Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

KHÔNG LỢI DỤNG DỊCH BỆNH ĐỂ THỰC HIỆN MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ

 

            Khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam thì trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, đó là việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam. Đằng sau sự xuyên tạc này là những mưu đồ chính trị, “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

            Tung tin giả, phá hoại thật

             tin giả để phá hoại thật là một trong những chiêu trò của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn thường áp dụng để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong đại dịch Covid-19, ngay từ đầu năm 2020, khi dịch mới xuất hiện, tin giả đã “ăn theo” virus khiến cho dư luận hoang mang. Gần đây, khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát với biến thể Delta vô cùng nguy hiểm, khiến nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tin giả cũng “tái bùng phát” trên mạng xã hội, thậm chí chúng còn đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài xuyên tạc công tác PCD ở Việt Nam.

Khi một số địa phương triển khai giãn cách xã hội, chúng vu cáo Việt Nam vi phạm về quyền tự do đi lại, cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thực hiện “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho cuộc sống của người dân”. Nguy hiểm hơn khi chúng phỏng vấn một số trường hợp người lao động tự do, cắt ghép, rồi “củng cố” cho những luận điệu xuyên tạc của mình.

Khi Chính phủ Việt Nam quyết định lập ra “Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19” với mục đích vô cùng tốt đẹp là tiêm vaccine miễn phí cho người dân thì chúng lại bóp méo sự thật rằng chính quyền không chủ động trong ứng phó dịch bệnh. Sử dụng video, clip bị cắt xén, lồng ghép những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận; đăng bài viết có tiêu đề giật tít, nhưng nội dung thì “không có gì” chỉ để tăng tỷ lệ tương tác, lượt like nhằm mục đích câu “view”, “đánh bóng tên tuổi” và sâu xa hơn là lợi dụng điều đó để nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ của chúng ta.

            Theo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an), lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các đối tượng chống phá đã soạn thảo, tán phát hàng chục nghìn bài viết, bình luận sai sự thật chống Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự trên hàng trăm website và hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội. Nội dung tập trung vào các nhóm vấn đề: Xuyên tạc về diễn biến dịch, nguồn lây nhiễm, số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, công dụng của thuốc và vật tư y tế PCD, kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế; kích động, gây chia rẽ quan hệ ngoại giao Việt Nam với một số quốc gia; công kích, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các địa phương trong PCD, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người mắc bệnh và người có nguy cơ lây nhiễm. Chúng còn kêu gọi biểu tình, tẩy chay, phản đối việc cài đặt phần mềm Bluezone, kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài; kêu gọi tích trữ lương thực, thực phẩm, gây hoảng loạn trong quần chúng nhân dân; trục lợi kinh tế thông qua buôn bán, làm giả vật tư, thiết bị PCD...

            Điển hình của việc “tung tin giả, phá hoại thật” là bức ảnh chụp nhiều thi thể nạn nhân trong bệnh viện. Ảnh được chụp ở một nước khác thì lại bị các đối tượng gán là “chụp ở Bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh” .

Từ phản biện thành phản bội

Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt bèn nêu ra quan điểm thoạt đầu nghe rất êm tai rằng “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”. Thế nhưng bản chất của chúng lại là phản bội lại Tổ quốc, phản bội lại nhân dân. Chúng “phán” rằng: “Dịch bệnh lan rộng ở Việt Nam có nguyên nhân sâu xa là do thể chế, do một đảng lãnh đạo, là vì chống dịch theo mô hình xã hội chủ nghĩa"... Đó là những cái nhìn phiến diện, đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với nhân dân. Thủ đoạn nham hiểm của chúng là biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến hiện tượng cá biệt thành bản chất.

            Lợi dụng dịch bệnh, các đối tượng chống đối còn tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, phát triển lực lượng chống đối trong nước. Đáng chú ý, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tài trợ in hơn 1 triệu khẩu trang có hình lưỡi bò tán phát trong nước nhằm khuếch trương thanh thế; tán phát “Thư kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thả tù nhân trong đại dịch Covid-19”...

            Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lợi dụng giãn cách xã hội để móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn, bất mãn xã hội, ảo tưởng chính trị để kích động, khoét sâu bất mãn với chính quyền, hứa hẹn “cấp phát nhà miễn phí”.

Có lẽ chúng không biết hoặc cố tình không biết rằng, không phải ở Việt Nam mà ngay tại các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới cũng đều phải gặp khó khăn khi đối phó với đại dịch Covid-19

Một số người còn cho rằng, Việt Nam gặp khó trong PCD là do thể chế, do chế độ, do một đảng lãnh đạo. Họ không hiểu thực tế là nếu không có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu nền kinh tế của chúng ta không vận hành theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chắc chắn việc phòng, chống dịch bệnh của chúng ta còn gặp khó khăn gấp rất nhiều lần, số người bị bệnh, số người tử vong chắc chắn sẽ rất lớn. Nhiều tổ chức quốc tế đã đánh giá như vậy.

            Cũng cần phải nói thêm là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine ngừa Covid-19 đại trà cho toàn dân, coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này thể hiện tinh thần nhất quán “lo cho dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn.

Việt Nam là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao và là nước có tiềm lực kinh tế còn hạn hẹp, thế nhưng với phương châm: “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong gần hai năm qua. Cùng đó, chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo thường xuyên, kiên quyết và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ “ngoại giao vaccine”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chúng ta đã tổ chức khoanh vùng, dập dịch thành công ba đợt lớn và đang khống chế thành công đợt dịch thứ tư.

Nhìn lại kết quả công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận.

Tìm hiểu thực tế công tác PCD Covid-19 tại Việt Nam, mới đây, ông Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam đã đánh giá cao công tác PCD Covid-19 của Việt Nam. “Tôi hiểu rằng Chính phủ hiện đang cố gắng xây dựng lộ trình để Việt Nam thích ứng an toàn, linh hoạt với Covid-19 và tích cực chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi đất nước sang một trạng thái bình thường mới”, ông Kidong Park nói và đưa ra khuyến nghị, Chính phủ Việt Nam cần xem xét, xây dựng lộ trình thực hiện linh hoạt các biện pháp ngăn chặn thiệt hại về xã hội, kinh tế và sức khỏe do đại dịch gây ra.

            Câu trả lời từ thực tế

            Thực tế, sau thời gian nỗ lực phòng, chống, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đã từng bước được kiểm soát. Cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp của Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19. Theo báo cáo của Bộ Y tế tại cuộc họp, tính đến ngày 24-9, trong đợt dịch lần thứ tư, cả nước đã ghi nhận khoảng 734.000 ca mắc, 503.000 người đã khỏi bệnh (69%) và hơn 18.000 ca tử vong. Tuần qua, cả nước ghi nhận 72.236 ca mắc, giảm 9,7% so với tuần trước đó; số ca tử vong trong tuần giảm 12,1% so với tuần trước đó. Đã có 16/63 tỉnh, thành phố qua 14 ngày không ghi nhận ca mắc mới, 5 tỉnh không có lây nhiễm thứ phát, có một tỉnh chưa ghi nhận ca mắc nào.

Đáng chú ý, tại 23 địa phương thực hiện giãn cách, tình hình dịch đang từng bước được kiểm soát; số mắc trong 7 ngày gần đây giảm 9,8% so với 7 ngày trước. Các địa phương khác tình hình cơ bản vẫn đang được kiểm soát.

            Về tiêm chủng, tính đến hết ngày 24-9-2021, cả nước đã tiêm được 37,6 triệu liều vaccine, tỷ lệ sử dụng đạt 72% so với tổng số vaccine phân bổ, trong đó khoảng 22,3 triệu người đã tiêm 1 liều vaccine và 7,3 triệu người tiêm đủ 2 liều vaccine (tỷ lệ tiêm ít nhất 1 liều vaccine là 41,1% dân số từ 18 tuổi trở lên). Còn khoảng 14 triệu liều đang tiếp tục tiêm, trong đó có khoảng 10,5 triệu liều mới được phân bổ từ ngày 16-9-2021.

            Trên cơ sở phân tích công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua, người đứng đầu Chính phủ đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cần thấm nhuần như: Không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là khi dịch chưa đến hoặc đã kiểm soát được tình hình, đồng thời tránh hoảng hốt, mất bình tĩnh khi dịch bùng phát, lây lan. Phải nhất quán, kiên trì trong lãnh đạo, chỉ đạo, song áp dụng linh hoạt vừa tập trung, vừa phân tán căn cứ đặc thù của từng địa phương, thời điểm. Việc phân cấp thực hiện phòng, chống dịch phải xuống tận cơ sở, lấy xã, phường, thị trấn là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ”, người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch. Tổ chức xét nghiệm tầm soát theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phòng dịch tốt, nhất là tại địa bàn, đối tượng có nguy cơ cao; thấm nhuần phương châm “một đồng phòng dịch hiệu quả thì không mất hàng triệu đồng chống dịch, chưa kể đến sức khỏe, tính mạng và nhiều mất mát khác”.

Như vậy, thực tế đã trả lời về hiệu quả công tác PCD Covid-19 của chúng ta.

Trên cơ sở hiệu quả PCD, Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19 đã thống nhất chuyển chủ trương từ: “Không Covid” sang: “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”; vừa PCD hiệu quả, vừa khôi phục, phát triển kinh tế-xã hội.

            Cũng tại cuộc họp, Thủ tướng Chính phủ cho biết ngày 24-9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhất trí với đề xuất của Chính phủ về việc ban hành chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp. Thủ tướng yêu cầu thực hiện tốt chính sách này, trên tinh thần "một miếng khi đói bằng một gói khi no".

Sự thật đã được sáng tỏ. Thế nhưng các thế lực thù địch chắc chắn sẽ tiếp tục có những âm mưu, thủ đoạn mới, sẽ tiếp tục đăng đàn xuyên tạc, kích động nhằm tạo ra sự hoang mang trong xã hội. Mục đích nguy hiểm của chúng nhằm đánh lạc hướng, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD Covid-19 ở nước ta. Sâu xa hơn là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta, muốn chúng ta đi chệch hướng.

Thế nhưng dẫu có bôi nhọ và xuyên tạc đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, khi mà nhiều quốc gia, tổ chức uy tín trên thế giới đã và đang đánh giá cao Việt Nam trong xử lý đại dịch Covid-19. Điều đó khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, PCD Covid-19 nói riêng.

            VTT (St)

 

92 năm ngày mất anh hùng Nguyễn Thái Học: Cuộc đời và sự nghiệp


Lịch sử 80 năm chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã khép lại như một trang sử hào hùng về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm. Đó là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, là sự khâm phục của bạn bè thế giới. Có được truyền thống quý báu ấy chính là nhờ lòng yêu nước của mỗi người dân đất Việt được lịch sử giữ nước và dựng nước vun đắp. Chính những người con dân đất Việt đã thắp sáng và thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước căm thù giặc, thúc đẩy phong trào kháng Pháp liên tiếp nổ ra dưới mọi hình thức. Bên cạnh những vĩ nhân được nhiều người biết đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám…chúng ta không thể không nhắc đến Nguyễn Thái Học - lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng - người chiến sĩ cách mạng kiên trung.


Nguyễn Thái Học sinh năm 1904 tại làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay là xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Xuất thân trong một gia đình nông dân nho học. Thuở nhỏ, ông được bố mẹ cho theo học chữ Hán rồi lên Vĩnh Yên học chữ Pháp sau đó về Hà Nội theo học trường cao đẳng thương mại. Và cũng chính tại nơi này, Nguyễn Thái Học đã không trở thành một thương gia hay một công chức trong bộ máy chính quyền thực dân mà lại trở thành lãnh tụ cách mạng đã từng làm rung chuyển bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam trong suốt những năm 1927-1930. Những yếu tố nào đã làm nên một Nguyễn Thái Học – một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng.
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, ông được nghe cha mẹ, dân làng kể về gương chiến đấu hi sinh anh dũng vì nước quên mình của những người con của quê hương Thổ Tang - Vĩnh Tường. Hơn thế gia đình Nguyễn Thái Học lại sống ngay cạnh đình Thổ Tang - nơi thờ một vị tướng tài có công giúp vua Trần Nhân Tông đánh tan giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII. Nhưng có lẽ, yếu tố tác động mạnh mẽ đến việc hình thành tư tưởng yêu nước, căm thù giặc của Nguyễn Thái Học chính là tấm gương chống Pháp của Đội Cấn - người lãnh đạo khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917. Bởi lẽ, Đội Cấn là người làng Vũ Di - ngay cạnh Thổ Tang quê hương ông. Mặt khác, từ nhỏ Nguyễn Thái Học đã theo học chữ Hán. Học chữ hán chính là học nho học, chắc chắn tư tưởng “Trung quân ái quốc” của nho giáo không thể không tác động đến một người như Nguyễn Thái Học.
Như vật, có thể nói: Truyền thống quê hương, tư tưởng nho giáo cùng chính sách thống trị của thực dân Pháp là những yếu tố cơ bản tạo nên một Nguyễn Thái Học- yêu nước, căm thù giặc và thôi thúc ông hành động.
Trong những ngày học tập ở Hà Nội - Trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của Bắc Kì lúc bấy giờ, được tiếp xúc với nhiều xu hướng chính trị của tầng lớp trí thức tiểu tư sản thành thị, nhiều sách báo giúp ông hiểu rõ hơn nỗi khổ của người dân mất nước, tình cảnh của tầng lớp tiểu tư sản thành thị và chính sách kìm hãm kinh tế của chính quyền thực dân. Vì vậy, ông đã đề nghị Pháp tiến hành một số cải cách thúc đẩy nền kinh tế bản xứ phát triển để người dân thuộc địa dễ sống hơn. Vì vậy, năm 1925 Nguyễn Thái Học gửi thư cho toàn quyền Pháp bày tỏ nguyện vọng bênh vực, che chở cho nền công thương bản xứ và xin lập trường cao đẳng công nghệ ở Bắc Kì. Không được phúc đáp, năm 1926 ông lại gửi một bức thư nữa cho toàn quyền Đông Dương. Trong đó, ông đề xướng một dự án mở mang kinh tế, giúp đỡ dân nghèo. Những vẫn bị từ chối. Không nản, 6-1927 Nguyễn Thái Học lại gửi đến thống sứ Bắc Kì xin phép ra tờ Bán Nguyệt San Nam Thanh với mục đích nâng cao dân trí, khuyến khích phát triển nền kinh tế thuộc địa. Nhưng vẫn không được chấp nhận. Từ đó, Nguyễn Thái Học nhận ra nằng: Thực dân Pháp đem sắt máu đô hộ Việt Nam, chúng ta không thể nào dùng lối khoanh tay đối phó với súng đạn được. Vậy, muốn cứu nước chỉ có con đường vũ trang khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp.
Khi đã xác định con đường cứu nước là vũ trang khởi nghĩa, Nguyễn Thái Học đã nhanh chóng cùng một số thanh niên trí thức cùng chí hướng thành lập Việt Nam quốc dân Đảng vào ngày 25-12-1927. Đây là một chính đảng yêu nước đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc. Có thể nói, hầu hết đoàn quân tham gia và lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa đều đang ở độ tuổi thanh xuân. Họ đã lấy ngay trái tim mình để đốt lên thành những bó đuốc. Những bó đuốc lấy lửa từ những trái tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đó là những bậc anh hùng, anh thư như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Thị Giang,…
Trong bản chương trình hành động của Việt Nam quốc dân Đảng công bố năm 1929 đã nêu lên nguyên tắc tư tưởng là tự do, bình đẳng, bác ái. Chương trình của Đảng chia thành 4 thời kì. Thời kì cuối cùng bất hợp tác với chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn, cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.
Quốc dân đảng chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực, chú trọng lấy lực lương binh lính người Việt trong quân đội Pháp giác ngộ làm lực lượng chủ lực. Địa bàn hoạt động của Quốc dân đảng diễn ra tại nhiều nơi ở Bắc Kì, một số ở Trung Kì và Nam Kì.
Hoạt động của Việt Nam quốc dân Đảng gắn liền cuộc khởi nghĩa Yên Bái: 2-1929 Việt Nam quốc dân Đảng tổ chức vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba Danh ở Hà Nội. Nhân sự kiện này thực dân Pháp tiến hành một cuộc khủng bố dã man.
Bị động trước tình thế, những nhà lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam quốc dân Đảng quyết định dốc hết lực lượng nhằm thực hiện cuộc bạo động cuối cùng với quyết tâm “Không thành công cũng thành nhân”.
Đêm 9-2-1930 cuộc khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng nổ ra ở Yên Bái. Cùng đêm đó, khởi nghĩa nổ ra ở Phú Thọ, Sơn Tây. Sau đó là ở Hải Dương, Thái Bình. Ở Hà Nội cũng có đánh bom phối hợp.
Do so sánh lực lượng chênh lệch, khởi nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng thất bại nhanh chóng. Pháp trả thù dã man, 13 nhà ái quốc bị đưa đi hành hình, trong đó có Nguyễn Thái Học. Trong những giờ phút cuối đời, ông vẫn thể hiện khí phách của một chiến sĩ cách mạng kiên trung: Khi rời nhà giam ra pháp trường Nguyễn Thái Học cất cao giọng nói kêu gọi các đồng chí còn sống hãy hãy tiếp tục sự nghiệp cứu nước: “Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu, hoa tự do phải tưới bằng máu. Tổ quốc còn cần đến sự hi sinh của con dân nhiều hơn nữa. Rồi thế nào cách mạng cũng thành công. Xin chào các anh em ở lại”.
Và trên đường ra pháp trường, ông vẫn khảng khái ung dung ngâm mấy câu thơ:
“Chết cho Tổ quốc - Cái chết vinh quang.
Lòng ta sung sướng - Trí ta nhẹ nhàng”
Tại pháp trường, Nguyễn Thái Học là người cuối cùng - người thứ 13 bị dẫn tới máy chém. Người anh hùng dân tộc ấy với bộ râu quai nón mỉm cười, đưa cặp mắt sáng quắc nhìn bốn phía, nghiêng mình chào đồng bào lần cuối cùng và cất tiếng hô to: “Việt Nam muôn năm”. Lúc đó vào cái giờ khắc thiêng liêng ấy - lúc 5 giờ 35 phút ngày 17 tháng 6 năm 1930 Nguyễn Thái Học đã hy sinh.
Liệt sĩ Nguyễn Thái Học - người thanh niên trí thức rất mực yêu nước, vị lãnh tụ Việt Nam quốc dân Đảng đã anh dũng hy sinh dưới lưỡi dao máy chém của kẻ thù là thực dân Pháp tàn bạo. Lí tưởng và sự nghiệp lớn lao mà ông và đảng của ông theo đuổi đã không thành công. Nhưng tấm gương hy sinh vì nước của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đời đời bất diệt, tên tuổi của các nhà cách mạng mãi mãi được ghi nhớ và trở thành những tượng đài trong lòng dân tộc Việt Nam. Tinh thần yêu nước nồng nàn, dũng khí anh hùng bất khuất, tinh thần lạc quan của các chiến sĩ đáng được cả nước tôn vinh. Chúng ta đời đời ghi nhớ công lao hy sinh to lớn của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông.

Bàn về công tác dân số của nước ta hiện nay.

  - Để thực hiện thành công Nghị quyết 21-NQ/TW mà trọng tâm là dân số và phát triển, cần quyết liệt triển khai các mục tiêu, giải pháp mà Nghị quyết đề ra và nghiên cứu sâu sắc, vận dụng sáng tạo, rút kinh nghiệm từ những bài học thành công và chưa thành công của công tác dân số suốt 60 năm qua.

Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số. Nguồn ảnh: giadinh.net.vn.

MỘT TRONG NHỮNG VẤN  KINH TẾ, XÃ HỘI HÀNG ĐẦU CỦA NƯỚC TA, SỢI CHỈ ĐỎ XUYÊN SUỐT TRONG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG

Dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng. Vì vậy, bất kỳ sự biến đổi nào về quy mô, cơ cấu, phân bố, nhất là chất lượng dân số đều tác động to lớn đến sự phát triển bền vững của thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng theo chiều hướng hoặc tích cực, hoặc tiêu cực. Cộng đồng quốc tế và các quốc gia đều quan tâm vấn đề dân số. Liên Hợp quốc đã thành lập Quỹ Dân số (United Nation Fund Population Agency - UNFPA). Quỹ Dân số Liên hợp quốc đã và đang hỗ trợ Chương trình Dân số của hầu hết các nước trên thế giới.

 Sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số, ngay từ năm 1961 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 216/CP về việc sinh đẻ có hướng dẫn, với mục đích: “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo”. Sau thống nhất đất nước, từ Đại hội IV (1976)  đến Đại hội XIII (2021) và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đều đề ra phương hướng, mục tiêu cho công tác dân số. Đặc biệt, Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 14 tháng 1 năm 1993 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách Dân số - KHHGĐ chỉ rõ: “Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội”. Thực tế những thành tựu của công tác dân số 60 năm qua, nhất là từ sau Nghị quyết số 04-NQ/TW và tác động của những thành tựu này đến sự phát triển bền vững của đất nước chứng minh quan điểm nói trên của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn.

  Trước hết, về mặt kinh tế, ở tầm vĩ mô, theo tính toán của các nhà khoa học, việc giảm sinh dẫn tới giảm tỷ lệ tăng dân số nhưng tăng tỷ lệ lao động, hình thành nên “cơ cấu dân số vàng”. Kết quả là, chỉ riêng những biến đổi dân số đã đóng góp 1,53% vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn (1999-2009) và 0,84% giai đoạn (2009 -2019). Tuy nhiên, nếu mức sinh tiếp tục giảm, thấp thì tỷ lệ tăng lao động cũng sẽ giảm dần. Do đó, đóng góp của biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi cho tăng trưởng kinh tế sẽ giảm, thậm chí là âm. Vì vậy, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao năng suất lao động là giải pháp duy nhất cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ở tầm vi mô, do mức sinh giảm, ít con nên quy mô hộ gia đình Việt Nam ngày càng nhỏ. Kết quả các cuộc Điều tra mức sống dân cư nhiều năm nay đều cho thấy: Quy mô gia đình càng nhỏ, thu nhập và chi tiêu bình quân một người/một tháng càng lớn. Mặt khác, đóng góp của riêng việc giảm quy mô gia đình cho tăng thu nhập bình quân đầu người cũng rất đáng kể. Cụ thể là, giai đoạn (2006-2020), tính chung cả nước, quy mô gia đình giảm từ 4,2 người/hộ xuống 3,6 người/hộ đã làm tăng thu nhập bình quân đầu người lên 17%. Riêng nhóm nghèo nhất, quy mô gia đình giảm từ 4,6 người/hộ xuống 4,0 người/hộ đã làm tăng thu nhập bình quân đầu người lên 15%. Điều này có nghĩa là, giảm sinh, quy mô gia đình nhỏ đã góp phần nâng cao đời sống dân cư nói chung và xóa đói, giảm nghèo nói riêng.

Tác động lớn của biến đổi dân số đến lĩnh vực xã hội, rõ ràng nhất là đối với giáo dục. Thông thường, quy mô dân số càng tăng, tỷ lệ nhập học càng cao thì số học sinh càng nhiều. Sự phát triển dân số và quy mô giáo dục ở Việt Nam trong thế kỷ XX cũng diễn ra như vậy. Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XXI đã xảy ra “nghịch lý”: Quy mô dân số tăng, tỷ lệ nhập học cao nhưng số học sinh phổ thông lại giảm. Trong 20 năm, từ năm 2001 đến 2021, dân số nước ta tăng gần 20 triệu người nhưng số học sinh phổ thông lại giảm từ 17,9 triệu xuống 17,6 triệu! “Nghịch lý” này bắt nguồn từ mức sinh giảm nên cả tỷ lệ và số lượng dân số trong độ tuổi học sinh phổ thông đều giảm. Sức ép của dân số lên hệ thống giáo dục giảm đáng kể, làm giảm nhiều chỉ tiêu, như: Bình quân số học sinh/một trường; số học sinh/một lớp; số học sinh/một giáo viên,… tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục. Nhưng điều quan trọng nhất là, do ít con và kinh tế khá hơn nên các gia đình có thể cho cả con trai và con gái cùng đi học. Kết quả, ngày nay tỷ lệ nữ sinh cao ngang bằng, thậm chí vượt nam  giới. Năm 2021, nữ sinh chiếm 49% trong Hệ thống giáo dục phổ thông, riêng Trung học phổ thông là 53,3%! Đối với giáo dục Đại học, nữ sinh viên chiếm tới 54,6%. Nâng cao học vấn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện then chốt nâng cao năng lực, thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới.

Những thành tựu của công tác dân số cũng đóng góp rất to lớn vào việc bảo vệ tài nguyên, môi trường ở nước ta. So sánh đơn giản sau đây cho thấy rõ điều này. Giai đoạn (1961-2020), nhờ đẩy mạnh chính sách giảm sinh, Việt Nam đã khống chế được đà tăng dân số; dân số nước ta chỉ tăng 2,9 lần, năm 2020 đạt khoảng 97,3 triệu. Cũng trong khoảng thời gian nói trên, nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, dân số tăng  từ 4,0 đến 6,6 lần. Nếu phát triển như vậy thì năm 2020 Việt Nam có 135 triệu người, thậm chí có thể lên tới hơn 220 triệu! Trong điều kiện mật độ dân số của nước ta đã rất cao, gấp hơn 5 lần mật độ dân số thế giới, tránh được “bùng nổ dân số” là một kỳ tích được thế giới ghi nhận, đã giúp Việt Nam hạn chế khai thác cạn kiệt tài nguyên, giảm chất thải trong sản xuất và tiêu dùng gây ô nhiễm môi trường.

Chính vì tầm quan trọng, mức độ rộng lớn và độ phức tạp của công tác dân số nên Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác này. Năm 1993, bên cạnh Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Trung ương Đảng có Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; năm 2005, cùng với Nghị quyết số 46-NQ/TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 47-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Năm 2017, Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Nghị quyết  số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về công tác dân số trong tình hình mới, tiếp tục khẳng định: “Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”.

Năm 2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Dân số. Từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã có 4 Chiến lược Dân số thích ứng với từng thời kỳ. Như vậy, công tác dân số luôn là bộ phận quan trọng và xuyên suốt trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

CHÍNH SÁCH DÂN SỐ MỚI: CHUYỂN TRỌNG TÂM VÀ NHỮNG MỤC TIÊU LỚN

Cho đến nửa sau của thế kỷ XX, mức sinh ở nước ta vẫn cao nên sự tập trung của chính sách dân số vào giảm sinh là hoàn toàn phù hợp nhưng sang thế kỷ XXI, Việt Nam đã đạt được “mức sinh thay thế” một cách vững chắc và xuất hiện nhiều vấn đề dân số mới. Vì vậy, Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra chủ trương chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, nghĩa là đổi mới căn bản chính sách dân số đã duy trì hơn nửa thế kỷ qua; với mục tiêu mới, rộng lớn: “Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế-xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững”.

Nếu trước đây Nghị quyết 04-NQ/TW chỉ đề ra một mục tiêu là giảm sinh và cũng chỉ nêu một chỉ tiêu “mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con” thì

Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra 6 nhóm mục tiêu và cụ thể hóa bằng 25 chỉ tiêu bao trùm tất cả các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số Việt Nam. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW bao gồm tới 42 Đề án, kế hoạch do hầu hết các bộ ngành chủ trì, phối hợp. Nhưng công tác dân số hiện nay rộng lớn không chỉ bởi nhiều mục tiêu, nhiều đề án, nhiều bộ, ngành tham gia mà quan trọng là liên quan trực tiếp đến gần 100 triệu người dân Việt Nam với nhiều vấn đề, từ phòng tránh bệnh, tật cho trẻ sơ sinh đến chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường thân thiện với người cao tuổi… Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khóa XII), khi đề cập công tác dân số, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là vấn đề rất lớn và khó, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan đến việc bảo vệ, phát triển giống nòi, quốc gia, dân tộc”.

Nghị quyết số 21-NQ/TW yêu cầu đặc biệt chú trọng chất lượng dân số. Vì vậy, ngoài “duy trì mức sinh thay thế” (mỗi cặp vợ chồng có 2 con), Nghị quyết còn đề ra mục tiêu “nâng cao chất lượng dân số” thông qua các chỉ tiêu cụ thể về tỉ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn; giảm số cặp tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được tầm soát các bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất… Để đạt được những chỉ tiêu này, hôn nhân và sinh sản của người Việt phải có sự thay đổi mang tính cách mạng: Từ tự nhiên, bản năng sang kế hoạch, khoa học, văn minh; từ bị động sang chủ động; từ số lượng sang chất lượng; từ ít trách nhiệm sang trách nhiệm cao…

Thay đổi những quan niệm, định kiến, thói quen đã “đóng đinh” trong tập quán ngàn đời không phải là chuyện dễ dàng. Nói như nhà khoa học thiên tài  Albert Einstein thì: “Phá vỡ một định kiến còn khó hơn phá vỡ một nguyên tử”. Từ kinh nghiệm của công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) cũng cho chúng ta thấy rõ khó khăn, phức tạp này. Rõ ràng, kế hoạch hóa gia đình, thực hiện “gia đình 2 con” không khó khăn về kỹ thuật, không chi phí tốn kém, thậm chí được miễn phí, nhà nước khuyến khích, lại nâng cao chất lượng cuộc sống của bố mẹ và các con nhưng mô hình này chưa phải đã là phổ biến ở nhiều vùng, nhiều tỉnh. Năm 2019 vẫn còn tới 36 tỉnh, 4 vùng chưa đạt “mức sinh thay thế”, trong đó có vùng Đồng bằng sông Hồng.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ

Công tác dân số của nước ta đã trải qua 60 năm thăng trầm và phát triển. Từ lịch sử khá lâu dài đó, chúng ta đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, cả những bài học thành công và bài học chưa thành công. Để đạt được những mục tiêu rộng lớn về dân số do Nghị quyết 21-NQ/TW đề ra, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững, bao trùm của đất nước, cần nghiên cứu kỹ và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm này phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội, công nghệ... Đặc biệt là những bài học kinh nghiệm sau:

Một là, đẩy mạnh truyền thông thay đổi hành vi

Nghị quyết 21-NQ/TW là chính sách dân số mới, một trong nội dung quan trọng của chính sách này là thay đổi nhiều hành vi, tập quán trong lĩnh vực hôn nhân, sinh sản nhằm nâng cao chất lượng dân số. Vì vậy, truyền thông phải đi trước một bước. Trong thời kỳ kế hoạch hóa gia đình là trọng tâm, truyền thông được coi là giải pháp cơ bản. Chính phủ ban hành nhiều chiến lược truyền thông, thậm chí chiến lược Truyền thông DS-KHHGĐ có trước cả Chiến lược Dân số đầu tiên. Đa dạng hóa kênh truyền thông và truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ là một sáng tạo trong công tác DS-KHHGĐ ở nước ta. Phát huy bài học kinh nghiệm này, Nghị quyết 21-NQ/TW yêu cầu: “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nội dung truyền thông, giáo dục phải chuyển mạnh sang chính sách dân số và phát triển”.

Hai là, tăng cường tổ chức bộ máy làm công tác dân số. 

Suốt 30 năm (1961-1991) tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ là kiêm nhiệm, đặt trong một bộ hoặc Ủy ban chuyên ngành. Đây là nguyên nhân hạn chế thành tựu của công tác dân số trong giai đoạn này. Mức sinh giảm chậm, thậm chí mục tiêu về dân số suốt 3 nhiệm kỳ Đại hội (IV, V, VI) không thực hiện được. Nghị quyết 04-NQ/HNTW yêu cầu “phải có bộ máy chuyên trách đủ mạnh”. Thực hiện yêu cầu này, hệ thống Ủy ban DS-KHHGĐ các cấp đã được tăng cường. Ở Trung ương Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Bộ trưởng làm Chủ nhiệm. Ủy ban có bộ phận thường trực, chuyên trách và bộ phận kiêm nhiệm bao gồm đại diện của hầu hết các bộ ngành và đoàn thể chính trị-xã hội. Ủy ban DS-KHHGĐ địa phương là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp và cũng có bộ phận thường trực và bộ phận kiêm nhiệm tương tự Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ. Cùng với các giải pháp pháp khác, “bộ máy chuyên trách đủ mạnh” góp phần tạo nên thành công vượt trội của công tác dân số - thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 04-NQ/HNTW sớm 10 năm. Năm 1999, Liên Hợp Quốc tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam. Bài học đắt giá được rút ra là tổ chức bộ máy làm công tác dân số gắn liền với thành công hoặc không thành công của công tác này. Vì vậy, Nghị quyết 21-NQ/TW yêu cầu “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả”. Thực hiện chủ trương này, ngày 30/3/2021, Thủ tướng Chính phủ, tại Quyết định số 496/QĐ-TTg, đã phê duyệt Đề án Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, mạng lưới và cơ chế phối hợp liên ngành về dân số và phát triển. Một trong những mục tiêu cụ thể của Đề án này là: Giai đoạn 2021 - 2025Giữ ổn định mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân số và phát triển các cấp; đồng thời tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Giai đoạn 2026 - 2030: Tiếp tục giữ ổn định mô hình tổ chức bộ máy làm công tác dân số và phát triển các cấp.

Ba là, về đầu tư cho công tác dân số.

Công tác dân số phải vận động, khuyến khích và cung cấp dịch vụ cho hàng chục triệu người thực hiện những hành vi mới. Vì vậy, sự hỗ trợ ban đầu của Nhà nước rất quan trọng. Nghị quyết 04-NQ/HNTW nêu quan điểm: “Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao. Nhà nước cần tăng mức chi ngân sách cho công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình, đồng thời động viên sự đóng góp của cộng đồng và tranh thủ sự viện trợ của quốc tế”. Quán triệt quan điểm này, năm 1995, kinh phí đầu tư cho công tác dân số đã tăng từ 15 tỷ của những năm trước đó lên 287,7 tỷ và năm 2005 là 561 tỷ. Ngoài ngân sách nhà nước, còn có sự hỗ trợ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế. Nhờ có nguồn lực, nhiều hoạt động được tiến hành, người dân được cung cấp đầy đủ phương tiện và dịch vụ tránh thai nên mức sinh giảm nhanh và năm 2006 đã đạt mức sinh thay thế.

Hiện nay, nguồn kinh phí cho công tác dân số lại gặp thách thức lớn. Mục tiêu của chính sách dân số nhiều hơn nhưng kinh phí dành cho công tác dân số do ngân sách địa phương chịu trách nhiệm, không có kinh phí hỗ trợ từ Trung ương nên giảm nhiều. Thậm chí, năm 2021, có tỉnh không được giao kinh phí từ bất kỳ nguồn ngân sách nào. Đáng chú ý là, trong số này có những tỉnh thuộc địa bàn miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, vốn công tác dân số có nhiều khó khăn. Đây là thách thức nghiêm trọng cho việc thực hiện các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của chính sách dân số mới. Vì vậy, cần quán triệt sâu sắc và thực hiện đầy đủ quan điểm của Nghị quyết 21-NQ/TW Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số”.

Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định vị trí quan trọng của công tác dân số trong quá trình phát triển bền vững, bao trùm của đất nước. Đây cũng là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp và nhiều khó khăn. Vì vậy, để thực hiện thành công Nghị quyết 21-NQ/TW mà trọng tâm là dân số và phát triểncần quyết liệt triển khai các giải pháp mà Nghị quyết đề ra và nghiên cứu sâu sắc, vận dụng sáng tạo, rút kinh nghiệm từ những bài học thành công và chưa thành công của công tác dân số suốt 60 năm qua.

Phan Đăng Lưu - Nhà cách mạng tiền bối xuất sắc, một trí thức cách mạng tiêu biểu.

 - Phan Đăng Lưu đã góp phần xứng đáng xây dựng nền móng ban đầu cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy tổ chức và đảng viên của mình, với nhân dân, với cách mạng. Nổi bật nhất là trên trận địa tư tưởng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ.

Đồng chí Phan Đăng Lưu (hàng sau, thứ hai từ trái sang) trong phong trào vận động dân chủ 1936 – 1939 tại Huế. Ảnh: Xô Viết Bảo tàng Nghệ Tĩnh

MỘT TRÍ THỨC CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU

Phan Đăng Lưu sinh ngày 5/5/1902 trong một gia đình nhà nho, có truyền thống yêu nước ở thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Phan Đăng Lưu học chữ Hán từ năm lên sáu tuổi, gần mười năm sau bắt đầu học tiếng Pháp ở quê nhà Yên Thành và trường Tiểu học Pháp - Việt, thị xã Vinh, tháng 6/1920. Sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học, Phan Đăng Lưu thi vào trường Quốc học Huế, bậc trung học và đỗ loại giỏi; học hết năm thứ nhất, nộp đơn thi vào trường Nông nghiệp thực hành Tuyên Quang. Trong một bức thư gửi cha mẹ thời gian này, Phan Đăng Lưu đã viết: “Người trí thức không thể chỉ nghĩ đến danh lợi cho riêng mình, mà phải lo điều ích nước, lợi dân... Gần đây, con được xem một số sách về nông nghiệp Âu Tây, thấy họ có nhiều phương pháp trồng trọt, chăn nuôi tiến bộ, nhờ đó mà nước họ thịnh vượng, giàu có.”. Sau hai năm miệt mài học tập (năm 1921-1923), Phan Đăng Lưu tốt nghiệp xếp loại giỏi thứ 5.

 Chân dung đồng chí Phan Đăng Lưu và danh sách Đảng viên Tân Việt trong đó có đồng chí Phan Đăng Lưu (năm 1929). Ảnh: Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh


Khi bước vào con đường cách mạng, Phan Đăng Lưu đã rất thành thạo tiếng Pháp, giỏi chữ Hán, Bạch thoại. Tháng 5/1928, Phan Đăng Lưu được Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Đảng cử vào Huế, tham gia Ban Thường vụ của Tổng bộ và làm Ủy viên Tỉnh bộ Huế; tham gia Ban biên tập Quan Hải Tùng Thư do Đào Duy Anh đứng đầu. Cơ quan này đã biên tập, biên dịch, in và phát hành được 13 cuốn sách, trong đó Phan Đăng Lưu trực tiếp dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt hai đầu sách của tập Xã hội luận trong bộ sách của Đông Phương Văn Khố (Trung Quốc) và cuốn Lịch sử học thuyết kinh tế (quyển Hạ) theo Kinh tế học thuyết sử của Nhật Bản. Ông cũng dịch và biên soạn nhiều tài liệu: A.B.C Chủ nghĩa MácDân chủ mới; các cuốn Xã hội luậnLịch sử các học thuyết kinh tế

Phan Đăng Lưu được Tổng bộ Tân Việt hai lần cử sang Quảng Châu, Trung Quốc để bắt liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Lần đầu, ông xuất phát giữa tháng 12/1928, kết thúc giữa tháng 5/1929. Chuyến đi ấy, khi vừa đến Quảng Châu thì gặp tình huống rất bất lợi, khó khăn: Ngay trước đó, Tưởng Giới Thạch làm chính biến phản cách mạng, trở mặt đàn áp, bắt bớ các đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và những người nước ngoài  nghi là cộng sản; đồng chí Nguyễn Ái Quốc rời sang Liên Xô. Phan Đăng Lưu và người cùng đi tìm đến các địa chỉ cần thiết để tìm hiểu tình hình, thu thập sách, báo, tài liệu, nhất là tài liệu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, về chủ nghĩa Mác, tình hình cách mạng ở Liên Xô và Trung Quốc, các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin… mang về nước. Giữa tháng 9/1929, ông tiếp tục được Tổng bộ Tân Việt cử sang Trung Quốc, nhưng vừa ra đến Hải Phòng thì bị mật thám Pháp bắt đưa về giam ở Vinh, đầu năm 1930 bị đày lên nhà tù Buôn Mê Thuột. Để vận động lính Êđê và tù nhân người Thượng bị chúa ngục Pháp nhồi nhét tư tưởng chia rẽ, hằn học tù nhân người Kinh, Phan Đăng Lưu tự học tiếng Êđê, vận động anh em, đồng chí cùng học. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ông đã nói thạo tiếng Êđê, “xuất bản tờ báo” bí mật mang tên Doãn Đê tù báo.

Ở trong tù, Phan Đăng Lưu cùng các đồng chí mình học tập lý luận, trao đổi nhiều vấn đề về đấu tranh cách mạng, động viên tinh thần và chí khí chiến đấu; sáng tác thơ ca, viết báo bí mật gửi ra ngoài lên án chế độ lao tù dã man của thực dân. Ra tù sau 7 năm bị giam cầm, ông lại lao vào công việc ở xứ ủy Trung Kỳ. Khoảng giữa tháng 10/1937, để góp phần nâng cao nhận thức và trình độ lý luận phổ thông cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, với bút danh Tân Cương, Phan Đăng Lưu đã viết hai cuốn sách bỏ túi: Xã hội tư bảnThế giới cũ và thế giới mới (mỗi cuốn chỉ xấp xỉ 30 trang), cung cấp những thông tin và kiến thức cần thiết về tình hình thế giới; về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc; về giai cấp vô sản; về Liên bang Xô viết - một chế độ xã hội tốt đẹp của nhân loại…

Tháng 9/1937, Phan Đăng Lưu tham dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tại Hóc Môn, Bà Điểm, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Tháng 3/1938, Hội nghị đại biểu cả ba Xứ ủy bầu Ban Chấp hành Trung ương mới, Phan Đăng Lưu và Lê Duẩn tham gia Ban Thường vụ, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 11/1940, ngay sau khi dự Hội nghị tái lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 7), Phan Đăng Lưu trở lại Nam Kỳ và bị mật thám Pháp bắt giam, bị Tòa án thực dân Pháp kết án tử hình. Trong những ngày cuối cùng chốn lao tù, Phan Đăng Lưu vẫn cùng các đồng chí mình học tập, nghiên cứu, đánh giá và rút ra những bài học xương máu về khởi nghĩa Nam Kỳ.

Năm 1959, trong dịp thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, tại gian trưng bày ảnh các đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng ta, trước ảnh đồng chí Phan Đăng Lưu, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói: “Đồng chí Phan Đăng Lưu là một trí thức cách mạng tiêu biểu”.

SỰ NGHIỆP BÁO CHÍ, VĂN HÓA, VĂN NGHỆ

Sự nghiệp báo chí cách mạng

Như đã nêu, đầu năm 1930, Phan Đăng Lưu bị đày từ nhà tù ở Vinh vào nhà tù Buôn Mê Thuột. Ở đây, ông bí mật cho ra Doãn Ðê tù báo - tờ báo viết tay trên giấy vụn, giấy nhặt được trong tù bằng chữ Việt và chữ Êđê, ông phụ trách mục tin tức, bình luận và dạy tiếng Êđê. Các bài viết của ông ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ, nói về nỗi nhục mất nước, về quan hệ gắn bó giữa người Êđê và người Kinh, về tấm gương của những người yêu nước bị tù đày, về cách nhìn cảm thông của tù nhân với những người Êđê bị ép buộc làm những điều mà họ không muốn... Nhờ tờ báo mà mối quan hệ giữa những người tù, lính canh được cải thiện rõ rệt. Một số lính canh còn giúp những người tù yêu nước nhiều việc có ích. Dù bị cai ngục thường xuyên đánh đập, cầm cố, nhưng Phan Đăng Lưu vẫn viết nhiều bài báo, cả tiếng Việt và tiếng Pháp, bí mật gửi ra bên ngoài lên án chế độ nhà tù tàn bạo, kêu gọi dư luận bên ngoài hỗ trợ cuộc đấu tranh của tù nhân.

Vừa ra khỏi nhà tù Buôn Mê Thuột, Phan Đăng Lưu bị quản thúc ở Huế, Ông khẩn trương chắp nối liên lạc với Đảng, tiếp tục đấu tranh cách mạng. Tháng 3/1937, tại Ðông Pháp Lữ quán, số 7 đường Ðông Ba, Thành phố Huế, Ðại hội Báo chí Trung Kỳ khai mạc với sự tham gia của hơn 70 nhà báo. Phan Ðăng Lưu vừa là người lãnh đạo, vừa là nhà báo cách mạng đã hướng Đại hội vào những nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa lúc bấy giờ. Xứ ủy Trung Kỳ giao Nguyễn Chí Diểu chỉ đạo nội dung của báo Nhành Lúa (do Nguyễn Xuân Lữ làm chủ nhiệm), Phan Ðăng Lưu và các đồng chí khác mua lại tờ Sông Hương của Phan Khôi, đổi tên thành Sông Hương tục bản. Báo nêu rõ quan điểm của Ðảng, phát động quần chúng đấu tranh, tập trung cho cuộc vận động Ðông Dương Ðại hội Trung Kỳ và cuộc đón Gôđa - Đặc sứ của Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương.

Phan Đăng Lưu được Xứ ủy Trung Kỳ giao nhiệm vụ cùng các ông Hải Triều, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang, Nguyễn Sơn Trà, Xuân An, Phan Bá Nguyên, Hồ Cát, Nguyễn Cửu Thạnh chủ trương mở Hội nghị báo giới Trung Kỳ nhằm thành lập Mặt trận báo chí dân chủ, đấu tranh cho tự do báo chí. Cũng trong giai đoạn này, Đảng đề ra chiến lược, sách lược “Cải tổ các Viện Dân biểu Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Hội đồng quản hạt ở Nam Kỳ”; không gạt bỏ nghị trường mà lợi dụng nghị trường; không tẩy chay tuyển cử mà tham gia tuyển cử và Đảng cần “chuẩn bị người ứng cử vào các Viện Dân biểu, Hội đồng Thành phố”. Phan Đăng Lưu được Xứ ủy phân công trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo cuộc đấu tranh gay go, cân não này. Báo Sông Hương tục bản ra nhiều bài viết, chuyên mục, tiểu mục đặc sắc, giàu tính chiến đấu. Mục “Chiếu diện” của tác giả Nghị Toét - bút danh của Phan Đăng Lưu, “chiếu” trực tiếp vào các ứng cử viên phái hữu như Lê Thanh Cảnh, Nguyễn Quốc Túy, Trần Bá Vinh đang là ứng cử viên; vạch mặt chỉ tên những kẻ bán dân hại nước, lường gạt cử tri (như Bùi Huy Trứ, Nguyễn Quang Triệt, Cao Văn Chiến, Lâm Quang Nghị, Trần Nhật Tân, Nguyễn Đình Điển...). Với 18 ứng cử viên là người của Ðảng và có tư tưởng tiến bộ do Xứ ủy và Sông Hương tục bản giới thiệu, cổ vũ, hỗ trợ đã đắc cử Viện Dân biểu Trung Kỳ, “chiếm ghế” Viện trưởng, Viện phó và phần lớn các Ủy viên Ban Thường trực.

Ngày 24/12/1937, một số đại biểu vừa trúng cử Viện Dân biểu Trung Kỳ dưới sự gợi ý, đề xuất của Phan Ðăng Lưu đã làm đơn xin xuất bản tờ báo lấy tên là Dân. Báo Dân kết hợp chặt chẽ với các đại biểu tiến bộ trong Viện Dân biểu và phong trào cách mạng của quần chúng, tạo nên sức mạnh to lớn chống sưu cao, thuế nặng, chống áp bức bất công, đòi tự do ngôn luận, đặc biệt là đánh bại dự án thuế thân và thuế điền thổ do Khâm sứ Trung Kỳ đưa ra.

Báo Dân không tồn tại được bao lâu do kẻ địch biết đó là sự thay đổi tên gọi của Sông Hương tục bản trước đó và đứng đằng sau vẫn là Phan Ðăng Lưu, là Xứ ủy Trung Kỳ (báo ra được 17 số, từ tháng 7 đến tháng 10/1938).

Cơ quan Xứ ủy và Phan Ðăng Lưu tiếp tục cho ra tờ Dân tiến. Ðể tránh sự kiểm duyệt gắt gao của Khâm sứ Trung Kỳ, báo được biên tập ở Huế sau đó đưa vào Sài Gòn in ấn, phát hành ở Nam Kỳ. Ra được 5 số thì Dân tiến bị nhà cầm quyền đóng cửa. Không chịu khuất phục, Phan Ðăng Lưu cho ra tiếp tờ báo Dân muốn, vẫn biên tập ở Huế, in và phát hành ở Sài Gòn.

Hai năm 1940, 1941, tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp. Ở trong nước, bọn tờrốtxkít tập hợp những tên phản bội đủ màu sắc lập một mặt trận chống cộng sản, vu cáo Đảng ta; tìm cách phá ảnh hưởng của Đảng, lái quần chúng, nhất là nông dân, vào con đường đầu hàng, tiêu cực. Phan Đăng Lưu tiếp tục sử dụng vũ khí báo chí để đập tan những luận điệu phản động, lừa dối nhân dân của bọn chúng. Trong đó có báo Tiền phongCông luậnDiễn đàn Đông Dương (Tribune Indochinoise) vào cuộc đấu tranh tư tưởng quan trọng này.  

Sách “Phan Đăng Lưu - Tiểu sử”, tác giả Nguyễn Thành đã nêu ở nhiều trang, thống kê chưa đầy đủ đã có ít nhất 95 bài báo của Phan Đăng Lưu trên các báo cách mạng và tiến bộ với những bút danh: Sông Hương, Dân, Dân Muốn, Phi Bằng, Bằng Phi, Tân Cương, Lý Toét, BCH, QB, SH, KD, Mục Tiêu, Thương Tâm, KĐ... xuất bản ở Huế và Sài Gòn.

Sự nghiệp văn hóa, văn nghệ

Phan Đăng Lưu sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, ông nội và phụ thân là trí thức nông dân, thông thạo Nho, y, lý, số; ông ngoại đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, cụ là tác giả bài thơ “Vua con” nổi tiếng ở vùng quê Yên Thành. Ở tuổi trưởng thành, Phan Đăng Lưu thông thạo chữ Hán, tiếng Pháp, được đọc các tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Tôn Dật Tiên, Môngtétxkiơ, Vônte, Rútxô, thơ văn Phan Bội Châu và các chí sĩ yêu nước khác.

Khi bị giam cầm ở nhà tù Buôn Mê Thuột, Phan Đăng Lưu tiếp tục sáng tác thơ ca để động viên tinh thần đồng chí của mình và chia sẻ với tù thường phạm vốn là những người lương thiện trước đó.

Phan Đăng Lưu còn đưa các tác phẩm văn học, nhất là thơ và tiểu phẩm, vào các số báo, trang báo, vừa bám sát tính thời sự, vừa đảm bảo tính dí dỏm, châm biếm sâu cay. Có 17 tiểu phẩm như vậy đăng trên báo Sông Hương tục bản, chủ yếu ở mục “Chiếu diện” của tác giả Nghị Toét đả kích trực diện bọn bán dân hại nước trong các cuộc tranh cử.

Nhà thơ Tố Hữu kể lại câu chuyện được Phan Đăng Lưu khích lệ, gợi ý để sau đó dần trở thành nhà thơ cách mạng: “Một hôm anh hỏi tôi: - Cậu biết làm thơ không ? Tôi đáp: - Niêm luật Đường thi, ca dao, lục bát thì tôi nắm được nhưng không biết thơ có hay không. - Vậy thì tốt rồi, anh Lưu nói - Báo ta (tức báo “Dân”) hơi “khô”. Cậu biết làm thơ hãy làm những bài thơ về những người lao động nghèo khổ. Nghèo khổ không phải là số phận, mà là do đế quốc, phong kiến bóc lột, là do sưu thuế nặng nề. Những cảnh ăn mày, đầy tớ, trẻ mồ côi,… có rất nhiều điều cần viết để thức tỉnh nhân dân. Cậu cố gắng viết để đăng được mỗi số một bài hoặc vài số một bài, có thể nhờ đó dân thích đọc báo ta hơn. Nhưng phải chú ý: dễ hiểu, dễ nhớ và đừng dài dòng”.

Giữa năm 1939, khi chính quyền thực dân đàn áp báo chí, đóng cửa hàng chục tờ báo yêu nước, Phan Đăng Lưu tập trung nhiều hơn trí lực cho nghiên cứu văn học. Với bút danh Phi Bằng, ông sưu tầm, biên soạn cuốn Thơ văn các nhà chí sĩ Việt Nam, sách được cụ Huỳnh Thúc Kháng viết lời tựa (in trên báo Tiếng dân năm 1939). 22 chí sĩ được lựa chọn, giới thiệu trong sách đều là những nhà yêu nước, anh dũng chống xâm lược Pháp. Ông còn viết loạt bài “Văn thơ của các chí sĩ Việt Nam”; góp nhiều ý kiến đối với đồng chí Hải Triều trong cuộc tranh luận “Văn học vị nghệ thuật” hay “Văn học vị nhân sinh” lúc đó.

Có một tác phẩm văn học đặc biệt “Thư viết từ khám tử hình” mà tác giả là Phan Đăng Lưu. Bức thư này ông gửi cho con trai yêu quý trước giờ ly biệt vĩnh viễn. Bức thư viết bằng tiếng Pháp, một thứ ngôn ngữ Pháp chuẩn mực, điêu luyện, nội dung đa nghĩa, nhiều ẩn ý do phải vượt qua song sắt khám tử hình, vượt qua cả sự kiểm duyệt khắt khe của kẻ thù.

Phan Đăng Lưu đã sống đẹp đẽ, chiến đấu, hy sinh kiên cường, dũng cảm, lẫm liệt. Ông đã và sẽ mãi mãi bất tử bởi lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; tư duy, phương pháp công tác vững vàng, tài tình; bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo sắc sảo, mẫn tiệp. Ông là một trí thức cách mạng lớn, tiêu biểu; một nhà báo, nhà văn tài ba, chuyên nghiệp; một nhà lãnh đạo xuất chúng. Ông đã để lại tấm gương sáng ngời về nhiều mặt: tri thức, tài năng, bản lĩnh, đạo đức, phong cách, đức khiêm tốn, nghĩa xả thân và nhiều bài học quý giá, dài lâu. Ông đã góp phần xứng đáng xây dựng nền móng ban đầu cho sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy tổ chức và đảng viên của mình, với nhân dân, với cách mạng, nổi bật nhất là trên trận địa tư tưởng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ./.