Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

 TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC


✅ “Lấy dân làm gốc” là một trong những triết lý sâu sắc trong kho tàng tư tưởng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng đó đã được thể chế hóa trong Hiến pháp, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta qua nhiều thời kỳ.


✅ Tại Đại hội XIII, tư tưởng lấy dân làm gốc đã được đúc kết thành bài học, với những nguyên tắc cơ bản, định hướng mọi chủ trương, sách lược của Đảng trong giai đoạn mới “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm lấy “dân làm gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thật sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.


✅ Điểm mới trong Nghị quyết Đại hội Đảng XIII so với Nghị quyết Đại hội Đảng XII về tư tưởng “lấy dân làm gốc” chính là “dân thụ hưởng”. “Dân thụ hưởng” nghĩa là người dân có quyền được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới; khi người dân được thụ hưởng, được thỏa mãn những lợi ích chính đáng, sẽ tạo thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân hăng hái cống hiến và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước; thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng và Nhà nước đến đời sống của nhân dân; là sự phát triển trong nhận thức của Đảng, là động lực để Đảng ta hoàn thiện các chủ trưởng, đường lối trong tiến trình phát triển, lãnh đạo đất nước. 


✅ Qua các giai đoạn cách mạng, tư tưởng “lấy dân làm gốc” không ngừng được bổ sung, phát triển. Đảng ta luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm quan điểm lấy dân làm gốc. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. 


✅ Dân làm gốc chính là phải phát huy và bảo đảm tốt hơn, thực chất hơn quyền làm chủ của nhân dân. Để chủ trương “lấy dân làm gốc” của Đảng ta đi vào cuộc sống thì Đảng, Nhà nước cần quan tâm, chăm lo, đặt lợi ích của nhân dân lên trước hết và trên hết trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách. Nhân dân được thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển. Bài học “lấy dân làm gốc” sẽ trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn khi chủ trương này được thực thi một cách hiệu quả.

 

NHẬN DIỆN VỀ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

 

 Là một hiện tượng xã hội, cơ hội về chính trị xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại. Tuy tính chất, mức độ và biểu hiện khác nhau nhưng ở giai đoạn nào, thời kỳ nào cũng có. Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, một bộ phận trong các giai tầng xã hội vì lợi ích cá nhân mà sẵn sàng thay đổi lập trường, quan điểm chính trị. Trong xã hội phong kiến, bên cạnh những minh quân và các vị quan thanh liêm, chính trực, thường xuất hiện những kẻ bên ngoài thì tỏ ra người trung quân, ái quốc, nhưng bên trong lại phản nước, hại dân. Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã bị chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn và chống phá. Năm 1895, sau khi Ph.Ăngghen mất, những người đứng đầu Quốc tế II và các đảng dân chủ - xã hội ở Tây Âu đã từ bỏ những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác, chủ trương đưa phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân trong khuôn khổ những cải cách cục bộ, không nhằm mục tiêu lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Họ đã biến Quốc tế II và các đảng dân chủ - xã hội thành những đảng cải lương, xa rời bản chất giai cấp công nhân và mất tính chiến đấu của một Đảng chân chính cách mạng.

          Ở nước ta, trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, ở những giai đoạn có tính bước ngoặt lịch sử, thường xuất hiện tư tưởng cơ hội về chính trị dưới nhiều màu sắc và ở những mức độ khác nhau. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi cuộc chiến tranh bước vào thời kỳ cam go, quyết liệt, do khiếp sợ trước sức mạnh của vũ khí và sự tàn bạo của kẻ thù, một số người đã có tư tưởng muốn từ bỏ đường lối đấu tranh vũ trang để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nuôi ảo tưởng về con đường thỏa hiệp, chung sống hòa bình. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, một số người có tư tưởng hoang mang, dao động, mất phương hướng chính trị, đòi từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, muốn đưa đất nước ta đi theo con đường khác.

Lợi dụng bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng Internet, mạng xã hội và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, các vi phạm của cán bộ đảng viên, các đối tượng cơ hội về chính trị gia tăng các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền, kích động, thực hiện “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ.

PHAO

Tuyên truyền làm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

 

Hiện nay, phòng, chống và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đòi hỏi phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo, sáng suốt trong nhận diện, phân tích, thấy rõ âm mưu, thủ đoạn lừa bịp của các thế lực thù địch, từ đó tạo sự “miễn dịch”, tăng cường sức đề kháng, tạo sức mạnh đấu tranh chống lại sự nguy hiểm, thâm độc, sảo quyệt của kẻ thù.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục để cán bộ đảng viên và nhân dân hiểu rõ, hiểu tường tận “địch từ đâu tới”; “chúng cần gì ở chúng ta”; thấy rõ sở trường, sở đoản, quy mô, lực lượng, phương tiện; cơ sở tư tưởng, nguồn gốc phát sinh, phát triển của những luận điệu chống phá mà các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị sử dụng; mục đích cụ thể, mục đích lâu dài của chúng nhằm đạt được; “vạch mặt, chỉ tên” những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng “té nước theo mưa”, “vào hùa” tuyên truyền sai sự thật đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.. Kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, củng cố niềm tin, ý chí chiến đấu, quyết tâm bảo vệ Đảng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những nội dung trên cần được tiến hành bằng các hình thức sáng tạo thông qua hệ thống truyền thông, báo, đài, mạng xã hội, internet, các thiết chế văn hoá ở cơ sở; bám sát các sự kiện chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị, thủ đoạn, âm mưu của các thế lực thù địch để xác định hình thức, biện pháp tuyên truyền phù hợp để cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhận thức sâu sắc, nêu cao ý thức cảnh giác, chủ động phát hiện, nhận diện và đấu tranh kịp thời với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Phát huy đầy đủ vai trò các cơ quan chức năng, nhất là các Ban chỉ đạo 94 trong nắm, đánh giá, dự báo tình hình; tham mưu kịp thời với cấp uỷ đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị nội dung, biện pháp đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; cung cấp thông tin; định hướng tư tưởng, nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm diễn ra trong đời sống xã hội.

PHAO

Nâng tầm tư duy của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.


Xây dựng chủ nghĩa xã hội là vấn đề lớn, nhiều vấn đề mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cần làm sáng rõ, điều đó, đòi hỏi Đảng ta phải nâng tầm trí tuệ để lý giải thuyết phục, tạo niềm tin trong Đảng và xã hội. Hơn nữa sự phát triển, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng phụ thuộc vào sự phát triển tư duy lý luận của Đảng. Không tập trung nâng cao và phát huy được trí tuệ để phát triển lý luận về những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới thì sẽ khó có sự thống nhất cao về ý chí và hành động, sẽ không tạo được “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, và thậm trí, có thể dẫn đến hành động “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Đó sẽ là kẽ hở để các luận điểm sai trái, phản động len lách vào, tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, vấn đề nâng tầm trí tuệ của Đảng trong bối cảnh hiện nay có ý đặc biệt quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Muốn vậy, Đảng tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Tập trung nghiên cứu sâu, bài bản, toàn diện, có trọng tâm các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn kết tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với định hướng chính sách, đúc rút kinh nghiệm làm phong phú hơn lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó khẳng định bản chất cách mạng, tính khoa học và giá trị vĩnh cửu của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới.

Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì: trí tuệ của Đảng là do trí tuệ của đảng viên tạo thành, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực chất nhằm tăng cường sức chiến đấu của Đảng, chống các thế lực thù địch, không để và không phạm những khuyết điểm, sai lầm để các thế lực thù địch lợi dụng những khuyết điểm của cán bộ, đảng viên để tấn công, phá hoại Đảng. Muốn vậy, phải thường xuyên làm tốt quản lý, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, định hướng sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược. Coi trọng kiểm tra, giám sát thực hiện nền nếp, chế độ và các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong tranh luận, thảo luận; giữ vững dân chủ, kỷ luật của tổ chức, nâng tầm trí tuệ của Đảng.

PHAO

Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.[1]. Muốn vậy, cần tuyên truyền sâu rộng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu, thấy rõ tính khoa học, vượt thời đại, qua đó khẳng định sức sống mãnh liệt, trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, để chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào đời sống xã hội và các tầng lớp nhân dân, cần chú trọng “đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn”[2]. Tập trung luận giải cặn kẽ, có căn cứ khoa học và tính thuyết phục những lĩnh vực, những góc cạnh của đời sống xã hội, những vấn đề mới, “nóng” mà dư luận xã hội quan tâm trên cơ sở lý luận mác xít. Trong tuyên truyền cần chú ý lấy đối tượng được tuyên truyền, giáo dục làm mục tiêu để xây dựng nội dung, chương trình phù hợp. Cùng với đó, nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề tư tưởng trong Đảng, trong xã hội. Chú trọng nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, bảo đảm thống nhất tư tưỏng trong Đảng, đồng thuận cao trong xã hội.

PHAO

[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quôc lần thư XIII,Sđd, tập 1, tr.228.

 [2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quôc lần thư XIII, Sđd, tr.228.

 

Các thế lực thù địch thực hiện quyết liệt “chiến lược” chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

         Hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện quyết liệt “chiến lược” chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta trên tất cả mọi phương diện, tập trung trên một số vấn đề sau:

Một là, xuyên tạc bản chất cách mạng khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội mác xít.

Các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc tính tất yếu của sự vận động, thay thế giữa các hình thái kinh tế - xã hội mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu chỉ ra. Đáng lưu ý, chúng tăng cường cổ súy, khuếch trương cho cách tiếp cận theo hướng tuyệt đối hóa yếu tố kinh tế - kỹ thuật, sự phát triển của các nền văn minh, phủ nhận vai trò quyết định và mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội. Thực chất quan điểm này là phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa mác xít về sự vận động phát triển tự nhiên của lịch sử loài người với mưu đồ “che đậy” và duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản phục vụ mưu đồ đen tối của chúng. Đây là “chiêu trò” “thò tay” “khuấy sâu”, trong chiến dịch leo thang chống chủ nghĩa xã hội.

Hai là, ca ngợi, cổ súy chủ nghĩa tư bản. Lợi dụng sự phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, những biến đổi trong giai cấp công nhân, các thế lực thù địch “được thời”, lớn tiếng xuyên tạc, lập luận rằng: Những gì giai cấp công nhân đang có không đủ “điều kiện, tư cách” thực hiện sứ mệnh lịch sử là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”. Rằng, nếu giai cấp công nhân có sứ mệnh như vậy thì tại sao hiện nay ở những nước tư bản phát triển, có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của mình?. Cùng với đó, chúng đề cao vai trò đội ngũ tri thức trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển, cho rằng đội ngũ này mới có khả năng lãnh đạo cách mạng theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực chất quan điểm này là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản nhằm khẳng định sự tồn tại ‘vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận địa vị lịch sử của giai cấp công nhân.

Ba là, công kích, xuyên tạc, bôi nhọ, “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh. Với các chiêu thức mới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không tiếc lời “rêu rao” rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “ảo tưởng”, “vay mượn”, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng tạo ra tư tưởng hoài nghi, phân tâm, hướng dư luận xã hội vào xu thế đối lập, kích động “làn sóng” phản đối tư tưởng Hồ Chí Minh. Không những thế, các thế lực thù địch còn tuyên truyền, hiện nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn giá trị trên thực tế, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, đề cao “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin. Mới đọc có vẻ như hợp lý, nhưng thực chất đây là kiểu “đường vòng”, gián tiếp chống phá, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính chất nguy hiểm của “kiểu trò” này là làm cho mọi người lầm tưởng đó là sự đánh giá đúng tư tưởng Hồ Chí Minh mà không thấy hết mưu toan của chúng là muốn cắt rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh, gieo rắc sự hoài nghi, dao động về nền tảng tư tưởng của chúng ta, tạo nên “khoảng chống” về tư tưởng, ý thức hệ để chúng dễ bề truyền bá các quan điểm, tư tưởng phi vô sản vào đời sống tinh thần của xã hội ta; tạo ra sự “diễn biến” bên trong, nhất là diễn biến về tư tưởng, từ đó dẫn đến “tự diễn biến” về những mặt khác của xã hội.

Bốn là, tuyên truyền kêu gọi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Các thủ đoạn chúng thường dùng là sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông hiện đại công khai cùng với việc lén lút lưu hành tài liệu phản động và các kiểu thông tin truyền miệng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội; tán dương chế độ tư bản; cổ vũ thuyết "đa nguyên, đa đảng", tuyên truyền cho "chủ nghĩa xã hội dân chủ", đòi từ bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội của chúng ta hiện nay. Theo chúng, chỉ có xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội mới hòng chuyển hóa con đường cách mạng ở Việt Nam. Tính độc hại, nguy hiểm của thủ đoạn này là núp dưới chiêu bài “tự do, dân chủ, nhân quyền” để “du ngủ” người dân, tạo sự ngộ nhận, lẫn lộn về nhận thức, cho dù không thực hiện được mục đích cuối cùng thì cũng tạo được sự hoài nghi, thiếu niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết dân tộc, tạo mâu thuẫn trong xã hội.

PHAO

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM TA!

         Trong quan hệ đa phương, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (tháng 7/1995); tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996; gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Đồng thời, trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và duy trì là thành viên tích cực của Cộng đồng Pháp ngữ và Phong trào không liên kết. Trong đó, đã hai lần đảm nhiệm vai trò chủ tịch luân phiên của tổ chức này, năm 2010 và 2020.

    Ở phạm vi toàn cầu, Việt Nam đã chủ động tham gia các cơ chế của Liên hợp quốc, như Hội đồng Bảo an, Ủy ban nhân quyền, Hội đồng kinh tế – xã hội của Liên hợp quốc… Đặc biệt, Việt Nam đã hai lần trúng cử là ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 và 2020 – 2021; trúng cử thành viên Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc (2007 và 2022).. Năm 2020, Việt Nam lần đầu tiên đề xuất và bảo vệ thành công Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế phòng chống dịch. Việc tăng cường hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, chủ động và tích cực tham gia các cơ chế đa phương ở mọi cấp độ đã nâng cao được vị thế và tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề có lợi ích không chỉ với Việt Nam mà còn cho khu vực và trên thế giới.

     Như vậy, những thành tựu của Việt Nam cũng như trên thế giới đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá CM Việt Nam./.





Yêu nước ST.

Hà Nội biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu

 

Hà Nội biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu

Nhân kỷ niệm 21 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001-28/6/2022), ngày 22/6, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức gặp mặt các gia đình văn hóa tiêu biểu năm 2022.

Cuộc gặp mặt nhằm biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu, gương mẫu trong gìn giữ văn hóa gia đình, có thành tích trong các lĩnh vực hoạt động văn hóa xã hội, phát triển kinh tế, hoạt động nhân đạo từ thiện… trên địa bàn thành phố.

Những năm qua, thành phố đã có nhiều thành tựu trong xây dựng các mô hình văn hóa. Trong đó, mô hình Gia đình văn hóa là hạt nhân, nền tảng của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Hằng năm, việc đăng ký, bình xét danh hiệu “Gia đình văn hóa” được tiến hành theo đúng quy định, số lượng các gia đình đăng ký xây dựng danh hiệu “Gia đình văn hóa” đều đạt hơn 90%. Đến nay, tỷ lệ gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu Gia đình văn hóa trên địa bàn thành phố đạt 88%.

Từ việc triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trọng tâm là xây dựng gia đình văn hóa gắn với phòng, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới, triển khai thực hiện Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình…, trên địa bàn thành phố đã xuất hiện nhiều gia đình văn hóa tiêu biểu trên các lĩnh vực, như: Gia đình không bạo lực, gia đình không vi phạm pháp luật, gia đình không tệ nạn xã hội, gia đình không trẻ em suy dinh dưỡng, gia đình hiếu học, gia đình làm kinh tế giỏi…

Nhân dịp này, ngành văn hóa Thủ đô đã biểu dương 30 gia đình văn hóa tiêu biểu, ở 30 quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố. Đây là các gia đình có thành tích nổi bật trong các lĩnh vực văn hóa-xã hội, phát triển kinh tế, hoạt động nhân đạo từ thiện…, đồng thời là gương sáng trong Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở Hà Nội.

 

THẮM TÌNH QUÂN DÂN TRONG MƯA LŨ

 Đến tìm hiểu về công tác quân sự địa phương tại huyện Quốc Oai (Hà Nội), chúng tôi được nhiều cán bộ và người dân kể về chuyện bộ đội và dân quân giúp nhân dân trong đợt mưa lũ vừa qua.

Đó là những ngày cuối tháng 5, mưa lớn trên diện rộng và kéo dài ở miền Bắc khiến nước sông Tích dâng cao. Trên địa bàn huyện Quốc Oai xảy ra ngập lụt tại 7 xã ven sông, nguy cơ gây thiệt hại lớn hoa màu của nhân dân. Trước tình hình đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân trong huyện đã không quản ngại vất vả giúp bà con nông dân thu hoạch lúa, đắp bờ bao ngăn nước lũ tràn qua đê.
Bà Kiều Thị Thế (67 tuổi) ở thôn Cấn Hạ, xã Cấn Hữu, cho biết: “Nhà tôi làm 6 sào ruộng. Các thửa ruộng trồng lúa đã chín đều nằm sát bờ sông, khi nước lũ bất ngờ tràn về khiến gia đình không kịp trở tay, vì ở nhà chỉ có vợ chồng già chúng tôi. Rất may là nhà tôi được các chú bộ đội, dân quân gặt giúp, kịp thời đưa lúa về, nếu không thì đành mất trắng”.
Người dân thôn Cấn Hạ kể rằng, đợt lũ vừa qua, hầu hết diện tích lúa trên cánh đồng Vôi của thôn đã đến thời điểm thu hoạch đều bị ngập nước và ngã đổ. Cán bộ, nhân viên Ban CHQS huyện Quốc Oai và lực lượng dân quân của xã Cấn Hữu chia thành từng tốp giúp các gia đình gặt lúa ở những ruộng bị ngập sâu, nhất là các gia đình neo đơn, đưa lúa về tận nhà. Qua đó, giúp bà con không bị mất thành quả lao động.
Đồng chí Hoàng Tiến Oanh, Chỉ huy trưởng Ban CHQS xã Cấn Hữu chia sẻ: "Trước tình hình mưa lớn, nước lũ dâng cao, địa phương đã chủ động báo cáo cấp trên và chúng tôi nhanh chóng triển khai lực lượng gặt lúa giúp bà con, đồng thời tham gia đắp những đoạn đê có nguy cơ bị tràn, vỡ. Cả bộ đội và dân quân đều cố gắng hết sức giúp nhân dân, dù phải dầm mình trong nước lũ khá vất vả".
Còn tại xã Đông Yên, trong đợt lũ vừa qua, có hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308, Quân đoàn 1) đã cùng với dân quân địa phương và người dân tiến hành gia cố gần 1.000m đê xung yếu có nguy cơ bị tràn, bảo vệ hơn 100ha lúa của nhân dân xã Đông Yên và Cấn Hữu. Theo Trung tá Phạm Văn Lên, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 102, khi nhận được đề nghị của UBND huyện Quốc Oai và chỉ đạo của chỉ huy Sư đoàn 308, trung đoàn đã khẩn trương điều động lực lượng, phương tiện, vật chất đến giúp nhân dân gia cố đê, phòng, chống lũ lụt. Đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền, LLVT địa phương để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, ở xã Phú Mãn, mưa to làm sạt lở đất sườn núi với khối lượng khoảng 100m3. Đê bao sông Tích cũng bị tràn, gây ngập vùng trồng lúa và hoa màu trên địa bàn các xã: Phú Cát, Liệp Tuyết, Tuyết Nghĩa, Cấn Hữu, Đông Yên, Hòa Thạch với diện tích khoảng 110ha. Ban CHQS huyện Quốc Oai đã kịp thời tham mưu với Ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai-Tìm kiếm cứu nạn huyện Quốc Oai huy động lực lượng, phương tiện tiến hành khắc phục các sự cố và giúp dân thu hoạch hoa màu tại những "điểm nóng" này.
Thượng tá Nguyễn Đỗ Tùng, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Quốc Oai kể: “Vào thời điểm đó, Ban CHQS huyện Quốc Oai đang tổ chức huấn luyện cho Đại đội xung kích phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn của huyện năm 2022. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ tham gia giúp dân ứng phó với thiên tai được huấn luyện bằng tình huống đúng thực tế nên rất hiệu quả. Ban CHQS huyện đã cử 25 đồng chí bộ đội thường trực và huy động 150 cán bộ, chiến sĩ dân quân cơ động và dân quân tại chỗ của các xã tham gia làm nhiệm vụ khắc phục hậu quả mưa lũ. Xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình của quân đội nên anh em đều nỗ lực khắc phục mọi khó khăn, cùng các lực lượng khẩn trương giúp nhân dân ổn định cuộc sống”.
Đợt mưa lũ vừa qua, bộ đội và dân quân huyện Quốc Oai đã phối hợp với các lực lượng thu hoạch được khoảng 50ha lúa và hoa màu của người dân bị ngập úng; đắp khoảng 5km con trạch trên các tuyến đê bao (xấp xỉ 1.500m3 đất) để giữ cho 247ha lúa chưa đến kỳ thu hoạch; xử lý hai cống bị bục vỡ trên tuyến đê sông Tích... Hình ảnh bộ đội, dân quân nỗ lực giúp dân đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng cán bộ và nhân dân địa phương.
Theo báo QĐND

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRUYỀN THÔNG SỐ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ

 Hiện nay, phương thức truyền tải thông điệp đến công chúng thông qua các kênh truyền thông số đã trở thành phổ biến. Các cơ quan, bộ, ngành sử dụng các nền tảng mạng xã hội để cập nhật, phổ biến các văn bản, cung cấp thông tin trực tiếp đến công chúng đồng thời quảng bá về hoạt động minh bạch, hiệu quả trong ban hành và thực thi chính sách… Điều này cho thấy mạng xã hội đã và đang thực thi vai trò là kênh truyền tải thông tin hữu hiệu. Lan tỏa thông tin chính thống trên các kênh truyền thông số là xu hướng của các cơ quan báo chí trong thời đại công nghệ số hiện nay.

Trong bối cảnh đó, nhà báo Vũ Việt Trang, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), chia sẻ những nhận định về xu hướng truyền thông thời đại số và hướng đi của TTXVN để giữ vững vị thế là dòng thông tin chủ lưu trên không gian mạng.

NƠI LƯU GIỮ KÝ ỨC CỦA CÁC NHÀ BÁO

 Với mỗi nhà báo, từng hiện vật, mỗi bức ảnh…đều ghi dấu hành trình tác nghiệp trên con đường cầm bút của mình. Để rồi, khi đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của một nhà báo thì mỗi kỷ vật đó được gửi lại, lưu giữ ở Bảo tàng Báo chí Việt Nam, để thế hệ làm báo sau này có thể hiểu hơn về các nhà báo lão thành năm xưa.

Những xúc cảm đặc biệt
Đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam vào đúng dịp kỷ niệm 97 năm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925/21-6-2022). Bước chân vào không gian trưng bày theo từng chủ đề và tiến trình phát triển của nền báo chí cách mạng Việt Nam, được “thực mục sở thị” hiện vật, xem kỹ từng chú thích ảnh, lời ghi chú của mỗi bức hình, tập tài liệu… gắn với từng nhà báo, chắn chắn rằng, trong lòng mỗi du khách sẽ trào dâng niềm xúc động và thán phục thế hệ những người làm báo đi trước.
Trong số những tài liệu, hiện vật đang được trưng bày ở đây có những bức ảnh thấm đẫm màu khói lửa chiến tranh dù đã nhuốm màu thời gian nhưng vô cùng quý giá bởi gắn bó với những năm tháng chiến đấu, tác nghiệp dưới làn đạn quân thù của những nhà báo chiến trường,
Theo báo cáo của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, tính đến nay, Bảo tàng đã đón 15.000 lượt khách tham quan. Hiện, kho cơ sở của Bảo tàng hiện đang lưu giữ, bảo quản hơn 30.000 hiện vật, tư liệu. Trong đó, phần lớn là tài liệu hiện vật giấy được khai thác trực tiếp từ 63 tỉnh, thành trong cả nước.
Đọc hàng trăm dòng cảm xúc của các nhà báo, sinh viên, du khách khi đến tham quan Bảo tàng, chúng tôi hiểu rằng, để có được thành công đó là nhờ sự cố gắng không ngừng nghỉ của cán bộ, nhân viên Bảo tàng.
Bên cạnh các khu vực trưng bày thường xuyên, khu vực trải nghiệm các loại hình báo chí và các khu chức năng khác, Bảo tàng Báo chí Việt Nam còn dành riêng không gian để khách tham quan đọc sách báo, tra cứu tài liệu. Trước khi rời đi, các vị khách có thể ghi lại cảm tưởng của mình và ký tên lưu niệm trên vách.
Với số lượng khách tham quan tăng lên từng ngày, Bảo tàng Báo chí Việt Nam liên tục bổ sung các cuốn sổ ghi cảm tưởng mới và tăng thêm không gian để các du khách có thể lưu lại chữ ký của mình ở nơi đây.
Nhà báo Trần Thị Kim Hoa (Giám đốc Bảo tàng Báo chí Việt Nam) cho biết: Dịp 21-6 năm nay rất đặc biệt đối với Bảo tàng Báo chí Việt Nam bởi cũng là dịp tròn 2 năm Bảo tàng khánh thành không gian trưng bày thường xuyên và mở cửa đón khách tham quan. Đó là 2 năm quan trọng mở đầu chặng đường khẳng định tên tuổi, vị trí của một bảo tàng non trẻ trong hệ thống bảo tàng quốc gia nước ta, trên hành trình trở thành một điểm đến hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong một lần đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đồng chí Lê Quốc Minh khi đó là Phó tổng giám đốc TTXVN (hiện là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam) đã ghi trong cuốn sổ cảm tưởng rằng: Thật tự hào về những cống hiến của thế hệ nhà báo đi trước, những hy sinh không gì bù đắp nổi nhưng rất đỗi vinh quang. Đó sẽ là động lực để thế hệ sau nỗ lực hơn nữa vì một nền báo chí chuyên nghiệp, chất lượng cao, luôn phụng sự Tổ quốc và độc giả, khán thính giả.
Sinh viên Nguyễn Văn Hòa (Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) bày tỏ: "Đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc. Các không gian trưng bày mỗi thời kỳ báo chí ở đây đều mang màu sắc riêng. Tôi rất ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy những tờ báo đầu tiên của Việt Nam. Những tờ báo từ thuở ban đầu tuy giản dị nhưng chứa đựng biết bao tâm huyết, trách nhiệm của người cầm bút".
Thay mặt đoàn cựu chiến binh cơ quan Hội Nhà báo Việt Nam, ông Bùi Đình Khôi khi đến thăm Bảo tàng chia sẻ: Việc trưng bày rất khoa học và phong phú, giúp người xem biết được sự ra đời, hình thành và phát triển của báo chí Việt Nam.
Với những người làm báo thì khi đến thăm bảo tàng đều để lại cảm xúc đặc biệt, chị Nguyễn Hồng Hạnh, Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ TTXVN cảm nhận: "Chúng tôi rất xúc động khi được tận mắt chứng kiến quá trình phát triển của báo chí Việt Nam qua những hình ảnh, hiện vật, tư liệu quý mà bảo tàng đã dày công sưu tầm và thể hiện trong một không gian trưng bày hiện đại, sống động. Chúng tôi hy vọng, với những tâm huyết của những người làm công tác truyền thống báo chí, Bảo tàng sẽ tiếp tục trở thành địa chỉ cho những thế hệ làm báo sau này nghiên cứu, học tập, phát huy truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam".
Lăng kính của những người làm báo
Trưng bày "100 năm Báo Le Paria" được bảo tàng tổ chức từ cuối tháng 3-2022, và giới thiệu tại Hội báo toàn quốc giữa tháng 4-2022. Trưng bày đã đến với sinh viên Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông tháng 5-2022 và ngày 17-6 vừa qua, triển lãm cũng được giới thiệu với công chúng ở thành phố mang tên Bác. Hiện nay, bảo tàng đang xây dựng kế hoạch tiếp tục giới thiệu, triển lãm tiếp về di sản quý giá tròn 100 năm và gắn liền với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cần Thơ trong tháng 7 tới.
Được tận mắt nhìn thấy hình ảnh Báo Le Paria - tờ báo do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập và từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và những hiện vật trưng bày tại bảo tàng, ông Lương Tất Đạt, nguyên giáo viên Trường THPT Chuyên Hà Nội – Amsterdam, vị khách đã ngoài 80 tuổi bước đi chậm rãi, ngắm nhìn từng vách, xem kỹ từng hiện vật trưng bày và bày tỏ xúc động khi thấy toàn bộ tiến trình lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam được tái hiện một cách sinh động và dễ nhớ.
Ông Lương Tất Đạt chia sẻ: “Tôi rất vui được đến tham quan Bảo tàng Báo chí Việt Nam. Bảo tàng đã sưu tầm được những hiện vật rất quý giá, đó là những tờ báo đầu tiên của nền báo chí Việt Nam, như những tờ: Gia Định Báo, Thanh niên… rồi trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến thời kỳ hiện nay là thời kỳ nở rộ của nhiều loại hình báo chí: Báo giấy, báo nói, báo hình, báo điện tử…".
“Tôi đặc biệt xúc động được thăm nơi trưng bày về tờ báo Le Paria, tờ báo do Bác Hồ tham gia sáng lập và vận hành, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ra đời tờ báo này. Xem những bản in của tờ báo càng thấm thía tâm huyết và tài năng của Người, một nhà báo lớn của chúng ta trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn (về tài chính, về việc bị cấm đoán…) mà vẫn cho ra đời và vận hành được một tờ báo như vậy, quả là vô cùng đáng khâm phục. Tôi tuy không thuộc giới báo chí, nhưng qua việc đi tham quan bảo tàng này, tôi cũng đã thấy được công phu và tâm huyết của những người làm bảo tàng của chúng ta, mang lại những hiểu biết rất quý giá cho người đến xem. Tôi mong muốn bảo tàng sẽ liên tục phát triển và sẽ có ngày càng nhiều cuộc trưng bày thú vị, thu hút người xem để thế hệ sau biết nhiều hơn về lịch sử dân tộc qua một lăng kính khác, đó là "lăng kính của những người làm báo”, ông Lương Tất Đạt cho biết.
Nói về trưng bày "100 năm Báo Le Paria", nhà báo Trần Kim Hoa nhấn mạnh: “Tờ báo Le Paria là một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động báo chí của nhà báo Nguyễn Ái Quốc. Vì vậy, đây cũng là tờ báo có vị trí quan trọng, không thể thiếu khi nghiên cứu, tìm hiểu về nền báo chí cách mạng Việt Nam cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh".
PGS, TS Đặng Thị Thu Hương (Phó hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện trưởng Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) đánh giá cao ý nghĩa của hoạt động trưng bày: “Với vai trò, vị trí đặc biệt của tờ báo Le Paria trong cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, trưng bày lần này không chỉ là một hoạt động quan trọng giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức về lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam mà còn là dịp để tăng cường giáo dục lý tưởng cho sinh viên nhà trường”.
Sinh viên Phạm Anh Văn, K64 Báo chí (Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông) rất hứng thú với triển lãm này: “Những kiến thức về báo Le Paria chúng em đã được học trong môn học Lịch sử Báo chí Việt Nam và thế giới. Nhưng lần này được trực tiếp nhìn thấy các bản báo gốc, đọc được những bài báo cụ thể của tờ Le Paria, chúng em được hình dung lại kiến thức về môn học một cách cụ thể, trực quan và thú vị hơn rất nhiều”.
“Bảo tàng Báo chí Việt Nam độc đáo với những câu chuyện được kể một cách hiệu quả và cuốn hút”, đó là nhận xét của nhiều khách quốc tế khi đến thăm Bảo tàng Báo chí Việt Nam.
Bà Hanneke, quốc tịch Hà Lan trong một lần tới bảo tàng đã chia sẻ: “Các không gian trưng bày rất thú vị với nội dung phong phú. Ít có nơi nào trên thế giới có được bảo tàng riêng về báo chí như vậy”.
Tạp chí Vietnam Sketch (Vietnam Sketch Travel & Life Guidebook), một ấn phẩm tiếng Nhật chuyên cung cấp các thông tin đời sống, văn hóa, du lịch... cho khách du lịch Nhật Bản cũng như cộng đồng người Nhật quan tâm đến Việt Nam cũng đã đăng tải bài viết giới thiệu về Bảo tàng Báo chí Việt Nam là địa chỉ hấp dẫn để du khách lựa chọn khi đến thăm Việt Nam.
“Tôi cảm thấy vui được đến tham quan một bảo tàng hiện đại, đẹp, cách trưng bày phong phú”, Tery Thammalungsee, sinh viên Lào tại Đại học Văn hóa Hà Nội bộc bạch.
Những hình ảnh, hiện vật trưng bày ở bảo tàng đã thu hút sự quan tâm, tham quan, tìm hiểu của đông đảo các tầng lớp nhân dân; góp phần truyền bá tư tưởng, lịch sử cách mạng; giúp người xem có thêm những trải nghiệm phong phú về nghề báo. Qua đó, bồi đắp ý tưởng, nhiệt huyết, khát vọng và quyết tâm cống hiến, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp cho sự nghiệp báo chí nước nhà, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo báo QĐND

“Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”.

 Đây là nội dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời câu hỏi phỏng vấn của một phóng viên nước ngoài: “Sau khi chiến tranh kết liễu thì chương trình kiến thiết của Việt Nam sẽ thế nào? Địa vị người tri thức Việt Nam sẽ thế nào”, vào ngày 22 tháng 6 năm 1947.

Câu nói “Tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và vai trò của trí thức đối việc củng cố và bảo vệ chính quyền; đồng thời, còn thể hiện tư tưởng chỉ đạo, phát huy vai trò quan trọng, địa vị và sự đóng góp cần thiết của đội ngũ trí thức với công cuộc kiến thiết nước nhà. Thực hiện tư tưởng của Bác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức nước ta đã có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kiến quốc, giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo thành khối liên minh bền vững giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày nay, thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; lời Bác dạy có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, tiếp tục được Đảng, nhà nước ta nghiên cứu vận dụng sáng tạo làm cơ sở cho xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt. Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, giỏi về chuyên môn, giàu về năng lực, hiểu biết sâu sắc trên từng lĩnh vực đời sống xã hội, đóng góp tài năng và sức lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thức sâu sắc lời dạy của Bác, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, tiếp nhận nhanh và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học kỹ thuật quân sự, để tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng, an ninh; phát triển đội ngũ trí thức quân đội cả về số lượng và chất lượng, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội

 

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội

Cùng dự hội nghị có các ông: Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Phó Thủ tướng Lê Văn Thành; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cùng hơn 34.000 đại biểu tham dự tại các điểm cầu.

Xác định mục tiêu Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu

Trình bày những nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 15 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng nêu rõ: Nghị quyết đã nêu rõ 4 quan điểm, 2 mục tiêu lớn đối với từng giai đoạn với nhiều điểm mới để lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội trong trung và dài hạn.

Nghị quyết tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô toàn diện, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế; Kết hợp hài hoà phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn giữa giữ gìn bản sắc văn hoá với phát triển kinh tế và giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, trong đó văn hoá, con người vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng, nguồn lực, động lực để phát triển Thủ đô.

Điểm mới của thời gian thực hiện Nghị quyết lần này là xác định mục tiêu phát triển Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (là thời điểm kỷ niệm 100 năm thành lập nước). Các Nghị quyết trước đây chỉ xác định phạm vi thời gian trong 10 năm.

Về mục tiêu đến năm 2030: Thủ đô Hà Nội là Thành phố "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại"; Trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; Hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới, phấn đấu phát triển ngang tầm Thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước; GRDP giai đoạn 2026 - 2030 tăng 8,0 - 8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000 - 13.000 USD.

Về mục tiêu đến năm 2045: Thủ đô Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao, với GRDP/người đạt trên 36.000 USD; Kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển toàn diện, đặc sắc và hài hoà, tiêu biểu cho cả nước; Có trình độ phát triển ngang tâm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới...

Phải tập trung, quyết liệt, sáng tạo trong thực hiện nghị quyết

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng khẳng định, Nghị quyết 15 đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Trên cơ sở ý kiến của các Bộ ngành địa phương tham luận tại hội nghị, ông Võ Văn Thưởng đề nghị Đảng bộ, thành phố Hà Nội phải tổ chức cho cán bộ đảng viên và nhân dân nghiên cứu học tập, quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết, đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông với nhiều hình thức phong phú, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong tuyên truyền nội dung nghị quyết và kết quả thực hiện, qua đó nâng cao và thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng yêu cầu nhiệm vụ phát triển Hà Nội trong những năm tới.

Bên cạnh đó, Thành phố cũng cần huy động sức mạnh tổng hợp khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của thủ đô kết hợp với nguồn lực của cả nước và nguồn lực quốc tế xây dựng và phát triển thủ đô văn minh, xứng đáng là trung tâm đầu não chính trị hành chính quốc gia, trái tim của cả nước, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, hội nhập quốc tế, tạo động lực có tính dẫn dắt lan tỏa đối với vùng thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới phấn đầu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Ông Võ Văn Thưởng nhấn mạnh: Cấp ủy tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp, đặc biệt là Hà Nội phải hết sức coi trọng, tập trung, quyết liệt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Ngay sau Hội nghị hôm nay phải tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án với nội dung cụ thể phân công trách nhiệm rõ ràng và lộ trình để thực hiện Nghị quyết, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đã đề ra, tạo bước chuyển biến rõ rệt về sự phát triển của thủ đô, định kỳ hàng năm kiểm tra việc thực hiện, kịp thời báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư./.

 

PHÁP LUẬT VIỆT NAM NGHIÊM MINH VÌ MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC!

         Ban hành pháp luật không phải mục đích cuối cùng của đất nước. Pháp luật được ban hành là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trật tự, củng cố và phát triển chúng theo những định hướng mong muốn nhằm đạt được những kết quả, mục tiêu nhất định, trong đó có mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Pháp luật Việt Nam đã quy định rõ các mức hình phạt trong từng khung hình phạt cho tất cả đối tượng phạm tội và các tội danh. Việc áp dụng các hình phạt phải bảo đảm đúng người, đúng tội, trên tinh thần mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Dù là cán bộ cấp cao hay một người dân bình thường, khi có sai phạm đều được xét xử công bằng trước pháp luật. Việt Nam không có thứ pháp luật riêng dành cho những người có chức, có quyền, có địa vị. Đã là công dân Việt Nam thì không được đòi hỏi pháp luật dành quyền ưu tiên riêng cho mình. Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm mọi công dân đều phải chịu hình phạt theo chế tài chung, bản án chung mà pháp luật quy định. Những vụ án đã được xét xử (kể cả những vụ án mà Phạm Đình Trọng đã viện dẫn làm ví dụ cho thủ đoạn bôi nhọ pháp luật Việt Nam), đều đã được xét xử một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng tội danh. 
Từ những vấn đề đó cho thấy, mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức cảnh giác, đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch mượn cớ bôi nhọ pháp luật, hạ thấp uy tính lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây bất ổn trong nhân dân./.




Môi trường ST.

Khai mạc Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022

 

Sáng 21/6, tại Trung tâm Huấn luyện quân sự quốc gia 4 (Miếu Môn, Chương Mỹ, Hà Nội), Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng tổ chức Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022, chào mừng kỷ niệm 21 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2022); hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em; Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và thực hiện Cuộc vân động “Toàn quân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam dự và chỉ đạo khai mạc. Dự khai mạc có đồng chí Lê Thị Hoàng Yến, Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Thể dục thể thao, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cùng các đại biểu là Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; các đồng chí ủy viên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng; đại biểu các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần; đại biểu lãnh đạo Vụ Bình đẳng giới/Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Ban Tuyên giáo Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Ban Chấp hành Hội Phụ nữ Bộ Công an và đại biểu của 42 đoàn vận động viên không chuyên thuộc các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu phát biểu khai mạc

Phát biểu tại buổi Lễ, Thiếu tướng Nguyễn Văn Gấu chào mừng các vận động viên nữ trong toàn quân tham gia Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022. Đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị khẳng định: trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp, công tác phụ nữ và phong trào phụ nữ, công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới trong Quân đội đã có bước phát triển mới, đạt được nhiều kết quả tốt, ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của Phụ nữ Quân đội trên mọi lĩnh vực công tác. Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022 là lần đầu tiên Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng tổ chức. Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích nhằm nâng cao sức khỏe cho quân nhân nói chung và hội viên phụ nữ toàn quân nói riêng; qua đó, cán bộ, hội viên phụ nữ được giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, giới thiệu những mô hình hay trong tổ chức, luyện tập thể dục, thể thao, thắt chặt tình đoàn kết; cổ vũ, động viên, khuyến khích Phụ nữ Quân đội tích cực, chủ động luyện tập, rèn luyện sức khỏe để nâng cao thể lực, góp phần xây dựng người Phụ nữ Quân đội có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức và sức khỏe tốt; thực hiện thiên chức của người phụ nữ trong xây dựng gia đình “no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực trong sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.  

Tại Lễ khai mạc, Đại tá Phùng Thị Phú, Trưởng ban Phụ nữ Quân đội, Ủy viên Thường trực Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng, Trưởng Ban Tổ chức Liên hoan công bố Quyết định Thành lập Ban tổ chức, Tổ trọng tài, Ban Giám khảo, Tổ Thư ký và ban hành Quy chế Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022. Thay mặt Tổ trọng tài, Ban Giám khảo, Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, Huấn luyên viên Bóng chuyền, Trung tâm Thể dục thể thao Quân đội, Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu và đại diện hội viên phụ nữ Nhà máy Z 173, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng phát biểu hứa hẹn quyết tâm thi đấu công tâm, khách quan, đạt kết quả cao trong Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022.

Liên hoan Thể dục thể thao Phụ nữ Quân đội năm 2022 tổ chức 02 nội dung thi đấu: thi đấu bóng chuyền hơi nữ có 24 đội tại nhà thi đấu của Trung tâm huấn luyện quân sự quốc gia 4; thi nhảy dân vũ có 02 hình thức: 28 đội thi trực tiếp tại Hội trường Trung tâm Huấn luyện quân sự quốc gia 4 (đối với các đơn vị khu vực phía Bắc); 09 đội thi gián tiếp qua video clip (đối với các đơn vị khu vực phía Nam, từ Quân khu 4 trở vào). Thời gian diễn ra từ ngày 21/6 đến ngày 23/6; chiều ngày 24/6 bế mạc Liên hoan và trao giải Cuộc thi clip tuyên truyền về “Chăm sóc, bảo vệ trẻ em và phòng, chống bạo lực gia đình” năm 2022.

Tin, ảnh: LINH THẮM       (Tạp chí QPTD)    

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - SỨC SỐNG MÃNH LIỆT TRONG SỰ NGHIỆP CM VIỆT NAM!

         Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta càng phải trở về với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo. Nguyên tắc bất di bất dịch là, cần nghiên cứu và thấu triệt với tư cách không chỉ là nền tảng lý luận chính trị về phương diện chính trị - xã hội, một cương lĩnh chính trị - khoa học về mặt hành động cách mạng, một chỉnh thể toàn vẹn về mặt cấu trúc hệ thống, một thực thể vận động và thống nhất trên bình diện khoa học - thực tiễn, mà còn là một lý thuyết - thực tiễn mở về phương diện xã hội - lịch sử và là một tổng thể phương pháp luận khoa học và cách mạng, như chính bản thân học thuyết Mác - Lênin chứa đựng và thể hiện.
    Từ những luận giải trên cho thấy, chủ nghĩa Mác-Lênin đã sống, đang sống, là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang từng bước vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội và góp phần vào sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân loại cần lao. Chính thực tiễn này cũng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị, sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.



Môi trường ST.

Quốc tế đồng lòng phản đối “Đường lưỡi bò”

 Mới đây, Lowy Institute – Tổ chức phân tích chuyên sâu về các vấn đề nóng

trên thế giới đã có bài viết mới với tựa đề “Sự tích hoang đường về đường chín

đoạn sai trái của Trung Quốc”. Trong bài viết, nhóm tác giả chỉ ra rất rõ vì sao câu

chuyện này là hoang đường và đã bị cả cộng đồng quốc tế cũng như Việt Nam

phản đối như thế nào.

Vấn đề chủ quyền Biển Đông từ lâu đã trở thành một trong những vấn đề có

tính chất phức tạp bậc nhất trên thế giới, mà tất cả đều đến từ những yêu sách vô

cùng phi lí của Trung Quốc. Không sai khi nói rằng, những yêu sách và tham vọng

độc tài của Trung Quốc chính là một phần nguyên nhân khiến cho tình hình tại khu

vực này ngày càng trở nên căng thẳng và nghiêm trọng hơn. Một trong số đó phải

kể đến tấm bản đồ “Đường chín đoạn” đầy thị phi và chưa bao giờ được công nhận

của quốc gia này. “Đường lưỡi bò” hay “Đường chín đoạn” là những tên gọi khác

nhau của vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam bao gồm các quần đảo Hoàng

Sa, Trường Sa, và những bãi đá ngầm có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40.

Năm 1953, “Đường 11 đoạn” này được Trung Quốc điều chỉnh thành “Đường 9

đoạn”. Nhưng, vùng biển này luôn luôn thuộc về Việt Nam và yêu sách của Trung

Quốc luôn bị các nước trên thế giới phản đối, đồng loạt không thừa nhận bởi

những lý do sau:

Thứ nhất, dưới góc nhìn lịch sử, Trung Quốc luôn khẳng định đã đặt tên cho

các thực thể ở Biển Đông từ thời kỳ cổ đại. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào

chứng minh việc Trung Quốc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và

Trường Sa. Hơn nữa, Việt Nam lại có đầy đủ bằng chứng chứng minh hai quần đảo

này đã có trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước Việt Nam từ thời phong

kiến.

Thứ hai, dưới góc nhìn pháp lý, yêu sách của Trung Quốc chỉ có duy nhất

góc nhìn một phía với nội dung rất mập mờ, lại không hề có căn cứ pháp lý rõ

ràng. Trên thực tế, từ khi xuất hiện cho đến nay, Trung Quốc cũng không có một

văn bản cũng như lời giải thích cụ thể nào về bản chất pháp lý của yêu sách này


cho cộng đồng quốc tế. Ngược lại, Việt Nam lại có văn bản, bản đồ cũng như được

luật pháp quốc tế công nhận một cách rành mạch, rõ ràng bằng giấy tờ và các điều

luật quốc tế.

Cuối cùng, dưới góc nhìn quốc tế, có thể thấy rõ rằng yêu sách của Trung

Quốc được đưa ra một cách đơn phương, không dựa trên thỏa thuận với bất kỳ

quốc gia nào. Bên cạnh đó, yêu sách này cũng không có tính ổn định và dứt khoát

mà thay đổi liên tục theo thời gian. Trong khi đó, các phán quyết của Tòa Trọng tài

quốc tế chỉ rõ đặc tính quan trọng nhất của đường biên giới biển là tính ổn định và

dứt khoát và được hơn 100 quốc gia trên thế giới công nhận.

Chúng ta phải nhìn nhận rằng, yêu sách trên Biển Đông của Trung Quốc là

một âm mưu cực kỳ cố chấp, tinh vi và nham hiểm. Đương nhiên, quốc tế không

thể nào công nhận, thậm chí tỏ rõ thái độ thông qua các công hàm phản đối gay

gắt. Kể từ khi nêu yêu sách ra Liên Hợp quốc, Trung Quốc đã vấp phải rất nhiều sự

phản đối của các nước trong và ngoài khu vực. Các nước như Việt Nam, Indonesia,

Philippines đã ngay lập tức gửi công hàm chính thức phản đối yêu sách của Trung

Quốc. Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và nhiều nước khác bày tỏ quan ngại về tự do

an toàn hàng hải trên vùng Biển Đông. Nhiều học giả có nghiên cứu sâu về luật

biển ở các nước như Pháp, Canada, Bỉ, … đã có nhiều bài viết vạch rõ tính phi lý,

mâu thuẫn, mập mờ và ngang ngược thể hiện trong yêu sách này. Trong các quốc

gia phản đối yêu sách, Mỹ là một trong những quốc gia đầu tiên có phản ứng

nhanh và vô cùng quyết liệt. Đặc biệt, vào ngày 2/6/2020, Mỹ đã gửi công hàm lên

Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở biển

Đông. Trong công hàm, Mỹ bác bỏ tất cả điều khoản mà Trung Quốc đưa ra vì

không phù hợp với luật pháp quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển

(UNCLOS) năm 1982. Bên cạnh đó, Mỹ cũng khẳng định các yêu sách hàng hải về

Biển Đông của Trung Quốc hoàn toàn là “phi pháp”, các nhà chức trách Mỹ cũng

sẵn sàng dùng lý lẽ để đập tan những luận điệu “vô căn cứ” này của Trung Quốc.

Tiếp sau Mỹ là Indonesia khi vào ngày 5/6/2020, nước này xác nhận đã chính thức

gửi công hàm lên Liên hợp quốc để bác bỏ yêu sách của Trung Quốc tại Biển

Đông. Quan điểm của Indonesia là tuyệt đối không ủng hộ các yêu sách trái với

luật pháp quốc tế mà phía Trung Quốc đưa ra. Việc Indonesia gửi công hàm phản

đối trong bối cảnh căng thẳng tại khu vực đang leo thang một lần nữa thể hiện thái

độ kiên quyết và lập trường nhất quán của quốc gia này đối với những hoạt động

lộng hành của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông. Hành động này cũng chứng tỏ


rằng Indonesia đã cùng Malaysia và Việt Nam đóng góp tiếng nói chung trong việc

đấu tranh chống lại tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ dừng

lại ở Châu Á, Châu Mỹ, làn sóng phản đối Trung Quốc đã lan rộng sang cả Châu

Âu khi ba nước Anh, Pháp và Đức, hay còn gọi là Nhóm E3, vào ngày 16/9/2020

cũng đã cùng nhau gửi công hàm chung lên Liên Hợp Quốc nhằm phản bác yêu

sách vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông. Nội dung công hàm khẳng định việc

Trung Quốc vẽ ra cái gọi là “Đường chín đoạn” xung quanh quần đảo Hoàng Sa

của Việt Nam là vi phạm luật pháp quốc tế và các điều khoản của UNCLOS”, công

ước mà Trung Quốc cũng là thành viên nhưng giờ chính Trung Quốc lại vi phạm

một cách trắng trợn và táo bạo. Theo tờ The Guardian số ra ngày 26/8/2020,

Australia cũng đã thu hồi toàn bộ cuốn sách giáo khoa dạy ngôn ngữ, văn hóa và

xã hội Trung Quốc do có in bản đồ “Đường chín đoạn”. Bên cạnh đó, Ấn Độ và

Đài Loan cũng bày tỏ thái độ kịch liệt phản đối hộ chiếu của Trung Quốc có in

hình “Đường chín đoạn” vì cho rằng đây là hành vi xâm phạm trắng trợn lãnh thổ

và không thể chấp nhận được. Chưa bao giờ việc phản đối Trung Quốc bành

trướng lại mạnh mẽ như vậy, bởi dễ dàng nhận thấy trong mọi trường hợp, sự thật

và sự thượng tôn pháp luật sẽ luôn được ưu tiên hàng đầu. Trung Quốc mặc đã

dùng rất nhiều âm mưu và thủ đoạn để triển khai yêu sách, nhưng đến giờ phút này

chưa có một quốc gia nào lên tiếng ủng hộ. Trái lại, Trung Quốc chỉ nhận được về

được sự phản đối quyết liệt của cộng đồng quốc tế khắp năm châu, và đây cũng là

xu thế chung của các quốc gia ưa chuộng hòa bình trên thế giới trong thời gian sắp

tới.

Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo và không công nhận bất kỳ

yêu sách nào của Trung Quốc tại Biển Đông. Từ lâu, Việt Nam đã khẳng định rằng

biển đảo là một phần lãnh thổ quan trọng không thể tách rời khỏi lãnh thổ thiêng

liêng của Tổ quốc. Bởi vậy, dù tình hình trên biển có nhiều lúc căng thẳng, phức

tạp, Việt Nam vẫn giữ vững mục tiêu, bảo vệ chủ quyền biển đảo, xây dựng môi

trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Qua đó càng chứng minh chủ

trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là

hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Ngày 30/3/2020, Phái

đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã đệ trình Công hàm phản đối “luận

điệu” của Trung Quốc. Công hàm của Việt Nam nêu rõ: “Việt Nam phản đối tất cả

các yêu sách của Trung Quốc tại khu vực lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Các yêu sách này vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài


phán của Việt Nam tại Biển Đông. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở

pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường

Sa, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế”. Việt Nam đã nhiều lần mạnh

mẽ khẳng định: Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng

định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với những

tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam kiên định lập trường giải quyết

các tranh chấp theo nguyên tắc tôn trọng và hài hòa, bám sát theo Công ước của

Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Trong quá trình giải quyết lâu dài, Việt

Nam luôn luôn kiềm chế, không có thêm hành động đơn phương gây căng thẳng,

làm phức tạp thêm tình hình, đồng thời nỗ lực duy trì hòa bình ổn định, không sử

dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuyệt đối tuân thủ nghiêm túc các chuẩn

mực trong Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông (COC). Song song với việc kiên quyết

đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt

Nam cũng kiên trì đẩy mạnh phát triển kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế

theo đúng các quy định. Mặt khác, Việt Nam sẽ nỗ lực cùng các bên liên quan thúc

đẩy hợp tác an toàn biển, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường biển,

phòng chống tội phạm trên biển nhằm góp phần xây dựng lòng tin vì hòa bình

thịnh vượng chung của khu vực và thế giới. Việt Nam tôn trọng quyền tự do hàng

hải và nỗ lực cùng các bên liên quan bảo đảm tự do an ninh, an toàn hàng hải và

cho phương tiện của các nước qua lại Biển Đông. Việc bảo đảm hòa bình, ổn định

ở Biển Đông là mối quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực phù hợp

với luật pháp quốc tế, đồng thời hoan nghênh nỗ lực và đóng góp của tất cả các

nước vào việc duy trì hòa bình ổn định, bảo đảm tính thống nhất và toàn cầu của

Công ước Luật biển năm 1982. Ngoài ra, giải quyết các vấn đề tranh chấp trên

Biển Đông là một quá trình lâu dài, khó khăn và rất phức tạp, nên để giải quyết

tranh chấp và xử lý các vấn đề này thì Biển Đông cần được đặt trong tổng thể

chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trong chính sách đối ngoại hoà

bình, độc lập và đa dạng hoá các mối quan hệ của Việt Nam trên toàn cầu./.

Các biện pháp phòng tránh tệ nạn xã hội 2022

 Các biện pháp phòng tránh tệ nạn xã hội 2022

Để đấu tranh với các tệ nạn xã hội, chúng ta có thể thực hiện các biện pháp sau:

 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về phòng,

chống tệ nạn xã hội

Qua đó nâng cao nhận thức, ý thức của mỗi người. Nếu mỗi người đều có ý thức về sự nguy

hiểm của tệ nạn xã hội, những quy định của pháp luật thì tệ nạn xã hội sẽ không thể len lỏi

vào cuộc sống của người dân được

 Kiềm chế sự phát triển của tệ nạn

Chúng ta có thể kiềm chế sự phát triển của tệ nạn bằng các chế tài xử lý. Các hình thức xử

phạt mang ý nghĩa răn đe đối với những người thực hiện các tệ nạn

 Đối với riêng tệ nạn ma túy, việc cai nghiện phải được đảm bảo thực hiện nghiêm túc, kịp

thời.

Tiếp nhận cai nghiện ma túy bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh phải được thực hiện

đầy đủ các chính sách và đảm bảo quy trình tổ chức cai nghiện chặt chẽ đúng quy định; tăng

cường công tác phối hợp giữa các ngành tại địa phương trong công tác tiếp cận và vận động


cũng như hỗ trợ các đối tượng cai nghiện tại gia đình và cộng đồng được quản lý sau cai

nghiện ma túy với các hình thức quản lý, tư vấn, giám sát phù hợp tại địa phương; mỗi

huyện, thị xã, thành phố xây dựng mới ít nhất 01 xã, phường, thị trấn lành mạnh không tệ nạn

ma túy, mại dâm; nạn nhân bị mua bán trở về có nhu cầu được hỗ trợ tái hòa nhập cộng

đồng theo quy định

 Đối với tệ nạn mại dâm:

Rà soát, cập nhật thông tin về tình hình các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt

động mại dâm, tình hình di biến động của các đối tượng có liên quan đến tệ nạn mại dâm;

tích cực phòng ngừa, ngăn chặn các vụ vi phạm.

Tổ chức các hoạt động lồng ghép cho nhóm phụ nữ có nhu cầu tìm kiếm việc làm trong các

chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn, chương trình việc làm, hỗ trợ vay vốn,

chương trình giảm nghèo... nhằm cung cấp cho họ các cơ hội lựa chọn công việc phù hợp,

chuyển đổi nghề nghiệp, hòa nhập cộng đồng bền vững.

Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên... trong

việc phối hợp cảm hóa, hỗ trợ tư vấn tâm lý, giới thiệu việc làm, giúp người bán dâm có điều

kiện ổn định cuộc sống, phòng ngừa tái phạm.

Tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, phòng ngừa tệ nạn mại dâm, đấu tranh, triệt phá các

ổ nhóm, tụ điểm, đường dây tổ chức hoạt động mại dâm ở các địa phương trọng điểm và

phức tạp. Phối hợp với các ngành liên quan thống nhất xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm

tra định kỳ hoặc đột xuất các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ nảy sinh tệ nạn mại dâm, thông

qua đó tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng chống mại dâm và xử lý nghiêm với các

hành vi vi phạm.

Cách phòng chống tệ nạn xã hội hiệu quả nhất?

Các biện pháp phòng chống tệ nạn cần phải được kết hợp chặt chẽ với nhau bằng cách

được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả thì chắc chắn tệ nạn xã hội nói chung

và tệ nạn ma túy nói riêng sẽ được ngăn chặn và tiến tới bị loại ra khỏi đời sống xã hội. Biện

pháp phòng chống tệ nạn xã hội cần thiết nhất là:

+ Ban hành những văn bản pháp luật:

Cụ thể bằng những quy phạm pháp luật, nhà làm luật quy định về những chế tài xử phạt đối

với các tệ nạn xã hội bao gồm có xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự

mang tính chất răn đe; những quy định về công tác phòng, chống như Luật Phòng, chống

tham nhũng 2018 chuẩn bị có hiệu lực. Đồng thời các văn bản trong hoạt động quản lý Nhà

nước đã đưa ra những hoạch định, chính sách nhằm ngăn ngừa và hạn chế tệ nạn xã hội.

+ Tuyên truyền, vận động, giáo dục và thuyết phục:

Đây là một trong những cách hạn chế tệ nạn xã hội được áp dụng lâu dài từ trước đến nay,

nhằm mục đích giúp cho suy nghĩ, lối sống, ý thức của người dân đúng đắn, tránh sự lệch

lạc. Giúp người dân hiểu được tác hại của các tệ nạn xã hội, từ đó kiểm soát hành vi của

mình đồng thời tác động với người thân, bạn bè, hàng xóm để phòng, tránh tệ nạn xã hội.

Việc tuyên truyền, giáo dục thông qua sách, báo, các phương tiện truyền thông đại chúng,

mạng internet, thông qua hoạt động dạy và học tại nhà trường cũng như các hoạt động xã

hội của các tổ chức, hội, nhóm,…

+ Thanh tra, kiểm tra các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội:

Việc thanh tra, kiểm tra các tệ nạn xã hội được thực hiện tại một số ngành nghề, lĩnh vực có

liên quan như hoạt động kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn, karaoke đối với tệ nạn mại dâm;

kiểm tra, giám sát đối với hoạt động vận tải hàng hóa trong tệ nạn ma túy; có sự phối hợp

giữa các cơ quan với người dân trong việc phát hiện, xử lý các tệ nạn xã hội mà có yếu tố vi

phạm pháp luật như tố cáo về hành vi đánh bài, tổ chức đánh bài, buôn bán và tàng trữ trái

phép chất ma túy, bạo lực gia đình, mua dâm, bán dâm, hiếp dâm,…

+ Các giải pháp về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội: Trong việc đưa đất nước ngày càng đi

lên, đời sống kinh tế ổn định thì các tệ nạn xã hội cũng phần nào giảm bớt, vì đời sống người

dân ổn định, mức thu nhập bình quân đầu người cao dần xóa bỏ đi nạn đói, giảm hộ nghèo

thì tình trạng tệ nạn xã hội như trộm cướp, cướp giật tài sản cũng sẽ được hạn chế. Về xã

hội thì nâng cao trình độ dân trí, kinh tế phát triển, người dân được đi học, được tiếp cận với


thông tin, truyền thông, với nền văn hóa văn minh tránh tình trạng mê tín dị đoan, trọng nam

khinh nữ hay gia trưởng dẫn đến bạo lực gia đình, hiểu biết hơn  về tác hại cũng như cách

phòng chống các tệ nạn xã hội nói chung.