Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

VỀ LUẬN ĐIỆU "MUỐN CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ THÌ PHẢI THAY ĐỔI THỂ CHẾ"


"Không thể gọi là "đốt lò", "chống tham nhũng" nếu không chịu thay đổi thể chế" - Vị linh mục thuộc DCCT Việt Nam Đinh Hữu Thoại đã viết như thế trên facebook cá nhân sau khi dẫn về một stt khác của facebooker Thach Vu: "Hai sự thật không thể phủ nhận:
- CB tham nhũng từ phường xã cả nước đến UVBCT là sản phẩm trực tiếp của CƠ CHẾ hiện nay.
- Người "đốt lò vĩ đại" cũng là người nhất định duy trì CƠ CHẾ đó!".
Đây không phải lần đầu tiên vị linh mục Dòng chúa cứu thế này nói ra những điều như thế. Sự hằn học, bất đồng với chế độ khiến ông ta chỉ nhìn được có thể và trong mọi vấn đề phản ánh, ông ta luôn cố gắng thể hiện cho được cái ý đồ thường trực đó. Tuy nhiên, cái gọi là "muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải thay đổi chế độ" được nói đến thực chất chỉ là chiêu trò của những kẻ luôn muốn thay đổi chế độ nhưng "lực bất tòng tâm".
Từ cách gợi mở của linh mục này và facebooker Thach Vu, một câu hỏi được đặt ra là có phải thể chế hiện nay của Việt Nam đang đẻ ra tham nhũng? hay tham nhũng là hệ quả tất yếu của những cơ chế lỗi thời và những quy định không đủ sức kiểm tỏa, xử lý khi có tham nhũng xảy ra?
Các câu hỏi này có thể trả lời ngay luôn là không, bởi nếu tham nhũng là bệnh của một chế độ thì không có chuyện vấn nạn này đang hiện hữu, có mặt ở hầu hết các nước từ XHCN đến TBCN, từ nước giàu đến nước nghèo, bất chấp không có sự đồng nhất về mặt thể chế. Đến như các nước phương Tây Tư bản chủ nghĩa cũng đau đầu khi đối diện với nó. Và xin thưa một khi đã là bệnh chung, của thế giới thì việc cá thể hóa, gắn ghép cho một nước, một chế độ sẽ xem chừng là thiếu thuyết phục và điều không nên làm. Cái ý tưởng ""muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải thay đổi chế độ" vì thế cũng khó lòng thuyết phục được những người hiểu chuyện.
Xung quanh câu chuyện đang được nói đến không phải thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đang phải bó tay, không có những giải pháp hữu hiệu để phòng chống. Mà trên thực tế, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã thực sự thành công trong cách chống tham nhũng dựa trên nguyên tắc "đánh chuột không để vỡ bình".
Theo đó, nhận thức được tham nhũng đẻ ra từ cơ chế (không phải thể chế) và nhất là việc cơ chế cũ không đủ sức trói buộc, hướng lái những chủ thể có quyền thực hiện hành vi tham nhũng. Nên từ rất sớm, khi phát động cuộc chiến chống tham nhũng Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu vấn đề, khởi động cho việc thay đổi, đổi mới cơ chế quản lý, vận hành đất nước. Trên nền tảng cơ chế mới, hàng loạt giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung, chống tham nhũng nói riêng được hình thành. Và điều đáng nói là tất cả những giải pháp, hệ thống biện pháp đó đều quán xuyến, xây dựng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc xác lập trên nền tảng của chế độ và điều đó đang phát huy tác dụng.
Chỉ có điều với những sự lệch lạc trong ý nghĩ của bản thân cùng những ý đồ hướng đến mà vị linh mục DCCT Việt Nam này không thể nhìn thấy. Việc ông ta nhăm nhăm kêu gọi thay đổi chế độ vì thế là một chiêu trò nhưng xin thưa, nó chỉ lừa bịp được những kẻ hoặc có mặc cảm với chế độ hoặc những kẻ cùng quan điểm với ông ta.
Cần nhớ rằng, chế độ này do nhân dân Việt Nam lựa chọn và việc có để nó tồn tại được hay không phải là do số đông người dân quyết định. Nó mặc nhiên sẽ không bị thay thế bởi những chiêu trò rẻ tiền, ít chiều sâu kiểu này. Mong rằng, nếu tiếp tục những mưu đồ kiểu này thì linh mục Dòng chúa cứu thế Đinh Hữu Thoại cũng nên dụng công và đầu tư hơn. Có như thế ông mới có đất sống, chứ nếu không nó chỉ càng cho dư luận thấy rõ hơn cái bản mặt của ông hơn mà thôi. Thứ đến, đó cũng là nguyên cớ để lực lượng chức năng chú ý đến ông hơn và biết đâu đó có thể là sự khởi đầu cho những điều không hay của vị linh mục này...
Nguồn: An Chiến
Blog Việt Nam Mới
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'PEUMER சமயம Chiêu trò được linh mục Đinh Hữu Thoại, DCCT Việt Nam nêu lên (Nguồn: Ảnh chụp từ facebook).'
29
3 bình luận
11 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Làm chủ căn cứ Tân Cảnh

 

Chúng tôi có may mắn được gặp và trò chuyện với Thiếu tướng Phùng Bá Thường (1924-2021), nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hậu cần (nay là Học viện Hậu cần) lúc sinh thời.

‘Nghệ thuật hắc ám’ trong việc thao túng dư luận của phương Tây


Các tài liệu của Chính phủ Anh được giải mật gần đây đã tiết lộ hàng trăm hoạt động “tuyên truyền đen” quy mô và tốn kém, trong đó có các chiến dịch vận động chống Liên Xô trước đây. Dù những chiến dịch này đến nay được cho là đã kết thúc, song các chuyên gia nhận định nó có thể vẫn tiếp tục theo nhiều hình thức khác nhau.
Bất ngờ từ những tài liệu được giải mật
Theo đó, tài liệu giải mật cuối năm 2021 cho thấy London đã bí mật thực hiện truyền thông sai lệch trong hàng chục năm ở giai đoạn từ giữa những năm 50 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước, nhắm vào nhiều nước châu Phi, Trung Đông, châu Á và Liên Xô. Cách thức chính trong giai đoạn đó là phát tán các tờ rơi, bài báo hoặc báo cáo giả nhằm gây bất ổn, khuyến khích căng thẳng chủng tộc, gieo rắc hỗn loạn, kích động bạo lực…
Bài báo “Chiến dịch tuyên truyền đen bí mật của Anh nhằm chống kẻ thù trong Chiến tranh lạnh”, đăng ngày 15/5 trên tờ The Guardian (Anh) của tác giả Jason Burke đã viết rằng, chiến dịch này do một đơn vị đặc biệt thuộc Bộ Ngoại giao Anh triển khai, tập trung vào những đối thủ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh như Liên Xô, cũng như các nhóm giải phóng cánh tả và các nhân vật mà Anh cho là “mối đe dọa đối với lợi ích của mình”. Theo GS Rory Cormac (Đại học Nottingham, Anh): “Tài liệu giải mật này là những tiết lộ quan trọng nhất trong vòng 20 năm qua. Điều đó cho thấy rất rõ ràng rằng Anh tham gia các hoạt động ‘tuyên truyền đen’ nhiều hơn hết so các giả định trước đó của giới sử học…”.
GS Rory Cormac đã phân tích sâu các chi tiết tài liệu mới giải mật của Anh và công bố trong cuốn sách có tựa đề “How to stage a coup: And ten other lessons from the world of secret statecraft” (Tạm dịch “Cách tạo ra một cuộc đảo chính: 10 bài học khác từ thế giới của thủ đoạn ngoại giao bí mật”), xuất bản ngày 2/6/2022. Theo ông, hàng ngàn tài liệu đã được giải mật sau hơn 40 năm song vẫn mang lại cái nhìn sâu sắc về các hoạt động phát tán thông tin sai lệch để chống phá. Ông cho rằng: “Nước Anh chỉ là một trong số rất nhiều chủ thể phát tán số lượng tài liệu ‘tuyên truyền đen’. Họ chắc chắn có ý định đánh lừa công chúng để truyền tải thông điệp giả mạo”.
Trong lời tựa cho cuốn sách của tác giả Cormac trên Amazon có viết: “Thế giới ngày nay đang thay đổi. Sự cạnh tranh giữa các cường quốc đã trở lại trong chương trình nghị sự quốc tế và các chính phủ trên khắp thế giới đang chuyển sang sử dụng những quy chế bí mật, hay thậm chí ‘ném đá giấu tay’ để định hướng dư luận… Câu chuyện của Rory Cormac với các thí dụ thực tế, đã tiết lộ cách các hoạt động thủ đoạn như vậy đang định hình thế giới và giải thích tại sao các quốc gia ngày càng chú trọng sử dụng những nghệ thuật hắc ám này”.
“Nghệ thuật hắc ám”
Theo hãng thông tấn RIA Novosti của Nga, ở thời kỳ đỉnh điểm giữa những năm 60 của thế kỷ 20, Phòng Nghiên cứu thông tin (IRD) thuộc Bộ Ngoại giao Anh đã tuyển dụng 360 nhân sự. Tuy nhiên, chỉ có một vài người được giao nhiệm vụ đặc biệt bí mật là biên tập các tin tức “tuyên truyền đen”. Đơn vị có trụ sở ở Westminster đã sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để thao túng dư luận. Một trong số đó là soạn ra các báo cáo giả gửi đến các chính phủ hoặc phóng viên, nhà báo… để tuyên truyền về Liên Xô như một mối đe dọa nghiêm trọng.
Theo đó, cơ quan an ninh của Anh cung cấp thông tin tình báo cho IRD để đơn vị này soạn ra các báo cáo trích dẫn một vài dữ kiện và phân tích được lựa chọn cẩn thận có chủ đích nhằm bóp méo thông tin. IRD cũng thiết lập và điều hành một số tổ chức chống phá lấy danh nghĩa là hoạt động độc lập, song nhận tài trợ của Chính phủ Anh.
Một “nghệ thuật hắc ám” khác của cơ quan này là giả mạo tuyên bố của các tổ chức và cơ quan truyền thông ở các nước khác, nhằm tung tin thất thiệt hoặc tạo ra những thuyết âm mưu gây bất lợi cho đối thủ của nước Anh. Chẳng hạn, từ năm 1965 đến năm 1972, IRD đã giả mạo ít nhất 11 tuyên bố của hãng thông tấn nhà nước của Liên Xô, gây hiểu nhầm và xuyên tạc những quan điểm, chính sách của Liên Xô trong quan hệ quốc tế lúc bấy giờ. IRD cũng giả mạo tài liệu về Tổ chức Anh em Hồi giáo (MB) ở Trung Đông, cô lập những người theo chủ nghĩa dân tộc châu Phi…
GS Cormac cho rằng không nghi ngờ gì khi các nhà hoạch định chính sách cấp cao của Anh đã biết rõ về công nghệ tuyên truyền của IRD. Năm 1964, Bộ trưởng Ngoại giao Anh khi đó là Patrick Gordon Walker đã khuyến khích Bộ Ngoại giao duy trì “tiềm năng ‘tuyên truyền đen’ và sản xuất tài liệu bí mật cho mục đích này”.
Mặc dù tác động của các chiến dịch của IRD thường khó đánh giá rõ rệt, song nhìn chung công chúng không có nhiều cơ hội để phân biệt các tin tức giả hay thông tin xuyên tạc, vì vậy dễ bị chi phối về mặt thông tin. Mỗi khi tin giả gây ra phản ứng giận dữ và kích hoạt dư luận theo định hướng của mình, đây được coi là một thành tựu lớn của IRD. Tài liệu giải mật cho thấy “quan chức Anh tỏ ra hài lòng” khi tài liệu giả được xuất bản trên các tờ báo ở các quốc gia mục tiêu, hoặc có khi các tờ báo phương Tây cũng vô tình sử dụng tài liệu từ IRD.
IRD đã ngừng hoạt động vào năm 1977, tuy nhiên các nhà nghiên cứu hiện đưa ra bằng chứng cho thấy những nỗ lực tuyên truyền đen tương tự kéo dài trong gần 10 năm sau đó và không loại trừ vẫn tiếp diễn với nhiều hình thức khác. Theo GS Cormac: “Đối với phần lớn thời kỳ Chiến tranh lạnh, Anh đã sử dụng nhiều phương tiện và thủ đoạn để giành ưu thế trong cuộc chiến thông tin. Sau đó, ‘tuyên truyền đen’ có thể đã tiếp diễn tinh vi hơn nhiều”. Ông cho rằng, khi một cuộc xung đột xảy ra, các bên liên quan thường có động thái tung hỏa mù, cảnh báo, phát biểu răn đe đối phương… song truyền thông phương Anh cũng như phương Tây đã chứng tỏ mình là nguồn tin tức thiếu tin cậy trong xung đột, thậm chí đã trong nhiều trường hợp gây mất lòng tin đối với công chúng.
Năm 2010, trong phiên điều trần về chính sách ngoại giao của Anh dẫn đến cuộc chiến Iraq vào năm 2003, Chủ tịch Ủy ban điều tra là Sir John Chilcot đã chủ trì phiên điều trần với nhiều quan chức tình báo và ngoại giao Anh. Theo đó, các quan chức này đã không chỉ ra được bằng chứng để kết luận rằng chính phủ của Tổng thống Iraq lúc đó là Saddam Hussein “sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD)”, song chính quyền Anh đã vin vào WMD làm cái cớ để cùng Mỹ phát động cuộc chiến xâm lược Iraq, với mục đích sau này được xác định là lợi ích kinh tế từ nguồn cung dầu mỏ.
Trước khi phát động một cuộc chiến thực địa, chiến tranh thông tin được áp dụng nhằm mục đích tạo nên môi trường thông tin hỗn loạn, bất lợi khiến đối thủ không thể biện minh cho cuộc chiến, từ đó hủy hoại uy tín của đối thủ trên trường quốc tế, còn phương Tây thì có cớ tập hợp sự ủng hộ mạnh mẽ để chống lại đối thủ. Ngày nay, với sự bùng nổ của các mạng xã hội như Facebook, Twitter… việc lan truyền tin giả, thông tin sai lệch lại càng gây khó khăn cho công chúng.
PL

Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa cho cán bộ, chiến sĩ

 

Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta luôn mang trong mình bản chất cách mạng, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ-Bộ đội của dân-Bộ đội vì dân.

Nhận diện hoạt động của một số tà đạo hiện nay

 Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 22/6 :

 

“Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”.
Đây là nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời câu hỏi phỏng vấn của một phóng viên nước ngoài: “Sau khi chiến tranh kết liễu thì chương trình kiến thiết của Việt Nam sẽ thế nào? Địa vị người tri thức Việt Nam sẽ thế nào”, vào ngày 22 tháng 6 năm 1947.
Câu nói “Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và vai trò của trí thức đối việc củng cố và bảo vệ chính quyền; đồng thời, còn thể hiện tư tưởng chỉ đạo, phát huy vai trò quan trọng, địa vị và sự đóng góp cần thiết của đội ngũ trí thức với công cuộc kiến thiết nước nhà. Thực hiện tư tưởng của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức nước ta đã có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kiến quốc, giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo thành khối liên minh bền vững giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày nay, thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; lời Bác dạy có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tiếp tục được Đảng, nhà nước ta nghiên cứu vận dụng sáng tạo làm cơ sở cho xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt. Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, giỏi về chuyên môn, giàu về năng lực, hiểu biết sâu sắc trên từng lĩnh vực đời sống xã hội, đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, tiếp nhận nhanh và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học kỹ thuật quân sự, để tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng, an ninh; phát triển đội ngũ trí thức quân đội cả về số lượng và chất lượng, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'
20
13 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam dưới góc nhìn bình đẳng giới

 Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người...

 

Sự thật về tình hình sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự. Số lượng tín đồ theo các tôn giáo hiện nay: Phật giáo 15,1 triệu; Công giáo 7,1 triệu; Cao đài 1,1 triệu; Tin lành 1 triệu; Hồi giáo 80.000; Phật giáo Hòa hảo 1,3 triệu, còn lại là các tôn giáo khác (Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Tứ ân Hiếu nghĩa, Bà La môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, Minh sư đạo, Minh lý đạo…).

Ở khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là tại các thành phố, các trung tâm tôn giáo lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Tây Ninh, Cần Thơ…, các sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú.

Hoạt động của các thiết chế tôn giáo đã có những đóng góp nhất định trong việc tập hợp và vận động quần chúng theo đạo - một lực lượng quan trọng trong khối đại đoàn kết dân tộc - tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Các ngày lễ trọng, các lễ nghi, lễ hội tôn giáo được tổ chức ngày càng trang nghiêm, quy mô hơn trước và thu hút ngày càng đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều sinh hoạt tôn giáo đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với tinh thần phấn khởi, yên tâm và tin tưởng. Các lễ hội như lễ Phật đản của Phật giáo, lễ Noel của Công giáo và đạo Tin Lành, lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo…  được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và đảm bảo an ninh trật tự. Lễ hội của mọi tôn giáo đều trở thành hội lễ chung vui của toàn dân tộc như Lễ hội Đền Hùng, lễ Noel, lễ hội La Vang.

Đặc biệt lễ Phật đản của Phật giáo đã chính thức được UNESCO công nhận là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới. Một số lễ hội mang tính thế tục được dư luận quan tâm đánh giá cao, như: Lễ cầu siêu cho những người đã hy sinh trong cuộc kháng chiến do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2005; Đại hội hành hương La Vang lần thứ 27 kết hợp “Năm Thánh thể” với quy mô lớn do Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức; Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức năm 2005…

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, trong 16 năm (2001-2017), số tín đồ của các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tăng lên 6% trong dân số. Đó là chưa kể các tôn giáo nhóm nhỏ (chủ yếu là các nhóm Tin lành tư gia) chưa được công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới rất khó thống kê số lượng người theo. Số lượng tín đồ các tôn giáo đều tăng lên, trong đó tăng nhanh nhất là tín đồ đạo Tin lành, từ 670.000 người năm 2004 đã tăng lên tới trên 1,2 triệu tín đồ năm 2015, tức là tăng gấp gần 2 lần trong 10 năm. Sự phát triển có tính chất đột biến của đạo Tin lành diễn ra chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Đây cũng là hai địa bàn có sự chuyển đổi đức tin tôn giáo diễn ra mạnh mẽ nhất trong thời kỳ đổi mới.

Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó cho rằng, nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề dân tộc, tôn giáo không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người. Thậm chí, báo cáo đưa ra những cái nhìn lệch lạc như “Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”, “tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”. Cho rằng Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng trên thực tế “không thực hiện”… Có thể thấy, đây không phải là lần đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố các báo cáo có nội dung sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều lần, trong các báo cáo đều có nội dung nói rằng, Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ “vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”, “một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu”.

Với số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Thực tiễn này đã bác bỏ mọi nhận xét thiếu khách quan về việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta. Đối với các luận điệu cho rằng, Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, cấm đoán các tổ chức tôn giáo hoạt động, đây là những vu cáo vô căn cứ.

Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

 

 

 

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng luôn được đảm bảo ở Việt Nam

Những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

 

Đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Tự do, dân chủ, nhân quyền luôn là khát vọng của con người. Lịch sử thế giới cho thấy không chỉ cuộc đấu tranh cải thiện đời sống vật chất, chống đói nghèo, thất nghiệp mà cả cuộc đấu tranh cho dân chủ cũng lôi cuốn hàng trăm, hàng ngàn triệu người.

Ngày nay, đối với nhiều quốc gia, dân tộc, tự do, dân chủ, nhân quyền đang là một mục tiêu chính trị và do đó trở thành một động lực quan trọng thôi thúc họ đấu tranh, gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân và tiến bộ xã hội thực sự.

Gần đây trên các trang mạng xã hội faceboock các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị tự xưng là “đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền”, cái gọi là “Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch” đã lợi dụng một số đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý để để tung ra những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ vu cáo: “Việt Nam đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền”...

Họ trích dẫn một vài sự việc ở đâu đó cho có vẻ khách quan, rồi khẳng định: “người dân Việt Nam chưa bao giờ có tự do, dân chủ, nhân quyền”. Human Rights Watch viện dẫn một số vụ việc gây rối ở một số nơi như Nghệ An, Hà Tĩnh,…bị cơ quan chức năng xử lý, nhưng tổ chức này không hiểu gì về thực chất của vụ việc.

Bởi vì, thông tin mà Human Rights Watch tung lên mạng xã hội xem ra có vẻ khách quan, dễ đánh lừa vào lòng tin của nhân dân ta, song đằng sau những lời bình luận sai trái, thù địch của họ lại không đúng sự thật và không thể tin được âm mưu thâm độc của nó. Thực chất nội dung bài viết này là cố tình xuyên tạc tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tán dương cổ súy nền dân chủ tư sản phương Tây.

Tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn này biểu hiện ở chỗ, nó dễ gây nên sự hoài nghi, ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về giá trị tự do, dân chủ, dễ gây nên sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhẹ dạ, tin vào những thông tin mà tổ chức Human Rights Watch nêu ra. Họ thường lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm “tự do, dân chủ”, “nhân quyền”, chống phá Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam. Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn đó họ không từ một thủ đoạn nào.

Với những luận điệu xuyên tạc sự thật về: “Tự do, dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam của tổ chức Human Rights Watch đưa ra một số đánh giá không khách quan, thông tin sai lệch. Họ xuyên tạc một cách trắng trợn tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Như vậy, có thể khẳng định, tất cả những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội đều là xuyên tạc, bóp méo sự thật về đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta; nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và lực lực lượng vũ trang. Mục tiêu cuối cùng của họ là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; và đòi “đa nguyên, đa đảng đối lập”; họ muốn Đảng Cộng sản Việt Nam thôi giữ vai trò lãnh đạo đối với giai cấp, dân tộc và xã hội, họ yêu cầu đảng phải “đổi mới thể chế chính trị”, đòi nhường quyền lãnh đạo dân tộc và xã hội cho một “lực lượng chính trị mới”.

Tuy nhiên dù họ có đòi hỏi, “bịa đặt, vu cáo, xuyên tạc” đến đâu thì họ cũng không thể phủ nhận một thực tế rằng Việt Nam là một nước luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn hoạt động tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

Để hiểu rõ hơn về “Tự do, dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, chúng tôi xin nêu một vài vấn đề để chúng ta cùng nghiên cứu, suy ngẫm thực tế “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam như thế nào.

Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập - Nhà nước Công - Nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, toàn dân Việt Nam được đi bầu cử tự do năm 1946 với hình thức phổ thông đầu phiếu, nhân dân ta từ thân phận nô lệ, tôi tớ đã được hưởng quyền làm chủ thực sự và ngày càng được phát huy trong quá trình xây dựng xã hội mới; chế độ dân chủ đó “gấp triệu lần” hơn hẳn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử. Nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng đất nước.

Ngay sau ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương xây dựng Hiến pháp, biểu hiện đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta, là một mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, vì nhân dân và do nhân dân làm chủ.

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến pháp là bảo đảm tự do, dân chủ, nhân quyền. Để thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013; gắn quyền lợi với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”[1].

Điều đó tiếp tục được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn và có sức thuyết phục. Biểu hiện ở chỗ, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng và vì lợi ích của nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ và được phát huy cao độ tính tích cực, tự giác của mình, sức lao động được giải phóng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo ngày càng cao, tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn trong các kỳ họp của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại, các cuộc tiếp xúc của các đại biểu Quốc hội với cử tri … những điều này cho thấy Đảng, Nhà nước ta đã tạo điều kiện tốt nhất để cho mỗi người dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua tự do, dân chủ học tập và dân chủ gián tiếp.

Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ dân chủ ở Việt Nam, thể hiện rõ mục tiêu, động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển đất nước.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định yêu cầu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân” và “bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”. Đồng thời, Đảng cũng khẳng định việc “phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.

Bản chất tốt đẹp và tính chất ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn và phát huy trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tóm lại, những nội dung đề cập của Tổ chức Human Rights Watch là hoàn toàn sai với thực tế ở Việt Nam, đó là những luận điệu sai trái, bóp méo, xuyên tạc sự thật vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Những luận điệu mà Tổ chức Human Rights Watch đưa ra là bịa đặt, xuyên tạc nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và hòng xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, mỗi người cần nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam của các tổ chức, cá nhân thù địch

Theo dấu chân người 'DĨ BẤT BIẾN, ỨNG VẠN BIẾN' Ngày 31-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường thăm Pháp, chia tay với đông đảo thành viên Chính phủ và đại diện các tầng lớp nhân dân ra tiễn tại sân bay Gia Lâm. Bác cũng chân thành nói với quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng: Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạn biến" (lấy cái không thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi). Cùng đi với Bác có tướng Raul Salan. Chặng bay đầu tiên dài gần 1400km hạ cánh xuống sân bay “Pegou” (Miến Điện). Nguồn Báo QĐND ngày 31/5/2022 Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi Pháp (năm 1946). Ảnh: Hochiminh.vn
THỦ ĐOẠN CỦA THẾ LỰC ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA Tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của Nhân dân ta. Với thủ đoạn lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã và đang xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội. Bằng những bài viết mang nặng sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, quy kết và thổi phồng cho “tham nhũng” là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh với gam màu xám về thực trạng xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ đảng viên với quần chúng Nhân dân. Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; Đảng ta đã khẳng định đây là vấn đề nhức nhối, là một trong những nguy cơ của cách mạng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Bằng trách nhiệm chính trị, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn công tác phòng chống tham nhũng hiện nay là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, thù địch để thực hiện mục đích, ý đồ xấu./. ST