Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Nguyễn Ái Quốc bàn về vai trò Quốc tế cộng sản với cách mạng An Nam trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”.

  Đối với cách mạng An Nam (Việt Nam), Quốc tế Cộng sản có ảnh hưởng và đóng góp vô cùng quan trọng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam Quốc tế". 

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 (Tranh của họa sĩ Phi Hoanh tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Quốc tế Cộng sản - tổ chức quốc tế của giai cấp vô sản - được thành lập ngày 2 tháng 3 năm 1919 tại Mát-xcơ-va (Liên Xô). Theo V.I.Lênin: “Ý nghĩa lịch sử toàn thế giới của Quốc tế Cộng sản, là ở chỗ nó đã bắt đầu thực hiện khẩu hiệu vĩ đại nhất của C.Mác, khẩu hiệu tổng kết thực tiễn trong một thế kỷ của chủ nghĩa xã hội và của phong trào công nhân, khẩu hiệu biểu hiện bằng khái niệm: chuyên chính của giai cấp vô sản”(1)Đối với cách mạng An Nam (Việt Nam), Quốc tế Cộng sản có ảnh hưởng và đóng góp vô cùng quan trọng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam Quốc tế"(2)Người đã luận bàn về vai trò to lớn đó của Quốc tế Cộng sản với cách mạng An Nam trên các phương diện sau:

Một là, Quốc tế Cộng sản đã vạch ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng An Nam

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, bằng trí tuệ uyên bác và sự nhạy cảm chính trị, Hồ Chí Minh đã lựa chọn Quốc tế cộng sản và tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Quốc tế Cộng sản bởi trên hết, Người tìm thấy mục tiêu mà mình theo đuổi trong đường lối của tổ chức cộng sản này. Đó là những quan điểm đúng đắn về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đây là ngọn cờ lý luận và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam.

Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một loạt phong trào yêu nước của nhân dân ta đã nổi lên mạnh mẽ, liên tục chống đế quốc và phong kiến, song đều không giành được thắng lợi. Cách mạng Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Trước bối cảnh đó, sau những năm bôn ba tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đã đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của VI.Lênin được thông qua tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản. Luận cương đã trình bày một cách ngắn gọn những nguyên tắc đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Trong đó, điểm 4 của Luận cương nhấn mạnh “…trọng tâm trong toàn bộ chính sách của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là cần phải đưa giai cấp vô sản và quần chúng lao động tất cả các dân tộc và các nước lại gần nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung để lật đổ địa chủ và tư sản(3). Từ đó, Người nhận thấy “Đệ tam quốc tế chủ trương đập đổ tư bản làm thế giới cách mệnh” và “giúp dân thuộc địa chống lại đế quốc chủ nghĩa”. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa Quốc tế Cộng sản với các tổ chức cộng sản khác đã được Người trình bày rõ trong cuốn Đường Cách mệnh. Có thể nói Luận cương đã đáp ứng và phù hợp những suy nghĩ, những tìm kiếm bấy lâu nay của Nguyễn Ái Quốc. Bằng việc tiếp cận với Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một trang mới. Sau này nhớ lại thời điểm được đọc bản luận cương của V.I.Lênin, Người đã viết: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(4).

Sau đó, đường lối dân tộc và thuộc địa tiếp tục được Quốc tế Cộng sản điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện trong suốt quá trình hoạt động của mình cho phù hợp với điều kiện các nước thuộc địa. Đặc biệt, với khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nuớc và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”(5) cho thấy V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đã nhìn nhận vấn đề dân tộc và thuộc địa là việc liên kết chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hôi khoa học không chỉ với giai cấp công nhân mà còn đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc và đã tạo nên dòng thác cách mạng thống nhất trong phong trào công sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc.

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản thông qua Đề cương “Phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa” đã vạch rõ tính chất, nhiệm vụ cách mạng các nước phương Đông trong giai đoạn đầu phải là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới với những nhiệm vụ cơ bản là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, lật đổ chính quyền phản động trong nước, thực hiên cải cách ruộng đất, tạo mọi điều kiên vững chắc từng bước đưa cách mạng tiến lên chủ nghĩa xã hội, không phải trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Về lực lượng lãnh đạo cách mạng ở các nước thuộc địa, Quốc tế Cộng sản chủ trương giai cấp vô sản các nước thuộc địa phải nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, phải có sách lược đoàn kết và hợp tác với các lực lượng dân tộc - cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc rồi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa thông qua đội tiền phong của nó là đảng cộng sản.

Như vậy, “Đệ tam quốc tế dạy cho vô sản giai cấp trong thế giới - bất kỳ nòi giống nào, nghề nghiệp gì, tôn giáo gì - hợp sức làm cách mệnh”(6). Nguyễn Ái Quốc nhận thấy, Quốc tế Cộng sản thực sự muốn giúp đỡ các dân tộc bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập, tự do. Từ đó, Người nhận thức được là trong thời đại ngày nay, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc tất phải đi theo con đường của V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đã vạch ra là con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc xem đó là con đường đúng đắn nhất, triệt để nhất như sau này Người viết trong tác phẩm Đường Cách mệnh: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(7).

Nguyễn Ái Quốc tìm đến được chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường cứu nước dưới ánh sáng đường lối của Quốc tế Cộng sản và hoàn toàn đi theo con đường của Quốc tế Cộng sản đã đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng Việt Nam. Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam được chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng, mà Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận, đã coi như mặt trời chói lọi, soi sáng con đường đi tới thắng lợi cuối cùng là độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đây được coi là một trong những cống hiến lịch sử của Quốc tế Cộng sản và có ảnh hưởng trực tiếp tới cách mạng Việt Nam.

Hai là, Quốc tế Cộng sản đã tích cực giúp đỡ, chuẩn bị các điều kiện và chỉ đạo thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

  Trong quá trình lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Quốc tế Cộng sản luôn quan tâm đến việc xây dựng chính Đảng vô sản ở các nước thuộc địa nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Quốc tế Cộng sản đã có rất nhiều hoạt động tích cực chuẩn bị các điều kiện tiền đề cho sự ra đời Đảng cộng sản Việt Nam. Trước hết là công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Quốc tế III vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Để truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Quốc tế Cộng sản đã thành lập những trung tâm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước phương Đông như Mátxcơva, Tasken - Bacu, Iếccút - Quảng Châu. Đồng thời, chỉ thị cho các đảng cộng sản tích cực in và gửi sang Việt Nam hàng nghìn bản in những tác phẩm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, trong số đó có Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen; các tác phẩm của V.I.Lênin…

Sau Đại hội VI các luận cương và nghị quyết của Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản (1928) và các văn kiện khác của Quốc tế Cộng sản đã được bí mật chuyển từ Pháp đến những cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu năm 1929. Nhờ sự giúp đỡ tích cực của Đảng Cộng sản Pháp và các đảng anh em khác dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản mà nhiều sách báo mácxít được in và chuyển về Việt Nam. Nhờ đó, người Việt Nam đã biết đến chủ nghĩa Mác - Lênin, và thấm sâu vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng phát triển mạnh mẽ, chuyển từ tự phát sang tự giác. Đó là sự chuẩn bị chu đáo về lý luận cách mạng, trực tiếp góp phần vào hình thành các tổ chức cộng sản ở Việt Nam và là tiền đề để chuẩn bị tốt cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bên cạnh đó, Quốc tế Cộng sản đã tích cực đào tạo các nhà hoạt động chính trị, các chiến sĩ cách mạng cho Việt Nam thông qua các trường của Quốc tế Công sản như Trường Đại học phương Đông, Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa và Trường quốc tế Lênin. Đánh giá về vai trò to lớn đó, Nguyễn Ái Quốc đã  khẳng định: “Có thể nói không ngoa rằng Trường Đại học phương Đông ôm ấp dưới mái trường mình tất cả tương lai của các dân tộc thuộc địa”(8). Sau khi học xong, Quốc tế Cộng sản tổ chức cho các sinh viên lần lượt về nước hoạt động. Với sự giúp đỡ, chỉ đạo sát sao, kịp thời của Quốc tế Cộng sản và các đảng anh em, sự hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin đã được truyền bá vào Việt Nam dẫn đến bước nhảy vọt về chất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đến lúc này, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn đủ khả năng và uy tín để lãnh đạo phong trào cách mạng đang lên cao nữa. Tình hình đòi hỏi phải có một đảng cách mạng vô sản mạnh mẽ và thống nhất trong cả nước, có kỷ luật nghiêm minh và giương cao ngọn cờ cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin để lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập. Vì vậy, đến đầu năm 1929, ở Việt Nam bắt đầu có cuộc đấu tranh giữa các nhóm cộng sản để tiến tới thành lập một đảng cộng sản thống nhất. Trong một thời gian ngắn, từ giữa năm 1929 đến đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản (Đông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn). Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động các tổ chức này đả kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng. Theo dõi sát sao tình hình, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đề ra nhiệm vụ cấp bách là phải nhanh chóng xúc tiến việc thành lập một đảng cộng sản ở Việt Nam: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản…Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương"(9).. Ngay sau đó, Quốc tế Cộng sản đã gửi những người cộng sản ở Đông Dương tài liệu Về việc thành lập một đảng cộng sản ở Đông Dương. Trong bản tài liệu đó, Quốc tế Cộng sản đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản và biện pháp xây dựng đảng Mác - Lênin và hướng dẫn cách tiến hành hợp nhất các phần tử cộng sản thành một đảng thống nhất. Thực hiện nhiệm vụ trên, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long, Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí tán thành hợp nhất các nhóm cộng sản thành đảng cộng sản thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là công lao vô cùng to lớn của Nguyễn Ái Quốc mà còn là sự giúp đỡ tận tình, sự chỉ đạo chặt chẽ và kịp thời của Quốc tế Cộng sản trong việc chuẩn bị mọi điều kiện và thành lập Đảng ta. Vì vậy, trong tác phẩm Đường Cách mệnh Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Đệ tam quốc tế là một Đảng Cộng sản thế giới. Các đảng các nước là như chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc gì chưa có mệnh lịnh và kế hoạch Đệ tam quốc tế thì các đảng không được làm”(10).  Đây được coi là một một đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam.

Tác phẩm “Đường Cách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
 
 

Ba là, Quốc tế Cộng sản chỉ đạo kịp thời và giúp đỡ phong trào cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong thời gian tồn tại (1919 - 1943) Quốc tế Cộng sản luôn coi trọng, giúp đỡ cách mạng thuộc địa đặc biệt là ở phương Đông. Nhấn mạnh về vai trò to lớn đó, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, có đặt ra một bộ riêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á - Đông”(11). Đối với cách mạng Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã giúp đỡ, chỉ đạo kịp thời về đường lối lãnh đạo cho Đảng cộng sản Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng. Ngay sau khi ra đời, Ðảng đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh, tạo nên cao trào cách mạng rộng lớn trong những năm 1930 - 1931 làm rung chuyển chế độ thống trị của thực dân Pháp và tay sai. Trong điều kiện vừa mới ra đời, Đảng không tránh khỏi mắc phải một số sai lầm “tả” khuynh và hữu khuynh; thời cơ giành chính quyền chưa xuất hiện cho nên bị thực dân Pháp đàn áp và dìm các phong trào đấu tranh trong biển máu. Từ cuối năm 1931, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ khó khăn nhất. Trước tình hình đó, Quốc tế Cộng sản và các tổ chức quần chúng của Quốc tế Cộng sản đã theo dõi sát sao, liên tục gửi thư cho Đảng Cộng sản Đông Dương, biểu dương tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân, thường xuyên chỉ đạo, uốn nắn kịp thời những vấn đề về chiến lược, sách lược, đồng thời, phê bình những hạn chế, thiếu sót, những biểu hiện “tả” khuynh cần khắc phục, hướng dẫn những kinh nghiệm, phương pháp đấu tranh. Đồng thời, Quốc tế Cộng sản còn phát động trong công nhân và nhân dân lao động thế giới một phong trào ủng hộ cách mạng Đông Dương, chống khủng bố trắng, đòi ân xá tù chính trị, đồng thời, chỉ thị cho các phân bộ đẩy mạnh những hoạt động thiết thực để giúp đỡ Đảng Cộng sản Đông Dương. Được sự giúp đỡ trực tiếp của Ban Phương Đông, tháng 6-1932, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua Chương trình hành động-bản Cương lĩnh hành động của Đảng trong hoàn cảnh tạm thời thoái trào nhằm khẳng định lại những nhiệm vụ cơ bản trong Luận cương Chính trị tháng 10-1930, đồng thời, đề ra những nhiệm vụ cụ thể trong tình hình mới. Bản Chương trình ra đời đã kịp thời củng cố lại phong trào, động viên toàn Đảng và các tổ chức quần chúng tiếp tục tiến lên thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Để kiện toàn ban lãnh đạo của Đảng, thực hiện quyết định của Quốc tế cộng sản, tháng 3-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập, do Lê Hồng Phong đứng đầu. Ban có nhiệm vụ liên lạc giữa Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương với Quốc tế cộng sản và các đảng cộng sản; tập hợp và đào tạo cán bộ; xuất bản Tạp chí Bônsơvích, cơ quan lý luận của Trung ương Đảng. Trong thực tế, Ban Chỉ huy ở ngoài làm nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quốc tế cộng sản. Như vậy, nhờ sự chỉ đạo và nỗ lực giúp đỡ theo nhiều hướng với nhiều hình thức phong phú, và sự giúp đỡ của các đảng cộng sản - các phân bộ của Quốc tế Cộng sản đến cuối năm 1934 cách mạng Việt Nam vượt qua được những năm tháng khó khăn nhất. 

Bước vào giai đoạn cách mạng 1936 -1939, Quốc tế Cộng sản có sự chuyển hướng chỉ đạo mới đối với phong trào cách mạng Việt Nam. Sau Đại hội VII, Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng ta cần chuyển ngay về trong nước để cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng. Đồng thời, nhấn mạnh Đảng ta cần phải gấp rút thành lập mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít và chiến tranh. Vận dụng tinh thần Nghị quyết Đại hôi VII Quốc tế Cộng sản, căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng trong nước và trên thế giới, Đảng cộng sản Việt Nam đã định ra nhiệm vụ chiến lược, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới. Với sự chuyển hướng, chỉ đạo chiến lược và sách lược mới đó đã đưa cách mạng Việt Nam tiến lên một cao trào mới - cao trào cách mạng 1936 - 1939. Từ năm 1939 trở đi, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến, những người cộng sản Việt Nam được trang bị bằng những nghị quyết của Quốc tế Cộng sản đã kịp thời chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, chuẩn bị về mọi mặt, chớp thời cơ, lãnh đạo toàn dân tộc tổng khởi nghĩa làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Với cách viết súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, tác phẩm Đường Cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giúp ta hiểu một cách sâu sắc, toàn diện vị trí, vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn nhất. Những nội dung thể hiện trong tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tuyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, trong việc kết hợp phong trào yêu nước với chủ nghĩa Mác, tạo lập các tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; từ đó tạo nên những bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Thời gian đã lùi xa nhưng những giá trị cốt lõi kết tinh trong Đường Cách mệnh vẫn còn nguyên vẹn, sẽ tiếp tục được các thế hệ hôm nay và mai sau kế thừa và phát triển.

ThS. Nguyễn Thị Ly
Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự

----------------------------

(1)V.I..Lênin (1978), Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-cơ-va, Tập 38, tr. 364.

(2) (6) (7) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.2, tr.312, tr. 311, 289,

(3) Viện Mác – Lênin (1970), V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản, Nxb Sách chính trị, Mátxcơva, tiếng Nga, tr. 199.

(4) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tập 12, tr. 562.

(5) V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tập 41, tr. 295.

(8) (10) (11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 1, tr. 323, tr. 310, tr. 311.

Phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc “Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin”.

. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời minh chứng rằng, nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc và đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn cách mạng cũng cho thấy, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai cấu phần hợp thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể thiếu một yếu tố nào. Tuy nhiên, thời gian qua đã xuất hiện một số ý kiến tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí còn tìm cách luận giải cho rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với cách mạng Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là “yếu tố ngoại lai” không phù hợp và đi đến kết luận rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin”(?). Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc về mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; tưởng như là đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự khẳng định những công lao, cống hiến của Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, các thế lực phản động, thù địch chưa bao giờ và chắc chắn sẽ không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới, trong đó, nổi lên hiện nay là sự chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Rõ ràng, tư tưởng, văn hóa là mặt trận hết sức gay gắt, quyết liệt của cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các thế lực phản động, thù địch. Những mưu toan kích động, xuyên tạc nhằm “hạ bệ thần tượng”, làm nghi ngờ, hoang mang, dao động, thậm chí gây chia rẽ, mâu thuẫn, hỗn loạn nhận thức về nền tảng tư tưởng của Đảng trong hàng ngũ những người cộng sản, từ đó dẫn tới mất phương hướng, mâu thuẫn, rối loạn trong tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn, đưa đến những sai lầm, làm mất uy tín, ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng nhân dân và do đó đánh mất vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn, có lúc công khai, trắng trợn, có lúc tinh vi, xảo quyệt. Việc tuyên truyền, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin” nằm trong những mưu toan đó của các thế lực phản động, thù địch và thực chất không có gì mới.

Trước hết, cần phải nhận rõ mưu toan cắt xén và đánh tráo khái niệm của các ý kiến cố ý xuyên tạc, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Những ý kiến xuyên tạc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, Hồ Chí Minh là một người yêu nước, là một người theo chủ nghĩa dân tộc, chỉ mong muốn làm thế nào để giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết về đấu tranh giai cấp, là hệ tư tưởng chỉ của riêng giai cấp công nhân, nên đối lập với cả chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh theo đuổi. Những ý kiến kiểu này đã cố ý không thấy một thực tế là Hồ Chí Minh không chỉ muốn giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, mà quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để dân tộc được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, ấm no thực sự sau khi giành được độc lập, như Người đã từng mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). Bởi trong quan niệm của Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(2), “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(3).

Đó chính là lý do để lý giải vì sao mặc dù đánh giá cao cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và có những thiện cảm, đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, nhưng Hồ Chí Minh đã nhận xét những cuộc cách mạng đó về bản chất đều là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, chỉ mang lại quyền lợi cho một thiểu số người trong xã hội và quyết định không lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam theo hình mẫu của các cuộc cách mạng này. Thực tế, chúng ta đều biết, Người đã lựa chọn con đường cách mạng do chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra, con đường cách mạng vô sản, thực hiện ba sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong một chỉnh thể nhất quán. Con đường đó Hồ Chí Minh đã lựa chọn, bởi vì nó thực sự mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, có tôn giáo hay không theo tôn giáo, nam hay nữ,... đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc một cách triệt để mà Người luôn theo đuổi.

Những ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đánh tráo khái niệm khi luận giải Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết, trong khi chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ coi trọng vấn đề giai cấp. Như vậy, rõ ràng là tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin (?).

Đúng là trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khi giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết, vấn đề giai cấp phải xếp sau vấn đề dân tộc và phục vụ cho vấn đề dân tộc. Nhưng đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là sự quán triệt, vận dụng đúng đắn linh hồn của chủ nghĩa Mác - Lênin - phương pháp luận duy vật biện chứng vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam; là sự vận dụng quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể, đặc thù, hết sức sinh động, muôn màu, muôn vẻ của những hiện tượng, quá trình lịch sử riêng biệt. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó là cần thiết, theo đúng lời dặn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận Mác như một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý thuyết đó chỉ đặt nền móng cho một môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”(4). Vì vậy, không thể đánh đồng sự vận dụng và phát triển sáng tạo với sự mâu thuẫn, đối lập.

Thứ hai, cần phải thấy rõ, Hồ Chí Minh luôn nhất quán cả về tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn trong việc đánh giá rất cao chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định là một người theo chủ nghĩa Mác - Lênin

Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không chỉ trăn trở tìm kiếm lời giải bài toán làm thế nào, bằng cách nào để giành lại nền độc lập của nước nhà, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị ngoại bang, mà còn mong muốn tìm ra một hệ tư tưởng làm nền tảng cho con đường đi của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng xã hội mới. Qua những trải nghiệm hết sức phong phú trong thực tiễn khảo sát, khảo nghiệm những con đường cứu nước của các dân tộc trên thế giới, Người nhận thức rõ rằng đường lối cứu nước, giải phóng và phát triển dân tộc phải được xây dựng trên một nền tảng tư tưởng nhất định thì mới đảm bảo tính nhất quán và sự thông suốt trong cả tư tưởng và hành động của lực lượng cách mạng, trước hết là lực lượng lãnh đạo, từ đó đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Lực lượng lãnh đạo phải có chủ nghĩa làm cốt và ai cũng phải hiểuai cũng phải theo chủ nghĩa ấy, tức là phải thống nhất quán triệt, vận dụng chủ nghĩa ấy trong quá trình vận động và tổ chức sự nghiệp cách mạng thì sự nghiệp đó mới thành công được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam, ngày 5/9/1960. (Ảnh: Tư liệu TTXVN).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam, ngày 5/9/1960. (Ảnh: Tư liệu TTXVN).

Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, lực lượng lãnh đạo mà không có chủ nghĩa làm nòng cốt thì cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam(5). Người không có trí khôn thì đương nhiên sẽ không thể có chủ trương, đường lối đúng đắn được; và tàu không có la bàn dẫn đường thì cũng sẽ không thể xác định được hướng đi đúng giữa đại dương mênh mông.

Nhưng vấn đề thậm chí còn quan trọng hơn nữa trong thời đại của Hồ Chí Minh là Người phải xác định, phải lựa chọn đi theo chủ nghĩa nào, học thuyết nào. Bởi lẽ, như Người từng chỉ rõ “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều”. Đi theo chủ nghĩa nào là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra, buộc phải có sự lựa chọn, cân nhắc cho chính xác. Đó là hệ tư tưởng dân chủ tư sản hay hệ tư tưởng vô sản, hoặc nhân danh là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nhưng thực chất đã bị tha hóa, biến tướng, như chủ nghĩa công liên, nghiệp đoàn vàng, chủ nghĩa xét lại...? Trong bối cảnh đầy những phức tạp, tiềm ẩn nhiều “ngõ cụt” đó, Hồ Chí Minh đã biết phát hiện ra và tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất, cách mạng nhất và nhân văn nhất của thời đại, trong khi những người Việt Nam khác, dù cũng giàu lòng yêu nước và từng sống nhiều năm ở nước ngoài như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường... nhưng vẫn không nhìn ra được. Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(6).

Đó là sự tổng kết, đúc rút của Hồ Chí Minh từ thực tiễn nghiên cứu, khảo sát phong phú các phong trào đấu tranh yêu nước, các cuộc cách mạng của các dân tộc khác nhau trên thế giới.

Trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm ra, hay chính xác hơn là xây dựng lên con đường đi đúng đắn cho bản thân và cũng là con đường đi đúng đắn cho toàn thể dân tộc, được dân tộc lựa chọn. Đó là con đường dựa chủ yếu vào sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết của toàn thể quốc dân đồng bào, đồng thời tích cực tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh đuổi giặc ngoại xâm, rồi đi tới xây dựng một xã hội mới mang lại hạnh phúc, ấm no thực sự cho tất cả mọi người dân, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, một xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó chính là con đường giải phóng triệt để.

Chính trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là phương pháp luận duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã có những đóng góp vĩ đại cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, đồng thời Người cũng góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trước hết là hoạch định, xây dựng một con đường đi mới đúng đắn, nhân văn.

Sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định vai trò nền tảng tư tưởng, dẫn đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ vai trò nền tảng, soi đường hết sức quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Chủ nghĩa Mác - Lênin làm gốc”(7); “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động”(8); “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”(9); “Chủ nghĩa Mác - Lênin là ngọn đuốc soi sáng con đường cho dân tộc chúng tôi tiến tới tương lai tươi sáng”(10); Chủ nghĩa Mác - Lênin “không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(11).

Hồ Chí Minh chính là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, đã mang lại những thành công cho cách mạng Việt Nam và đưa dân tộc Việt Nam đến những thành tựu như hiện nay./.

PGS. TS.  LÝ VIỆT QUANG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

-------------------
(1) (2) (3) (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.4, tr.187, 64, 175, 232.

(5) (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.289, 289.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.359.

(8) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.120, 414.

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.181.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.563.

Xây dựng lý luận sắc bén góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

  - “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”(1) là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng và hệ thống chính trị, của các lực lượng vũ trang nhân dân. 

Ảnh minh họa

NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ QUAN TRỌNG CỦA TOÀN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù địch; các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái, đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh; từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức đối với chúng ta…Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý là, những quan điểm sai trái, thù địch chống phá chúng ta được các thế lực thù địch và những kẻ đưa ra cố tình luận chứng và khoác cho một cái vỏ “khoa học và khách quan”, vì dân, vì nước, vì sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam. Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là khó khăn, thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

XÂY DỰNG LÝ LUẬN SẮC BÉN ĐỂ ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÓ HIỆU QUẢ CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Lý luận sắc bén thực chất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được các chủ thể nhận thức đúng đắn, thật sự sâu sắc trên lập trường của giai cấp công nhân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, làm tươi mới và vận dụng sáng tạo, phát triển trong đời sống xã hội, trong thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lý luận sắc bén để đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch còn là đường lối đúng đắn của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tế Việt Nam.

Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta đôi lúc còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Không ít bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ, mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. 

Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh, đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa, không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả.

Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, rất cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì, mà là một quá trình luôn gắn chặt với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác, cũng đồng thời là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận gắn bó chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”(2).

TRIỂN KHAI HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ, TOÀN DIỆN

Trong thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm của Đảng về công tác lý luận, về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là các quan điểm trong Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”; Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; Quy định số 285-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan Đảng, Nhà nước”. Đồng thời phải thực hiện hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện, trong đó tập trung vào một số điểm chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận.

Yêu cầu cơ bản đặt ra đối với công tác nghiên cứu lý luận là phải nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm chắc hơn đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đấu tranh, phản bác. Cần làm rõ những giá trị bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay.

Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay chúng ta cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về kinh điển. Nếu không nắm chắc lý luận, không hiểu một cách sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì không thể làm sáng tỏ được thực tiễn của đời sống xã hội rất phong phú sinh động, không ngừng biến động và càng không thể phát triển được lý luận. Đồng thời, cần quan tâm nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan và biện chứng, tiếp thu những giá trị tiến bộ.

Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta đang diễn ra trong sự vận động của thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ; nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Điều đó đòi hỏi càng phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng, lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và điểm đến của nghiên cứu lý luận; nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển lý luận phải dựa chắc trên cơ sở hiện thực. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, cực đoan, phiến diện, bảo thủ, trì trệ, hời hợt, đại khái trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

Hai là, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao.

Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Vấn đề cấp thiết mà Đảng ta xác định là phải: “Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận; có chế độ, chính sách thỏa đáng nhằm thu hút, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành[3]. Theo đó, các chế độ, chính sách cần tạo động lực cho lực lượng này đi sâu vào chuyên môn để trở thành những chuyên gia lý luận giỏi thật sự, chứ không phải hướng họ theo “con đường quan chức”. Phải tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu lý luận trong tự học, tự bồi dưỡng lý luận; gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, kiên quyết khắc phục bệnh lười học, lười nghiên cứu hoặc học lý luận để đối phó, chạy theo bằng cấp để có điều kiện tiến thân nơi công quyền.

Mỗi cơ quan khoa học, cơ sở nghiên cứu cần chủ động với sự đầu tư thỏa đáng hơn trong việc xây dựng, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu lý luận một cách toàn diện, đặc biệt chú ý bồi dưỡng nâng cao trình độ tư duy lý luận, khả năng nắm chắc “ta” và “địch”, đối tượng, đối tác trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cán bộ lý luận phải nắm chắc nội dung, ý đồ tư tưởng, dụng ý, mưu đồ, các góc độ ảnh hưởng, tác động của các quan điểm sai trái, thù địch, bối cảnh và lực lượng, chủ thể cụ thể đưa ra quan điểm sai trái, thù địch đó...Càng nắm kỹ, đầy đủ những yêu cầu trên, thì càng có cơ sở đấu tranh, phản bác, phê phán một cách có hiệu quả, làm suy giảm và mất hiệu lực, làm giảm ảnh hưởng và tác động xấu của quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời chúng ta mới có thể sử dụng đúng, dùng đủ lý luận, luận cứ và đúng bút pháp đấu tranh, nâng cao chất lượng đấu tranh.

Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị và tư tưởng Hồ Chí Minh; phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn, không bám chắc vào thực tiễn cách mạng sôi động của đất nước, thực tiễn đấu tranh lý luận. Tăng cường đưa các nhà khoa học, lý luận ra nước ngoài học tập, bồi dưỡng, tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi chuyên gia, học thuật, tiếp cận thông tin, hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học nước ngoài. Cần chuẩn bị tốt về nhận thức chính trị, chuyên môn, phong cách, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận trong hợp tác quốc tế về lý luận.

Ba là, xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh.

Xây dựng cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh có nhiều việc phải làm, song điều quan trọng là phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan nghiên cứu lý luận với đội ngũ cán bộ lý luận. Có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh mới có cán bộ lý luận mạnh; cán bộ lý luận mạnh lại là “cốt vật chất” bảo đảm cho cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh. Không thể có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh, nếu không có được đội ngũ cán bộ lý luận mạnh; đội ngũ cán bộ lý luận mạnh chỉ có thể phát huy tốt sức mạnh và trình độ lý luận của mình trong một môi trường làm việc thuận lợi của cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Đó là mối quan hệ hữu cơ, phải được nhận thức, giải quyết tốt trong thực tiễn xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý luận hiện nay.

Trong tình hình hiện nay, cần “tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận”(4); kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; sắp xếp lại các cơ quan cho phù hợp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chú ý đặc thù hoạt động khoa học của từng cơ quan. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động lý luận, thực hiện tốt dân chủ trong nghiên cứu lý luận. Xây dựng cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa công tác nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo, giảng dạy lý luận, giữa cán bộ lý luận và cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn. Quan tâm xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan lý luận với nhau; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn./.

Thiếu tướng, PGS. TS. NGƯT NGUYỄN VĂN THẾ

----------------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tr.183.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 5, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 273.

(3) (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.182, 182.

Sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin.

  - Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu nổi bật, vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội. Từ khi ra đời đến nay, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, bất chấp sự chống phá điên cuồng của kẻ thù, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn khẳng định sức sống mãnh liệt và giá trị thời đại lớn lao trên phạm vi toàn thế giới.

CUỘC CÁCH MẠNG VỀ NHẬN THỨC TRÊN TOÀN THẾ GIỚI

Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là kết quả đỉnh cao của tư duy khoa học, kế thừa, chọn lọc và phát triển sáng tạo những thành tựu tư tưởng, khoa học của nhân loại mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Các ông đã đứng trên vai những người khổng lồ xây dựng nên học thuyết cách mạng đáp ứng yêu cầu của thời đại. Bằng những luận thuyết tiêu biểu về phép biện chứng duy vật, chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết đấu tranh giai cấp và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, học thuyết hình thái - kinh tế xã hội,... chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra cuộc cách mạng về mặt nhận thức trên phạm vi toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra cách giải thích khoa học về nguồn gốc, động lực phát triển của xã hội loài người; không dừng lại ở việc chỉ “vén bức màn” bí mật mà công khai vạch trần bản chất bóc lột của chế độ tư bản chủ nghĩa; đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa duy tâm, mở đường cho khoa học phát triển, tạo tiền đề giải phóng con người, giải phóng xã hội khỏi sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm, của thần quyền và những tư tưởng, định kiến bảo thủ, lỗi thời, lạc hậu vốn dĩ đã tồn tại cố hữu hàng thế kỷ trước đó. Những giá trị khoa học vĩ đại đó “đã cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”(1) để cải tạo thế giới. Kể từ đó đến nay, dù tiếp tục có những học thuyết mới, với những cách luận giải mới, dưới nhiều màu sắc, quan điểm, lập trường khác nhau; song chỉ có học thuyết Mác - Lênin là khoa học và cách mạng, vì mục tiêu giải phóng và phát triển con người. Tính ưu việt, sự hấp dẫn và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin chính vì vậy nằm ngay ở sức thuyết phục khoa học của nó.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin còn là biểu tượng vĩnh hằng cho một học thuyết chính trị - xã hội có tính cách mạng và triệt để nhất. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự giải đáp được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đã và đang đặt ra nhưng trước đó chưa học thuyết nào giải quyết được. Bởi trong khi toàn bộ hệ thống lý luận tư sản đều tìm mọi cách biện minh cho chủ nghĩa tư bản, thì chủ nghĩa Mác - Lênin đã tuyên chiến với hệ tư tưởng tư sản, vạch rõ nguồn gốc sâu xa của chế độ người bóc lột người; bản chất của chiến tranh; sự bất bình đẳng giai cấp và dân tộc, khẳng định sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội. Sự khác biệt lớn nhất so với các học thuyết trước đó ở chỗ, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết duy nhất đề cập mục tiêu, con đường, lực lượng, cách thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công một cách đúng đắn nhất; thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng dân tộc và nhân loại. Cũng chỉ có học thuyết Mác - Lênin mới phát hiện và lý giải đúng đắn vai trò của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử, phát hiện và xác lập đúng đắn vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xóa bỏ chế độ xã hội áp bức, bất công. Và họ chính là những người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản.

Ngay từ khi mới xuất hiện, chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành kẻ thù đáng sợ nhất, nỗi ám ảnh thường xuyên nhất về mặt tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa tư bản. Nhận thấy, lý luận đó nếu được truyền bá và trở thành hiện thực thì những đặc quyền, đặc lợi của giai cấp tư sản và các nước tư bản chủ nghĩa đương nhiên sẽ không còn chỗ đứng. Chính vì vậy, kẻ thù luôn tìm cách chống phá điên cuồng, chúng không từ một âm mưu, thủ đoạn đê hèn nào, hòng từng bước làm phai nhạt niềm tin của nhân dân lao động và lực lượng tiến bộ, hòa bình trên thế giới, tiến tới hạ bệ và cuối cùng là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng tiến công ở cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn, từ những vấn đề cơ sở của sự ra đời, từ quá trình vận động, phát triển đến việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn của các Đảng cộng sản, các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Theo đó, chúng xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin; công kích toàn bộ nội dung, các bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin; lợi dụng triệt để việc hiểu chưa đúng đủ, vận dụng sai lý luận Mác - Lênin trong thực tiễn của các Đảng Cộng sản… để phủ nhận giá trị hiện thực lớn lao mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra cho nhân loại.

VŨ KHÍ LÝ LUẬN, NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN

Ngay khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành vũ khí lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Chính những giá trị khoa học, cách mạng vĩ đại ấy đã khiến giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình, công bằng trên thế giới hưởng ứng, nhiệt thành đón nhận và kiên quyết đấu tranh bảo vệ cho chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như áp dụng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhanh chóng xâm nhập vào phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, và làm thay đổi toàn bộ diện mạo thế giới, cũng như tính chất thời đại.

Thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng hùng hồn khẳng định giá trị hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn. Bằng sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng Nga, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô đã cho thế giới biết đến một chế độ xã hội mới và đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành hiện thực. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản và chính quyền Xô viết non trẻ đã đánh bại cuộc tấn công của 14 nước đế quốc, bảo vệ thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sau đó, tiếp tục đánh bại chủ nghĩa phát xít, giải phóng một phần rộng lớn các nước Đông Âu, đưa chủ nghĩa xã hội từ một nước, trở thành một hệ thống, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, đấu tranh giải phóng vì hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới - đúng với mục tiêu mà chủ nghĩa Mác - Lênin hướng tới: không dừng lại ở giải thích thế giới mà phải cải tạo cả thế giới.

ĐẬP TAN ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Vào những năm 90 của thế kỷ XX, sau sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã lợi dụng sự kiện này để xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và lớn tiếng cho rằng, sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là một sai lầm của lịch sử; ý tưởng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ là “viển vông”, “phi thực tế”. Chúng đánh đồng, quy chụp rằng, sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực là sự lỗi thời, lạc hậu của chính chủ nghĩa Mác - Lênin. Thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu chính là “sự cáo chúng” của chủ nghĩa Mác - Lênin trên thực tế...

Sự thật là, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó xét ở góc độ nội tại là từ sự sai lầm của các đảng tự xưng là “cộng sản” nhưng đi ngược lại các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vốn dĩ, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở, đòi hỏi các Đảng cộng sản và những người mácxít phải liên tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện và vận dụng một cách sáng tạo tùy vào điều kiện thực tiễn.

Bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chính là cách thể hiện sinh động nhất sự kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm làm cho hệ tư tưởng mácxít luôn thấm đượm trong từng chủ trương, chính sách và đường lối chính trị của Đảng một cách đúng đắn và phù hợp.

Trong những năm gần đây, tận dụng xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế; những thành tựu từ các cuộc cách mạng công nghiệp, nhất là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chủ nghĩa tư bản đã tiến hành điều chỉnh, thích nghi về quan hệ sản xuất. Sự điều chỉnh đó trên thực tế đã làm cho chủ nghĩa tư bản tiếp tục có những điều kiện để phát triển. Từ đây, nhiều học giả đã cố chứng minh rằng: chủ nghĩa từ bản ngày nay đã bước sang giai đoạn “xã hội hậu công nghiệp”, “xã hội siêu công nghiệp” và là xã hội tốt đẹp nhất của loài người, không còn như chủ nghĩa tư bản trước đây. Một số học giả không những không phủ nhận mà ngược lại ca ngợi chủ nghĩa Mác - Lênin, tuy nhiên, cách lập luận của họ rõ ràng có ý đồ không trong sáng khi cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ đúng ở thời kỳ mà Mác và Lênin sống, còn hiện tại đã không còn phù hợp. Thực chất là chúng muốn phủ nhận lý luận hình thái kinh tế - xã hội mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra. Số khác lại ẫu trí cho rằng: chủ nghĩa tư bản có thể “hội tụ” với chủ nghĩa xã hội trong thời đại văn minh đại công nghiệp, văn minh trí tuệ, tin học. Mưu đồ đằng sau sự lập luận vô căn cứ khoa học là nhằm phủ nhân luận điểm của C.Mác về quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội. Đây là sự tư biện phản khoa học, trái với sự vận động khách quan của lịch sử. Mọi sự biện hộ cho sự tồn tại vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản và phủ nhận sự ra đời, phát triển của chủ nghĩa xã hội đều không có cơ sở lý luận và thực tiễn.

Một số học giả tư sản khác lại cố tình xuyên tạc và lập luận rằng, C.Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương cảm, đó là giai cấp nghèo khổ; rằng, hiện nay địa vị của giai cấp công nhân đã có sự thay đổi căn bản, một bộ phận công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa, đã trở nên “trung lưu hóa”, thậm chí trở thành “nhà tư bản”, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử đó nữa. Dùng sự nghèo khổ làm cơ sở để luận giải cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là luận điệu hết sức xuyên tạc và thiếu căn cứ. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được quy định bởi địa vị kinh tế - xã hội của chính nó chứ không phải vì là “giai cấp nghèo khổ” nên họ có sứ mệnh lịch sử. Đúng là hiện nay đời sống của một bộ phận công nhân ở các nước tư bản được cải thiện đáng kể, nhưng đó chỉ là sự phản ánh một phần mức sống của họ so với giá trị sức lao động của họ làm ra trong những điều kiện mới. Cũng cần phải hiểu rằng: sự cải thiện đó hiển nhiên không đến từ lòng thương cảm hay sự thay đổi của giai cấp tư sản mà nó đã phải đánh đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu dân tộc trong các cuộc cách mạng. Vì vậy, “hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra(2). Những cuộc khủng hoảng kinh tế triền miên diễn ra với các nước EU, các trung tâm kinh tế tư bản chủ nghĩa như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp trong những năm gần đây càng cho thấy, cho dù tận dụng được những thành tựu khoa học công nghệ; được kế thừa những thành quả của sự phát triển qua nhiều thế kỷ nhưng những khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại không thể khắc phục, thậm chí có thêm nhiều những biểu hiện cực đoan mới. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty xuyên quốc gia cùng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân ở các nước thuộc thế giới thứ ba; các cuộc chiến tranh đẫm máu do chủ nghĩa đế quốc phát động... là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hàng trăm triệu người bị đe dọa chết đói, thất nghiệp, mù chữ và hơn một tỷ người sống trong cảnh khốn cùng.

Bất chấp sự chống phá điên cuồng của kẻ thù và những thăng trầm lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn và ngày càng tỏ rõ sức sống mạnh liệt, sự lan tỏa sâu rộng và ý nghĩa vượt tầm thời đại.

Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(3). Và đến nay, những Đảng Cộng sản chân chính, những dân tộc, tầng lớp, giai cấp yêu chuộng hòa bình vẫn luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa  Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa  Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng cho mọi hành động.

Những biến đổi mau lẹ của của thế giới hiện nay vẫn chưa thể vượt ra khỏi những quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã khái quát trước đó. Trong bối cảnh khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện đại không chỉ nhân loại tiến bộ mà cả các chính trị gia, học giả tư sản đã bày tỏ sự lung lay về niềm tin đối với nền tảng lý luận tư sản và nhận rõ hơn bao giờ hết giá trị khoa học vượt thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí một số học giả tư sản đã kêu gọi nhân loại “trở về với Mác” vì cho rằng “sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác là bất diệt”. Bằng chứng là năm 1999, Trường Đại học Cambridge (Anh) công bố bình chọn nhà tư tưởng số một thiên niên kỷ thứ hai, kết quả là C. Mác đứng đầu, A. Anhxtanh đứng thứ hai(4). Và gần đây, theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức) cho thấy, C. Mác được ưa chuộng một cách ngạc nhiên với hơn 50% số người dân Tây Đức nói rằng “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”, thậm chí hơn 56% cho rằng, “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”(5). Tờ The New Yorker (Mỹ) cũng cho rằng, các vấn đề mà các nhà kinh tế học hiện đại đang đối mặt và giải quyết, nhưng thực ra họ đang bước theo dấu chân của C. Mác mà họ không biết.

Mãi cho đến hôm nay, lẽ phải luôn đứng về phía Mác, Ăng ghen và Lênin, thực tiễn đang chứng minh rằng, không có bất cứ “sự cáo chúng” nào mà ngược lại, các nước trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin đi theo con đường chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và tiếp tục phát triển ở nhiều nơi. Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba đã và đang có sự phát triển nổi bật trở thành tấm gương lôi cuốn các nước như Venezuela, Chi Lê... định hướng sự phát triển của đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Hơn 90 năm qua, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu, kém phát triển, từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi... Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Thành tựu ấy đã khẳng định cho sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, sự quản lý, điều hành hiệu quả của Nhà nước, những bước đi đúng đắn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự nỗ lực không biết mệt mỏi của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta. Hơn thế nữa, nó khẳng định được tính đúng đắn, cách mạng, khoa học, triệt để và sự trường tồn bất diệt của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cách mạng mới. Điều đó không chỉ đúng riêng đối với cách mạng Việt Nam mà còn đúng với tất cả các chính đảng, đặt và lấy lợi ích của quân chúng nhân dân lên trước hết và trên hết./.

TS. Bùi Văn Huấn

 Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

ThS. Đậu Trọng Chương

Trường Sĩ quan Chính trị

-----------

(1) V.Lênin: Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.54.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội, 2011, tr.68.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.89.

(4) http://vi.wikipedia.org/wiki/Karl-Marx.    

(5) http://www.guardian.co.uk/politics/jul/17/comment.

65 năm ngày Bác Hồ vào thăm Quảng Bình

              

Trong bối cảnh đất nước chia cắt hai miền, chưa có điều kiện vào thăm miền Nam, thành đồng Tổ quốc cho thỏa lòng mong ước, để động viên nhân dân miền Nam trường kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc và trực tiếp động viên nhân dân Quảng Bình – Vĩnh Linh vượt qua khó khăn, hàn gắn viết thương chiến tranh, cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội, xứng đáng là tiền đồ của miền Bắc XHCN, với tình cảm sâu nặng của mình, Bác Hồ đã dành thời gian vào thăm Quảng Bình.

          6 giờ 45 phút, ngày 16/6/1957, chuyến máy bay mạng số hiệu Li-203 chở Bác và Đoàn cán bộ Trung ương vào Quảng Bình. Cùng đi với người có đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí Hoàng Văn Diệm, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Liên khu 4 và một số cán bộ Trung ương. Các đồng chí trong Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh, đại diện các ban ngành, đoàn thể, các vị nhân sỹ, linh mục, nhà sư tập trung đón Bác tại sân bay Đồng Hới. Các địa phương trong tỉnh và Đặc khu Vĩnh Linh cử đại diện về thị xã Đồng Hới dự mít tinh.
          8 giờ 15 phút, ngày 16/6/1957, chiếc máy bay chở Bác và Đoàn cán bộ Trung ương xuất hiện trên bầu trời Đồng Hới rồi từ từ hạ cánh xuống sân bay. Khi người bước xuống sân bay, tất cả các đại biểu đại diện cho cán bộ, đảng viên, quân và dân tỉnh nhà xúc động đón Bác trong niềm vui dâng trào.
          Đoàn xe chở Bác và Đoàn cán bộ Trung ương tư từ tiến vào thị xã Đồng Hới, dọc hai bên đường, nhân dân đổ ra đường vừa vẫy cờ chào đón Bác, vừa hoan hô nhiệt liệt. Các tầng lớp nhân dân kéo vào thành Đồng Hới, mỗi người một lá cờ trong tay với vẻ mặt rạng rỡ, xúc động.
          Vừa đặt chân đến Đồng Hới, Người đã làm việc ngay với các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bác hỏi tỉ mỉ về: Công tác xây dựng Đảng, số lượng đảng viên, tình hình đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân sau sửa sai cải cách rộng đất, tình đoàn kết giữa lương và giáo; giữa miền xuôi và miền ngược; giữa vùng mới giải phóng và vùng tự do, giữa nhân dân địa phương và cán bộ, bộ đội, đồng bào miền Nam ra tập kết,… về tình hình khôi phục và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.
          16 giờ, ngày 16/6/1957, Bác nói chuyện với ba vạn đồng bào, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quảng Bình và Đoàn Dân chính Đảng Đặc khu Vĩnh Linh tại sân vận động thị xã Đồng Hới.
          4 giờ sáng, ngày 17/6/1957, Bác dành thời gian gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 325 đóng quân tại Hải Thành, Đồng Hới. 5 giờ sáng, ngày 17/6/1957, Bác lên máy bay trở về thủ đô Hà Nội.
          Dẫu thời gian vào thăm chưa nhiều, chưa đáp ứng được lòng mong mỏi, khát vọng của quân và dân Quảng Bình, nhưng với khoảnh khắc lịch sử ấy, với các cuộc làm việc với lãnh đạo tỉnh, hay nói chuyện với nhân dân, thăm các chiến sỹ lực lượng vũ trang… Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Quảng Bình những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng với tấm lòng yêu thương vô bờ bến và hơn hết là những chỉ dẫn ân cần thể hiện rõ những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo mang tính chiến lược, kịp thời, lâu dài, sâu sắc cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và quê hương Quảng Bình.
Năm tháng trôi qua, những lời căn dặn, nhắc nhở của Người vẫn mãi mãi trường tồn và tỏa sáng trong tâm hồn mỗi một người dân Quảng Bình. Chúng ta cùng nhau ôn lại một số lời dạy của Bác.
          Về đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, Bác căn dặn: “Đẩy mạnh sản xuất phải bảo vệ sản xuất, hoa màu, lúa, tài sản cho nhân dân, phải phòng chống bão lụt. Phải tranh thủ đắp đê trước lụt; phải bảo vệ rừng, tôn trọng pháp luật Nhà nước về bảo vệ rừng, rừng vàng, biển bạc, phá rừng là phá kho vàng Nhà nước; đẩy mạnh sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm, sản xuất và tiết kiệm là hai chân để đi lên chủ nghĩa xã hội, sản xuất mà không tiết kiệm, làm chừng nào, ăn hết chừng ấy thì không còn gì để xây dựng thêm; muốn xây dựng phải có tiền – tiền ở đâu ra – Chính phủ không có tiền, tiền do nhân dân làm ra – tiền đó từ thuế. Phải giải thích, cổ động, gương mẫu trong việc thu, nộp thuế kịp thời và đầy đủ”…
          Về nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, Bác căn dặn: “Đối với Quảng Bình, nghề biển, nghề rừng cũng quan trọng không kém nghề ruộng. Hơn nữa, Quảng Bình còn có những thứ đặc biệt mà các nơi khác trên miền Bắc ít có. Xưa nay Quảng Bình nghèo khổ là vì đế quốc, phong kiến bóc lột, kìm kẹp, vì chiến tranh tàn phá. Ngày nay, chúng ta đã có hòa bình để xây dựng xã hội; nếu biết dùng đúng và dùng tốt tài nguyên và lao động của mình thì Quảng Bình sẽ giàu có, không những đời sống của nhân dân trong tỉnh được nâng lên mà còn đóng góp một phần quan trọng cho Nhà nước”.
          Trong phiên làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bác hỏi rất kỷ về tình hình đoàn kết trong Đảng, trong các tầng lớp nhân dân, đoàn kết giữa các vùng miền, giữa nhân dân địa phương và cán bộ, bộ đội, đồng bào miền Nam ra tập kết… Bác căn dặn:
          “ Đảng phải biết quan tâm đầy đủ đến đời sống quần chúng, nên chú ý đến cuộc sống của đồng bào miền núi.
          Cần phải về cơ sở luôn, có đi nhiều mới nắm được tình hình để giải quyết, không đi không biết tình hình mà giải quyết đâu”.
          Bác nhấn mạnh: “Đoàn kết nhân dân, đoàn kết càng cao, thành tích càng nhiều, thắng lợi càng lớn”.
Ngay sau khi kết thúc chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 300 cán bộ cốt cán toàn tỉnh đã họp để phát động phong trào thi đua, kiên quyết khắc phục khuyết điểm, phát huy các ưu điểm, ra sức thực hiện tốt các nhiệm vụ do Người đề ra. Tỉnh đã ra Nghị quyết phát động một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ và nhân dân để quán triệt và quyết tâm thi đua thực hiện tốt những lời Bác Hồ dạy.
Sự kiện Bác Hồ vào thăm Quảng Bình và những tình cảm sâu sắc, những lời dạy bảo ân cần, những lời khen ngợi, động viên kịp thời của Người đối với Đảng bộ và nhân dân Quảng Bình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là tiền đề quan trọng, là động lực truyền thêm sức mạnh, ý chí quật cường, động viên cán bộ, đảng viên, quân và dân tỉnh ta thi đua lao động sản xuất, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo và phát triển kinh tế xã hội, làm nên một Quảng Bình “sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”, xứng đáng là tuyến đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn, trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam.
Ôn lại những kỷ niệm sâu sắc, những tình cảm, lời dạy bảo ân cần của Bác dành cho Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình, trân trọng và tự hào trước những tình cảm, sự kỳ vọng mà Bác Hồ đã dành cho nhân dân tỉnh Quảng Bình, phát huy truyền thống quê hương “Hai giỏi”, Đảng bộ và nhân dân thị xã Ba Đồn nguyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng thị xã Ba Đồn ngày càng giàu đẹp, văn minh.