác, nên tôi đành phải ở lại chờ đến lần sau”.
Vinh dự, tự hào khi được tham gia lực lượng GGHB LHQ quốc lần này, Như Ngọc mong muốn góp phần nhỏ bé của mình cùng với bạn bè quốc tế giúp người dân ở những vùng đất khó khăn, xung đột, bất ổn về chính trị được sống hòa bình, ăn no, mặc ấm, được thăm khám, chữa bệnh... Thời gian này, tại BVQY 175, chị và đồng đội đang từng ngày tích cực trau dồi nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt; đồng thời, học cách tự chăm sóc bản thân; cách ứng xử trong môi trường làm việc đa quốc gia, đa văn hóa...
Là quân nhân, Trần Như Ngọc luôn xác định sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ điều gì khi Tổ quốc cần. Như Ngọc nhận thức rõ việc tham gia làm nhiệm vụ quốc tế vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm của người quân nhân. Do vậy, trong quá trình huấn luyện, Như Ngọc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tự học hỏi, cầu thị, tự giác, giữ vững nguyên tắc; chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật, các quy định của Liên hợp quốc, sẵn sàng cho một hành trình vươn xa.
Theo QĐND

TỰ NGUYỆN DÂNG HIẾN, HY SINH VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

 Tự nguyện đi theo con đường cách mạng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đã chọn. Đúng như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã chỉ ra một trong những nét đặc trưng nổi bật của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là “chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ”.

1. Trong muôn vàn sự lựa chọn, có lẽ chọn sự hy sinh là cao cả và thiêng liêng nhất. Bởi hy sinh là chấp nhận khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, thậm chí mất mát. Nhưng không có sự hy sinh nào là vô nghĩa, nhất là hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng; hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì đồng đội, gia đình. Với quân nhân, lời thề danh dự thiêng liêng, cao quý đầu tiên chính là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam!”. Thế nên những người lính khi đã cất bước “ra đi đầu không ngoảnh lại”, nguyện một lòng một dạ “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”. Có những câu chuyện, những tấm gương hy sinh sẽ mãi được lịch sử ghi lại, các thế hệ đời đời nhớ ơn.
Mỗi khi nói đến sự hy sinh thì câu chuyện về những đồng đội ở đơn vị tôi vẫn luôn nhắc nhớ về bài học tri ân. Tôi vẫn nhớ như in một ngày giữa tháng 6-2016, trời chang chang nắng. Cái nắng lửa như thiêu đốt ruột gan thêm cồn cào, nhức nhối. Tôi cùng rất nhiều đồng đội dõi mắt lên bầu trời và đợi chờ. Thời gian như ngưng đọng, những gương mặt đăm chiêu mong ngóng người trở về. Nhưng không, máy bay Casa số hiệu 8983 thực hiện nhiệm vụ bay cứu hộ-cứu nạn đã nằm lại giữa biển khơi. Cả 9 người con ưu tú của Lữ đoàn 918 (Quân chủng Phòng không-Không quân) đã ra đi mãi mãi. Biển biếc quê hương đã ôm trọn các anh vào lòng. 9 con người ra đi để lại phía sau là hậu phương, gia đình. Có vợ liệt sĩ đang mang bầu, có con liệt sĩ mới chập chững biết đi, có bố mẹ liệt sĩ mái đầu bạc trắng nhớ thương. Sự hy sinh, mất mát là rất lớn, để lại niềm tiếc thương cho đồng chí, đồng bào cả nước. Những cánh chim quả cảm đã hóa thân vào bầu trời Tổ quốc. Chuyến bay dở dang, ước nguyện chưa thành. Thế nhưng sự hy sinh của các anh đã truyền lửa tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để đồng đội tiếp tục cất cao cánh bay giữ trời Tổ quốc.
Có thể thấy giá trị nhân cách Bộ đội Cụ Hồ được hun đúc bởi nhiều yếu tố, trong đó đức hy sinh có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ấy là hành động nhận gian khó về mình để người khác được hưởng niềm vui, sẵn sàng hy sinh bản thân để người khác được hưởng bình yên, hạnh phúc. Trong xã hội, nếu “ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai?”. Trả lời câu hỏi ấy, bộ đội sẽ không hề do dự. Họ sẵn sàng xung phong dấn thân vào nơi gian khổ, hiểm nguy với tinh thần “Vui gì hơn làm người lính đi đầu” (Tố Hữu). Người lính nhận về mình sự thiệt thòi để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội. Tinh thần đó, lý tưởng đó, hành động đó thật đáng trân trọng biết bao!
Sự hy sinh của bộ đội đã tạc vào lòng nhân dân hình ảnh vô cùng đẹp đẽ. Mới đây, đại dịch Covid-19 quét qua là lúc người lính xông pha diệt “giặc” nguy hiểm này. Một lần nữa, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ lại tỏa sáng, truyền thêm niềm tin cho cộng đồng xã hội. Nhân dân nhìn thấy bộ đội là thấy an lòng. Khi các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, bộ đội đến từng nhà trao quà an sinh, chữa bệnh, giúp tiêm vaccine, tuần tra, bám chốt, lo hậu sự cho người dân qua đời vì Covid-19... Chính trong thời điểm khó khăn, gian khổ đó lại càng tỏa sáng đức hy sinh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Biết bao cán bộ, chiến sĩ phải gác lại việc riêng, ngày đêm dầm mình trong sương gió canh gác, chốt chặn, phòng, chống dịch. Có nhiều đồng chí vì nhiệm vụ mà người thân ra đi không thể về chịu tang, đành vái vọng từ xa. Những sự hy sinh thầm lặng đó đâu dễ gọi tên.
2. Giữa thời bình, niềm vui ngập tràn trên từng nẻo đường, góc phố. Bình yên hiện hữu trên mỗi gương mặt người. Hạnh phúc nhân lên trong từng mái ấm. Thế nhưng xin hãy nhớ rằng, nơi biên cương, hải đảo, ở những đồn biên phòng, kho quân khí, trạm radar, nhà giàn xa xôi vẫn có những người lính ngày đêm lặng thầm thực hiện nhiệm vụ. Họ công tác, sinh hoạt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa bàn xa xôi, phức tạp, cơ sở vật chất khó khăn, thiếu thốn. Nhiều đồng chí đã gắn bó cả thanh xuân nơi miền biên viễn hay ngoài trùng khơi. Đâu chỉ khó khăn về điều kiện công tác, họ còn thiếu thốn tình cảm, hơi ấm gia đình. Những khi mọi người sum họp bên người thân, họ chỉ biết đứng lặng dõi về quê hương; những khi mọi người được vui chơi, ca hát, họ phải dầm mình trong màn sương gió lạnh; những khi mọi người quần áo tinh tươm dạo bước nơi phố phường thì họ lặng lẽ hành quân giữ chắc tay súng...
Đôi khi niềm ước mong của bộ đội rất giản dị, chỉ là một bữa cơm bên gia đình, một cái ôm thật chặt với con yêu. Ở chiều ngược lại, nơi hậu phương là sự khắc khoải đợi chờ, con mong cha, vợ ngóng chồng ngày về sum họp. Thế nên, không những người lính hy sinh mà gia đình, người thân của họ cũng phải chịu thiệt thòi. Nói đến hy sinh đâu chỉ là mất mát, ra đi, mà sự hy sinh còn biểu hiện sinh động từ những điều rất nhỏ. Ấy thế nhưng nếu không đủ mạnh mẽ, chúng ta cũng không dễ hy sinh những điều nhỏ như thế.
3. Thời nay, khi cuộc sống xã hội phát triển, sự so sánh giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa được và mất, thiệt và hơn càng rõ nét hơn, không phải ai cũng dễ dàng nhận lấy phần khó khăn, gian khổ. Bộ đội cũng không nằm ngoài những tác động từ đời sống xã hội, những áp lực vô hình ảnh hưởng đến tâm tư, nguyện vọng của mỗi người. Phía sau niềm vinh dự, tự hào vẫn còn những nỗi niềm trăn trở của người lính khi phải hy sinh những lợi ích bản thân vì nhiệm vụ chung. Bởi vậy, bộ đội rất cần sự quan tâm và chia sẻ từ xã hội. Sự động viên thể hiện ở các chính sách hỗ trợ thiết thực đối với bộ đội, nhất là chế độ về đất ở, nhà ở, tiền lương, nghỉ phép, trợ cấp... để quân nhân và gia đình họ có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn.
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi quân nhân cũng ít nhiều chịu sự chi phối bởi các mối quan hệ. Hậu phương là một trong những nỗi lo của người lính khi xa nhà. Cha mẹ, vợ con bộ đội đang cần những sự quan tâm thiết thực như bao gia đình khác, nhưng vì điều kiện công tác xa nhà mà không phải lúc nào quân nhân cũng lo toan chu đáo, vẹn tròn. Thế nên, để bộ đội yên tâm công tác, để mỗi tổ ấm của người lính thực sự là bến neo đậu bình yên của họ, mong sao có sự chăm lo nhiều hơn nữa từ các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể quần chúng ở địa phương. Thật ý nghĩa biết bao khi gia đình quân nhân khó khăn được kịp thời giúp đỡ, tổ ấm quân nhân hạnh phúc được tôn vinh, con em bộ đội được khuyến khích, tạo điều kiện trong học tập, công tác. Mỗi hành động, việc làm ý nghĩa từ xã hội sẽ là động lực để cán bộ, chiến sĩ quân đội và gia đình họ có thêm niềm tin vượt mọi khó khăn, tiếp tục phấn đấu, cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc và nhân dân.
Theo báo QĐND

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA “Đối với đồng sự, phải đoàn kết chặt chẽ, khuyên nhau, giúp nhau. Đối với dân chúng, phải thân cận, phải giúp đỡ họ mọi việc, phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”.

 Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong Thư gửi các nhân viên cơ quan Chính phủ, ngày 16 tháng 6 năm 1947. Sau khi nước nhà giành được độc lập chưa được bao lâu, thì thực dân Pháp lại dã tâm quay lại xâm lược nước ta. Việc xây dựng Chính phủ thực sự là của dân gặp không ít những khó khăn, thách thức đặt ra yêu cầu cần phải giải quyết kịp thời.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành tốt mọi công việc, là tư tưởng chỉ đạo trong xây dựng Chính phủ thực sự là của dân, vì dân, phục vụ dân để dân tin, dân yêu và dân làm theo, đảm bảo cho sự nghiệp kiến quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc giành thắng lợi. Đồng thời, là cơ sở tập hợp lực lượng, huy động sức người, sức của, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm, hợp lực đánh đuổi đế quốc thực dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, lời dạy của Bác chính là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa là tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu; đồng thời vừa là biện pháp tích cực góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Do vậy, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần phải tăng cường xây dựng mối đoàn kết nội bộ, đoàn kết cán binh trên dưới đồng lòng giúp nhau cùng tiến bộ, xây dựng mối đoàn kết quân dân như cá với nước; thực hiện tốt chức năng là đội quân công tác, đội quân dân vận, chung sức cùng cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng nông thôn mới, thực hiện tốt 10 Lời thề danh dự, 12 Điều kỷ luật khi tiếp súc với nhân dân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ thực sự trở thành hạt nhân đoàn kết, xứng đáng là quân đội của dân, do dân và vì dân, để dân tin, dân phục, dân yêu như lời Bác Hồ dạy.

Ngày truyền thống lực lượng Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc

 Ngày 16-6-1967 được Bộ Công an lấy là Ngày truyền thống lực lượng Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Một số sự kiện trong nước ngày 16-6
- Ngày 16-6-1868, Nguyễn Trung Trực đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nông dân Kiên Giang chống lại thực dân Pháp xâm lược. Ông chỉ huy nghĩa quân đánh úp đồn Rạch Giá, tiêu diệt 5 sĩ quan và 67 lính địch, thu được nhiều vũ khí, đạn dược.
- Ngày 16-6-1965, Nhà máy Z115 trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập. Nhà máy có nhiệm vụ sản xuất các sản phẩm vũ khí, trang bị cho quân đội, đồng thời thiết kế, chế tạo các thiết bị, dây chuyền sản xuất theo chương trình động viên công nghiệp. Bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, nhà máy còn được Bộ Quốc phòng cho phép tận dụng năng lực hiện có để tham gia sản xuất các sản phẩm kinh tế phục vụ dân sinh.
- Ngày 16-6-1967, Trung đội nữ dân quân xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã bắn rơi 1 máy bay A-4 Skyhawk của Mỹ bằng súng máy phòng không 12,7mm. Đây là đơn vị nữ dân quân đầu tiên ở miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ bằng vũ khí bộ binh. Hơn 4 tháng sau đó, đơn vị tiếp tục bắn rơi 1 chiếc F-4 Phantom II của Mỹ. Trong cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, các đơn vị nữ dân quân Thanh Hoá đã bắn rơi tổng cộng 7 máy bay địch.
- Ngày 16-6-1967, Bộ Công an ban hành Quyết định số 426/QĐ về việc thành lập “Phòng theo dõi Phong trào bảo vệ trị an và Xây dựng lực lượng Công an xã” gọi tắt là “Phòng theo dõi xã”. Đây là tổ chức chuyên trách đầu tiên tham mưu giúp Bộ trưởng chỉ đạo lực lượng công an các cấp thực hiện phương hướng, nội dung, biện pháp vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, đấu tranh chống mọi âm mưu hoạt động của lực lượng phản cách mạng, các loại tội phạm khác và chỉ đạo việc xây dựng lực lượng công an xã, nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng xã vững mạnh về an ninh trật tự.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975), Bộ Công an đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước thống nhất các phong trào, cuộc vận động nhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự trong toàn quốc thành phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đồng thời lực lượng công an các cấp đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền tổ chức, vận động mọi tầng lớp nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Kể từ năm 2007, ngày 16-6-1967 đã được Bộ Công an quyết định chọn là Ngày truyền thống của lực lượng Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Trải qua 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đã có bước phát triển vững chắc và đạt được nhiều thành tích xuất sắc, khẳng định vị trí quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Lực lượng đã tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, biện pháp quan trọng, cơ bản, chiến lược, tạo sự chuyển biến tích cực về công tác vận động toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh “Đảng là đạo đức, là văn minh” trong xây dựng đạo đức cách mạng cán bộ, đảng viên.

  - Tại Lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Tầm vóc vĩ đại của Đảng được Người khái quát đã trở thành nét đẹp văn hóa - văn hóa Đảng. Xây dựng văn hóa Đảng nhằm giáo dục, bồi dưỡng, khích lệ tinh thần phấn đấu cao của mọi đảng viên; đồng thời, nhằm đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật sân khấu Trung ương ở Khu Văn công Mai Dịch, Hà Nội (Ảnh tư liệu)

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC “ĐẢNG LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của lịch sử là: Cứu dân, cứu nước khỏi vòng nô lệ của thực dân và ách áp bức của phong kiến; giải phóng dân tộc, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”; đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục tiêu hiện nay của Đảng là đấu tranh thống nhất nước nhà, để thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; làm cho cả nước không còn ai bị bóc lột, xây dựng một xã hội mới, trong đó mọi người được sung sướng, ấm no”(1). Mục tiêu đó là đạo đức, là văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo nhân dân ta chống lại ách thống trị của thực dân và ách áp bức của phong kiến, đấu tranh đòi quyền lợi cho dân nghèo, làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện quyền tự quyết, quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam, đó là quyền bình đẳng tối thiểu của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới. Trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Người viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Chính vì thế, mà Người luôn quan tâm giải quyết quyền dân tộc cơ bảncủa nhân dân Việt Nam một cách khoa học. Dưới ánh sáng của học thuyết Mác - Lênin, trực tiếp là tư tưởng vĩ đại của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh hiểu rằng, quyền tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc là những quyền thiêng liêng, không ai được phép xâm phạm; trong một đất nước, quyền lợi của mỗi cá nhân bao giờ cũng gắn liền với quyền lợi của cả dân tộc, đất nước. Nước mất thì nhà tan, nước độc lập thì dân tộc mới độc lập, con người mới được giải phóng và có tự do đích thực. Đó là một trong những lý do để Người trở thành chiến sĩ cộng sản đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đó là đạo đức, là văn minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: là một Đảng chân chính cách mạng, Đảng trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Chính vì vậy, tại Đại hội Sản xuất tỉnh Hà Đông (cũ), ngày 7/6/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”(2). Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Lý do tồn tại của Đảng là ở đó, đạo đức và văn minh của Đảng cũng là ở đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Chính phủ chăm lo mọi mặt cho đời sống nhân dân, với tinh thần nhân dân chỉ cảm nhận được quyền của mình trong một nước độc lập khi ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, mọi người được học hành. Người ước nguyện: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3). Với Người, giải phóng con người, trước hết là giải phóng họ khỏi cái đói, cái rét, cái dốt để giải phóng dân tộc, chỉ có thoát khỏi thân phận nô lệ, mỗi con người mới lấy lại được phẩm giá làm người; chỉ giải phóng dân tộc mới góp phần giải phóng của toàn nhân loại. Chính vì thế, Người đã thức tỉnh ý thức đạo đức dân tộc và nối liền với đạo đức thời đại mới - đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thành một bộ phận của tinh thần quốc tế. Giá trị văn hóa đạo đức đó đã xác lập chủ nghĩa yêu nước chân chính, tiếp biến với các giá trị đạo đức tiến bộ của loài người, gạt bỏ các mặt đạo đức lạc hậu để phát triển giá trị đạo đức mới. Giá trị đạo đức mới chi phối tư tưởng, ý thức đạo đức, các quan hệ ứng xử, các hành vi đạo đức trong nhân dân. Từ giải quyết quyền con người, quyền dân tộc cơ bản, Người đã xác lập các giá trị đạo đức một nền đạo đức mới Việt Nam. Việc kết hợp các giá trị đạo đức dân tộc với các giá trị đạo đức của thời đại đã tạo ra là nền tảng quan trọng của sự tiến bộ xã hội ở Việt Nam. Đó là đạo đức, là văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ. Người rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm liêm chính, chí công vô tư, tận tâm, tận lực, trung với nước, hiếu với dân suốt đời phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dânNgười cho rằng, đạo đức cách mạng sẽ tạo nội lực quan trọng cho quá trình cách mạng, đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(4). Đồng thời, Người quan niệm đạo đức cách mạng của người cán bộ tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(5). Quan niệm ấy không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Người cách mạng phải cần kiệm, cẩn thận, nhẫn nại, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói phải làm. Chính vì lẽ đó, Người rất quan tâm đến việc tu dưỡng đạo đức người cách mạng và cảnh báo tình trạng cán bộ “dùng của công làm việc tư... Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình”(6), quên cả thanh liêm đạo đức cần phải phê phán mạnh mẽ và loại bỏ - những công việc đó là đạo đức, là văn minh của Đảng ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu thương con người. Đồng thời, Người luôn coi trọng tình nhân ái, khoan dung. Lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người không chỉ ở phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, mà còn ở những con người nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém. Người nhắc nhở: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”(7). Đối với những người lầm đường, lạc lối, người có thói hư, tật xấu…ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ. Người chỉ rõ: “Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(8). Chính điều đó đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng không quản ngại gian khổ, hy sinh. Đó là đạo đức, là văn minh của Đảng ta.

Như vậy, đạo đức cách mạng của Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát đã trở thành chuẩn mực đạo đức chung, nền tảng của Đảng và Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh.

Đại biểu dự phiên thảo luận các văn kiện đại hội tại hội trường, sáng 28-1. Ảnh: TTXVN

Đại biểu dự phiên thảo luận các văn kiện đại hội tại hội trường, sáng 28/1. Ảnh: TTXVN

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Một là, nâng cao chuẩn mực về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên.

Đây là một trong những nội dung cơ bản, xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được”(9). Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để mỗi tổ chức đảng thực sự là đạo đức, là văn minh. Bằng nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo như: Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục của tổ chức với tự giáo dục của từng cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, nghiên cứu nắm vững các nghị quyết, chỉ thị, quy định của các cấp ủy đảng. Thực hiện có nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình. Cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện đúng các chế độ và cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin cần thiết cho cán bộ, đảng viên, nhất là về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ ở cơ quan, đơn vị. Chủ động phát hiện và đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; ngăn ngừa và khắc phục kịp thời những biểu hiện thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy trách nhiệm tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ, đảng viên bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(10). Do đội ngũ cán bộ, đảng viên là người trực tiếp thực hiện nghị quyết của Đảng, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp cần phải thường xuyên coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tập trung lãnh đạo, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ và chính sách cán bộ. Thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ theo đúng quy định; tăng cường giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên toàn diện, nhất là bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật và các mối quan hệ xã hội. Chú trọng rèn luyện cán bộ, đảng viên thông qua hoạt động thực tiễn. Kết hợp đánh giá, phân loại chất lượng, khen thưởng, bố trí, sử dụng và thực hiện đúng chính sách cán bộ. Đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ không chỉ ở nhà trường mà còn ở ngay từng cơ quan, đơn vị. Có như vậy mới nâng cao chất lượng hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Ba là, cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phả thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệ chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(11). Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng cần tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân. Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải trở thành công việc thường xuyên, hàng ngày của mỗi tổ chức, cá nhân, đơn vị với nhiều nội dung phong phú và thiết thực, gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Đổi mới phong cách làm việc, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm túc quy định về những điều đảng viên không được làm. Động viên, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí để mỗi tổ chức đảng thực sự là đạo đức, là văn minh.

Bốn là, cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện mọi lúc, mọi nơi. 

Trước hết, cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện về lập trường, tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”(12); “Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(13). Vì vậy, muốn xây dựng chi bộ tốt nhất thiết phải bồi dưỡng lập trường vô sản cho đảng viên, phải có ý thức giai cấp, đồng thời phải có lý luận cách mạng. Cho nên, cần phải chỉnh đốn Đảng, trong đó, coi trọng khâu kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, theo đó “những phần tử xấu phải xử trí đúng mức: Cần đuổi ra khỏi Đảng thì đuổi ra, cần cách chức thì phải cách chức”(14). Cán bộ, đảng viên tích cực, chủ động, rèn luyện về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu trong tổ chức đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng là nội dung cơ bản trong công tác xây dựng đảng, nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, là cơ sở để xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh. Trước hết, các cấp ủy đảng cần nâng cao năng lực cụ thể hóa và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Phải thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, gắn xây dựng đội ngũ đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ đầu ngành, người đứng đầu các cấp. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên. Đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên.

“Đảng ta là đạo đức, là văn minh” - Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để cán bộ, đảng viên tự đổi mới, tự chỉnh đốn làm trong sạch chính mình, là chuẩn mực đạo đạo đức của Đảng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn mẫu mực trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; gương mẫu, đi đầu trong thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho chính bản thân mình đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.

Cấp ủy, tổ chức đảng chấp hành nghiêm nguyên tắc, chế độ quy định về quản lý cán bộ, đảng viên. Bằng nhiều hình thức như: Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng với tự quản lý của đảng viên, giữa quản lý đảng viên với quản lý cán bộ, giữa quản lý nội bộ đảng với tổ chức quần chúng tham gia quản lý. Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý của tổ chức đảng nơi đảng viên công tác với quản lý của tổ chức đảng nơi cư trú để nắm chắc về lý lịch chính trị, quan hệ gia đình, nhất là những đảng viên có hoàn cảnh cá biệt để tổ chức đảng có cơ sở đánh giá, nhận xét chính xác. Kết hợp chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các biện pháp của công tác tư tưởng, tổ chức để giáo dục, rèn luyện đảng viên. Tổ chức tốt việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên về lập trường tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực công tác.

Cán bộ, đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật của tổ chức nơi công tác. Cấp ủy, tổ chức đảng phải kết hợp kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm tra, giám sát định kỳ. Chủ động phát hiện kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời và kiên quyết những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đại tá, PGS. TS. Dương Quang Hiển
Học viện Chính trị

---------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, CD-ROM, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.11, tr.604.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr.587.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.187.

(4) (5) (6) (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.292, 313, 295, 309.

(7) (8) (11) (12) (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.672, 672, 622, 278, 113.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.360.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.313.