Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

Nhân văn - nguồn sáng làm nên tầm vóc tư tưởng Hồ Chí Minh

 Tính nhân văn dựa trên tính khoa học, gắn liền với tính cách mạng, kết hợp hài hòa, chặt chẽ trong một chỉnh thể thống nhất, làm nên bản chất, đặc điểm của hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh: Khoa học-cách mạng và nhân văn.

Đó cũng là bản chất, đặc điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, được Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo, kết hợp hài hòa văn hóa phương Đông và phương Tây, đậm bản sắc tinh hoa văn hóa Việt Nam, truyền thống và hiện đại, dân tộc và thời đại.

Chất nhân văn Hồ Chí Minh xuất phát từ lòng nhân ái, đức khoan dung

Nhân văn tức là văn hóa, là hệ giá trị chân-thiện-mỹ, mà con người là giá trị cao nhất. Chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh kết tinh trí tuệ, tình cảm, đạo đức, lối sống của Người, từ nhận thức đến hành động, toát lên từ con người, cuộc đời, sự nghiệp của Người, thể hiện trong việc làm và ứng xử của Người qua các mối quan hệ, ở mọi nơi, mọi lúc, giữa mọi người, vô cùng phong phú, đa dạng, biểu cảm.

Người là hiện thân sinh động của chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn truyền thống Việt Nam mà giá trị cốt lõi là lòng yêu nước, thương người, là đạo lý-tình thương và lẽ phải, là vị tha, nhân ái, khoan dung. Người là nhà nhân văn chủ nghĩa trên lập trường cộng sản. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính hòa quyện làm một với chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn cộng sản mang tầm tư tưởng Hồ Chí Minh, vươn tới tầm thời đại và được soi sáng bởi tư tưởng thời đại, phấn đấu, hy sinh trọn đời cho sự nghiệp giải phóng giai cấp (giai cấp công nhân), giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để giải phóng con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thăng hoa những tinh hoa tư tưởng Việt Nam trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó là tầm vóc vĩ đại, tạo nên sức thuyết phục, sự hấp dẫn lớn lao của Hồ Chí Minh-"nhà yêu nước trăm phần trăm và người cộng sản trăm phần trăm”(1).
Vậy tính nhân văn, chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ở con người và cuộc sống của Hồ Chí Minh được biểu hiện như thế nào, trong sự gắn liền giữa tư tưởng với đạo đức-phong cách (bao hàm cả phương pháp) của Người. Đó là văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, ở đó, nguồn sáng rực rỡ có sức lan tỏa rộng rãi và hiệu ứng sâu xa là lòng nhân ái và đức khoan dung.

Hãy bắt đầu từ quan niệm của Hồ Chí Minh về con người. Bác Hồ nói: "Chữ người” có nhiều nghĩa, nghĩa hẹp và trực tiếp nhất là những người ruột thịt, cùng máu mủ trong gia đình, họ hàng, dòng tộc thân thích. Nghĩa rộng hơn là đồng bào trong một nước, rộng nhất là nhân loại, là loài người trên quả đất”. Trên lập trường giai cấp công nhân và chủ nghĩa cộng sản, Người quan niệm "Quan sơn muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”. Tình hữu ái giai cấp và tình đoàn kết chiến đấu vì lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa đã đưa tới bước chuyển của Nguyễn Ái Quốc từ tinh thần yêu nước, dân tộc tới CNXH, chủ nghĩa quốc tế vô sản của người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc.

Một nét đặc sắc của tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh là hết lòng nâng niu giá trị con người, tự do và nhân phẩm con người, tin cậy vào những gì tốt đẹp của con người sẽ nảy nở và hoàn thiện thông qua giáo dục và tự giáo dục. Ở đời, con người là con người đời thường, không có ai là thần thánh cả. "Nhân vô thập toàn”, ai cũng có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu. Phải làm sao cho cái hay, cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu, cái dở sẽ mất dần đi. Phải thức tỉnh con người, có khát vọng sống, vươn tới cái tốt đẹp. Phải có sự cảm thông, chia sẻ, động viên, giúp đỡ, có lòng bao dung, độ lượng vĩ đại. Nghiêm với mình, rộng lòng khoan thứ với người, đó là thái độ nhân văn cao quý của Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, trong nhân sinh quan Hồ Chí Minh, Người phân biệt rạch ròi kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân với cá nhân-mỗi người là một cá nhân có lợi ích, sở trường, cá tính khác nhau. Chống chủ nghĩa cá nhân đến cùng vì nó là kẻ thù độc ác, nguy hiểm, vô hình, ẩn nấp trong lòng người, nó phá từ trong phá ra, làm hỏng nhân cách cán bộ, làm tiêu ma sự nghiệp cách mạng nhưng không bao giờ phủ nhận cá nhân, xem nhẹ cá nhân, không vùi dập cá nhân khi chống chủ nghĩa cá nhân như những người mang bệnh giáo điều thường mắc phải. Đây là chỗ sâu sắc, tỉnh táo, mẫn tiệp trong tư duy và hành động nhất quán của Hồ Chí Minh.

Quan tâm, yêu thương mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội

Tính nhân văn là cơ sở trong hoạch định kế hoạch giáo dục-đào tạo cán bộ, trong chính sách cán bộ, trong phép dùng người của Hồ Chí Minh. Suốt đời Người nêu cao và gương mẫu thực hành đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để làm tròn bổn phận phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người nói, công tác cán bộ là công việc gốc của Đảng. Phải giáo dục, đào tạo lớp cán bộ cách mạng công phu, tỉ mỉ như người làm vườn. Thương yêu cán bộ đi liền với uốn nắn, phê bình, kiểm soát và bảo vệ cán bộ. Đức là gốc, tài là quan trọng. Phải đủ cả 4 đức (cần, kiệm, liêm, chính) mới là người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Do đó phải suốt đời nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân(2). Phải chú trọng đào tạo cán bộ, các thế hệ kế tiếp nhau. Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ cũng là một cái cớ thất bại(3). Phải huấn luyện cán bộ trong nhà trường, trong cuộc sống thực tiễn, thử thách họ, nâng đỡ họ, tin cậy họ để có đội ngũ cán bộ tốt và giỏi, tận tụy và trách nhiệm, có năng lực sáng tạo và có bản lĩnh dám chịu trách nhiệm. Đó là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

Chất nhân văn Hồ Chí Minh còn biểu hiện đặc biệt cảm động trong tình thương yêu, chăm sóc của Người đối với sự trưởng thành của phụ nữ, đấu tranh bảo vệ nhân phẩm phụ nữ, quan tâm rất mực tới giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ và trọng dụng, cất nhắc cán bộ nữ.

Quy tụ những phẩm chất cao quý đó của tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh là thái độ đối với nhân dân, là quan điểm quần chúng, suốt đời gần dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân để tận tụy phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, đồng thời là lãnh tụ của dân tộc, của nhân dân. Người dạy cán bộ, chiến sĩ quân đội "Trung với Đảng, hiếu với dân”, "Trung với nước, hiếu với dân”, "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, từ tướng lĩnh tới binh sĩ phải hiểu nhân dân là nền tảng của quân đội, nhân dân là cha mẹ của bộ đội, quân và dân như cá với nước(4)... Với công an nhân dân, Người dạy "phải kính trọng lễ phép với nhân dân”, "Công an là bạn của dân, phục vụ và bảo vệ dân”(5). Tôn trọng và tin cậy nhân dân bởi Người thấu hiểu vai trò quan trọng, quyết định của dân trong sự nghiệp cách mạng, lại thấu cảm đời sống vất vả, thiếu thốn, đức hy sinh cao cả của dân, tâm trạng, nguyện vọng của dân. Hiếm có lãnh tụ nào đến với dân, hòa mình trong dân, thương mến nhân dân rất mực chân thành, tận tâm tận lực phục vụ nhân dân như Hồ Chí Minh. Cho đến phút chót của cuộc đời vẫn canh cánh bên lòng "không thể bỏ dân mà đi được”. Trong "Di chúc”, lời cuối cùng vẫn chỉ tiếc rằng "không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”(6). Đó là một nhân cách cao thượng.

Dâng hiến, hy sinh - giá trị nổi bật làm nên vẻ đẹp nhân văn Hồ Chí Minh

Chất nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu trong cuộc đời, lối sống, nhân cách của Người, nổi bật là sự giản dị, đức hy sinh, hy sinh cả cuộc sống riêng tư để lo cho hạnh phúc của toàn dân tộc, của nhân dân. Trả lời nhà báo Cuba là nữ đồng chí Mácta Rôhát, vào lúc cuối đời, Người nói "Tôi hiến đời tôi cho dân tộc tôi”(7). Người đã thực hiện điều cao cả, thiêng liêng ấy trong suốt cuộc đời. "Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”, vì miền Nam chưa được giải phóng mà Người không một bữa ăn ngon, không một giấc ngủ yên. Mỗi chiến sĩ hy sinh, mỗi người phải đổ máu là Người như đứt từng khúc ruột. Người không có gia đình riêng, không có vợ con, không có tài sản riêng, một đời tiết kiệm đến mức khắc khổ để nêu gương và để lo cho dân. Nam nữ thanh niên nước ta là con cháu của Người. Các bậc phụ lão là bạn bè thân thiết của Người. Phụ nữ nước ta là chị em của Người. Đó là lời nói chân thật tự trái tim Người. Chất nhân văn từ tư tưởng đến hành động của Hồ Chí Minh là một mẫu mực của văn hóa làm người và ở đời, một hình mẫu toàn vẹn, trọn vẹn của sự dấn thân, hy sinh, hóa thân vào dân vào nước.

Qua cuộc đời Hồ Chí Minh, một CON NGƯỜI viết hoa (như lời đại văn hào Nga M.Gorky) chân-thiện-mỹ đã hiện ra, bằng xương bằng thịt, giản dị mà vĩ đại, là sự sống, niềm tin, là tình yêu và hy vọng, là khát vọng mà cũng là hiện thực của con người trong cuộc đời này. Đó là một đời dấn thân tranh đấu và dâng hiến cho dân, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nhân văn Hồ Chí Minh biểu hiện ra vô cùng xúc động, có sức lay động tâm can muôn triệu người, có sức tỏa sáng muôn triệu tâm hồn người, khi ta nhắc lại những lời Người nói tự trái tim với đồng bào, đồng chí, bạn bè xung quanh Người.

Ấy là lời cảm tạ đồng bào chúc thọ Người dịp sinh nhật. Người nói "Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau và mãi mãi tôi vẫn thuộc về đồng bào”.

Ấy là tâm sự từ nỗi lòng Người với đồng bào cả nước, với miền Nam đi trước về sau: "Mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng. Gộp tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi”.

Ấy là Người trả lời nhà báo nước ngoài về mối liên hệ giữa Người với nhân dân: "Hồ Chí Minh là một phần không tách rời của nhân dân ông. Ông suy nghĩ những gì mà nhân dân ông nghĩ. Ông hành động những gì mà nhân dân của ông hành động”.

Như vậy, lịch sử là sự thật và sự thật là lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân Việt Nam mãi mãi tự hào và biết ơn Hồ Chí Minh. Tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh kết tinh trong các bảo vật quốc gia-5 tác phẩm để đời của Người là hành trang của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, vững bước trên con đường lớn của lịch sử đi tới tương lai tươi sáng-đường Hồ Chí Minh. Đó không chỉ là quốc bảo mà còn là pháp bảo của chúng ta.

Đúng như nữ Giáo sư Sử học Mỹ, bà Josephine Stenson đã nói: "Hồ Chí Minh một nhân cách lớn của thời đại”(8). Sự thật ấy trở thành giá trị thiêng liêng, là động lực mãnh liệt để chúng ta tin tưởng và hành động cho xứng đáng với Hồ Chí Minh, với dân tộc và nhân loại.

Những giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm chứng, kiểm nghiệm qua thời gian như ngọc càng mài càng sáng.

Thế nên, những kẻ xuyên tạc hòng làm lu mờ ánh sáng, nguồn sáng Hồ Chí Minh chỉ càng lộ nguyên hình tâm địa đen tối, mờ ám trước ánh sáng của sự thật, chân lý và đạo lý mà Hồ Chí Minh luôn luôn là biểu tượng rực rỡ. Những sự xuyên tạc thâm độc và bỉ ổi mà các thế lực phản động, chống đối Việt Nam nhằm vào Hồ Chí Minh không bao giờ có thể lung lạc được niềm tin và tình yêu sâu sắc của một trăm triệu trái tim Việt đối với Hồ Chí Minh-hình ảnh, tinh hoa và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh - tầm nhìn, bản lĩnh và hành động

Trí tuệ khoa học, đạo đức cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân, kết hợp nhuần nhuyễn chiến lược với sách lược và phương pháp, thấm nhuần chủ nghĩa lạc quan cách mạng, nắm bắt và dự báo sáng suốt xu thế của lịch sử... là những phẩm chất và nhân tố làm nên đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Biểu đạt tư tưởng cách mạng đã chạm đến điểm cốt lõi của chân lý

Hồ Chí Minh khi còn là một thanh niên 21 tuổi với nhiệt huyết của tuổi trẻ nặng lòng yêu nước, thương dân đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Sự kiện Nguyễn Tất Thành rời Bến cảng Nhà Rồng ngày 5-6-1911 làm phụ bếp và thủy thủ trên con tàu Latouche Tréville, bắt đầu cuộc đời lao động "vô sản hóa”, đi khắp các châu lục, đại dương, qua hơn 30 nước và các vùng lãnh thổ khác nhau, lao động, học tập và tranh đấu trong 30 năm để tìm ra con đường cứu nước là con đường cách mạng đã mở đầu cho sự thay đổi số phận của dân tộc ta.

Từ mục đích và động cơ cao thượng tìm đường cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc với ý chí, nghị lực phi thường, với trí tuệ khoa học và tinh thần độc lập, sáng tạo, Người đã chọn đường, nhận đường và cuối cùng trở thành người dẫn đường cho Đảng ta và dân tộc ta trên "Đường Kách mệnh”. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là biểu tượng kiệt xuất của một lãnh tụ cách mạng có tầm nhìn xa trông rộng, có bản lĩnh kiên định, vững vàng, nhất là bình tĩnh, sáng suốt vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo của hoàn cảnh, hành động sáng tạo, dũng cảm với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vô địch của nhân dân, vào chiến thắng của lực lượng cách mạng. Trí tuệ khoa học, đạo đức cách mạng tận trung với nước, tận hiếu với dân, kết hợp nhuần nhuyễn chiến lược với sách lược và phương pháp, thấm nhuần chủ nghĩa lạc quan cách mạng, nắm bắt và dự báo sáng suốt xu thế của lịch sử... là những phẩm chất và nhân tố góp phần làm nên đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về cách mạng và cách mạng triệt để như những định nghĩa khoa học, hết sức giản dị mà "chạm” đến điểm cốt lõi của chân lý. Người biểu đạt tư tưởng cách mạng bằng ngôn ngữ dễ hiểu của đời sống, không hàn lâm, bác học mà vẫn mang tầm kinh điển, đủ sức vượt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành giá trị bền vững. Hồ Chí Minh viết: "Cách mệnh là gì? Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Đã làm cách mệnh thì phải cách mệnh đến nơi (tức là triệt để), theo tấm gương của cách mạng Nga do Lênin và Đảng kiểu mới của Người lãnh đạo. "... Cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(1). Đó là dự cảm sáng suốt của Người. Từ khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang trong mầm mống phôi thai, Người đã tiên liệu trước nguy cơ cách mạng bị suy thoái, quyền lực có thể bị tha hóa nếu không có sự kiểm soát quyền lực từ nhân dân.

 "Đường Kách mệnh” là tác phẩm lý luận, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nhưng Người lại đặt lên hàng đầu vấn đề tư cách của một người cách mệnh, với 23 tiêu chí, chuẩn mực, thấm vào các mối quan hệ cơ bản: Với tự mình, với người khác, với công việc và đoàn thể... Người đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu "giữ chủ nghĩa cho vững”, "ít lòng tham muốn về vật chất”(2). Đó là những đòi hỏi hết sức hệ trọng, tỏ rõ sự nhạy cảm của một bậc thiên tài. Lịch sử của những biến cố, thăng trầm, nhất là sự biến chính trị xảy ra ở Liên Xô và Đông Âu làm đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản mất vai trò cầm quyền, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, cách mạng thoái trào (cho dù là tạm thời) cách đây đã 3 thập kỷ vẫn còn nguyên tính thời sự cảnh báo đối với mỗi chúng ta, với Đảng ta. Bài học phải trả giá đau đớn đó càng làm nổi bật giá trị, ý nghĩa và tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là những bảo đảm về lý luận tiên phong và đạo đức đối với chính trị, đối với Đảng Cộng sản cầm quyền.


Tính cách mạng thể hiện sâu sắc ở dũng khí tự phê phán và phê phán

Đặc tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn nổi bật trên bình diện đạo đức. Người cách mạng, Đảng cách mạng phải suốt đời trau dồi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa là đối lập với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Đảng chân chính cách mạng phải tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức, văn hóa "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền, Người trù tính sâu xa phải đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, về văn hóa. Chỉ dẫn ấy của Hồ Chí Minh đang soi sáng cho Đảng và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện hiện nay.

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn biểu hiện đậm nét qua dũng khí tự phê phán và phê phán của người cách mạng và Đảng cách mạng về những khuyết điểm, sai lầm đã mắc phải, có thái độ khách quan khoa học trong phân tích, đánh giá thực trạng, xem xét kỹ lưỡng những nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm đó để kiên quyết sửa chữa, thúc đẩy phong trào cách mạng tiến lên. Đó là phẩm chất cao quý, can đảm của những người cách mạng và Đảng cách mạng chân chính. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh rằng, tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất làm cho Đảng tiến bộ không ngừng, thành một Đảng chắc chắn, mạnh khỏe như người không có bệnh, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên giữ gìn và phát huy được tính cách mạng, tính tiền phong gương mẫu, được quần chúng tin tưởng và ủng hộ, giữ vững niềm tin với Đảng và thắt chặt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu, phương châm, phương pháp tự phê bình và phê bình và mấu chốt là phải có động cơ, mục đích đúng, phương pháp khéo léo, thận trọng, kiên quyết mà mềm mỏng, có lý có tình, thấu lý đạt tình. Mở đầu tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947), Người đặt vấn đề phê bình và sửa chữa, chỉ ra 3 căn bệnh nguy hiểm: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, thói ba hoa mà không ít cán bộ, đảng viên mắc phải, nhất là bệnh hẹp hòi trong dùng người, trong công tác cán bộ, gây nên lãng phí nhân tài, nhất là không chú trọng sử dụng nhân tài ngoài Đảng, cản trở đoàn kết trong Đảng, trong dân(3). Người tỏ thái độ kiên quyết phải tẩy sạch những chứng bệnh ấy, tẩy sạch quan liêu, tẩy sạch chủ nghĩa cá nhân, đó là bệnh gốc, "bệnh mẹ”, đẻ ra trăm ngàn bệnh khác, những thói hư tật xấu khác, làm hư hỏng cán bộ, suy yếu tổ chức, dân tình chán nản, hoài nghi. Người cũng từng chỉ trích, phê phán những cán bộ, đảng viên mắc thói coi khinh lý luận, khinh dân vận(4). Không chấn chỉnh kịp thời và nghiêm khắc những lỗi lầm đó thì phong trào cách mạng sẽ không thể tiến triển. Trong bản Di chúc, Người căn dặn: "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, phải giữ gìn đoàn kết, nhất trí, thống nhất tư tưởng và hành động như giữ gìn con ngươi của mắt mình(5).

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua dũng khí tự phê phán và phê phán mà Người chỉ dẫn là tính Đảng, là nhân tố và điều kiện quan trọng làm cho cách mạng có sức mạnh tự bảo vệ như Lênin nói. Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh, cách mạng lấy sức mạnh trong lòng dân. Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, dân giúp đỡ, dân ủng hộ, dân bảo vệ thì muôn việc sẽ thành công.

Kiên định lập trường và giữ vững quan điểm cách mạng

Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta phải thấm nhuần và kiên quyết bảo vệ còn chính là lòng trung thành vô hạn với lý tưởng, mục tiêu cộng sản chủ nghĩa, biểu hiện trực tiếp ở sự kiên định lập trường, quan điểm cách mạng, kiên định con đường đi tới "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Việt Nam. Để đi đến cùng con đường đó, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, trước hết phải giữ vững và bảo vệ sự trong sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng, phải trung thành một cách sáng tạo, khắc phục những giáo điều xơ cứng, phải vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam.

Hồ Chí Minh chỉ dẫn cho chúng ta dùng quan điểm, lập trường, phương pháp khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin để phân tích chính xác tình hình, đặc điểm của nước ta, độc lập, sáng tạo tìm ra cách giải quyết những vấn đề mà cách mạng đặt ra, bằng con đường nào, điều kiện nào, biện pháp nào để thực hiện mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, không máy móc sao chép, bắt chước, rập khuôn những kinh nghiệm từ bên ngoài, dù học tập, vận dụng những kinh nghiệm đó là cần thiết và quý giá. Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo giàu bản lĩnh của Hồ Chí Minh là thể hiện lòng trung thành với chủ nghĩa bằng sức mạnh của trí tuệ khoa học, của đạo đức cách mạng, của đường lối chính trị sáng suốt mà Đảng ta đang ra sức thực hiện theo chỉ dẫn của Người.

Lòng trung thành đó biểu hiện thành sự nhất quán trong tư tưởng, phương pháp, ý chí quyết tâm không gì lay chuyển và hành động kiên cường, dũng cảm, hy sinh để giành thắng lợi. Tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Qua những thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh nêu cao ý chí, sức mạnh của toàn dân tộc. Vào những thời điểm bước ngoặt, Người đưa ra những thông điệp thiêng liêng, liên quan đến vận mệnh dân tộc, trọng trách của Đảng, đồng thời truyền đến mỗi người dân niềm tin mãnh liệt.

Điển hình là: "Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” (bên thềm Cách mạng Tháng Tám năm 1945); "Thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu làm nô lệ” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946); "Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước chống Mỹ, ngày 17-7-1966); "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (Thơ mừng Xuân Kỷ Dậu năm 1969); "Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn” (Di chúc)...

Tính cách mạng kiên quyết, triệt để trong cuộc đấu tranh giành lấy chính quyền về tay nhân dân còn phải được tiếp nối trong xây dựng chính thể, bảo vệ chế độ và mọi thành quả cách mạng, vì hạnh phúc và quyền làm chủ của nhân dân. Sáng suốt và kiên quyết trong nhận biết và xử lý những tình huống suy thoái khi quyền lực có nguy cơ bị biến dạng, không vì dân chủ của dân, lại biến thành "quan chủ”, không làm tròn bổn phận đầy tớ, công bộc của dân, lại lên mặt "quan cách mạng” ở một số cán bộ, công chức trong bộ máy, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định thành lập Thanh tra Chính phủ, chọn người đủ đức, đủ tài, giao cho họ quyền hành và ràng buộc bằng chế tài trách nhiệm để xử nghiêm các trường hợp quan liêu, hống hách, trù dập dân chúng và nhận hối lộ, mắc tội tham ô, tham nhũng. Người lên án và yêu cầu phải trừng trị nghiêm khắc theo luật pháp tội tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu như trừng trị một tội ác.

Trên cương vị Chủ tịch Chính phủ, Chủ tịch nước, nguyên thủ quốc gia, từ những ngày đầu gây dựng chính thể cộng hòa, Người đã ban hành quốc lệnh, khen thưởng trọng đãi người có công và trừng phạt những kẻ có tội. Trong 12 điều trừng phạt, Người đều ghi rõ "tử hình”. Luật phải nghiêm, xử lý phải minh, nghiêm minh và quang minh chính đại để bảo vệ cái thiện lớn nhất là dân. Pháp trị đi liền với đức trị. Phải dày công giáo dục cho mọi người về lương tâm, trách nhiệm, trọng danh dự, trọng liêm sỉ, để giữ trọn vẹn lòng trong sạch. Đó là tính cách mạng triệt để của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền dân chủ và Nhà nước pháp quyền.

Đặc tính cơ bản, cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính khoa học

 Việc khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận đặc biệt cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam bởi trước hết xuất phát từ những giá trị khoa học sâu sắc được thể hiện trong những luận điệu đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Nhận thức thấu đáo, giải quyết sáng tạo tính phổ biến và tính đặc thù của cách mạng Việt Nam

Điểm xuất phát mà cũng là chỗ hướng đích của nhận thức để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là thực tiễn. Thực tiễn đó là hoàn cảnh lịch sử trong nước, trước tình cảnh nước mất nhà tan, cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ, phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đưa dân tộc từ vong quốc nô tới độc lập, tự do, thức tỉnh con người về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Thực tiễn đó là lao động vô sản hóa, gắn liền lao động, học tập và tranh đấu trong suốt cuộc hành trình đi tìm chân lý kéo dài 30 năm (1911-1941).

Người đi về phương Tây, đến tận sào huyệt của kẻ thù là nước Pháp để tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, tìm ra con đường đánh đổ nó để giải phóng dân tộc. Thực tiễn đó còn là khảo sát tình hình thế giới, nhận rõ bạn-thù, tiếp thu ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười và giác ngộ Chủ nghĩa Mác-Lênin, từng bước một, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm. Khảo sát mọi học thuyết để định hình bằng sự lựa chọn Chủ nghĩa Lênin, Chủ nghĩa Mác-Lênin, đạt tới bước ngoặt từ người yêu nước trở thành người chiến sĩ cộng sản. Trong cuộc hành trình tư tưởng ấy, Nguyễn Tất Thành-Văn Ba-Nguyễn Ái Quốc đã từ thực tiễn mà hình thành lý luận cách mạng, giác ngộ về lập trường, quan điểm giai cấp công nhân, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp và dân tộc, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính độc lập tự chủ "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp Người tìm ra câu trả lời đúng đắn nhất khi tiếp cận tư tưởng thiên tài của Lênin về quyền tự quyết của các dân tộc và phát hiện ra quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trở thành sợi chỉ đỏ, bao trùm, xuyên suốt hệ thống tư tưởng của Người. Với Việt Nam, yêu cầu giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu trên lập trường giai cấp công nhân. Và CNXH Việt Nam là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tới CNXH, đó là một tất yếu lịch sử do thời đại quy định. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đó là đặc điểm to nhất của Việt Nam trên con đường tới CNXH. Hơn nữa, cách mạng trước hết phải có Đảng, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, như con tàu không có bàn chỉ nam. Chủ nghĩa ấy, Người đã lựa chọn là Chủ nghĩa Lênin, Mác-Lênin vì nó là chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất(1).

Nhờ quan điểm thực tiễn, thấm nhuần chỉ dẫn của Lênin "phân tích cụ thể một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác” mà Hồ Chí Minh xác định đúng sự kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, trước hết ở trong quy luật thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam "kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam”. Đó là những phát kiến lý luận quan trọng của Người.

Cống hiến nhiều tư tưởng, quan điểm mới mẻ về Đảng

Là nhà tư tưởng, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam, Người xác định, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người chỉ dẫn cho chúng ta: "Thực hành sinh ra hiểu biết. Hiểu biết tiến lên lý luận. Lý luận lãnh đạo thực hành”(2).

Đó là một tư tưởng lớn, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, là cơ sở khoa học để "lý luận liên hệ với thực tiễn”, "học đi đôi với hành”, "nói đi đôi với làm” như Người thường xuyên căn dặn chúng ta.

Tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ ở quan điểm phát triển, quan điểm đổi mới gắn liền với hội nhập quốc tế. Người có tư tưởng đổi mới, hội nhập từ rất sớm. Người đưa ra thông điệp với quốc tế và thế giới: "Việt Nam mong muốn là bạn của các nước dân chủ, Việt Nam quyết không thù oán với một ai”, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế, thêm bạn bớt thù, kiến tạo môi trường hòa bình để phát triển. Vào năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trở lại, ở Việt Bắc, tại an toàn khu (ATK), Người viết hai tác phẩm quan trọng "Đời sống mới” (tháng 3-1947, lấy bút danh là Tân Sinh) và "Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10-1947, với bút danh là X.Y.Z). "Đời sống mới” giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa cái cũ và cái mới, nêu cao đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm chính trong đời sống hằng ngày của mỗi người, xây dựng lối sống mới, văn hóa mới...

"Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm đầu tiên đặt vấn đề đổi mới khi Đảng đã cầm quyền và trước hết phải đổi mới Đảng để thúc đẩy đổi mới xã hội, chọn mắt khâu xung yếu, đột phá là "phải sửa đổi lối làm việc của Đảng”, tức là đổi mới phương pháp, phương thức, phong cách lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Người nêu ra 12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng. Chỉ với 456 từ, 12 điều ấy đã định hình một chủ thuyết, học thuyết xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam "vừa kháng chiến vừa kiến quốc”.

Tác phẩm của Người nổi bật một tư tưởng lớn "dựa vào dân mà xây dựng Đảng”, nhấn mạnh đặc biệt tới chất lượng đội ngũ cán bộ, cách lãnh đạo, cách dùng người, kể cả trọng dụng nhân tài ngoài Đảng, có tính thời sự và hiện đại tới ngày nay đối với Đảng ta. Người còn viết "Lời kêu gọi thi đua ái quốc” (1948), "Dân vận” (1949) cũng thấm nhuần tư tưởng đổi mới trên những định hướng khoa học-nhân văn và dân chủ. Đó là những chỉ dẫn quan trọng có tầm chiến lược để tạo động lực phát triển, củng cố mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân, để toàn Đảng, toàn dân nỗ lực vượt bậc làm cho "kháng chiến tất thắng”, "kiến quốc tất thành”, bằng sức mạnh "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”(3).

Vấn đề quyết định là Đảng phải thật trong sạch, thật vững mạnh, sự lãnh đạo của Đảng phải đúng đắn, sáng suốt, lãnh đạo một cách khoa học, một cách dân chủ, lãnh đạo bằng sự gương mẫu, nêu gương và trách nhiệm nêu gương, nhất là của cơ quan lãnh đạo và người lãnh đạo. Giá trị khoa học này trong tư tưởng Hồ Chí Minh đang soi sáng cho Đảng ta hiện nay trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thấm nhuần lời dạy của Người: "Đảng là đạo đức, là văn minh”(4), "một tấm gương sống còn có giá trị hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”, một cách thực tiễn và dung dị "đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tính khoa học đặc biệt nổi bật khi Người nói về "xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, về "thực hành dân chủ, xây dựng nhà nước dân chủ-pháp quyền-nhân nghĩa” của dân, do dân, vì dân, thực hiện và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân; về công tác mặt trận, thực hành đại đoàn kết, thực hành tiết kiệm, chống quan liêu, lãng phí, tham ô. Vào những năm 60 của thế kỷ 20, khi Người chỉ đạo cuộc vận động "3 xây, 3 chống”, Người coi đây thực sự là một cuộc cách mạng nội bộ, Người đặc biệt nhấn mạnh tới trách nhiệm và đạo đức gương mẫu của cán bộ, đảng viên(5).

Chống chủ nghĩa cá nhân như chống "giặc nội xâm”, kẻ thù nguy hiểm nhất, phải ra sức "nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đây là một trong những tác phẩm cuối đời của Người, cũng là chủ đề thường trực mà Người quan tâm suốt đời, kết tinh trong bản "Di chúc" thiêng liêng "trước hết nói về Đảng” và "đầu tiên là công việc với con người”.

Giá trị lý luận đặc sắc của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh còn đem lại những kiến giải khoa học sâu sắc về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam. Người đặt nền móng cho lý luận CNXH khoa học và xây dựng CNXH trong tính đặc thù Việt Nam, ở Việt Nam, đem lại câu trả lời sáng tỏ nhất cho những câu hỏi lớn nhất: CNXH là gì? Vì sao lại lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa như một tất yếu và xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào? Bằng những biện pháp, phương pháp nào? với những điều kiện và bước đi cụ thể ra sao? Tính dân tộc, tính nhân dân, tính sáng tạo và đổi mới được thể hiện đậm nét trong lý luận Hồ Chí Minh về CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, CNXH là "dân giàu, nước mạnh”, là "dân chủ và công bằng”, là hạnh phúc của người dân từ cơm ăn, áo mặc, học hành đến quyền dân chủ và làm chủ. Người chủ trương "làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân”, "không làm gì trái ý dân”, "ra sức giải phóng sức dân, phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân và tiết kiệm sức dân”. Cách làm tốt nhất để có CNXH là "đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân”. Phải thấy rõ "CNXH cộng với khoa học là nguồn sức mạnh vô tận”, phải chú trọng đồng bộ từ củng cố chế độ chính trị đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, vì lợi ích của người dân, trước mắt và lâu dài. Phải kết hợp toàn diện các mặt, các lĩnh vực, gắn liền xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bằng sức mạnh đối nội, đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Phải học tập, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm và bài học từ các nước anh em chứ không máy móc, giáo điều, chủ quan, biệt phái.

Có thể nói, tính khoa học trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng của Người về CNXH và xây dựng CNXH nổi bật các yêu cầu "đúng quy luật, thuận lòng dân, hợp thời đại”, sao cho "đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày càng tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ”(6). Đó là quan điểm phát triển mà nhà tư tưởng mác-xít lỗi lạc, nhà biện chứng thực hành xuất sắc Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn và tự mình thực hành để nêu gương cho chúng ta noi theo.

55 năm vun đắp và gìn giữ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia

 Cách đây 55 năm (ngày 24/6/1967), Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và ngày này đã đi vào lịch sử hai nước như một sự kiện trọng đại, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước, gắn bó vận mệnh của hai dân tộc láng giềng.

Dù gặp những thăng trầm của lịch sử và những biến cố của thời đại, quan hệ Việt Nam-Campuchia vẫn ngày càng trở nên khăng khít, bền chặt, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp, gìn giữ, trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc.

Không thể phủ nhận sự giúp đỡ của Việt Nam giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot

 Thủ tướng Campuchia: Luôn ghi nhớ sự giúp đỡ của Việt Nam trên hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot

 20-06-2022 13:43

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì lễ đón Thủ tướng Hun Sen và đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Campuchia

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chủ trì Lễ đón Thủ tướng Hun Sen và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Campuchia sang tỉnh Bình Phước thăm một số di tích liên quan đến sự kiện ngày 20/6/1977, khi Thủ tướng Hun Sen, lúc đó là lãnh đạo Trung đoàn, cùng một số cán bộ yêu nước của Campuchia vượt biên giới sang tìm kiếm sự giúp đỡ của Việt Nam, bắt đầu hành trình cách mạng cứu đất nước và Nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Cùng dự Lễ đón, về phía Việt Nam có các đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Công an, Ngoại giao; Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh Bình Phước và Tây Ninh; Đại sứ Việt Nam tại Campuchia và một số lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương và tư lệnh các quân khu liên quan. Tháp tùng Thủ tướng Hun Sen có 6 Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, tướng lĩnh quân đội, lãnh đạo một số bộ, ngành và địa phương liên quan và Đại sứ Campuchia tại Việt Nam.


Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Hun Sen trồng cây hữu nghị tại khu vực X16 (khu vực phía Việt Nam) 

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Hun Sen đã đến thăm bia đá lưu niệm tại khu vực X16 thuộc xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước - điểm dừng chân đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam của Thủ tướng Hun Sen và đồng đội đúng ngày này cách đây 45 năm. Hai Thủ tướng đã cùng trồng cây lưu niệm tại địa danh lịch sử X16, là một trong các địa danh như Thủ tướng Hun Sen từng nói "là đáng nhớ nhất trong cuộc đời mình và góp phần thay đổi đất nước Campuchia sau này".

Nói chuyện với đại diện quần chúng Nhân dân địa phương tỉnh Bình Phước, Thủ tướng Hun Sen ôn lại một số kỷ niệm không thể quên về khởi đầu gian nan của hành trình cứu nước; nhấn mạnh ý nghĩa của tình đoàn kết, hữu nghị gắn bó giữa Nhân dân hai nước; đồng thời cảm ơn sự giúp đỡ của quân đội và Nhân dân Việt Nam đối với ông và Nhân dân Campuchia trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại tự do, hòa bình và hồi sinh đất nước Chùa Tháp.


Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Hun Sen đến thăm bia đá lưu niệm tại khu vực X16 thuộc xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước - điểm dừng chân đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam của Thủ tướng Hun Sen và đồng đội đúng ngày này cách đây 45 năm 

Thủ tướng Campuchia cho biết, ở thời điểm đó, nếu không có sự giúp đỡ của phía Việt Nam thì ông có thể đã mất tính mạng và chưa biết tương lai của đất nước Campuchia sẽ như thế nào.

Ông nhắc lại việc đặt chân lên đất Việt Nam lúc 2h sáng và tới chiều tối ngày 21/6, ông lần đầu tiên được ăn bữa cơm sau hơn 1 năm -  một bữa ăn mà ông coi là "vô giá", một bữa ăn "bằng hàng ngàn, hàng vạn tấn gạo ngày nay".

Theo Thủ tướng Hun Sen, 45 năm qua, quan hệ giữa hai nước đã ngày càng phát triển. "Xin gửi lời cảm ơn tới những người dân Việt Nam có mặt tại đây, tới những người không có mặt hôm nay và tới cả linh hồn những người đã hy sinh để cứu giúp tôi và giúp đỡ người dân Campuchia. Chúng ta quen biết nhau, giúp đỡ nhau từ lúc khó khăn, khi đó đã biết ai là bạn tốt", Thủ tướng Hun Sen xúc động chia sẻ.


Hai Thủ tướng trao đổi tại cuộc nói chuyện với đại diện quần chúng Nhân dân địa phương tỉnh Bình Phước

Tiếp đó, Thủ tướng Hun Sen đã chủ trì Lễ đón Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang dự các hoạt động kỷ niệm bên phía Campuchia.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm lần thứ 45 năm Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot tổ chức tại tỉnh Tbong Khmum với sự tham dự của Đoàn đại biểu cấp cao hai nước cùng hàng ngàn người dân Campuchia, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh Lễ kỷ niệm ngày 20/6/1977 có ý nghĩa hết sức quan trọng kỷ niệm 45 năm bắt đầu hành trình đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot của Thủ tướng Hun Sen, đưa đất nước Campuchia hồi sinh, thể hiện sự hợp tác và đoàn kết đặc biệt giữa hai nước, lại càng có ý nghĩa hơn khi diễn ra trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 55 năm ngày Thiết lập quan hệ ngoại giao (24/6/1967 - 25/6/2022) và Campuchia vừa tổ chức thành công cuộc bầu cử Hội đồng xã phường khóa V ngày 5/6/2022.

Lên án thảm họa diệt chủng mà người dân Campuchia phải gánh chịu và những tội ác xâm lược tàn bạo của bè lũ Pol Pot đối với Nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam đã chia sẻ khó khăn, hết lòng giúp để xây dựng lực lượng cho cách mạng Campuchia; đồng thời hỗ trợ và phối hợp với lực lượng nổi dậy Campuchia đấu tranh chống lại Tập đoàn phản động Pol Pot. Đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, sau khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chặn đứng hành động gây chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam của Tập đoàn phản động Pol Pot; Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia giải phóng dân tộc khỏi nạn diệt chủng, khôi phục, xây dựng lại đất nước. Đến năm 1989, theo thỏa thuận giữa hai Nhà nước, Việt Nam rút hết quân tình nguyện về trong niềm tự hào, vinh quang, với những tình cảm lưu luyến, thắm thiết nghĩa tình của Nhân dân Campuchia anh em, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả, vẻ vang, trong sáng, hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế.


Lễ kỷ niệm lần thứ 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" của Thủ tướng Campuchia Samdech Techo Hun Sen diễn ra sáng nay, 20/6 

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh: "Nhân dịp kỷ niệm sự kiện đặc biệt trọng đại này, chúng ta thành kính tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn và sự hy sinh anh dũng của những người con ưu tú của cả hai dân tộc trong cuộc đấu tranh cao cả đó, đặc biệt là các Anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, các cựu cán bộ, chuyên gia, đội ngũ cựu Quân tình nguyện Việt Nam, đã kề vai sát cánh với những người con anh hùng của đất nước Campuchia anh em không tiếc máu xương, hy sinh thân mình để đánh đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước Campuchia, vun đắp cho tình đoàn kết, gắn bó, hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, khẳng định chính nghĩa và đóng góp vào những lý tưởng cao đẹp của các lực lượng tiến bộ trên thế giới".

Theo Thủ tướng, Kỷ niệm 45 năm "Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" không chỉ nhắc nhở chúng ta ghi nhớ dấu mốc lịch sử về sự khởi nguồn của cuộc đấu tranh vì lương tâm, phẩm giá con người, vì chính nghĩa lật đổ chế độ diệt chủng tàn bạo mà còn là minh chứng sống động về mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết, thủy chung, gắn bó sắt son giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia.


Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Lễ kỷ niệm 

Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc về sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu mà các thế hệ lãnh đạo và Nhân dân Campuchia đã dành cho nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen cảm ơn Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã nhận lời mời tham dự lễ kỷ niệm, phía Việt Nam đã hỗ trợ, phối hợp phía Campuchia tổ chức sự kiện quan trọng này.

Ông nêu rõ, phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tổng kết một cách minh bạch, rõ ràng về hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, hồi sinh đất nước của cá nhân ông và Nhân dân Campuchia, cũng như về quan hệ giữa hai nước trong lịch sử.


Thủ tướng Hun Sen phát biểu tại Lễ kỷ niệm 

Thủ tướng Hun Sen cho biết khi đó ông có 4 lựa chọn: Một là sử dụng lực lượng mà ông đang chỉ huy để khởi nghĩa vũ trang, nhưng nếu lựa chọn phương án này, lực lượng mà ông chỉ huy sẽ sớm bị tiêu diệt trong bể máu.

Lựa chọn thứ hai là sang Việt Nam; lựa chọn thứ ba là không làm gì, để mặc chế độ diệt chủng Pol Pot tiếp tục gây tội ác và lựa chọn thứ tư là tự sát. Thủ tướng Hun Sen từng kể lại rằng khi ấy "chẳng còn gì ngoài hai bàn tay trắng và ngồi chờ cái chết".

Trong thời khắc gian nan đó, Thủ tướng Hun Sen đã cùng một số cán bộ yêu nước của Campuchia, đã quyết định sang Việt Nam bày tỏ ý nguyện của Nhân dân Campuchia mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ Việt Nam. Như ông từng phát biểu, căn cứ vào tình hình chính trị trong nước và quốc tế lúc đó, không còn con đường nào khác.

Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh lịch sử đã chứng minh nếu không có "hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot" bắt đầu vào ngày 20/6/1977 và những sự kiện tiếp theo thì Campuchia không thể có ngày hôm nay.

Ông một lần nữa khẳng định rằng hành động của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã tham gia cùng Campuchia trong sự nghiệp giải phóng đất nước, cứu Nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot để hồi sinh và phát triển đất nước.

Hai Thủ tướng cắt băng khánh thành Nhà Hữu nghị Campuchia - Việt Nam 

Thủ tướng Hun Sen cũng bày tỏ tự hào đã có nhiều đóng góp cho quan hệ 45 năm qua giữa Việt Nam và Campuchia; trong đó có việc cùng nhau từng bước hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới, đưa những vùng biên giới từng bị chiến tranh tàn phá thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác toàn diện.

Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng khi cùng với sự vươn lên mạnh mẽ, không ngừng của đất nước Chùa Tháp, tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện tốt đẹp giữa Việt Nam và Campuchia tiếp tục được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần quan trọng vào hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Hai Thủ tướng khẳng định coi trọng mối quan hệ "láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài", mong muốn không ngừng củng cố và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực, cùng nhau thắt chặt, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống quý báu giữa hai dân tộc "mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".


Hai Thủ tướng họp hẹp tại Nhà Hữu nghị Campuchia - Việt Nam 

* Nhân dịp tham dự Lễ kỷ niệm tại Campuchia, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cùng Thủ tướng Hun Sen thăm quan một số hình ảnh và hạng mục công trình khu vực lịch sử quân sự Techo Koh Thmar X16 tại huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum của Campuchia; đồng thời cùng trồng cây lưu niệm, cắt băng khánh thành và thăm quan Nhà Hữu nghị Campuchia - Việt Nam.

Thủ tướng Hun Sen nhấn mạnh Lễ khánh thành Tòa nhà Hữu nghị do Bộ Quốc phòng Việt Nam hỗ trợ Bộ Quốc phòng Campuchia nhân dịp này có ý nghĩa thiết thực chào mừng kỷ niệm lần thứ 45 năm hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot và kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia; góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác, xây dựng biên giới Campuchia - Việt Nam hòa bình, ổn định và bền vững./.

LẠC PHONG


Sự thật không thể phủ nhận

 

Sáng 20/6, trong buổi Lễ kỷ niệm 45 năm "Con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot", Thủ tướng Campuchia Hun Sen bày tỏ lòng tri ân đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã không tiếc xương máu, hi sinh giúp đỡ đất nước Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng, tiến tới xây dựng đất nước Campuchia hòa bình, ổn định, phát triển.

LẠC PHONG

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 

Phê phán những nhận thức lệch lạc, luận điểm sai lầm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

PGS, TS. NGUYỄN VĂN THẠO
Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
17:16, ngày 22-08-2020

TCCS - Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng sáng rõ và đầy đủ hơn. Đến nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng được xác định là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước trong từng giai đoạn, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

1- Phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta gần 35 năm qua. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (KTTN) trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Các quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do lưu thông được pháp luật bảo vệ. Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với sự tác động của các quy luật khách quan của KTTT, thị trường là yếu tố chủ yếu quyết định giá cả hàng hóa, huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa; tạo động lực phát triển và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém. Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật, chính sách, các tiêu chuẩn, định mức, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng lực lượng kinh tế của mình (gồm các nguồn lực thuộc sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước) để tạo khung khổ pháp luật, môi trường công khai, minh bạch, thuận lợi cho các chủ thể kinh tế, các thị trường hoạt động, cho sản xuất và lưu thông; khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường; đồng thời, thúc đẩy và định hướng phát triển kinh tế, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường. Phân phối được thực hiện theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào hoạt động kinh tế và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta gần 35 năm qua (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự lễ khánh thành và tham quan nhà máy sản xuất ô tô Vinfast tại Khu công nghiệp Đình Vũ, thành phố Hải Phòng) _Nguồn: baochinhphu.vn

Nhận thức, quan điểm của Đảng về nền KTTT định hướng XHCN được thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, các chiến lược, chương trình, kế hoạch của Nhà nước, được thực hiện đạt kết quả, thành tựu to lớn. Đến nay, nền KTTT định hướng XHCN của nước ta về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế theo thông lệ quốc tế, đồng thời các yếu tố bảo đảm định hướng XHCN tiếp tục được củng cố, tăng cường; kinh tế đất nước đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài, cơ cấu và trình độ công nghệ thay đổi tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín quốc tế của đất nước được nâng cao.

2- Tuy vậy, từ nhiều năm trước và đến hiện nay, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội chính trị ở cả trong nước và nước ngoài thường xuyên chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta vẫn xuyên tạc rằng, không có nền kinh tế nào là nền KTTT định hướng XHCN; KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn; nếu bỏ, không có cái đuôi “định hướng XHCN” thì kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, kết quả đạt được còn lớn hơn. Do đó, mặc dù Việt Nam đã tuyên truyền, vận động, nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là KTTT.

Họ còn cho rằng: Một mặt, Nhà nước ta chủ trương phát triển KTTT, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nhưng mặt khác, Nhà nước ta lại xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế thì như vậy là có sự phân biệt đối xử, không thể bình đẳng. Do đó, không thể có KTTT thật sự, KTTT theo thông lệ quốc tế. Hơn nữa, Nhà nước ta lại xác định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động cả trong nước và ngoài nước thì nền KTTT sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa như các nước tư bản khác chứ không phải phát triển theo định hướng XHCN. Nói định hướng XHCN chỉ là chủ quan, duy ý chí hay là tự lừa dối chính mình, lừa dối người khác mà thôi...

Những luận điệu như vậy không phải là không có tác động đến cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm một số người băn khoăn, ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong xã hội; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường đi lên CNXH; ảnh hưởng tới việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cần phải được đấu tranh, phản bác.

3- Sai lầm của những người cho rằng không thể có nền KTTT định hướng XHCN, thứ nhất, là do họ đã đồng nhất KTTT với KTTT chủ nghĩa tư bản, cho rằng, chỉ có một loại KTTT là KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN). Song, thực chất các quan hệ KTTT và các quan hệ tư bản là hoàn toàn khác nhau. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT. Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản, được chủ nghĩa tư bản nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT TBCN. Giá trị và tư bản là những phạm trù khác nhau, cũng như quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư là những quy luật khác nhau.

Thứ hai, sai lầm của những người này là dường như cho rằng KTTT TBCN từ khi ra đời đến nay là không thay đổi, “nhất thành, bất biến”. Họ không thấy rằng trải qua thời gian, KTTT TBCN cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT TBCN là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước. Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước để hạn chế, khắc phục những khuyết tật do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường. Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Hơn nữa, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước. Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế (như ở Mỹ trước thời Tổng thống Đ. Trăm). Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức). Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp,... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại. Chủ nghĩa tư bản đã lấy KTTT làm cơ sở cho sự tồn tại, vận động, phát triển của mình. Trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, đã xuất hiện nhiều mô hình KTTT ở các nước tư bản phát triển, dù ở mức độ khác nhau, đều có định hướng xã hội. Đây là xu hướng tiến bộ, là những mầm mống của CNXH trong lòng chủ nghĩa tư bản (là những sự phủ định đối với tư bản tư nhân, dù vẫn chưa phá bỏ được chế độ tư bản). Do tính chất của thời đại, một nước kinh tế chưa phát triển, chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, cũng có thể quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở những nước này, sử dụng cả KTTT và cả kinh tế TBCN để xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho CNXH.

Về sai lầm của luận điểm cho rằng các quy luật của KTTT và định hướng XHCN hoàn toàn đối lập, loại trừ nhau: Là một nền KTTT thì phải vận hành theo các quy luật của KTTT. Đó là các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, trong đó trung tâm là quy luật giá trị. Đặc trưng của KTTT là cạnh tranh. Các doanh nghiệp (dùng doanh nghiệp để chỉ chung cho tất cả các chủ thể kinh tế) luôn phải cạnh tranh với nhau để chiếm được các nguồn lực sản xuất (đất đai, tài nguyên, vốn, lao động, khoa học - công nghệ...), các dự án đầu tư, chiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Cạnh tranh là sức ép, động lực thúc đẩy các doanh nghiệp năng động, sáng tạo, cải tiến quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý; ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm; tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; qua đó, thúc đẩy kinh tế phát triển, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Quy luật cạnh tranh là mạnh được, yếu thua. Đây là mặt tích cực của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến những hậu quả tiêu cực: Khai thác tối đa sức lực người lao động (kéo dài giờ làm, tăng cường độ lao động), giảm chi phí cho lao động (giảm lương, giảm bảo hộ lao động); khai thác cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường; sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, như làm hàng giả, kém chất lượng, ăn cắp công nghệ, buôn lậu, trốn thuế, chuyển giá, triệt hạ đối thủ... Trong nền KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển hiện nay, nhà nước tạo khung khổ pháp luật cho cạnh tranh; bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh; nhưng đồng thời, ngăn ngừa, hạn chế độc quyền cản trở cạnh tranh và chống lại các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh.

Lưu thông hàng hóa trong nền KTTT (cả hàng hóa là yếu tố đầu vào của sản xuất và hàng hóa là sản phẩm do sản xuất tạo ra) được điều tiết bởi quy luật cung - cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giảm xuống của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao, từ nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa khi cung lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất các hàng hóa thiếu khi cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản xuất và lưu thông một cách tự động, linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu. Nhưng, trong nền KTTT tự do cạnh tranh, những người sản xuất và lưu thông đều chạy theo lợi nhuận tối đa, luôn muốn đè bẹp đối thủ, lại không xác định được tổng cầu của xã hội (từ người sản xuất đến người tiêu dùng phải qua rất nhiều khâu trung gian), nên thường xuyên sản xuất thừa, dẫn đến những cuộc khủng hoảng chu kỳ, phá hoại nền kinh tế, gây bất ổn xã hội. Đây là mặt trái của quy luật cung - cầu, của cơ chế tự điều tiết của thị trường. Trong nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, nhà nước có khả năng thấy rõ hơn từng người sản xuất, kinh doanh về tổng cung, tổng cầu của xã hội; sự can thiệp của nhà nước là để khắc phục khiếm khuyết này, khắc phục những mất cân đối lớn, những cuộc khủng hoảng chu kỳ do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường gây ra.

Quy luật giá trị là quy luật cơ bản, trung tâm của KTTT. Giá trị hàng hóa là lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa. Chi phí để sản xuất hàng hóa, xét đến cùng, là chi phí lao động, bao gồm lao động của người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa (lao động sống) và lao động chi phí để sản xuất ra các tư liệu sản xuất được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa này (lao động quá khứ). Về lượng giá trị, không phải mọi hao phí lao động cá biệt của những người sản xuất hàng hóa đều được xã hội thừa nhận để trở thành giá trị, chỉ những hao phí lao động ở mức trung bình xã hội, được hình thành do cạnh tranh, được xem là hao phí lao động xã hội cần thiết, mới là lượng giá trị. Giá trị biểu hiện ra bên ngoài thành giá cả, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Giá trị là hình thái của cải trong nền KTTT, là mục tiêu, là yếu tố chi phối mọi hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền KTTT.

Trong KTTT, đối với người sản xuất, việc sản xuất hàng hóa nào cũng chỉ là phương tiện để làm giàu, để thu được nhiều giá trị nhất. Trong sản xuất, họ năng động, sáng tạo, cải tiến, đổi mới... là để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, để chi phí sản xuất của họ thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, qua đó thu được nhiều giá trị hơn. Đối với người lưu thông hàng hóa cũng vậy, mua và bán hàng hóa gì đối với họ không quan trọng, vấn đề cũng là để thu được nhiều giá trị nhất, để làm giàu. Họ năng động, sáng tạo, nắm bắt kịp thời yêu cầu của thị trường, đưa hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao; cải tiến quản lý để giảm chi phí lưu thông;... cũng để thực hiện mục đích này. Đây là cách thức vận hành của quy luật giá trị, cách thức vận hành đó gắn bó chặt chẽ với quy luật cạnh tranh, quy luật cung  - cầu. Có thể nói, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu là những hình thức biểu hiện, cách thức vận hành của quy luật giá trị. Tác động của quy luật giá trị bao gồm những tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật cung - cầu (tất nhiên, quy luật giá trị còn có nội dung rộng hơn hai quy luật này), cả những tác động tích cực, như thúc đẩy năng động, sáng tạo, không ngừng cải tiến quản lý, đổi mới công nghệ,... thúc đẩy kinh tế phát triển; điều tiết sản xuất, lưu thông một cách nhanh nhạy,... và cả những hậu quả tiêu cực, như khủng hoảng chu kỳ, phân hóa xã hội, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường,... Trong các nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là để tạo khung khổ pháp luật và điều kiện thuận lợi cho quy luật giá trị vận hành, đồng thời hạn chế, khắc phục những hậu quả tiêu cực này.

Trong nền KTTT, còn có quy luật lưu thông tiền tệ, một quy luật phái sinh của quy luật giá trị. Đó là quy luật về mối quan hệ giữa hàng hóa và tiền tệ trong lưu thông, về số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa, bảo đảm cho lưu thông hàng hóa thuận lợi, trôi chảy. Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa là do tổng giá trị hàng hóa cần lưu thông và tốc độ luân chuyển (hay tốc độ vòng quay) của tiền quyết định. Trong thời kỳ sử dụng tiền vàng, tiền có đủ giá trị, thì khi số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền vàng sẽ tự động được rút khỏi lưu thông. Khi tiền giấy thay cho tiền vàng, nếu số lượng tiền vượt quá yêu cầu của lưu thông hàng hóa, tiền sẽ mất giá, gây ra hiện tượng lạm phát. Giữ vững giá trị đồng tiền là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước ở các nước có KTTT trên thế giới.

Tóm lại, trong tất cả các nền KTTT hiện đại trên thế giới, đều có hoạt động của các quy luật kinh tế của KTTT và có vai trò quản lý của nhà nước. Nhà nước vừa bảo đảm, tôn trọng hoạt động của các quy luật KTTT, vừa hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, tự phát do các quy luật KTTT gây ra, giữ môi trường ổn định cho kinh tế phát triển và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Song, không có phê phán nào về vai trò của nhà nước, cho rằng điều này đối lập với hoạt động của các quy luật của nền KTTT.

Chế biến nông sản xuất khẩu vào thị trường EU tại Công ty cổ phần Nafoods miền Nam _Nguồn: vietnamplus.vn

Ở nước ta, sau gần 35 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN của nước ta, về cơ bản, về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế: Có đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do kinh doanh, tự do lưu thông hàng hóa, doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, hệ thống thị trường phát triển ngày càng đồng bộ...; quản lý kinh tế của Nhà nước đã đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của Nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, giữ giá trị của đồng tiền, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường,... Trong điều kiện đó, các quy luật của KTTT đã vận hành đồng bộ: Các doanh nghiệp đã phải nỗ lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa đã cơ bản do thị trường quyết định; sản xuất và lưu thông đã phải chú ý đến những tín hiệu giá cả, cung  - cầu trên thị trường; thị trường đã đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất và lưu thông, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, huy động và phân bổ các nguồn lực của sản xuất,... Các yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, để giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường... Nội dung và phương thức quản lý của Nhà nước ta như vậy không mâu thuẫn, không cản trở hoạt động của các quy luật của KTTT mà tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các quy luật này, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Về những luận điểm sai lầm liên quan đến vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN: Sai lầm của những người cho rằng nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì không có bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và không thể có nền KTTT, một là, do bị ám ảnh bởi kinh tế nhà nước trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp trước đây; hai là, do hiểu sai về vai trò chủ đạo, cho rằng chủ đạo là phải được sự ưu đãi, ưu ái của Nhà nước, phải chiếm tỷ trọng lớn, chèn ép, lấn lướt các thành phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế trước đổi mới, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, không có KTTN (KTTN không được phép tồn tại); kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế, do Nhà nước trực tiếp quản lý bằng kế hoạch hóa tập trung, thì không thể có KTTT. Ngày nay, kinh tế nhà nước hoàn toàn khác. Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực kinh tế của Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước là một công cụ của Nhà nước, để cùng với các công cụ khác, như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch do Nhà nước quản lý, điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được huy động, phân bổ, sử dụng theo yêu cầu phải phù hợp, phục vụ việc thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước; nhưng khi thực hiện phải theo cơ chế thị trường, thông qua đấu thầu cạnh tranh, có sự tham gia của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, để việc phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả cao. Doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước đầu tư, phát triển ở những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước (nhất là khi các thành phần kinh tế khác không được, không muốn hay không đủ sức đầu tư), làm lực lượng tiên phong, nòng cốt cho sự phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn đó. Các doanh nghiệp nhà nước tự chủ, hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Khi đã có các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn này và không nhất thiết phải có doanh nghiệp nhà nước, thì Nhà nước có thể thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp, chuyển vốn nhà nước đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng khác để thực hiện chiến lược, mục tiêu mới của Nhà nước. Như vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với ý nghĩa là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết, thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Với vai trò đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không mâu thuẫn, cản trở hoạt động của các quy luật kinh tế, với sự phát triển của KTTT.

Trước đổi mới, kinh tế tập thể, dưới hình thức là các hợp tác xã sở hữu tập thể về đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu, quản lý theo kế hoạch, phân phối theo lao động và nằm trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp chung của đất nước thì đối lập với KTTT. Trong những năm đổi mới, các hợp tác xã cũng đã được đổi mới cả về tổ chức và phương thức hoạt động, khác rất nhiều so với các hợp tác xã trước đây. Hợp tác xã hiện nay (hợp tác xã kiểu mới) là tổ chức kinh tế tập thể do các hộ sản xuất, kinh doanh tự nguyện thành lập để làm dịch vụ cho các hộ thành viên, hỗ trợ cho các thành viên, những người sản xuất nhỏ, yếu thế khi tham gia thị trường, giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tùy theo năng lực của hợp tác xã và nhu cầu của các hộ thành viên, hợp tác xã có thể cung ứng các vật tư, nguyên liệu, các yếu tố đầu vào cho sản xuất của các hộ (với giá rẻ hơn, chất lượng bảo đảm hơn khi từng hộ riêng lẻ mua); đảm nhận các dịch vụ sản xuất, như làm đất, chăm sóc, thu hoạch cho các hộ thành viên (tiết kiệm cho các hộ phải mua máy móc thiết bị nhưng sử dụng không hết công suất); bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho các hộ thành viên (có lợi hơn cho hộ so với khi từng hộ bảo quản, chế biến, tiêu thụ); hỗ trợ các hộ thành viên vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng,... Các hợp tác xã phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà còn cả trong các lĩnh vực tiểu, thủ công nghiệp, thương mại, vận tải,... Các hợp tác xã từng bước tích lũy vốn, quỹ, tài sản, mở rộng quy mô hoạt động; liên kết với nhau thành hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã theo ngành, nghề, theo địa bàn hoạt động... tạo thành mạng lưới rộng khắp để hỗ trợ những người sản xuất nhỏ, đưa những người sản xuất nhỏ đi lên CNXH, phát triển theo định hướng XHCN.

Kinh tế tập thể với vai trò hỗ trợ cho những người sản xuất nhỏ hoạt động, phát triển trong nền KTTT và cùng với kinh tế nhà nước, với vai trò là công cụ để Nhà nước thúc đẩy, định hướng phát triển kinh tế đất nước, đi tiên phong để thu hút các thành phần kinh tế khác đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn quan trọng của đất nước thì hai thành phần kinh tế này được xác định là nền tảng của nền KTTT định hướng XHCN là đúng đắn, không cản trở sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, không cản trở sự phát triển của KTTT.

Về sai lầm của luận điểm cho rằng, KTTN với vai trò là một động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh thì nền kinh tế không thể phát triển theo định hướng XHCN mà sẽ trở thành nền kinh tế TBCN. Quả thật, nếu để KTTN phát triển một cách tự phát thì nền KTTT nước ta sẽ đi theo con đường TBCN. Nhưng nền KTTT nước ta có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, KTTN không phát triển tự phát, mà phải tuân thủ pháp luật, chính sách của Nhà nước, được định hướng hoạt động phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước, bảo đảm điều kiện lao động, quan hệ lao động hài hòa, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, khi Nhà nước khuyến khích KTTN phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế mạnh, hoạt động ở cả trong nước và ngoài nước thì pháp luật, chính sách của Nhà nước cũng định hướng các tổng công ty, tập đoàn kinh tế phát triển thành các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các lực lượng xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước ta sẽ đưa KTTN vào con đường phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước, một nấc thang quá độ lên CNXH, để KTTN đóng góp vào phát triển nền KTTT định hướng XHCN./.