Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

 

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

Trên mạng xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã đăng tin, bài cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có nói đến vấn đề bình đẳng giới hiện nay như: Việt Nam phân biệt đối xử với phụ nữ, Việt Nam không có bình đẳng giới, Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến” là phụ nữ và trẻ em... Thậm chí, những đối tượng trên còn nhận định phụ nữ Việt Nam không có tự do, không có quyền gì quyết định cuộc đời.

Để làm được điều này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ra sức xuyên tạc, bóp méo sự thật; phủ nhận thành tựu, thực tiễn các giá trị lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó có bình đẳng giới tại Việt Nam. Xuyên tạc, vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền trong bình đẳng giới, ngăn cản tự do ngôn luận, tự do hội họp; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự; tung hô, cổ vũ, cường điệu hóa các giá trị dân chủ tư sản “kiểu Mỹ” và phương Tây; xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền cơ bản của con người, không bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em, chèn ép “những người bất đồng chính kiến”…

Ngoài ra, các thế lực xấu thúc đẩy hình thành hội, nhóm, tổ chức chính trị đối lập do các đối tượng chống đối là phụ nữ cầm đầu như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội dân oan”... Chiêu bài của các thế lực thù địch là lợi dụng vẻ bề ngoài các tổ chức này đóng vai trò “phản biện xã hội” giúp đưa tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào đóng góp xây dựng đất nước. Nhưng thực chất là cổ súy đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau; từ đa nguyên về tư tưởng dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị. Lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam.

Thông qua các hội nhóm này, chúng huấn luyện cho thành viên để kích động họ viết đơn kiến nghị, đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự… Khi các thông tin chống phá của chúng bị bóc trần sự thật, các đối tượng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do, bất bình đẳng về giới, phân biệt đối xử, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước. Đồng thời vận động các tổ chức quốc tế trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật là phụ nữ bị bắt, xử lý ở trong nước… nhằm cổ suý, khích lệ số đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn.

Có thể thấy rõ, những thủ đoạn đổi trắng, thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, sự thật nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch tuy không phải chiêu trò mới nhưng rất nguy hiểm. Những luận điệu xuyên tạc với thủ đoạn chống phá tinh vi lợi dụng không gian mạng nhằm “nhào nặn”, “vá víu” các sự kiện, tư duy ngụy biện xảo trá, đánh tráo khái niệm, suy diễn méo mó làm ảnh hưởng hình ảnh, các nỗ lực của Việt Nam trong thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền và bình đẳng giới.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Nguồn:CAND

Thủ tướng Hun Sen: Dù chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước

 

Thủ tướng Hun Sen: Dù chỉ có 1% hy vọng, tôi vẫn phải sang Việt Nam tìm đường cứu nước

Ngày 20/6, tại khu vực biên giới giữa huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đã diễn ra các hoạt động trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Samdech Techo Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu Lược ghi bài phát biểu của Thủ tướng Campuchia Hun Sen tại Lễ kỷ niệm.

- Nhiệt liệt chúc mừng Vương quốc Campuchia!

- Nhiệt liệt chúc quan hệ Việt Nam -Campuchia mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững!

- Kính thưa Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam!

- Kính thưa các Samdech, quý ông bà, các quý khách trong nước và quốc tế!

- Các sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sĩ lực lượng vũ trang và đại biểu thanh niên đã tới tham dự buổi lễ hôm nay!

Hôm nay là "Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình tiến tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" (20/6/1977 – 20/6/2022) và chúng ta tổ chức khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng niệm ở khu Koh Thmar X16 ở huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ngài Phạm Minh Chính, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đoàn đại biểu đến dự buổi lễ, gặp gỡ người dân Campuchia và khánh thành một số hạng mục trong khu tưởng niệm này.

Cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cho tôi thắp hương và gặp gỡ những người dân Việt Nam đã cứu mạng tôi 45 năm về trước.

Nhân đây, tôi xin đưa ra một số câu hỏi để các đại biểu trong và ngoài nước cùng thảo luận và làm rõ.

Câu hỏi thứ nhất: Tôi có nên sang Việt Nam hay không? Nếu tôi không thực hiện việc này (sang Việt Nam tìm đường cứu nước) thì rõ ràng tôi sẽ chết và không rõ diễn biến sau này sẽ thế nào vì thời kỳ đó, không ai có thể xin gì từ Pol Pot… Pol Pot có thể giết hết mọi người.

Câu hỏi thứ hai: Hành trình này dẫn đến đâu? Hành trình tiến tới lật đổ chế độ Pol Pot đã mang lại hòa bình, tiến tới Hiệp định hòa bình Paris, tiếp tục tiến tới thắng lợi cuối cùng là thực hiện chính sách "Thắng - Thắng" hòa hợp và độc lập dân tộc, vượt qua mọi khó khăn để trở thành nước có thu nhập trung bình, với tỷ lệ đói nghèo dưới 10%.

Năm nay là Lễ kỷ niệm 45 năm hành trình của tôi và cũng kỷ niệm 55 năm quan hệ ngoại giao hai nước. Tôi cần giải thích để mọi người hiểu là tôi có 4 lựa chọn vào thời điểm đó:

- Sử dụng lực lượng khoảng 1 Trung đoàn của tôi khoảng 2.000 người, sau này bị chia nhỏ và một số bị giết. Tôi có thể chỉ huy 1.500 người tấn công huyện Memot này. Tuy nhiên cách này rất liều lĩnh và lực lượng này có thể bị tiêu diệt sau vài tuần.

- Sang Việt Nam để xây dựng lại lực lượng.

- Không làm gì cả để Pol Pot giết.

- Tự sát.

Cuối cùng tôi đã quyết định lựa chọn thứ hai là tìm đường sang Việt Nam để xây dựng lại tổ chức kháng chiến. Để đưa ra lựa chọn này là rất khó khăn bởi tôi phải rời xa tổ quốc, rời xa người vợ đang mang thai 5 tháng, không phải chuyện đùa đối với một thanh niên mới chỉ 25 tuổi như tôi hồi đó. Tuy nhiên, chỉ khoanh tay nhìn hay để Pol Pot giết hại hoặc tự sát đều không phải lựa chọn tốt. Dù chỉ có 1% hy vọng, hoặc ít hơn tôi vẫn phải làm việc này.

Ngài Phạm Minh Chính vừa rồi đã tổng kết rất rõ ràng về quan hệ giữa hai nước chúng ta trong giai đoạn lịch sử này. Những năm 1970 lực lượng Campuchia rất nhỏ, quân đội Việt Nam là chủ lực, luôn đi trước tấn công, quân đội Campuchia đi sau…

Trong 5 người chúng tôi sang Việt Nam thời đó, 2 người đã mất. Tôi đã quyết định đúng khi không đưa cả Trung đoàn sang mà chỉ đưa một số người, trong đó có 4 người sắp bị Pol Pot bắt. Nếu mang nhiều người sẽ bị hiểu lầm là mang quân sang tấn công Việt Nam, bởi lúc đó Pol Pot đã tấn công một số khu vực của Việt Nam.

Đó là thời điểm rất nguy nan. Khi sang đến Việt Nam, tôi nhìn về phía Campuchia và nước mắt lưng tròng, tự nghĩ 13 tuổi đã phải rời xa gia đình do không có trường học và 25 tuổi phải rời bỏ tổ quốc. Sáng nay lúc thắp hương tại địa điểm dừng chân khi vào Việt Nam, tôi đã khóc… Tôi không cầm được nước mắt vì những đau khổ của mình 45 năm trước. Tôi tưởng tôi sẽ bị bắt lúc vào Việt Nam, nhưng ngược lại tôi lại được chào đón và được mời ăn bữa cơm do người Việt Nam nấu… Chúng tôi hồi ấy không được ăn cơm đã hơn một năm rồi. Vào lúc 2 giờ chiều hôm trước, tôi đã cho mở kho lương và chia cho binh sỹ của cả Trung đoàn, và tôi không nhận bất cứ hạt gạo nào.

Khi rời Campuchia sang Việt Nam, Tôi phải viết thư cho vợ, một bức thư rất khó viết, vì tôi không dám viết trong thư sẽ đi đâu, và không rõ khi viết xong bức thư này có chết hay không; hoặc khi sang bên kia biên giới bị đánh úp bởi một lực lượng nào đó… Bức thư này đang được dựng thành phim. Giờ đang có một bộ phim quay được 20 phần trăm; có khoảng 50 tập cho đến 54 tập, sẽ ra mắt vào năm 2023.

Nếu không có ngày 20/6/1977 thì cũng không có ngày 12/5/1978, và nếu không có ngày 12/5/1978 (ngày thành lập Lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia, đơn vị tiền thân của cách mạng Campuchia do Samdech Hun Sen làm chỉ huy trưởng) thì cũng không có ngày 02/12/1978 (ngày thành lập Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia do Samdech Heng Som-rin làm Chủ tịch, Samdech Hun Sen làm Ủy viên).

Tôi không phải là người chỉ huy quân đội mà là người thành lập quân đội. Việt Nam đã đồng ý cho tôi xây dựng lực lượng sau khi tôi gặp ngài Trần Văn Trà lúc đó là Tư lệnh Quân khu 7, và ngài Văn Tiến Dũng - Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (ngày 27/9/77). Ngài Trần Văn Trà nói với tôi Việt Nam chỉ hỗ trợ về hậu cần, huấn luyện, về chính trị thì Campuchia chịu trách nhiệm. Tôi nói không ai hiểu rõ người Campuchia hơn người Campuchia và người soạn giáo trình cho quân đội chính là tôi.

Việt Nam đã dành đất gìn giữ hài cốt quân nhân chúng ta ở Việt Nam. Bây giờ để cho các quý Ngài (Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Sar Kheng và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Tea Banh) xem xét có nên mang hết số hài cốt về Campuchia hay không và chôn cất tại khu vực lịch sử này. Việt Nam đã và đang hồi hương hài cốt quân nhân Việt Nam, chúng ta cũng nên hồi hương hài cốt của các chiến sỹ Mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia.

Tháng 5/1978, có nhóm nổi dậy của Samdech Heng Sam- rin và Samdech Chia Xim và chúng tôi đã bắt tay cùng nhau để mở rộng lực lượng kháng chiến; kết hợp với các lực lượng yêu nước khác thành lập Mặt trận đoàn kết cứu quốc của Campuchia. Thông qua việc thành lập Mặt trận này vào ngày 02/12/1978 mà ta tiến tới giải phóng đất nước vào ngày 07/1/1979, một số bà con đã biết, và lịch sử cũng khắc ghi về sự can thiệp của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot. Và muốn biết việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia đúng hay sai thì hãy hỏi Tòa án hỗn hợp Liên Hợp Quốc và Campuchia. Bản án của tòa án này đối với bè lũ Pol Pot là sự công nhận của Liên Hợp Quốc rằng hành động của Việt Nam là đúng đắn, nếu hành động của Việt Nam không đúng, cần gì phải xét xử bọn Khmer Đỏ.

Một số người nói rằng tôi là người dẫn quân đội Việt Nam vào "giết hại" nhân dân Campuchia; vậy xin hỏi có bao nhiêu người dân Campuchia bị Việt Nam giết hại? Hay là khởi đầu từ chỗ nhân dân Campuchia chỉ có 5 triệu người, ngày nay đã lên đến 17 triệu; như vậy sau 45 năm kể từ khởi đầu hành trình cứu nước của tôi thì dân số của Campuchia đã tăng thêm 12 triệu.

Một số người nói tôi có tội khi dẫn quân đội Việt Nam vào Campuchia. Giờ hãy đi hỏi Tòa án hỗn hợp quốc tế-Campuchia. Tòa án này được lập nên bởi Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để xét xử Khmer đỏ về tội ác chống lại loài người….

Nhờ Việt Nam giúp đỡ cứu tính mạng người dân Campuchia, dù chúng ta phải chịu sự bất công trong một thời gian dài khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia bị Liên Hợp Quốc áp đặt trừng phạt, Việt Nam cũng bị "trừng phạt" với cáo buộc xâm lược Campuchia. Tuy nhiên, giờ đây Việt Nam đã được nhận lại công lý cùng với Đảng Nhân dân Campuchia. Thành công của việc xét xử Khmer Đỏ đã mang lại công bằng cho lực lượng kháng chiến của Campuchia với sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam.

Tôi xin khẳng định không phải Việt Nam rút quân sau Hiệp định Hòa bình Paris và cần làm rõ điểm này. Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia vào ngày 30/9/1989, nghĩa là trước Hiệp định Hòa bình Paris 2 năm. Đó là thời điểm ta đang xây dựng lực lượng của mình, tuy nhiên chúng ta có kể kiểm soát được tình hình. Và mặt quốc tế về vấn đề Campuchia cũng đã kết thúc, bởi giải pháp về Campuchia có hai vấn đề là bối cảnh trong nước và quốc tế. Vì vậy, khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia thì mặt quốc tế được giải quyết, chỉ còn lại mặt nội bộ, mang lại cho Campuchia cơ hội cho nhiều bên liên quan cùng tham gia giải quyết, kể cả các Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, để đạt được Hiệp định hòa bình Paris. Đây là điểm lịch sử mà ta cần nhắc lại, bởi một số người cho rằng Việt Nam rút quân là do Hiệp định Hòa bình Paris. Điều này không đúng với tình hình thực tế ở Campuchia….

Dịp kỷ niệm 45 năm hành trình cứu nước của tôi cũng trùng với dịp kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia. Tôi vừa ký thư gửi Ngài Thủ tướng Phạm Minh Chính chúc mừng. Đảng Nhân dân Campuchia đã có quan hệ với Việt Nam trong 2/3 quãng thời gian này.

Nhiều năm qua Việt Nam và Campuchia luôn nỗ lực trong công tác biên giới; nhờ đó chúng ta đã ký văn kiện công nhận thành quả 84% phân giới cắm mốc. Chúng ta đang tiếp tục giải quyết 16% còn lại. Hai bên đang tiếp tục thảo luận với nhau. Một số người nói rằng Hun Sen "chịu ơn" Việt Nam và phải cắt đất cho Việt Nam. Nếu tôi cắt đất cho Việt Nam thì đã không cần phải bỏ ra thời gian 41 năm để đàm phán với Việt Nam. Nếu Việt Nam muốn đất Campuchia thì Việt Nam đã lấy từ khi còn có quân đội ở Campuchia. Vào thời điểm đó, mặc dù Việt Nam đóng quân ở Campuchia, tôi với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao đã ký kết Hiệp ước vùng nước lịch sử. Chúng ta cũng đã ký Hiệp định về quy chế biên giới năm 1983 và Hiệp ước về hoạch định biên giới năm 1985. Năm 2005 tôi đã cùng với Ngài Phan Văn Khải ký Hiệp ước bổ sung 2005. Vào năm 2019, tôi đã cùng Ngài Nguyễn Xuân Phúc ký Hiệp ước bổ sung 2019….

Tôi xin khẳng định với nhân dân Campuchia trong và ngoài nước, thông qua báo chí truyền thông và trước mặt Ngài Thủ tướng Việt Nam tôi không có quyền cho Việt Nam đất, dù chỉ 1 milimet, và tôi cũng không muốn đất Việt Nam dù chỉ 1 milimet… Việt Nam không có nhu cầu lấy đất của ta, ta cũng không có nhu cầu lấy đất Việt Nam.

Như Ngài Phạm Minh Chính nói, chỉ mới có 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Campuchia đã đạt trên 5 tỷ USD. Trước khi có dịch COVID-19, chúng ta chỉ đề ra mục tiêu 5 tỷ USD cho cả năm; nhưng chúng ta đã đạt được hơn 9 tỷ USD. Hy vọng rằng năm nay kim ngạch thương mại song phương sẽ đạt trêm 10 tỷ USD bởi đường biên giới của chúng ta là đường biên giới hòa bình, hợp tác để phát triển. Ở khu vực này (giữa tỉnh Tbong Khmum và Bình Phước) sau này có thể mở cửa khẩu quốc tế. Hiện nay chưa thống nhất được vì chúng ta còn có một số việc cần phải làm và cũng cần xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo đề nghị của ngài Sao Sokha (Phó Tổng Tư lệnh quân đội Hoàng gia Campuchia) và ngài Chea Sophara (Bộ trưởng Bộ Quy hoạch đô thị, đất đai và xây dựng), tôi đã quyết định giữ lại 1.176 hecta ở khu vực này để dự phòng mở khu kinh tế đặc biệt, xây dựng nhà máy hoặc sau này có thể trở thành nơi trao đổi hàng hóa bởi khu vực này gần với cảng biển của Việt Nam… Hoặc có thể trở thành khu chế biến, bởi nông sản của Campuchia ở đây và khu vực Đông bắc rất nhiều. Tôi đề nghị hai bên xem xét về một số cơ chế, và tôi muốn có một số quy định đặc biệt đối với khu vực này… tạo điều kiện cho người dân hai bên qua lại.

Tôi rất vui mừng với Lễ kỷ niệm ngày hôm này và bài phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính đại diện cho phía Việt Nam. Tôi rất hài lòng ôn lại quá trình lịch sử đã gắn kết hai dân tộc chúng ta. Trước khi buổi lễ bắt đầu, tôi đã sang phía Việt Nam, gặp gỡ những người đã cưu mang, giúp đỡ tôi vào thời điểm đó. Đối với tôi, một bữa cơm thời đó có giá trị bằng hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu tấn gạo của ngày hôm nay. Chính vì vậy nên tôi mới nói rằng: "Gian nan mới biết bạn hiền, hoạn nạn mới hiểu lòng nhau" …

Xin cảm ơn sự tham gia của các Samdech, các quý ông, quý bà…

Chúc mối quan hệ Campuchia – Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

 

 

Phê phán một số luận điểm sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam

 Lợi ích quốc gia - dân tộc là một vấn đề vô cùng hệ trọng đối với tất cả các nước trên thế giới. Bài viết khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, nhất quán trong chính sách đối nội và đối ngoại. Điều này không chỉ thể hiện trong quan điểm, chủ trương, chính sách mà thực tiễn cũng đã chứng minh. Đồng thời, bài viết phê phán những luận điệu xuyên tạc vấn đề này nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị.

1. Về lợi ích quốc gia - dân tộc

Lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là kim chỉ nam trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Nó bao hàm trong đó “tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng cao không ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc”(1).

Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng đồng nhất với lợi ích dân tộc. “Lợi ích quốc gia thiên về đại diện lợi ích của giai cấp cầm quyền. Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của mọi người dân của một nước. Khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc có hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên”(2). Đã từng có trường hợp, giới cầm quyền hy sinh lợi ích dân tộc vì lợi ích giai cấp, lợi ích phe nhóm. Năm 1870, khi thủ đô Paris (Pháp) bị quân Phổ bao vây thì Chính phủ vệ quốc của giai cấp tư sản lại đầu hàng, không đứng về phía nhân dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc.  

Nội hàm của lợi ích quốc gia - dân tộc cũng có sự khác nhau trong từng thời điểm lịch sử. Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc là độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước, lợi ích quốc gia - dân tộc không chỉ là giành độc lập dân tộc để giữ chủ quyền lãnh thổ mà còn là đi lên CNXH. Nhưng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mục tiêu độc lập dân tộc, giữ chủ quyền lãnh thổ được đặt lên trên. 

Từ khi thống nhất đất nước đến nay, lợi ích cốt lõi quốc gia - dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN. Hiện nay, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam được thống nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(3).

Ngày nay, lợi ích giữa các quốc gia được thể hiện trên cơ sở vừa hợp tác, vừa cạnh tranh quyết liệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, song bên cạnh đó vẫn có những mâu thuẫn, xung đột diễn ra dưới nhiều hình thức rất phức tạp. Vì vậy, việc bảo đảm được lợi ích quốc gia - dân tộc là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc gia nhằm bảo vệ đất nước và thực hiện hợp tác quốc tế. 

Trong khi đó, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm đang là một trong những nguy cơ gây tổn hại đến sự phát triển đất nước, lợi ích của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chỉ có thể giữ vững những thành quả cách mạng mà chúng ta đã đạt được khi “luôn ghi nhớ trong tâm khảm của mình rằng, lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”(4).

Những thành tựu, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của Việt Nam đạt được như ngày nay đã chứng minh quan điểm đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt. Tuy nhiên, hiện nay đang có một số luận điểm thể hiện sự nhận thức phiến diện phạm trù lợi ích quốc gia - dân tộc; nguy hiểm hơn có luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc cũng như gây mất ổn định chính trị ở nước ta. 

2. Một số luận điệu sai trái, xuyên tạc về lợi ích quốc gia - dân tộc 

Thứ nhất, luận điệu cho rằng bảo vệ chế độ XHCN không phải là nội hàm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc

Ý kiến này cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một chế độ chính trị hay một đảng phái nào”. Thậm chí, những người này còn tuyên truyền rằng phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ CNXH thì đất nước mới có điều kiện để bảo đảm và giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia. Họ còn đưa ra luận điệu đòi “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc” để giữ gìn độc lập, chủ quyền đất nước, lợi ích quốc gia dân tộc(5). Bản chất của luận điệu này chính là muốn tách rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. 

Thực tiễn lịch sử của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho thấy, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi theo con đường phong kiến hay tư sản đều thất bại. Trên hành trình tìm đường cứu nước, từ việc tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(6). Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã chứng minh sự lựa chọn đó là đúng đắn. 

Nhưng CNXH không chỉ là mục tiêu để giành độc lập dân tộc, mà việc thực hiện các mục tiêu của CNXH còn là cơ sở để củng cố vững chắc độc lập dân tộc và các giá trị của độc lập dân tộc mới được thực hiện đầy đủ. Đối với Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc là một nền độc lập thật sự chứ không phải là thứ “độc lập giả hiệu”, “độc lập nửa vời”, “độc lập hình thức”. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, nền độc lập đó phải gắn với dân chủ, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn với CNXH. Bởi vì: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(7)

Thực tiễn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển, trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Thu nhập bình quân đầu người từ 200 USD năm 1990 lên 2.779 USD năm 2020. Quy mô nền kinh tế nước ta đạt khoảng 271,2 tỷ USD năm 2020(8). Năm 2019, tăng trưởng GDP cả nước đạt 7,02%. Năm 2020, dưới tác động của đại dịch Covid-19, nhiều nước trên thế giới đã rơi vào suy thoái. Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia hiếm hoi duy trì tăng trưởng dương (+2,91%), dịch bệnh được kiểm soát, bảo đảm an sinh xã hội(9). Kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định song phương với hơn 100 nước. Văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Thành tựu về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019(10)

Những thành tựu đó của chúng ta đã được thế giới ghi nhận. Bằng chứng là, Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017, Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016 - 2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhiệm ba trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. 

Những thành tựu trên là minh chứng cho sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể giải quyết căn cơ vấn đề độc lập cho dân tộc và cuộc sống tự do, hạnh phúc cho số đông nhân dân. Thực tiễn Việt Nam, từ khi có Đảng Cộng sản, có Nhà nước XHCN, nhất là 35 năm đổi mới, đã chứng minh điều này. Trong đại dịch Covid-19, những thành công đạt được trong hỗ trợ người dân chăm lo sức khỏe, phát triển kinh tế, ổn định đời sống đã minh chứng ở Việt Nam “không ai bị bỏ lại phía sau”. Chúng ta không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”(11).  

Những thành tựu đó một lần nữa chứng minh, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc ở Việt Nam phải bảo vệ cả độc lập chủ quyền, bảo vệ nhân dân thống nhất với bảo vệ chế độ XHCN. 

Thứ hai: luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam không đại diện cho lợi ích quốc gia - dân tộc và bất cứ lực lượng nào đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết đều có thể trở thành lực lượng lãnh đạo.

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã tung nhiều thông tin xuyên tạc, như: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”(12)... Lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, nhiều kẻ đã rêu rao: “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(13). Trong khi Đảng nhận rõ những hạn chế, tăng cường chỉnh đốn Đảng, chúng lại cố tình phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho rằng những hành động đó không phải vì lợi ích dân tộc mà chỉ nhằm “che mắt thế gian”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “chỉ dám đánh con tôm, con tép”(14)... Do đó, họ cho rằng, lực lượng nào lãnh đạo không quan trọng, miễn là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Đây là quan điểm sai trái, muốn tách rời Đảng với dân tộc, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với toàn xã hội. 

Trước hết, cần khẳng định, ở Việt Nam, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh để lãnh đạo đất nước, mà cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực sự vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong lịch sử, đã xuất hiện những lực lượng muốn vươn lên vị trí lãnh đạo nhưng hoặc không đủ khả năng hoặc là những kẻ cơ hội. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản xuất hiện thêm hai đảng là Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt cách) và nhiều tổ chức, đảng phái chính trị khác. Thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản, các đảng phái khác không đại diện cho lợi ích của nhân dân và dân tộc. Khi quân Trung Hoa Dân quốc rời khỏi Việt Nam, hai đảng cũng rút theo. Như vậy, những đảng phái không đứng về phía nhân dân, không thực sự mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân loại bỏ. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự lựa chọn của lịch sử, của nhân dân.

Sự lựa chọn đó là đúng đắn. Kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hơn 92 năm qua, thành công của Đảng có được vì lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời, lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được bảo đảm khi đặt đưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này hoàn toàn khác với đảng chính trị trong thể chế đa đảng, khi đảng đó chỉ đại biểu cho một nhóm lợi ích nhất định, mà trong rất nhiều trường hợp lợi ích cục bộ của đảng phái mâu thuẫn, xung đột với lợi ích chung của xã hội.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, bất cứ người nào, không phân biệt thành phần xuất thân, khi được giác ngộ lý tưởng cách mạng, tự nguyện đứng trên lập trường giai cấp công nhân để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thực hiện theo Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, đều được bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là “đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(15). Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của nhân dân; Đảng đấu tranh kiên quyết với mọi biểu hiện chủ nghĩa biệt phái, “lợi ích nhóm”, không chỉ có nguy cơ gây chia rẽ nội bộ mà còn làm suy giảm năng lực đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã chứng minh, Đảng luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, khi phát xít Nhật vào Đông Dương, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra rằng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”(16), lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trở thành Ðảng cầm quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc vẫn được Ðảng đặt lên hàng đầu, tất cả vì đoàn kết dân tộc, giữ vững nền độc lập vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 

Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phải chống thù trong, giặc ngoài, Ðảng Cộng sản phải rút vào hoạt động bí mật, “Ðể tỏ rằng: những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc”(17). Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, những người cộng sản luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh và chấp nhận hy sinh vì Tổ quốc. 

Cũng vì luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, Đảng sẵn sàng thẳng thắn nhìn nhận sai lầm, khuyết điểm để sửa sai. Năm 1939, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ với bút danh Trí Cường đã viết tác phẩm Tự chỉ trích, một mẫu mực về đấu tranh tự phê bình và phê bình, làm rõ những khuyết điểm của Đảng khi không đoàn kết, không nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân trong cuộc bầu cử vào Viện Dân biểu, Hội đồng Quản hạt ở Nam Kỳ... Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Sửa đổi lối làm việc với tinh thần tự phê bình nghiêm túc. Đến Đại hội VI, Đảng đã tự phê bình và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Tinh thần thẳng thắn này tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương sáu (lần hai) Khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sau khi đất nước thống nhất, bước sang giai đoạn xây dựng CNXH, lợi ích quốc gia - dân tộc vẫn luôn là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng nhận thức sâu sắc qua các kỳ Đại hội, nhất là thời kỳ đổi mới. Hội nghị Trung ương 8 khóa IX (tháng 7-2003) chỉ rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của Tổ quốc”(18). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định, mục tiêu của đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Như vậy, vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Đảng khẳng định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi”(19)

Cuộc chiến chống tham nhũng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã khẳng định, tất cả những cán bộ đảng viên chỉ vì lợi ích cá nhân, vì lợi ích nhóm mà bỏ quên và làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, đều bị nghiêm trị. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được kết quả tích cực. Các cấp ủy đã kiểm tra gần 265.000 tổ chức đảng viên và trên 1,1 triệu đảng viên. Trong đó, đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 229 đảng viên(20)

Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, chung sức, đồng lòng, khoanh vùng, kiểm soát, đón người Việt từ vùng dịch về, hỗ trợ doanh nghiệp, những đối tượng yếu thế trong xã hội... Tổ chức Y tế thế giới, nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia, báo chí các nước ghi nhận và đánh giá cao kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ những thành tựu đó, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng đã tăng lên rất nhiều, cho thấy sự ghi nhận của nhân dân đối với sự nỗ lực, tinh thần vì dân, vì nước của đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Thứ ba, luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam không bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, biển đảo.

Trước một số sự việc liên quan đến vấn đề về biên giới lãnh thổ, nhất là vấn đề ở Biển Đông, có luận điệu cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam vì vấn đề hệ tư tưởng mà “bỏ quên” lợi ích quốc gia - dân tộc. Thậm tệ hơn, họ xuyên tạc trắng trợn khi cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam “nhu nhược” trong đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển; những đối sách của Đảng, Nhà nước né tránh vấn đề Biển Đông. Và rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam đã “thỏa thuận” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, “Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”, Việt Nam và Trung Quốc “ngầm thỏa thuận” để không làm căng thẳng tình hình Biển Đông(21). Thậm chí có ý kiến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã bán nước cho Trung Quốc vì lợi ích của Đảng, vì cùng chung ý thức hệ(22).

Lợi dụng, dựa dẫm vào những luận điệu xuyên tạc trên và “nhân danh”  “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”, vì “lòng yêu nước”, một số kẻ gây rối, kích động nhân dân chống phá Đảng, Nhà nước; gây ra một số vụ bạo loạn, làm phức tạp tình hình xã hội, tạo hận thù dân tộc, chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam. 

Phải khẳng định lại lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tất cả phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Việt Nam sẽ không bao giờ nhân nhượng trước những gì thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”(23). Bên cạnh đó, cũng phải bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, Việt Nam cần giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách “khôn khéo, kiên quyết” bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hoàn toàn không phải là “nhu nhược” hay vì “cùng ý thức hệ” như những kẻ chống phá xuyên tạc. 

Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta luôn nhớ những bài học của ông cha trong ứng xử với triều đình phong kiến phương Bắc. Chẳng hạn như chính sách “Trong xưng đế, ngoài xưng vương”, bề ngoài trên danh nghĩa chịu “thần phục”, chấp nhận cống nạp để được phong chức tước, công nhận chủ quyền, hoãn binh, ngăn chặn chiến tranh, giữ yên bờ cõi... bên trong thì xưng “Hoàng Đế” để cai quản, trị vì đất nước. Hay bài học trong sự kiện năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ký Hiệp định Sơ bộ (ngày 6-3-1946) với Pháp theo “hòa để tiến”. Những hành động như vậy không phải là “nhu nhược” mà chính là để bảo vệ cái cốt lõi nhất của lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ hòa bình. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; trong đó, lợi ích “bất biến” là độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ và chế độ xã hội XHCN làm kim chỉ nam để ứng xử một cách có nguyên tắc nhưng rất linh hoạt với mọi tình thế.

Không phải là một nước lớn nên Việt Nam cần có cách ứng xử mềm dẻo, linh hoạt để bảo đảm hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang áp dụng triệt để các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc, thể hiện sự nhất quán trong quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Việt Nam luôn nỗ lực trong giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế(24); tôn trọng, ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế(25), tích cực thực hiện các cam kết quốc tế; nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”(26) (không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Thực hiện điều này giúp Việt Nam tránh được xung đột về quân sự, tránh bị cô lập về kinh tế, cô lập về ngoại giao, tránh bị lệ thuộc về chính trị. Chủ trương đúng đắn và các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền quốc gia đã tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp, lập trường chính nghĩa của Việt Nam. 

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định lợi ích quốc gia là “tối cao”, nghĩa là bất di bất dịch. Đến Đại hội XIII, trước tình hình chủ nghĩa dân tộc cực đoan trỗi dậy, Đảng đã có sự điều chỉnh phù hợp khi nhấn mạnh “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”, cùng với những yếu tố hài hòa lợi ích riêng và lợi ích chung. Đó là tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các quốc gia khác trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đó cũng chính là vì lợi ích quốc gia - dân tộc mình.

“Đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"(27), có được điều đó là vì, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, cũng như đã xác định được con đường phát triển cho toàn thể dân tộc: con đường độc lập dân tộc gắn liền CNXH. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất có đủ bản lĩnh và trí tuệ lãnh đạo đất nước cũng luôn bảo vệ lợi ích của Tổ quốc. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định sự lựa chọn lực lượng dẫn dắt dân tộc và con đường phát triển của nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn, là sự thật mà không một thế lực nào có thể xuyên tạc được.

_Nguồn: LLCT__

(1) Phạm Bình Minh (chủ biên): Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.208-209.

(2) Đặng Đình Quý: Bàn thêm về lợi ích quốc gia dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam giai đoạn mới, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 1 (80), Hà Nội, 2010, tr.115.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.81.

(4) “Lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng”, https://dangcongsan.vn/thoi-su/loi-ich-cua-quoc-gia-dan-toc-cua-nhan-dan-cua-dang-la-toi-thuong-509240.html, truy cập ngày 26-12-2018.

(5) Xem: “Thực chất “hai kịch bản” cho Việt Nam là gì?”, báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 29-8-2011, tr.8.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.128.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.175.

(8), (19), (27) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.61, 162-163, 25-26.

(9) Việt Dũng: “IMF: Năm 2020 GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt trên 10.000 USD”, https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/imf-nam-2020-gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-viet-nam-dat-tren-10000-usd-331067.html, truy cập 04-01-2021.

(10) Xem: “Toàn văn Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020”, Tạp chí Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 21-10-2019.

(11) “Bài viết của Tổng Bí thư về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, https://vietnamnet.vn/

vn/thoi-su/chinh-tri/bai-viet-cua-tong-bi-thu-ve-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-737210.html, truy cập ngày 16-5-2021.

(12), (14) Ban Tuyên giáo Trung ương: Bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.79-80, 110.

(13) Cục Tuyên huấn: Phòng, chống âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.45.

(15) ĐCSVN: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2014, tr.4.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.230.

(17) ĐCSVN: Văn kiện Ðảng Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.19.

(18) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nxb Chính trị quốc giaS ự thật, Hà Nội, 2003, tr.46-47.

(20) Phạm Đông, Hải Nguyễn: “Đã kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và gần 70.000 đảng viên”, https://laodong.vn/thoi-su/da-ky-luat-hon-1300-to-chuc-dang-va-gan-70000-dang-vien-893289.ldo, truy cập ngày 27-3-2021.

(21) Xem: Thông tin nội bộ, Bản tin của Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, số tháng 9-2016, tr.50.

(22) Hội đồng Lý luận Trung ương: Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.295. 

(23) Xem: Tạp chí Biển Việt Nam, số tháng 2-2020, tr.9. 

(24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.148.

(25) Trong các văn bản luật của Việt Nam đều có quy định ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế trong trường hợp có khác biệt giữa quy định của nội luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Điều 6.1 Luật số 108/2016/QH13 về Điều ước quốc tế ngày 09-4-2016, Luật Biển.

(26) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr.25, 26-29.